Nghi lễ Sliên của người Nùng ở Thái Nguyên

No.18_Oct 2020|Số 18 – Tháng 10 năm 2020|p.43-47  
DOI:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC TÂN TRÀO  
ISSN: 2354 - 1431  
NGHI LỄ SLIÊN CỦA NGƯỜI NÙNG Ở THÁI NGUYÊN  
Đàm Thị Tấm1*, Hoàng Thị Phương Nga1  
1 Khoa Du lịch – Trường Đại học Khoa học - Đại học Thái Nguyên  
Thông tin bài viết  
Tóm tắt  
Sliên của người Nùng Thái Nguyên là một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân  
gian tổng hợp mang đậm chất Shaman giáo và được coi như một liệu pháp  
chữa bệnh tinh thần trong đời sống của cộng đồng. Từ xa xưa, mỗi khi trong  
cuộc sống gặp hiện tượng lạ không thể lý giải được, họ thường tổ chức Sliên để  
cầu cúng, cầu mong cho gia đình được bình yên, may mắn, khỏe mạnh, làm ăn  
thuận lợi. Qua việc tiếp cận, thống kê, khảo sát và phân tích các giá trị của  
Sliên, chúng tôi nhận thấy nghệ thuật diễn xướng dân gian này không chỉ là thể  
loại ca nhạc tín ngưỡng lâu đời thể hiện đời sống tâm linh phong phú của người  
Nùng mà còn là hình thức sinh hoạt văn hoá văn nghệ độc đáo. Nó không chỉ là  
phương tiện cầu cúng để chữa bệnh mà đã trở thành loại hình nghệ thuật diễn  
xướng dân gian kể chuyện tín ngưỡng bằng các yếu tố văn hoá nghệ thuật.  
Ngày nhận bài:  
28/7/2020  
Ngày duyệt đăng:  
20/9/2020  
Từ khóa:  
Sliên, Nùng, văn hoá, diễn  
xướng dân gian, tâm linh,  
Thái Nguyên.  
Thái Nguyên là vùng đất có khá đông người  
Nùng cư trú với 63.816 người chiếm 5,7% dân số  
toàn tỉnh. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 5 nhóm địa  
phương của dân tộc Nùng: Nùng Phàn Slình, Nùng  
Cháo, Nùng Inh, Nùng An và Nùng Giang. Nhóm  
Nùng Cháo cư trú lâu đời nhất, tiếng nói của họ gần  
giống như người Tày, cư trú ở huyện Đồng Hỷ, Võ  
Nhai, Đại Từ. Nhóm Nùng Phàn Slình, có nguồn gốc  
di cư từ Bình Gia, Văn Quan, Cao Lộc (Lạng Sơn) cư  
trú ở Võ Nhai, Đồng Hỷ, Đại Từ. Nhóm Nùng An,  
Nùng Inh, Nùng Giang có nguồn gốc từ Cao Bằng  
hiện cư trú ở huyện Phú Lương, Võ Nhai, Phú Bình  
[3].  
1. Giới thiệu về người Nùng ở tỉnh Thái Nguyên  
Trong Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn có ghi:  
“Giống người Nùng đều là người 12 thổ châu ở Tiểu  
Trấn Yên, Quy Thuận, Long Châu, Điền Châu, Phủ  
Châu, Thái Bình, Lôi Tử Thành và Hướng Vũ thuộc  
Trung Quốc làm nghề cày cấy, trồng trọt, cùng chịu  
thuế khóa lao dịch, mặc áo vằn vải xanh, cắt tóc,  
trắng răng, có người trú ngự đã đến vài ba đời, đổi  
theo tập tục người Nam, quan bản thổ thường cấp  
cho họ một số ruộng làm người phần, bắt họ chịu  
binh xuất. Các xứ Lạng Sơn, Cao Bằng và Thái  
Nguyên đều có giống người này” [1].  
Người Nùng ở Việt Nam phần lớn từ Quảng Tây  
(Trung Quốc) di cư sang Việt Nam cách đây khoảng  
200 - 300 năm bởi lý do thiên tai, địch họa… Vùng  
đất đầu tiên mà họ dừng chân để sinh sống chính là  
các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam như: Cao Bằng,  
Lạng Sơn. Sau đó, người Nùng tiếp tục đi xuống  
vùng núi thấp như Thái Nguyên vào khoảng cuối thế  
kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX [2].  
Phần lớn người Nùng Thái Nguyên đều ở nhà sàn  
bốn mái, lợp ngói (người Nùng Phàn Slình ở Đồng  
Hỷ, Võ Nhai), nhà đất và nhà xây (người Nùng Cháo,  
Nùng An, Nùng Inh và Nùng Giang ở Đồng Hỷ, Phú  
Bình, Phú Lương). Họ cư trú quây quần với nhau  
thành từng bản nhỏ dựa vào lưng chừng đồi, ở giữa là  
cánh đồng, tạo thành từng không gian khép kín riêng,  
không xen kẽ với các dân tộc khác.  
Đ.T.Tam et al/ No.18_Oct 2020|p.43-47  
Qua tìm hiểu thực tế hiện nay cho thấy, người Nùng  
linh, ma quỷ khác nhau trú ngụ. Cũng theo quan  
niệm của họ, thuở ban đầu, đất và trời rất gần nhau.  
Con người có thể leo lên trời, chỉ cần bắc cầu thang  
đi chợ trời, hay rủ trai gái hát sli trong các dịp lễ tết.  
ở Việt Nam có hơn chục nhóm địa phương khác nhau  
nhưng chỉ có 3 nhóm làm Sliên, đó là: nhóm Nùng  
Cháo, nhóm Nùng Inh và nhóm Nùng Phàn Slình. Còn  
lại các nhóm khác hầu như không có hoạt động văn hoá  
tâm linh này. Tại Thái Nguyên, chỉ có nhóm Nùng Phàn  
Slình còn thực hành hoạt động nghi lễ này ở các huyện:  
Đồng Hỷ, Võ Nhai (Nùng Phàn Slình Slửa Lì), Phú  
Bình (Nùng Phàn Slình Cúm Cọt).  
Mường Nước là mường của Long Vương Địa  
Phủ, cũng là nơi Long Vương giam giữ linh hồn  
người chết. Sau khi chết, hồn bị đẩy xuống địa ngục  
để được xem xét tội lỗi nặng nhẹ, và chịu cực hình.  
Từ đây, linh hồn có thể đầu thai vào kiếp sau làm  
một con người khác hoặc con vật khác (điều này do  
ảnh hưởng bởi màu sắc của yếu tố Phật giáo). Để đi  
được đến nơi ở của Long Vương phải đi qua 12 cửa  
nước, mỗi cửa đều có một vị thần cai quản. Cuối cửa  
12 cửa địa ngục là cung điện của Long Vương.  
Qua khảo sát, hiện nay hình thức diễn xướng dân  
gian Sliên chủ yếu diễn ra trong cộng đồng người  
Nùng ở các xã Hoá Trung, Quang Sơn, Tân Long,  
Văn Hán (huyện Đồng Hỷ), xã Nam Hoà (huyện Phú  
Bình) của tỉnh Thái Nguyên. Các gia đình người  
Nùng ở những địa bàn này vẫn cần đến Sliên như  
một liệu pháp chữa bệnh tinh thần cho những người  
già chủ yếu trên 60 tuổi. Đối với giới trẻ, do ảnh  
hưởng bởi những tư tưởng và trào lưu mới, họ không  
hứng thú với loại hình nghệ thuật độc đáo này của  
dân tộc. Xét ở góc độ tâm lý tộc người, không chỉ thế  
hệ già mà thế hệ trẻ họ vẫn muốn giữ gìn bản sắc văn  
hoá của dân tộc mình cho thế hệ sau. Tuy nhiên, họ  
vẫn loay hoay và không biết bằng cách nào để giữ  
gìn và phát huy được những yếu tố văn hoá riêng,  
độc đáo của dân tộc mình có sức sống với thời gian.  
Vì thế, việc tìm hiểu về hình thức nghệ thuật diễn  
xướng Sliên này hy vọng cũng góp phần vào việc lưu  
giữ và truyền lại cho các thế hệ trẻ được biết đến.  
Bên cạnh vũ trụ quan 3 mường, trong Sliên cũng  
thể hiện quan điểm về khái niệm “ma” (phi). Phi  
đồng nghĩa với linh hồn hay quan niệm vạn vật hữu  
linh và được chia làm hai loại: ma lành và ma dữ. Họ  
quan niệm ma hay thần đều tồn tại ở cả ba mường:  
Trời, Đất, Nước (Địa phủ/Âm phủ). Ma trên trời là  
các Then, Pụt, tiên thần và tổ tiên (trổ) được lập đền  
miếu để thờ cúng, nơi mà các phi thần này được mời  
từ trời về hưởng lễ chứng giám sự thỉnh cầu của  
người trần. Các loại phi ở trên mặt đất như phi ở núi  
sông (thuồng luồng), rừng, ruộng, rẫy… thường trú  
ngụ ở các đỉnh núi, vùng núi lớn, cây to… nói chung  
không hại ai, nhưng nếu vô tình hễ xúc phạm đến thì  
phải làm lễ tạ lỗi. Phi dưới đất thì chuyên gây ra ốm  
đau cho mọi người, nên phải nhờ các thầy mo, thầy  
tào vào vùng đó để trừ ma giải bệnh.  
2. Vũ trụ quan của người Nùng thể hiện trong  
Sliên  
Người Nùng cho rằng, thế giới tâm linh được chia  
làm ba tầng tương ứng với ba mường: Mường Trời,  
Mường Đất và Mường Nước [4]. Trong đó, Mường  
Trời là nơi cư ngụ của các vị thần linh tối cao quyết  
định sự sinh tồn và số phận của mọi con người. Trên  
Trời có: Ngọc Hoàng, Phật Bà Quan Âm, vua Hành  
Khiển, Nam Tào Bắc Đẩu, Mẻ Bjoóc (Mẹ Hoa) - Bà  
Mụ phân phát con người cho thế gian. Bề dưới còn  
có các vị tướng lĩnh và binh lính dưới quyền Ngọc  
Hoàng. Thần dân của Mường Trời là linh hồn của  
những người chết cư trú theo dòng họ gia đình thành  
từng phường riêng, như sau: phường slao báo  
(phường thanh niên nam nữ), phường phi chài  
(phường trẻ con), phường phi slương (phường ma  
chết bất đắc kì tử)… Ngoài ra còn có các tầng lớp  
phu phen, tạp dịch; các loại quỷ thần.  
Người Nùng cho rằng con người hoàn toàn khoẻ  
mạnh thì hồn vía (khoăn) luôn ngụ đầy đủ trong một  
cơ thể, nam thì có 7, nữ thì có 9. Vía là một cái bóng  
vô hình tồn tại trong các bộ phận cơ thể con người  
quyết định tính cách và hình thể của con người [5]. Vía  
có thể rời khỏi xác đi lang thang, có khi còn lên được cả  
mường Trời theo sự dẫn dắt của các thầy cúng. Nếu vì  
một lý do nào đó, một vía bị bắt đi thì người sẽ ốm đau  
bệnh tật không thể chữa khỏi được, để lâu sẽ chết hoặc  
sẽ ảnh hưởng đến gia đình, dòng họ và cộng đồng.  
Người bị đau ốm ở bộ phận nào thì có nghĩa là do vía  
của bộ phận đó bỏ xác chạy ra ngoài. Nếu vía không  
còn ở trong cơ thể nữa, tức là con người sẽ chết. Trong  
khi con người ta chết đi, không còn thể xác cho vía trú  
ngụ nữa thì vía sẽ chuyển từ khoăn sang phi, tức là  
chuyển từ vía sang ma.  
Mường Đất là nơi sinh sống của con người, được  
chia thành các tầng. Mỗi tầng lại có những dạng thần  
Đ.T.Tam et al/ No.18_Oct 2020|p.43-47  
3. Quan niệm của người Nùng về những người  
4. Những nghi lễ điển hình trong Sliên  
4.1. Những nghi lễ Sliên trong năm  
hành nghề Sliên  
Trong một năm tính từ đầu năm trở đi, những  
người hành nghề Sliên đều tổ chức các nghi lễ cho  
bản thân, gia đình và cộng đồng để cầu sức khoẻ và  
bình an cho con người và vạn vật. Sau đây là những  
nghi lễ cơ bản của Sliên vẫn còn tồn tại trong cộng  
đồng người Nùng ở Thái Nguyên.  
Trong đời sống người Nùng ở Việt Nam nói  
chung, nếu con người gặp nhiều khó khăn, rủi ro,  
bệnh tật họ thường thông qua các nghi lễ cúng bái  
cầu mong thần linh phù hộ hay giải thoát cho mình.  
Những người có thể thực hành các nghi lễ trong cộng  
đồng đó là các bà Pựt, ông Pựt. Những người đó khi  
hành nghề Sliên là nữ được gọi là giàng, nam giới là  
then giàng[5].  
Lễ giải hạn: Nghi lễ này thường được tổ chức vào  
tháng Giêng đầu xuân năm mới với mục đích giải đi  
các loại sao xấu (Vân Hán, Kế Đô), các loại hạn  
(Bạch Hổ, Diêm La, Thiên La…) ảnh hưởng đến  
đời sống của con người. Lễ vật bao gồm: 01 lễ tam  
sinh (01 thủ lợn, 01 gà, 01 vịt), vàng mã, hoa quả  
các loại… Phần lớn các gia đình người Nùng hiện  
nay đều tổ chức nghi lễ này. Họ rất coi trọng các vị  
Sliên và luôn đón các thầy đến nhà làm lễ vào dịp  
năm mới.  
Người làm Sliên chủ yếu được truyền theo truyền  
thống gia đình, dòng họ. Thực tế cho thấy, chính  
người con gái được bên ngoại truyền nghề cho nhưng  
chỉ sau khi đã lấy chồng mới được hành nghề. Một  
gia đình ngành Sliên sẽ có đủ thầy cha (thầy Tào),  
thầy mẹ (Pựt) và cũng có các thứ bậc anh chị em, bác  
bá… Vì vậy điểm giống với thờ cúng tổ tiên là họ  
cũng phải thờ các thầy cha, thầy mẹ của mình khi các  
vị này quá cố gọi là thờ tổ sư. Tuy nhiên điểm khác  
với việc thờ cúng tổ tiên trong gia đình là người làm  
Sliên có thể có từ một tới nhiều thầy cha, thầy mẹ  
trong trường hợp họ muốn tăng sắc mà chẳng may  
thầy cha, thầy mẹ của họ đã qua đời, buộc họ phải  
mời người khác thay thế.  
Lễ giải hạn bất thường: khi gia đình có người mất  
vì tai nạn, hoặc có hiện tượng lạ như chim sa cá lặn,  
cầy cáo chạy qua nhà, rắn rết bò vào nhà… (theo  
quan niệm dân gian của người Nùng những con vật  
này luôn mang lại điềm xấu cho gia chủ nên buộc  
phải làm Sliên để hoá giải). Nếu như không làm, họ  
sẽ không yên tâm về mặt tinh thần.  
Thờ cúng tổ sư là đối tượng chủ yếu và quan  
trọng nhất, trở thành nguyên tắc hành nghề của Sliên.  
Trong thực tế, trong quan niệm của các thầy cúng  
người Nùng thì tổ sư bao gồm những vị tiền bối có  
hành nghề cúng bái của gia đình qua các thế hệ và  
các vị thầy cha, thầy mẹ trực tiếp làm lễ cấp sắc, tăng  
sắc cho họ. Nói cách khác thờ tổ sư trong Sliên cũng  
là một hình thức thờ cúng tổ tiên. Điều này thể hiện  
rõ ở hầu hết mọi dòng Sliên ở chỗ mỗi người làm  
nghề Sliên đều phải nhớ đủ danh sách tổ tiên làm  
nghề của gia đình mình và thầy cha, thầy mẹ của  
mình để thờ phụng tại nhà cũng như khi đi hành lễ.  
Lễ cầu kiều (cầu tự): Người Nùng quan niệm, do  
vợ chồng phạm vào cung cô thần quả tú và có lỗi với  
Bà Mụ nên không có con. Vì thế, họ phải làm nghi lễ  
bắc cầu để xin Bà ban hoa. Nếu đứa trẻ sinh ra là con  
trai thì bông hoa để trên Bàn Mụ là màu xanh, con  
gái là màu hồng. Trường hợp nếu trẻ sơ sinh không  
nuôi được mà chết yểu thì gia đình phải làm lễ trả  
hoa cũ cho Bà Mụ và xin hoa mới (quét bjoóc héo).  
Nghi lễ khác: đầy tháng (khai bươn), vào nhà mới  
(khẩu rườn mấư), đám cưới (slỉnh lẩu), mừng sinh  
nhật (hết khoăn)… Mục đích của những lễ này là báo  
cáo lên các bậc tổ tiên về chứng giám và ban phước  
ban lộc cho con cháu được khoẻ mạnh, ăn nên làm  
ra… Lễ vật dâng lên thường là từ 5 - 7 con gà, 01 thủ  
lợn, 01 con vịt, hoa quả, bánh kẹo kèm theo.  
Theo người Nùng, các Sliên hành lễ để chữa  
bệnh, cầu yên, nối số, giải hạn, làm lễ chuộc hồn, đưa  
hồn lên cõi thần tiên, kể cả lễ 49 ngày của người đã  
chết... để giúp người dân được khoẻ mạnh, không  
bệnh tật, yên tâm làm ăn. Vì thế, các đối tượng này  
được cộng đồng rất tôn sùng và coi trọng. Hầu như  
bản nào cuả người Nùng cũng đều có các thầy hành  
nghề tôn giáo tín ngưỡng: Mo, Tào và Pụt. Tuy  
nhiên, tuỳ từng địa bàn lại có những vị hành nghề  
Sliên có vùng lại không.  
Lễ Sliên chuộc hồn (tháy phi): nghi lễ này chỉ  
được thực hiện trong đám ma, đám 49 ngày, cắt tang  
(thốt háo). Mục đích của nghi lễ để chuộc vong hồn  
người chết ra khỏi ngục. Vì theo quan niệm của  
người Nùng, khi người chết đi, vong hồn sẽ bị đày  
xuống địa ngục để chịu tội và học tập các lời răn dạy  
của các quan dưới âm phủ, hết 49 ngày gia đình phải  
mời thầy về chuộc. Nếu không hồn ma sẽ trở nên  
Đ.T.Tam et al/ No.18_Oct 2020|p.43-47  
lang thang, không nơi nương tựa, trở thành ma đói  
Sliên có sự tham gia chủ đạo của thày Tào, người  
được coi là thầy cha của đệ tử, thay mặt Ngọc Hoàng  
Thượng Đế đứng ra cấp sắc cho đệ tử. Với mỗi thầy  
Sliên từ khi được cấp sắc chứng nhận hành nghề cho  
đến khi chết, họ phải trải qua những nghi lễ sau:  
ma khát (phi slương).  
Sliên chữa bệnh (chấu khẩy): Người ốm không rõ  
nguyên nhân, có thể do qua những khu vực linh  
thiêng như: đền, miếu, ngã ba, ngã tư, cây đa, cây  
đề… bị ma bắt mất hồn, không được tỉnh táo và khoẻ  
mạnh. Nếu bệnh nặng gia chủ phải mời thầy Sliên  
đến làm lễ giải. Lễ vật gồm: 01 con gà, tiền vàng, hoa  
quả và bánh kẹo. Trong trường hợp bệnh nhẹ, gia chủ  
chỉ cần mang hương, tiền, gạo đến nhà thầy Sliên để  
bói và gọi hồn quay trở về nhập lại vào thân xác.  
Lễ cấp sắc: Nếu như trước đây, các thầy Sliên  
Nùng không trải qua nghi lễ cấp sắc thì hiện nay đã  
có sự giao thoa văn hoá với Then Tày nên những  
người làm Sliên Nùng đều trải qua nghi lễ này.  
Lễ tăng sắc: Khi thầy Sliên nhận thấy đã đủ trình  
độ hành nghề và điều kiện kinh tế, họ sẽ tổ chức lễ  
này. Mục đích của lễ là tăng thêm cấp bậc cao hơn.  
Trong nghi lễ này có tiết mục đón Tướng (tẳng  
Tướng). Tướng Cả: đây là vị tướng có quyền năng  
cao nhất, có trách nhiệm phân chia lễ cho con người;  
Tướng Ké (vị Tướng Già): là ông Tổ to nhất trong số  
các ông tổ; Tổ sư: có khoảng 4 – 5 vị về nhập vào  
Sliên. Đây có thể là các bà cô trẻ; Tướng Khách:  
Khách Vàng (Hoàng) đó là: Phiêng cai quản phía  
Nam, các vị tiên trên trời thấy nghi lễ Sliên diễn ra  
vui, cùng nhau bay lượn đợi thụ lễ và ban lộc cho con  
người. Mọi người đến dự lễ cũng chuẩn bị quà: tràng  
hoa, đôi giày, áo, kẹo, tiền… để làm quà cho các vị  
thần tiên này. Sau đó, các vị thần tiên lại ban lại quà  
để mọi người dự lễ mang về phát lộc lại cho con cháu  
trong gia đình; Tướng Hổ Lang: là ông Hổ trên rừng,  
được coi như Tứ phủ về trấn đàn tràng. Lễ vật dâng  
cho ông phải có đầu lợn, răng ông cắn vào đầu lợn  
rồi ném về phía bàn thờ. Ông Hổ ngồi trên cây gai  
(co nam) rồi nhẫm trên than hồng. Đó là biểu hiện  
của ngựa hồng (mạ hồng) thể hiện sự oai phong lẫm  
liệt, giương oai với người trần thế.  
Các lễ vật trong Sliên đều ít nhiều được biến hóa  
theo trí tưởng tượng phong phú của họ: Quả bí xanh  
là con lợn, hoa chuối rừng là con gà trống; chiếc  
thuyền bẹ chuối là tượng trưng cho đoàn thuyền loan  
thuyền phượng; tảng bột nặn - thậm chí là một chiếc  
bánh chưng bọc giấy màu là quả núi Su-mi, là quả  
núi thiêng của thần Phật ngự ở trên trời cao. Thậm  
chí, binh mã - một lực lượng khá điển hình lại được  
tượng trưng qua gạo trắng (như hiện tượng chia gạo  
tượng trưng cho việc phân binh mã trong lễ cấp sắc).  
Hàng năm, vào đêm giao thừa là thời điểm thầy  
Sliên thực hiện nghi lễ khai ấn đầu xuân. Kể từ giờ  
phút này, thầy bắt đầu được thực hiên nghi lễ tại các  
gia đình. Nếu gia chủ nào muốn “mở hàng” cho thầy  
buộc phải mang một đôi gà đến xin làm lễ. Dịp 15/3  
âm lịch là thời điểm Giỗ Tổ Sliên thường được tổ  
chức rất to, rất linh đình.  
Tháng 4 người Nùng không tổ chức cúng bái vì  
cho rằng đây là tháng có nhiều bệnh tật, vận hạn,  
nhiều quan dịch, nước sông Ngân Hà lên cao nên  
không nên làm lễ. Vào dịp Tết Đoan ngọ mùng 5  
tháng 5, Sliên tổ chức nghi lễ đón tướng nhà Trời  
xuống phát bùa may mắn để tiêu trừ bệnh tật. Tết Slíp  
slí 14/7 âm lịch, Sliên tổ chức nghi lễ dâng hoa dâng  
quả (lẩu mạy lẩu mác). Vào dịp tết Trung thu 15/8  
âm lịch tổ chức lễ đón Nàng Hai (tẳng Nàng Hai).  
Ngày 10/10 âm lịch, Sliên tổ chức lễ dâng cốm đón tổ  
sư (Lẩu khẩu mẩu). Vào tháng 12 âm lịch, họ thường  
làm lễ phong ấn trước ngày 20 (tuỳ từng thầy, tuỳ từng  
dòng họ, thời điểm). Khi làm lễ xong, họ dán giấy đỏ  
vào đàn tính, buông rèm bàn thờ xuống, đổ gạo lên  
nhạc xoóc và ấn rồi để trong chậu đồng. Kết thúc một  
năm làm lễ cho người dân của thầy Sliên.  
Lễ cáo lão: Khi các thầy Sliên đã già yếu, không  
đủ sức khoẻ để hành nghề, họ sẽ tổ chức lễ cáo lão để  
không làm nữa. Nhưng họ không được bỏ bàn thờ  
Sliên, cũng như nghề Sliên của dòng họ. Người Nùng  
có quan niệm, khi sống ở thế giới trần gian làm Sliên  
thì khi chết trở thành quan âm và vẫn tiếp tục hành  
nghề. Thực tế cho thấy, đại đa số các dòng Sliên  
không cho cáo lão mà phải làm cho đến cuối đời. Khi  
mất đi các thầy Sliên mới được thăng chức lần cuối  
để khi về thế giới bên kia họ vẫn tiếp tục hành nghề  
(có những dòng Sliên quy định 9 dây, 13 dây và 15  
dây). Đối với các dòng Sliên của người Nùng, các trò  
không được phép hơn thầy về số lượng dây trên mũ.  
5. Bảo tồn và phát huy giá trị của Sliên  
4.2. Những nghi lễ nhỏ liên quan đến thầy Sliên  
Sliên của người Nùng chịu sự tác động của Tam  
giáo mà chủ yếu là Đạo giáo thông qua giáo lý của  
thầy cúng có gốc gác từ vùng phía nam của Trung  
Quốc. Điều này thể hiện rõ nhất qua lễ cấp sắc của  
Với mục tiêu lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần  
của xã hội, là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế -  
xã hội, tỉnh Thái Nguyên đang tích cực gìn giữ và  
bảo tồn những nét văn hóa dân gian của dân tộc  
Nùng nói riêng và các dân tộc khác trên địa bàn tỉnh  
Đ.T.Tam et al/ No.18_Oct 2020|p.43-47  
nói chung. Phát huy nét đẹp văn hóa đặc biệt là văn  
và lịch sử tộc người Nùng. Chính vì thế, việc bảo tồn  
và việc khai thác các giá trị của Sliên đối với phát  
triển văn hóa – xã hội hiện nay là một điều cần thiết  
nhằm giới thiệu, quảng bá nét văn hóa độc đáo này  
trong dòng chảy của cuộc sống đương đại.  
hoá các dân tộc thiểu số đang được lưu truyền và  
phục hồi những bản sắc đã bị mai một, là trách nhiệm  
của mỗi cá nhân và cộng đồng các dân tộc trên địa  
bàn huyện.  
Tựu chung lại, Sliên của người Nùng ở Thái  
Nguyên là một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân  
gian tổng hợp mang đậm chất shaman giáo hiện nay  
vẫn đang được cộng đồng dân cư truyền thừa và thực  
hành. Thông qua các nghi lễ trong Sliên, người Nùng  
Thái Nguyên đã thể hiện những ý niệm và niềm tin  
về nhân sinh quan và vũ trụ quan của mình rất phong  
phú và đặc sắc.  
REFERENCES  
1. Le Quy Don (translation - 1977), "The text of  
sub-continent" - Complete Le Quy Don, Volume 2,  
Social Science Publishing House  
2. Hoang Nam (1992), The Nung ethnic group in  
Vietnam, National Cultural Publishing House.  
3. Provincial Party Committee - People's Council  
- Thai Nguyen Provincial People's Committee  
(2009), Thai Nguyen Land, National Political  
Publishing House.  
Hiện nay, các gia đình người Nùng truyền thống  
(có ông bà, cha mẹ ở cùng con cái) vẫn sử dụng Sliên  
như một liệu pháp tinh thần nhằm mang lại sự an tâm  
cho người già, người bị bệnh không rõ nguyên nhân  
và cầu bình an cho năm mới. Điều đó minh chứng  
một điều, liệu pháp chữ bệnh tinh thần của Sliên là  
thực sự có ý nhĩa và có tác dụng một phần nào đó  
trong đời sống của người Nùng. Bóc tách đi những  
yếu tố ma mị, huyền bí, hình thức diễn xướng Sliên  
hàm chứa ảnh xạ về những tín ngưỡng nguyên thủy  
4. Institute of Ethnology (1992), Tay and Nung  
ethnic groups in Vietnam, Hanoi  
5. Nguyen Thi Yen (2009), Tay folk beliefs,  
Nung, Social Science Publishing House  
NUNG’S SLIEN IN THAI NGUYEN PROVINCE  
Article info  
Abstract  
The Nung's Slien is a type of synthetic folk art in Thai Nguyen, it is a Shamanisme  
and is regarded as a spiritual cure in the life of the community. Long time ago,  
whenever in life, they encounter a strange phenomenon and cannot be explained,  
the Nung people often organize the Slien to pray for the family to be peaceful,  
lucky, healthy, business advantage. By reaching, statistical, surveying and  
analyzing the values of the Slien, we recognize that this folk art is not only a genre  
of long - time music that is rich in spiritual life, but also a form of unique cultural  
activities. It is not only the means of prayer for healing that has become the kind of  
artistic vocal folk narrative of beliefs by artistic cultural elements.  
Recieved:  
28/7/2020  
Accepted:  
20/9/2020  
Keywords:  
Slien, Nung, Culture,  
folk proponent,  
spirituality, Thai  
Nguyen.  
pdf 5 trang Thùy Anh 26960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghi lễ Sliên của người Nùng ở Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghi_le_slien_cua_nguoi_nung_o_thai_nguyen.pdf