Dấu ấn văn hóa Thăng Long qua tiểu thuyết Đàn đáy của Trần Thu Hằng

DOI: 10.31276/VJST.63(10).56-60  
Khoa học xã hội và nhân văn  
Dấu ấn văn hóa Thăng Long qua tiểu thuyết Đàn đáy  
của Trần Thu Hằng  
Nguyễn Thị Kim Tiến*  
Trường Đại học Thủ Dầu Một  
Ngày nhận bài 22/8/2021; ngày chuyển phản biện 25/8/2021; ngày nhận phản biện 24/9/2021; ngày chấp nhận đăng 30/9/2021  
Tóm tắt:  
Tiểu thuyết Đàn đáy không những là cuộc đời trầm luân, éo le với chữ tình và chữ tâm, mà còn là những trang văn  
hóa đặc sꢀc của nền văn hóa Thăng Long thời Lê - Trịnh. Thứ nhất, đó là nghệ thuật ca trù, được tái hiện với những  
con người tài năng của dòng họ Bạch trong giáo phường Cổ Tâm ở kinh thành Thăng Long. Thứ hai, văn hóa ứng  
xử - cốt cách của những con người thời Lê - Trịnh, sự cung kính, nhã nhặn, ôn tồn, thanh cao qua dáng đi, dáng  
đứng, qua những lời hát, qua nội tâm của những con người luôn nặng lòng với nghiệp đàn, nghiệp hát. Thứ ba, nét  
văn hóa trang phục của người Việt thời bấy giờ, đặc biệt là xiêm áo của những đào nương, đào kép. Bài viết sử dụng  
phương pháp tiếp cận liên ngành: văn hóa học với văn học, để chỉ ra ba dấu ấn văn hóa Thăng Long, qua đó góp  
phần khẳng định chất riêng của tiểu thuyết Đàn đáy không hòa lẫn, không pha trộn với bất cứ tiểu thuyết nào của  
tác giả Trần Thu Hằng nói riêng và những tiểu thuyết lịch sử cũng viết về thời Lê - Trịnh nói chung.  
Từ khóa: Đàn đáy, thời Lê - Trịnh, tiểu thuyết lịch sử, Trần Thu Hằng, văn hóa.  
Chỉ số phân loại: 5.10  
Giời thiệu  
Thăng Long nơi kết tinh những tinh hoa văn hóa của  
Văn hóa nghệ thuật ca trù, nơi ghi dấu của những đào kép  
có tâm với nghề  
Ca trù là một bộ môn nghệ thuật có từ rất lâu đời ở nước  
ta và đã trở thành một di sản văn hóa tinh thần. Bộ môn nghệ  
thuật này đã trải qua nhiều thế kỷ với những thăng trầm  
nhưng vẫn giữ được giá trị của mình. Người hát được gọi là  
ả đào - là thành viên quan trọng của tiệc ca trù, vai trò của ả  
đào là làm ca sĩ cho tiệc hát nhưng khác với các ca sĩ khác là  
vừa hát vừa gõ phách. Bên cạnh đó, mỗi phường hát phải có  
một đào nương. Tiếng hát của ả đào sẽ vang xa khi có sự hòa  
quyện âm thanh của tiếng đàn đáy, được kép đàn tạo ra với  
những âm luật riêng như ru người nghe theo điệu nhạc trầm,  
bổng, sâu lắng. Và để tiếng hát, điệu đàn thêm điêu luyện,  
giáo phường là nơi luyện tập, tập trung những đào hát, kép  
đàn; nơi tổ chức hát ca trù gồm nhiều họ.  
con người Việt Nam vào những thế kỷ trước, nơi sản sinh  
ra những con người thanh lịch, đôn hậu. Những con người  
với những tài năng khác nhau như Chu Văn An, Nguyễn  
Trãi, Nguyễn Du. Đây cũng là nơi của những phố phường  
với những loại hình văn hóa nghệ thuật khác nhau, trong đó  
nổi danh là những tiếng hát, tiếng đàn được cất cao lên bởi  
những kép đàn, đào hát trứ danh. Tất cả hòa quyện vào nhau  
tạo nên một vùng đất mang màu sắc văn hóa riêng thấm  
đượm hồn Việt. Đồng thời không gian văn hóa này cũng là  
nguồn cảm hứng cho mỗi nhà văn khi lựa chọn đề tài lịch sử  
như một cách để đối thoại với lịch sử riêng biệt của họ. Tất  
cả gặp nhau ở một điểm chung, đó là nhận thức lại lịch sử  
trong con mắt toàn vẹn.  
Trần Thu Hằng có lý do khi chọn viết về những người  
nghệ sĩ của nghệ thuật ca trù chứ không phải bất cứ một  
loại hình nghệ thuật dân gian nào khác. Một điểm khá đặc  
biệt, ca trù là một bộ môn nghệ thuật có những đòi hỏi rất  
khắt khe về nghề, nhất là đối với những đào kép. Họ phài  
là người vừa có giọng hát hay, vừa phải có sắc đẹp và điều  
quan trọng nhất là phải tâm huyết với nghề, có phẩm hạnh  
tốt. Xuất phát từ một ý nghĩa có tính riêng biệt ấy, hầu hết  
nhân vật người nghệ sĩ trong Đàn đáy là những con người  
toàn vẹn từ trong ra ngoài, từ phẩm hạnh đến tài năng. Nói  
cách khác, Trần Thu Hằng tìm đến lịch sử không phải để  
kiến giải lịch sử thời Lê - Trịnh mà cô chỉ mượn nó để dựng  
Văn hóa Thăng Long đã được tái hiện một cách đặc sắc  
qua một số tác phẩm văn học. Trong những tác phẩm ấy có  
Chuyện cũ ở Hà Nội của Tô Hoài và Đàn đáy của Trần Thu  
Hằng. Mỗi tác phẩm đều mang những nét riêng và độc đáo  
khác nhau khi nói về văn hóa Thăng Long. Riêng tiểu thuyết  
của Trần Thu Hằng, một nhà văn của vùng đất Đồng Nai,  
Đàn đáy đã dựng lên một thời kỳ lịch sử với những bi kịch  
của con người trong xã hội lúc bấy giờ. Qua đó, tác phẩm  
đã tạo ấn tượng với người đọc bởi những nét văn hóa Thăng  
Long từ đời sống văn hóa tinh thần của nghệ thuật ca trù,  
đến trang phục và cốt cách của người Tràng An.  
*Email: tienntk@tdmu.edu.vn  
63(10) 10.2021  
56  
Khoa học xã hội và nhân văn  
Nét văn hóa đặc trưng của nghệ thuật ca trù được Trần  
Thu Hằng tái hiện trong Đàn đáy với kỳ thi sát hạch để  
làm cô đầu nòi từ khâu chuẩn bị cho đến lúc thực thi. “Sau  
hơn mười năm tập hát tập múa, Bạch Vân sắp bước vào kỳ  
thi sát hạch làm lễ mở xiêm áo, chuẩn bị cầm lá phách ra  
hát như một cô đầu nòi. Nàng trai giới, giữ mình sạch sẽ từ  
trong đến ngoài và đêm đêm một mình đến nhà tổ đình thắp  
hương cầu khấn ông tổ họ Bạch”. Khi nàng được thực thi  
(trình diễn) trước mọi người, hình thức của một nền nghệ  
thuật ca trù hiện lên. Đó là hình ảnh cô đào (Bạch Vân) ngồi  
vào chiếu, kép đàn (Bạch Trung) ngồi chếch sang bên để  
chuẩn bị cho một khúc hát vang xa mang cả những nỗi lòng.  
The cultural view of Thang Long  
culture from Tran Thu Hang’s  
novel named Dan day  
Thi Kim Tien Nguyen*  
Thu Dau Mot University  
Received 22 August 2021; accepted 30 September 2021  
Abstract:  
The novel Dan day is not only the mundane life with the  
word love and heart but also the unique cultural view  
of the Thang Long culture of the Le - Trinh dynasties.  
Firstly, it is the art of Ca tru, reproduced with talented  
people of the Bach family in Co Tam ward, Thang Long  
citadel. Secondly, it is the culture of behaviour, the  
character of the people of the Le - Trinh dynasties, as  
well as the respect, courtesy, gentleness, and elegance  
through their gait and posture; through the lyrics and  
the hearts of the people are always passionate with a  
singing career. Thirdly, it is the culture in the costumes  
of the Vietnamese at that time, especially the clothes of  
the geisha. The article uses the interdisciplinary research  
(cultural and literature approaches) to point out three  
Thang Long’s cultural imprints, thereby contributing  
to affirming the unique quality of this novel not to be  
mixed with any historical novel by Tran Thu Hang in  
particular and with other historical novels about the Le  
- Trinh dynasties in general.  
Nghệ thuật ca trù thịnh hành từ thế kỷ XV được giới quý  
tộc và tri thức yêu thích. Vào thời điểm này, ca trù là một  
loại ca trong cung đình. Các đấng vua chúa, quan lại đều say  
mê tiếng hát hòa theo nhịp phách gõ nhịp nhàng. Trong Đàn  
đáy, ngoài những kỹ thuật, những phong lễ được tái hiện rõ  
nét mang một dấu ấn riêng thì tấm lòng của những cô đào,  
kép hát với bộ môn nghệ thuật cũng được nhà văn tái hiện.  
Tiếng hát của những đào nương, kép hát ở giáo phường Cổ  
Tâm đã khiến cho những kẻ tay kiếm cung như Nguyễn  
Hữu Chỉnh phải đắm say, khiến cho kẻ có chức quyền như  
Nguyễn Khản nguyện “làm một kẻ tri âm bằng mấy kẻ bạc  
lòng”. Ở những con người đã gắn bó với nghệ thuật ca trù,  
dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, khó khăn gian khổ đến đâu,  
Bạch Dung vẫn hát và coi tiếng hát là hơi thở, lẽ sống của  
đời mình là “một sự gắn bó trần tục đến không thể nào dứt  
ra được”. Tất cả những con người ấy đều là những người  
nghệ sĩ có tâm huyết. Họ đàn hát bằng tất cả mong muốn  
được hiến dâng cho đời như con tằm suốt đời nhả tơ; như  
lời Bạch Vượng từng nói với Bạch Dung khi mới vào nghề:  
“Khi đau khổ con cũng phải hát… dù mai sau con ở chốn  
giàu sang hay bị đày đọa con vẫn phải hát lên, lấy tiếng hát  
mà tạ ơn đời” [1]. “Lấy tiếng hát mà tạ ơn đời” chính là  
tâm huyết của người nghệ sĩ trong tiểu thuyết Đàn đáy. Họ  
say mê tập luyện, nâng niu từng lời ca, giọng hát đến nỗi  
“trong giấc ngủ, môi họ vẫn nhếch lên như để tiếp tục hát,  
thân hình chân tay uốn như chuẩn bị một điệu múa” [1].  
Cổ Tâm là tiếng trống từ trái tim và tất cả những người họ  
Bạch đều “biết nghe tiếng hát bằng trái tim” [1]. Cái cách  
họ trân trọng gìn giữ chiếc hộp quý vua ban (mảnh lụa vàng  
treo đàn đáy như một báu vật) đã cho thấy một thông điệp  
rõ ràng rằng, dù thế sự có xoay vần, lòng người có thay đổi,  
nhất định họ không từ bỏ nghiệp hát tổ tiên. Lòng yêu nghề  
đã khiến cho một người phụ nữ nguyện suốt đời sống trong  
câm lặng vẫn cất lên tiếng hát đã khan đặc của mình khi  
chỉ có một mình. Đến lúc chết người phụ nữ ấy cũng phải  
đánh lên những tiếng trống như dội vào trái tim người khác,  
những âm thanh trong đó chứa đựng cả những đau khổ dồn  
nén của một đời người. Cho đến lúc các giáo phường khác  
đã lần lượt bỏ nghề, nghiệp hát dường như chẳng còn hy  
vọng thì kép Bạch Xạ, với tình yêu nghề, vẫn cặm cụi ngồi  
Keywords: culture, Dan day, historical novel, Le - Trinh  
dynasties, Tran Thu Hang.  
Classification number: 5.10  
lại bức tranh đời sống tinh thần của một phường hát ca trù.  
Trước hết, hình ảnh một giáo phường Cổ Tâm hiện lên  
với những kép đàn, đào hát trứ danh như: Bạch Vĩ, Bạch  
Dung, Bạch Vân, Bạch Trang, ông Trùm Bạch Thuận, bà  
Bạch Vượng, kép Bạch Xạ, Bạch Trung, Bạch Long, Bạch  
Mỹ, già Lam. Bạch Vĩ là một kép đàn trứ danh bậc nhất kinh  
kỳ. Tiếng đàn của chàng bất kỳ đào nương nào cũng ao ước  
được chàng đệm đàn khi hát. Tiếng đàn dìu tiếng hát bay  
vút lên cao. Tiếng đàn thanh tao, thoát tục của Bạch Vĩ như  
một người tu thiền đắc đạo, “khúc đàn như một sự buông xả,  
khinh khoái kỳ lạ” [1]. Chàng chính là truyền nhân - người  
kế nghiệp xứng đáng của những Bạch Thuận, Bạch Xạ và cả  
giáo phường Cổ Tâm. Bạch Dung, Bạch Vân, Bạch Trang  
và cả bà Bạch Vượng, già Lam… đều là những đào nương  
tài sắc bậc nhất ở giáo phường này và hơn hẳn những giáo  
phường khác.  
57  
63(10) 10.2021  
Khoa học xã hội và nhân văn  
chế tạo ra những cây đàn đáy. Ông vẫn lạc quan quyết tâm lẫy như một tòa đài thiên nhiên. Thế mà chàng từ tốn bảo  
giữ lại cái hồn thiêng của dân tộc. Sự quyết tâm sống chết “Hãy mặc áo lại đi. Hãy nghe lời ta nói. Ta không biết  
với nghề thể hiện rõ nét nhất là ở trùm Bạch Thuận. Một thương tình nàng như thế nào đâu” [1].  
người dường như tuổi già, chiến tranh, thời thế hay bất cứ  
Phẩm chất và tính cách góp phần hình thành nên cốt cách  
nguyên nhân gì cũng không hề làm thay đổi cái tâm với  
của chính những con người nơi đây. Ở giáo phường Cổ Tâm,  
nghề của ông. Ông là người lớn tuổi nhất nhưng cũng là  
tài năng của các dòng họ từ bao đời đã được nuôi dưỡng, trau  
người lạc quan và sống bền bỉ nhất để gìn giữ nghiệp hát  
dồi và phát huy. Ở đó, cũng đã tạo nên những con người có  
của cha ông. Ngay những người đào, kép trẻ như Bạch Vân,  
chung một phẩm chất yêu lấy lời ca, tiếng đàn. Họ quyết sống  
Bạch Dung, Bạch Vĩ, Bạch Trang… dù đời riêng là nỗi thê  
chết với cái nghiệp của mình, với những âm thanh trong trẻo  
lương nhưng họ vẫn không quên lời dạy của những người đi  
không chút vẩn đục nơi giáo phường Cổ Tâm. Những người  
trước “đem tiếng hát để tạ ơn đời”.  
nghệ sĩ thuộc họ Bạch đều mang trong mình cái tâm, mang  
Rõ ràng giá trị lịch sử được người viết đặt ngay bên cạnh  
vỉa ngầm văn hóa, văn hóa của một dân tộc và văn hóa thuộc  
về những ai muốn duy trì nét đẹp tinh túy từ tâm hồn của  
vùng đất kinh kỳ xứ Thăng Long với một phường hát ca trù.  
Ngay như Nguyễn Khản ngoài cái vẻ của một người phải  
luôn quyết đoán mạnh bạo khi bản thân đã trải qua nhiều  
cuộc chinh chiến, còn là một người biết trọng cái đẹp, cũng  
là người giàu tình thương, vẫn luôn khao khát muốn tìm một  
người làm kẻ tri âm (như với Bạch Dung) bởi “làm một kẻ  
tri âm còn gấp mấy lần kẻ bạc lòng” [1].  
lời ca tiếng hát để tạ ơn đời. Họ hát bằng cả nhiệt huyết của  
con tim, sống bằng cả tấm lòng tận tụy với nghiệp hát [3].  
Với Bạch Vĩ, chàng là một con người có nghị lực và bản  
lĩnh, chàng can đảm vào trường thi đến ba lần. Chỉ lần thứ  
ba, khi bị “phạm húy”, chàng mới thôi không sách vở. Với  
Bạch Dung, nàng là một người nhịn nhục và cam chịu. Khi  
mới về nhà họ Bạch, nàng bị Bạch Vân và Bạch Trang hà  
hiếp. Họ nghĩ nàng là người gián tiếp gây nên sự thất bại cho  
Bạch Vân trong ngày ra mắt họ hát. Những cái tát không rõ  
nguyên do, đến những chiêu trò phá phách, vu oan đổ tội  
nàng đều nhịn cả. Sự cực khổ đã rèn cho nàng sức chịu đựng  
phi thường. Trong tình yêu, nàng táo bạo hơn, mãnh liệt  
hơn. Nàng từ bỏ giáo phường Cổ Tâm để chạy theo một tình  
yêu vô vọng với Nguyễn Hữu Chỉnh, một người chẳng bao  
giờ đến được với nàng. Nàng tình nguyện hy sinh và chết  
cùng với Nguyễn Hữu Chỉnh, “dẫu rằng Nguyễn Hữu Chỉnh  
có bị tội chết, thì thiếp muốn được chết theo chàng” [1].  
Nàng còn là một con người thành thật, nàng không che giấu  
điều gì kể cả việc thất thân với Nguyễn Hữu Chỉnh. “Con đã  
phạm phải một lỗi lầm không thể tha thứ được. Vì vậy, con  
không còn được sống cùng mẹ, không được làm cô đầu của  
giáo phường Cổ Tâm nữa…” [1]. Trong tình yêu với Bạch  
Vĩ, nàng không muốn lừa dối chàng, nàng đã thú thật và “kể  
cho Bạch Vĩ nghe chuyện những ngày nàng bị giam cầm  
trong chùa Tiên Tích. Nàng đã đối mặt với Nguyễn Hữu  
Chỉnh như thế nào và đã chạy trốn ra sao…” [1]. Trong kiếp  
cầm ca của mình, nàng luôn tận lực và nguyện dâng tiếng  
hát phục vụ cho đời.  
Bằng vốn kiến thức về văn hóa truyền thống đặc biệt là  
loại hình nghệ thuật ca trù, Trần Thu Hằng đã đưa những  
nhân vật của mình gắn bó với môn nghệ thuật này. Tác giả  
đã tái hiện họ với cái tài và cái tâm tận tụy cùng nghiệp đàn,  
nghiệp hát. Qua đó, bộ môn nghệ thuật cổ truyền của dân  
tộc được tái hiện một cách đặc sắc với những màn trình diễn  
điệu ca trù qua nghệ thuật của ngôn từ đã để lại dấu ấn sâu  
sắc trong lòng người đọc [2].  
Văn hóa ứng xử thể hiện cốt cách con người Thăng Long  
Ứng xử là một phương diện thể hiện nét đẹp văn hóa vốn  
có của con người. Nó có thể nâng cao con người, cũng có  
thể hạ thấp con người, đặc biệt, trong văn hóa ứng xử của  
người Thăng Long xưa, khi giao tiếp, họ vô cùng nhã nhặn,  
lịch thiệp, tình cảm, trung thực. Trần Thu Hằng đã chọn  
cách thể hiện những cung cách ứng xử đó qua những kép  
đàn, đào nương ở phường Cổ Tâm một cách đặc sắc trong  
Đàn đáy.  
Còn Bạch Vân, nàng có những ước mơ cho mình “chỉ  
cần nàng làm lễ “mở xiêm áo” thành công, thi hát đạt giải  
khôi nguyên, chẳng những ước mơ của nàng thành hiện thực  
Đó là những con người có khuôn thước, chuẩn mực, có  
tấm lòng tri giao với đời, với kiếp cầm ca. Trong giao tiếp,  
họ tế nhị, nhẹ nhàng. Hình ảnh bà chủ lầu Phỉ Thúy khi trò  
chuyện với chàng Bạch Vĩ vẫn giữ được nét tao nhã trong mà Bạch Vĩ còn lấy làm tự hào suốt đời đánh đàn cho nàng  
cách nói: “Hôm nay, mẹ phải dẫn một gái trinh đến cho con” hát nữa” [1]. Nhưng rồi nàng lại thất vọng, trong mơ ước bé  
[1]. Gặp Bạch Dung lần đầu tiên tại nơi mà kẻ quân tử có nhỏ của mình, nàng vẫn cam chịu và lặng lẽ hy sinh. Nàng  
thể bỗng chốc biến thành tiểu nhân, có thể giày xéo người yêu Bạch Vĩ tha thiết, Tình yêu của nàng vừa cao thượng lại  
đàn bà trong chính bàn tay mình, nhưng Bạch Vĩ lại không vừa mù quáng. Nàng âm thầm lặng lẽ hy sinh cho tình yêu  
làm vậy. Thay vào những cuộc hoan hỉ, những đòn giày xéo của mình, “nàng sẽ cắt mớ tóc dài của nàng đến tận mang  
tấm thân trinh nữ, chàng nhìn vào ánh mắt Bạch Dung, “lấy tai” [1], chỉ vì lý do tạ ơn Tổ đình và mong cho Bạch Vĩ lành  
giọng lạnh lùng che bớt phần nào cơn say chếch choáng”.  
Một tấm thân trinh bạch được trình trước mặt chàng, lộng  
được cánh tay. Khi kết hôn với Bạch Trung, nàng không  
được quyền quyết định việc gì, nàng cam chịu số phận của  
63(10) 10.2021  
58  
Khoa học xã hội và nhân văn  
mình trong dòng họ Bạch, chỉ với mong muốn có một thân  
phận chính thức. Rồi nàng lại vì tình yêu với Bạch Vĩ, chấp  
cũng là cách tác giả đi tìm ngã rẽ những trạng thái tinh thần  
của các nhân vật lịch sử ở thái độ đối với những người nghệ  
nhận hy sinh thêm một lần nữa. Nàng rời xa Bạch Trung, xa sĩ có tâm có tài. Họ là những con người của lịch sử, nhưng  
Giáo phường Cổ Tâm để tìm Bạch Vĩ trở về. Trước khi chết, trong cái thời tao loạn ấy, hành vi của họ không chỉ quyết  
nàng vẫn muốn Bạch Vĩ trở về: “Anh Bạch Vĩ! Xin anh hãy định đến tiến trình phát triển xã hội mà dưới góc độ văn hóa,  
nói với em một câu… Em muốn anh thề rằng anh sẽ trở về còn thể hiện một thái độ sống nhập thế đối với thời cuộc.  
giáo phường, nối nghiệp cha ông…” [1]. Trong cuộc đời Tác giả bỏ qua trong trang viết những hỗn loạn của nạn  
ngắn ngủi của Bạch Vân, nàng đã sống trong sự hy sinh, kiêu binh, giai đoạn tăm tối Lê - Trịnh chỉ để làm một thao  
trong nỗi đau khổ nhưng nàng lại không oán than, nàng tự tác, để các nhân vật lịch sử (Nguyễn Hữu Chỉnh, Hoàng  
Đình Bảo…) được sống đúng thân thế của mình, thể hiện  
cốt cách, thái độ sống của mình, mặc dù kiếp nhân sinh, thế  
thái nhân tình không thiếu những điều trầm luân, vùi dập.  
nguyện và chấp nhận hy sinh [4].  
Riêng Nguyễn Hữu Chỉnh, một nhân vật trong lịch sử đã  
được Trần Thu Hằng dựng nên với cốt cách chọc trời khuấy  
nước. Không chỉ có tài cầm binh, Nguyễn Hữu Chỉnh còn  
có tài về cả luật trống và luật đàn, “những khổ trống đầu  
tiên của Nguyễn Hữu Chỉnh đủ uy lực làm tất cả mọi người  
lặng phắc” [1]. Am hiểu luật trống, luật đàn nhưng ông  
không theo kiếp cầm ca mà dấn thân vào trận mạc. Ông  
cho rằng, “Song đã sinh ra trong thời loạn này, thì lấy  
gì bảo đảm cho tài năng và nghệ thuật đây” [1]. Nghệ  
thuật không phải là nơi để ông thả hồn mình. Ông có  
tham vọng, thích tự do, có suy nghĩ và muốn hành động.  
Ông là một người mong muốn vượt thoát ra ngoài sự  
ràng buộc của những tiêu chí thông thường, hành động  
với khát vọng tìm kiếm mọi con đường giải phóng năng  
lực và tham vọng cá nhân. Ông tự tìm lấy con đường cho  
chính mình, và phấn đấu đi theo nó. Con đường của một  
con người tự quyết và đầy tham vọng mưu toan việc lớn.  
Ông có đầy đủ phẩm chất của một con người tài trí, có  
những cơ mưu. Yêu Bạch Dung nhưng ông không chọn  
nàng, ông chọn tham vọng cá nhân của mình cho dù tình yêu  
đó chưa bao giờ phai mờ, nó đã theo ông, hành hạ, giày vò  
ông suốt mười ba năm trời.  
Trần Thu Hằng tinh tế khi khắc họa cốt cách của các  
nhân vật qua những hình ảnh và chi tiết phong phú. Phải rất  
am hiểu về người Thăng Long, mới có một cái nhìn sâu sắc  
và tường tận như thế. Bạch Vĩ thanh lịch, tự trọng, khoan  
dung, giàu nghị lực. Bạch Dung trung thực, thẳng thắn.  
Bạch Vân giàu lòng hy sinh, Nguyễn Hữu Chỉnh giàu nghĩa  
khí, bản lĩnh. Nguyễn Khản, say mê cái đẹp, một lòng với  
quê hương đất nước. Những nét cốt cách trong con người  
Thăng Long xưa được Trần Thu Hằng đưa vào những nhân  
vật của mình một cách dung dị, chân thật qua cách nói năng  
từ tốn, hành động nho nhã.. cho thấy những phẩm chất mực  
thước của con người vùng đất kinh kỳ.  
Văn hóa trang phục cho thấy vẻ tao nhã, thanh lịch của người  
Tràng An  
Nét văn hóa Thăng Long còn được thể hiện qua trang  
phục với cách ăn mặc không cầu kỳ nhưng tôn lên vẻ tao  
nhã, thanh lịch của con người nơi đây. Trang phục người  
Thăng Long có sự thay đổi qua các thời kỳ khác nhau. Vào  
thời “tiền Thăng Long”, nam mình trần, đóng khố; thân thể,  
chân tay đều có xăm hình giao long (rồng) và các hình khác.  
Nữ mặc áo ngắn đến bụng, xẻ ngực bó sát vào người, phía  
trong mặc yếm che kín. Có các loại vòng tay, vòng chân  
dùng cho cả nam và nữ. Đến thời Lê - Trịnh do hệ thống  
chính trị có nhiều thay đổi, cách ăn mặc cũng có những biến  
đổi theo. Nhưng chung quy lại, một điều dễ nhận thấy trong  
cách ăn mặc của người Thăng Long là có sự phân chia giai  
tầng. Vua mặc áo bào vàng, quan lại mặc áo gấm màu tía và  
có sự phân biệt màu rõ rệt giữa các cấp bậc quan lại. Thứ  
dân mặc áo nâu giản dị. Riêng những người hát đàn phục vụ  
triều đình sẽ có những lối ăn mặc riêng.  
Trong khi đó, Hồng lĩnh hầu Nguyễn Khản là một người  
nổi tiếng phong lưu lại đa tình, làm quan trong triều đình  
nhưng lại giỏi về lễ nhạc và thi ca, rất say mê tiếng hát và  
điệu đàn. Trong chốn quan trường, ông là người cẩn thận  
có mưu cơ, dũng lược, tài hoa, bên cạnh đó ông còn thông  
thạo cầm, kỳ, thi, hoạ. Trong cuộc đời làm quan, ông hết  
mực trung thành, mặc dù xã hội xảy ra biết bao biến loạn  
nhưng ông vẫn không nghiêng ngả, đến cuối đời vẫn một  
lòng hướng về nhà Trịnh. Trong tình yêu, ông một lòng  
hướng về người tri âm, mong mỏi một lời ca tiếng hát cùng  
hòa nhịp theo trái tim của người. Yêu và say mê Bạch Dung  
nhưng ông không bao giờ đánh mất đi phẩm chất và địa  
Trần Thu Hằng tái hiện không gian sống vùng đất Tràng  
vị của mình. Ông say mê ca nữ Bạch Dung một cách chân An qua những nét tinh túy ở trang phục trong tác phẩm. Đặc  
thành, say mê lời ca tiếng hát, say mê thần sắc của nàng biệt là trang phục của người phụ nữ Thăng Long qua những  
đào nương. Trang phục của các vị tướng thời bấy giờ qua  
hình ảnh của Nguyễn Hữu Chỉnh và Nguyễn Khản.  
nhưng yêu một cách nhẹ nhàng bình thản, yêu trong lý trí  
và có sự suy xét.  
Các đào nương khi vào hát trong phủ chúa, có lối ăn mặc  
cầu kỷ, với những trang phục lộng lẫy, tóc búi cao cài trâm,  
mình mặc một bộ xiêm nghê. Bạch Dung là một tài nữ tuyệt  
Nhờ tiếng đàn tiếng hát mà dường như mọi xốn xang,  
bụi trần đều bay đi, thay vào đó con người chỉ còn một sức  
sống mãnh liệt, một sự an hòa, thanh tao đến tột cùng. Đây  
59  
63(10) 10.2021  
Khoa học xã hội và nhân văn  
sắc với tấm lòng say đắm và nồng nàn, khoác lên người một hát trong phủ Chúa. Tất cả đang dần liện lên một nét văn  
bộ trang phục lộng lẫy khiến nàng càng xinh đẹp hơn, làm hóa thấm đượm hồn Việt.  
say đắm biết bao nhiêu người, trong đó có Nguyễn Hữu  
Kết luận  
Chỉnh. “Nàng chậm rãi tháo trâm cài tóc cho suối tóc đổ dài  
xuống tới gót, rồi tự tay nàng cởi bỏ xiêm nghê” [1]. Mái tóc  
xõa dài tới gót là một nét văn hóa đặc trưng của người phụ  
nữ Thăng Long xưa. Mái tóc ấy được chăm sóc một cách  
khéo léo, rồi được bới gọn sau đầu. Chính mái tóc dài ấy đã  
làm say mê biết bao chàng trai chốn kinh kỳ.  
Con người chính là tâm điểm của nhà văn khi phản ánh  
trong một tác phẩm nghệ thuật, nhất là tác phẩm văn học.  
Lựa chọn thể loại tiểu thuyết lịch sử, Trần Thu Hằng đã  
đi tìm những mạch ngầm trong đời sống tinh thần của con  
người ở những tính chất tiêu biểu để lý giải cuộc sống. Vẫn  
là những vấn đề của lịch sử nhưng chúng lại là chiếc cầu  
nối từ quá khứ đến hiện tại về những vấn đề xã hội, nhân  
văn và sự sinh tồn của con người. Tiểu thuyết lấy lịch sử là  
“cái đinh treo”, từ đó đưa đến những thang giá trị cuộc sống  
của con người hiện tại quan tâm. Đồng thời mở ra chân trời  
khám phá mới, phù hợp với tư duy của con người hiện đại  
trong cảm thức truy vấn những sự thực của lịch sử, cũng  
như chân giá trị tốt đẹp của văn hóa truyền thống.  
Hình ảnh hiên ngang đĩnh đạc của những người làm  
quan, tướng trong triều đình ngoài cốt cách bên trong, còn  
được thể hiện qua trang phục của họ. Nguyễn Hữu Chỉnh  
hiện lên với “một tấm thân cao lớn” và “mái tóc xõa dài  
của chàng chao đảo giữa khoảng không gian lơ lửng”. Đó là  
nét văn hóa trong cách để mái tóc của người con trai chốn  
Thăng Long. Hồng Lĩnh hầu Nguyễn Khản - một vị quan  
trong triều đình, hết mực trung thành với đất nước, đối đãi  
với người từ tốn lịch thiệp. Tính cách ấy cũng được thể hiện  
qua trang phục, “ông mặc áo dài trơn màu trắng, thắt lưng  
lụa màu xanh với một túi hương màu tía, trông hết sức tao  
nhã. Tóc ông cũng búi trần, chỉ có đôi hia là sang trọng” [1].  
Trang phục giản dị nhưng không kém phần oai nghiêm, đĩnh  
đạc của một vị tướng tài ba xuất chúng.  
Ngoài không gian của tiếng đàn, tiếng hát, của khúc  
ngâm ca trù lúc vui sướng, lúc khổ đau, lúc nỉ non tơ lòng,  
lúc thần sầu tiễn biệt trong truyện, đã hiện lên không gian  
sống nơi phường Cổ Tâm với những con người sống chết  
với nghề, những con người hào hoa, nho nhã của đất Tràng  
An. Ở đó mọi trầm luân của cuộc đời đã không đủ sức làm  
lung lay những tâm hồn sống thanh tao, thanh lịch, giản dị,  
chân tình từ lời ăn tiếng nói đến hành động việc làm. Giọng  
văn chậm rãi, nhã nhặn, từ tốn là cách để Trần Thu Hằng thể  
hiện cái nhìn, tư duy văn hóa của một nhà văn hiện đại, cho  
thấy sự trân quý, giữ gìn những nét đẹp về văn hóa Thăng  
Long vẫn hiện diện trong con người hôm nay. Đó chính là  
một ý nghĩa nghệ thuật mà tiểu thuyết Đàn đáy mang lại  
[5, 6].  
Trang phục là một nét văn hóa đặc biệt của người Việt  
Nam. Qua trang phục người Việt hiện lên với những chuẩn  
mực, khuôn thước đậm chất Á Đông. Người Việt giản dị  
trong cách ăn mặc nhưng vẫn tôn được hết thần thái và mỹ  
miều. Với con người Thăng Long xưa, trang phục mang một  
dấu ấn riêng biệt, một cung cách văn hóa trong lối sống  
hằng ngày.  
*
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
*
*
[1] Trần Thu Hằng (2005), Đàn đáy, Nxb Hội Nhà văn.  
Văn hóa Thăng Long đã được Trần Thu Hằng tái hiện  
qua những dấu ấn văn hóa: nghệ thuật ca trù, cốt cách con  
người và trang phục. Những dấu ấn văn hóa ấy, tuy được  
lồng ghép trong trang đời đầy biến động của những kép hát  
nhưng chứa đựng trong đó là tinh thần của con người Thăng  
Long. Những nhân vật Trần Thu Hằng tái hiện đều mang  
dấu ấn đậm nét của người Thăng Long không pha trộn, hòa  
lẫn vào đâu được. Tất cả đã tạo nên dư âm về một nền văn  
hóa lâu đời. Đọc Đàn đáy ta lại hồi tưởng về một kinh đô  
Thăng Long với những con người mang trong mình điệu  
ca mộc mạc thắm đượm lòng người - ca trù. Một bản chất  
con người đậm đặc của văn hóa Thăng Long với bản lĩnh,  
lòng tự trọng, sự thanh lịch và tinh thần yêu nước, cái tâm  
với nghiệp và cái tình trong cuộc sống đơn sơ, giản dị. Thấp  
thoáng đâu đó còn là dáng người Thăng Long với mái tóc  
[2] Hải Minh (2020), “Về nguồn gốc ra đời của nghệ thuật ca trù”,  
thuat-ca-tru-786202.ldo, truy cập 3/6/2020 (29/9/2010).  
thang-long-ha-noi-3506 (29/9/2010).  
xua-777727382.htm (26/7/2013).  
[5] Phạm Hoàng Lương Phong (2021), “Cốt cách Thăng Long Hà  
vn/tin-tuc/van-hoa/824350/cot-cach-thang-long---ha-noi-trong-dong-  
chay-lich-su.  
[6] Đoàn Thị Tình (2019), “Trang phục Thăng Long Hà Nội”, Nhà  
óng ả dài chấm gót, những bộ xiêm nghê lộng lẫy giữa đêm xuất bản Hà Nội.  
63(10) 10.2021  
60  
pdf 5 trang Thùy Anh 12500 Free
Bạn đang xem tài liệu "Dấu ấn văn hóa Thăng Long qua tiểu thuyết Đàn đáy của Trần Thu Hằng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdau_an_van_hoa_thang_long_qua_tieu_thuyet_dan_day_cua_tran_t.pdf