Biểu tượng mục đồng trong văn hóa dân gian Việt Nam

TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 7 * 2014  
57  
BIỂU TƯỢNG MỤC ĐỒNG TRONG VĂN HÓA DÂN GIAN VIỆT NAM  
Phan Nguyễn Quỳnh Anh*  
Tóm tắt  
Từ xưa, mục đồng vốn là một biểu tượng gắn liền với làng quê Việt Nam, phổ biến đến  
nỗi khi nhắc đến là người ta mường tượng ngay một chú bé chăn trâu đang thổi sáo hay ngồi  
vắt vẻo trên mình trâu mà nhâm nhi vài ngọn cỏ. Thế nhưng biểu tượng này không chỉ dừng  
lại ở tầng nghĩa là hình ảnh tượng trưng cho sự yên bình của làng quê Việt Nam. Bài viết sẽ  
hệ thống lại các giá trị của biểu tượng này trong tâm thức người bình dân, qua đó lý giải thế  
giới quan, nhân sinh quan của cư dân nông nghiệp từ xa xưa đến những nỗ lực lưu giữ ở hiện  
tại. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về mục đồng, thế nhưng nghiên cứu dưới góc nhìn  
văn hóa học theo một lý thuyết văn hóa cụ thể thì hầu như chưa có ai thực hiện. Với bài viết  
này, chúng tôi áp dụng cấu trúc phổ biến trong nghiên cứu văn hóa dân gian, gồm 4 thành  
phần: văn hóa nhận thức, văn hóa ứng xử, văn hóa tổ chức và văn hóa tái hiện. 1  
Từ khóa: biểu tượng, văn hóa dân gian, lễ hội, mục đồng  
Ngược lại với văn hóa gốc du mục,  
văn hóa gốc nông nghiệp xem mục đồng là  
một người bạn của gia súc (gia súc ở đây  
chủ yếu là trâu). Ngoài ra, có cách hiểu cụ  
thể hơn, mục đồng là trẻ chăn trâu. Do vị trí  
của con trâu trong văn hoá phương Đông  
không phải gắn với chăn nuôi mà gắn chặt  
với trồng trọt, nuôi trâu không để kinh  
doanh mà trước tiên là để làm sức kéo,  
phục vụ cho việc cày bừa. Trong nền văn  
hóa Việt Nam “lấy cảm tình làm bản vị”3,  
con vật chịu thương chịu khó, cùng ở cùng  
làm với người nông dân đã trở thành một  
______________________  
1. Khái quát về hình tượng mục đồng  
trong văn hóa  
Mục đồng theo nghĩa đen là người  
chăn gia súc. Ở cả hai nền văn hoá Đông –  
Tây2 đều có khái niệm này. Tuy nhiên, vị  
trí của mục đồng trong từng nền văn hoá lại  
có cách hiểu và ứng xử khác nhau.  
Trong văn hoá phương Tây gốc du  
mục, mục đồng chỉ đơn thuần là người  
chăn dắt gia súc (chủ yếu là bò, dê, cừu).  
Công việc của mục đồng đơn thuần là công  
việc trần tục, gắn với chăn nuôi số lượng  
lớn nên hầu như không có tình cảm giữa  
người chăn và gia súc. Kết quả mong muốn  
cuối cùng của công việc này là gia súc béo  
tốt, bán được giá hoặc xẻ thịt để làm thực  
phẩm phục vụ nhu cầu của con người. Vì là  
công việc quan trọng mang đến nguồn thu  
nhập chính, nên để chăn dắt được đàn gia  
súc lên đến hàng trăm con trong điều kiện  
khắc nghiệt của vùng thảo nguyên, người  
đàn ông trưởng thành trong gia đình với  
sức khỏe dẻo dai sẽ phải gánh vác trọng  
trách này.  
1
Cấu trúc này được giới thiệu trong chuyên đề  
Văn hóa dân gian do TS Trần Long trình bày, kết  
hợp với cấu trúc nghiên cứu văn hóa do GS.TSKH  
Trần Ngọc Thêm đề xuất [Xem thêm tại Trần  
Ngọc Thêm 2010: Tìm về bản sắc văn hóa Việt  
Nam, Nxb Tổng hợp, TP.HCM].  
2
Văn hóa phương Đông gốc nông nghiệp và văn  
hóa phương Tây gốc du mục là cách so sánh mang  
tính tương đối vì sự di cư và giao thoa văn hóa  
diễn ra liên tục trong suốt tiến trình lịch sử nhân loại.  
3
Theo nhà nghiên cứu Đào Duy Anh, “Văn hóa  
lấy cảm tình làm bản địa” là một trong năm đặc  
tính cơ bàn của văn hóa Việt Nam xuất phát từ gốc  
nông nghiệp. [Xem thêm tại Đào Duy Anh 2014:  
Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Thế giới, Hà Nội].  
______________________  
* ThS, Trường Đại học Thủ Dầu Một  
58  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
thành viên thân thuộc, cùng sướng cùng  
khổ với cuộc sống “bán mặt cho đất bán  
lưng cho trời”. Vì yêu quý trâu nên người  
nông dân cũng vì thế mà rất quý trọng  
người chăn dắt nó. Với nền nông nghiệp  
lúa nước, sự phân công lao động trong gia  
đình có sự khác biệt: công việc nặng nhọc  
nhất là làm ruộng, cấy lúa,... sẽ do người  
lớn trong nhà đảm nhận; việc nấu nướng  
dọn dẹp nhà cửa là của đàn bà con gái;  
phần việc còn lại - “chăn trâu” - khá nhẹ  
nhàng, lại mang tính chất vừa làm vừa chơi  
nên được ưu tiên dành cho các chú nhóc  
nhỏ trong nhà. Cũng từ đó mà trẻ mục đồng  
và trâu trở thành đôi bạn thân thiết trên  
đồng xanh.  
Trong tâm hồn Việt Nam, hình ảnh  
chú bé mục đồng ngồi vắt vẻo trên mình  
trâu gợi lên một không gian vô cùng thanh  
thoát, bình yên. Và mặc nhiên từ bao đời  
nay, mục đồng và trâu đã được người nông  
dân đặt vào biết bao tình cảm yêu mến và  
xem đó là một biểu tượng của quê hương,  
của tuổi thơ mình. Ở góc độ văn hóa, mục  
đồng không chỉ dừng lại ở hình ảnh tượng  
trưng cho làng quê mà nó đã trở thảnh một  
ký ức, một biểu tượng với nhiều nét nghĩa  
gắn với nếp suy nghĩ truyền thống của cư  
dân nông nghiệp lúa nước.  
không bước đi được. Dân trong vùng xem  
đây là một hiện tượng báo hiệu thần linh  
giáng hạ, cho nên từ đó về sau cồn có tên  
gọi là cồn Thần và không ai dám đến gần  
cồn nữa. Nhưng một hôm, có đàn trâu chạy  
lạc lên cồn, đám trẻ chăn trâu chạy vào tìm  
nhưng không hề hấn gì và vẫn an toàn trở  
về. Người ta lý giải rằng cồn Thần chỉ cho  
phép các trẻ chăn trâu đến gần mà thôi.  
Xóm Cồn về sau được gọi là xóm Thần và  
trở thành nơi tụ tập vui chơi của các mục  
đồng trong làng.  
Từ truyền thuyết này, người nông  
dân tin tưởng rằng giữa mục đồng và những  
thần linh cai quản ruộng đồng có một mối  
dây liên kết chặt chẽ và thậm chí xem mục  
đồng là hiện thân của Thần Nông. Người  
xưa quan niệm, cứ ba năm một lần Thần  
Mục sẽ giáng hạ xuống tảng đá giữa cồn  
Thần. Vì vậy mà thành thông lệ, vào các  
năm Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu, dân làng Phong  
Lệ sẽ làm lễ rước Mục đồng và đó trở thành  
ngày hội được mong chờ nhất của trẻ chăn  
trâu nơi đây. Ngày nay, nhiều vùng trên  
lãnh thổ Việt Nam vẫn còn lưu dấu về sự  
tích mục đồng. Rõ nét nhất là ở Đà Nẵng  
vẫn còn tồn tại cồn Thần ở làng Phong Lệ,  
xã Hoà Châu, huyện Hoà Vang... và đây  
cũng chính là nơi diễn ra lễ rước Mục đồng  
vào ngày 28/11/2010 vừa qua. Cách đó  
không xa, đình Thần vẫn là nơi thờ cúng  
Thần Nông và những vị thần dân gian khác  
của vùng.  
2. Văn hóa nhận thức và ứng xử với mục  
đồng  
2.1. Nhận thức của người bình dân về  
mục đồng  
Biểu tượng mục đồng dù đã quá quen  
thuộc với người dân Việt Nam nhưng  
huyền thoại về nhân vật dễ thương này  
không nhiều người biết đến. Tra cứu những  
tư liệu trong sách báo, hầu hết đều có  
chung một cốt truyện rằng: ngày xưa, làng  
Phong Lệ có một cồn cỏ. Vào ngày nọ, khi  
một người nông dân trong vùng vô tình lùa  
đàn vịt lên cồn, thì chân vịt bỗng bị dính  
chặt xuống đất như có bàn tay ai níu giữ,  
Ảnh 1: Đình Thần Nông ở làng Phong Lệ  
(Nguồn:  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 7 * 2014  
59  
về kho cất. Hôm tế xuân, tượng và trâu lại  
được rước ra Ðài, nhưng lần này đi rước là  
các quan bộ Lễ và các quan phủ Thừa  
Thiên. Khi đám rước đi qua cung vua, một  
viên thái giám vào tâu để vua biết. Sau đó,  
đám rước lại tiếp tục đi và khi đi qua bộ  
Lễ, một viên quan đánh vào mông trâu ba  
roi, có ý thôi thúc trâu phải làm việc.  
Tới Ðài, các quan làm lễ tế Thần  
Nông theo như nghi lễ các cuộc tế khác. Tế  
Thần Nông xong, trâu và tượng Thần Nông  
được quân lính mang đi chôn sau buổi lễ.  
Tại các tỉnh, trong ngày Lập xuân  
cũng có lễ tế Thần Nông và lễ cũng được  
sửa soạn từ sau ngày Ðông chí. Các quan  
tỉnh phụ trách việc hành lễ. Trâu và tượng  
Thần Nông cũng được đem chôn.”  
2.2. Ứng xử với mục đồng  
Tôn thờ mục đồng như hiện thân của thần  
Nông  
Theo Wikipedia, trên các quyển lịch  
cổ hàng năm, người ta thường vẽ hình một  
mục đồng dắt một con trâu. Theo đó, mục  
đồng được xem là vua Thần Nông còn con  
trâu tượng trưng cho nghề nông. Hình mục  
đồng và con trâu thay đổi hàng năm tuỳ  
theo ước đoán của Khâm thiên giám về  
mùa màng năm đó tốt hay xấu. Năm nào  
được dự đoán là được mùa, Thần Nông  
được vẽ giày dép chỉnh tề, còn năm nào bị  
coi là mất mùa, Thần Nông có vẻ vội vàng  
hấp tấp nên chỉ đi giày một chân. Còn con  
trâu sẽ được đổi màu tuỳ theo hành của mỗi  
năm, nó có thể mang một trong năm màu:  
vàng, đen, trắng, xanh, đỏ để ứng với các  
hành Thổ, Thuỷ, Kim, Mộc, Hoả.  
Hàng năm, các vua chúa, quan lại  
phong kiến địa phương đều tổ chức lễ tế và  
rước Thần Nông tại triều đình và ở các địa  
phương. Theo đó, lễ tế Thần Nông sẽ được  
cử hành vào ngày Lập xuân, nên còn được  
gọi là Tế xuân.  
“Theo chỉ dụ của vua Minh Mạng,  
hàng năm sau tiết Đông chí, tòa Khâm  
thiên giám phải lo sửa soạn việc tế Thần  
Nông. Các quan cùng nhau họp để nặn trâu  
và tượng Thần Nông.  
(Nguồn:  
Do mục đồng đã tồn tại từ lâu đời  
trong tín ngưỡng dân gian của cha ông ta,  
nên khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam,  
trong đó có những triết lý sâu sắc mượn  
hình tượng mục đồng để chuyển tải, đã  
được người dân đón nhận một cách tự  
nhiên, gần gũi. Một trong những bài học  
được chuyển tải qua hình tượng mục đồng  
đó là bộ tranh “Thập mục ngưu đồ”.  
Vị nể trẻ mục đồng  
Theo quan niệm phổ biến của người  
Nam Bộ thì mục đồng chính là con cháu  
của Thần Nông. Vì vậy, các thế lực siêu  
nhiên như ma quỷ, cô hồn đều phải kiêng  
dè và tuân phục. Trẻ mục đồng được quyền  
hưởng các lễ vật cúng, kể cả lễ vật cúng cô  
hồn. Tục truyền, trẻ mục đồng ngoắc tay  
vẫy thì tức khắc các bè chở lễ vật cúng cô  
hồn (trong lễ tống ôn, tống gió) đều cập vô  
bờ. Trong tâm linh của cộng đồng thì trẻ  
mục đồng là một nhóm xã hội “ngoại hạng”  
và được đặt vào một niềm tin xác tín chúng  
là con cháu Thần Nông nên có khả năng  
Trước ngày lập xuân hai ngày, tại  
gần cửa Ðông Ba (ngày nay là cửa chính  
Ðông), các quan Khâm thiên giám cho lập  
một cái Ðài hướng đông. Trâu và tượng  
Thần Nông cũng được đưa tới lưu tại phủ  
Thừa Thiên để ngày hôm sau các quan  
trong phủ mới rước từ phủ tới Ðài. Các  
quan vận lễ phục, có quân lính mang gươm  
giáo, tàn lọng, cờ quạt theo hầu.  
Tới Ðài thì một lễ đơn giản được cử  
hành, ngụ ý trình với Thổ Công về sự hiện  
diện của tượng Thần Nông và trâu. Sau đó,  
trâu và tượng Thần Nông lại được khiêng  
60  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
liên thông với cõi thiêng, bên ngoài trần  
thế.4  
lạ lùng là các tượng ấy không chìm mà nổi  
lình bình. Bọn trẻ hốt hoảng vớt các tượng  
lên rồi che một am tranh để thờ. Sau đó, có  
nhà sư từ xa đến thấy cảnh am hiu quạnh  
bèn phát tâm ở lại tôn tạo chùa. Người ta  
không biết danh tính của ông mà chỉ thấy  
ông suốt ngày làm việc, phơi lưng trần như  
da lươn nên gọi là thầy Da Lươn và đặt  
luôn tên cho chùa là chùa Da Lươn.  
Ngày nay, một số ngôi chùa được gọi  
là chùa Mục đồng cũng như một số tượng  
phật được gọi là tượng Mục đồng. Lý giải  
điều này có nhiều tích khác nhau nhưng  
đều hình thành trên một mẫu đề chung đó  
là trẻ mục đồng đi chăn trâu nặn đất sét  
thành tượng, các tượng ấy đem thả xuống  
nước đều nổi. Trong dân gian, chuyện  
tượng Phật nổi trên mặt nước dạt vào nơi  
nào thì nơi đó lập chùa, miếu thờ cúng rất  
nhiều và đã trở thành một đức tin không thể  
làm khác. Do đó, chuyện mục đồng nặn  
tượng thả xuống nước không chìm khiến  
người ta tin tưởng rằng dường như giữa trẻ  
mục đồng với thế giới tâm linh có một mối  
dây liên kết chặt chẽ nào đó, và theo một  
cách hiểu khác là Phật đã ngự trị trong  
những bức tượng do mục đồng nặn lên. Vì  
thế, người dân đã đem chính những bức  
tượng ấy lập nên miếu, chùa để thờ cúng.  
Trên lãnh thổ Việt Nam, chùa mục  
đồng xuất hiện ở nhiều nơi, và ở mỗi nơi  
đều gắn với một sự tích về mục đồng. Chùa  
mục đồng Hóc Tra (ngày nay gọi là An  
Phước tự) ở An Bình Tây, huyện Ba Tri,  
tỉnh Bến Tre. Ngôi chùa này gắn với sự tích  
rằng: nơi đây xưa kia đám mục đồng hay tụ  
tập và nặn tượng Phật, rồi lập ra một cái am  
lá để thờ các cốt tượng dưới chòm cây tra  
gần một hóc nước. Do đó, chùa có tên chùa  
Hóc Tra.  
Chùa Phật Nổi (hay còn gọi là Phước  
Lâm tự) ở ấp Ràng, xã Trung Lập Hạ,  
huyện Củ Chi, Tp.Hồ Chí Minh cũng là  
một ngôi chùa gắn với truyền thuyết về  
mục đồng. Tục truyền rằng, ông Phan Sử  
(Thiện Sử - Như Thành) nhân một hôm thả  
trâu vào rừng đã cùng bạn bè trong xóm lặn  
xuống bàu Đất Sét để lấy đất nặn tượng  
Phật chơi. Hết ngày, bọn trẻ lùa trâu về  
nhà, bỏ lại tượng giữa rừng. Đêm đó, bọn  
trẻ phát sốt và nói nhảm liên hồi. Cha mẹ  
gạn hỏi thì biết chuyện bèn bàn tính nhau  
lập chùa thờ các tượng ấy để chuộc tội với  
Phật. Thế nhưng Trùm cả và Trùm chủ  
trong làng không chấp nhận lập chùa vì lý  
do dị đoan đó. Để làm rõ, Hương chức đem  
các tượng Phật gác lên chiếc cầu khỉ bắc  
qua bàu Đất Sét rồi rút cầu. Lạ thay, khi rơi  
xuống thì có 8 tượng Phật nổi lên mặt nước  
mà không chìm. Thế là dân làng xúm nhau  
góp của góp công dựng chùa thờ các tượng  
Phật đó. Năm 1963, chùa bị đánh bom hư  
hỏng nặng nên được dời vào chợ Trung  
Hoà. Ngày nay, ở nơi khởi phát vẫn còn lại  
một thân tượng bằng đất sét và một số  
tượng gỗ được tạo tác hết sức thô phác  
nhưng lại có thần thái độc đáo.5  
Chùa Da Lươn (tên chữ Thiên  
Trường Tự) ở Đồng Sơn, huyện Gò Công  
mang truyền thuyết gắn với lịch sử ngôi  
chùa: sau khi nặn tượng thần, Phật bằng đất  
sét chơi, đám mục đồng lại đem tượng thả  
xuống ao ông Tú cho Phật tắm mát. Nhưng  
Răn dạy trẻ mục đồng  
Dù trong tín ngưỡng tâm linh, mục  
đồng được đề cao, cung phụng. Thế nhưng  
4 Theo Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc,  
Chùa Mục đồng và tượng Mục đồng ở Nam Bộ,  
5 Theo Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc,  
Chùa Mục đồng và tượng Mục đồng ở Nam Bộ,  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 7 * 2014  
61  
ngoài đời thực, mục đồng vẫn là những con  
người bằng xương bằng thịt, thậm chí là  
những đứa bé trẻ người non dạ, ham chơi  
hơn ham làm, gây ra nhiều điều phiền toái  
cho người lớn. Thế nên, người xưa đặt ra  
nhiều truyền thuyết, nhiều câu chuyện đề  
giáo huấn, răn đe trẻ mục đồng như không  
được để trâu ăn lúa, không được tè bậy lên  
mồ mả ven đường,… Như câu chuyện về  
tượng đá cụt đầu được thờ trong am tại  
thành Cổ Loa được cho là của công chúa  
Mỵ Châu. Tương truyền rằng, sau khi chết,  
thân hình nàng biến thành một tượng đá cụt  
đầu, trôi ngược về biển Đông. Về đến đất  
Cổ Loa thì dừng lại ở đó. Nhiều trẻ chăn  
trâu ra đó chơi đùa, nghịch ngợm trên  
tượng bèn bị bệnh, trâu bò tè bậy thì lăn ra  
chết… Đó là một chi tiết trong truyền thuyết  
để răn đe trẻ chăn trâu không làm điều quấy  
phá đến thần linh.  
Mục đồng bắt đầu khởi động vào tháng Ba  
Âm lịch hàng năm. Vào thời điểm này, nhà  
nhà đã lo xong mùa vụ, lúa đã được gặt hái  
nằm đầy ắp trong kho, con người nông  
nhàn nên tập trung toàn bộ sức lực lo cho lễ  
hội, làng trên xóm dưới nô nức tưng bừng.  
Các chủ điền từ trung nông trở lên (tức là  
chủ ruộng và trâu bò) sẽ trực tiếp đứng ra  
sắp xếp, lo toan mọi việc. Các chức sắc  
trong làng giữ nhiệm vụ lo tế lễ.  
Những vật dụng chuẩn bị cho việc  
cúng lễ cũng bắt đầu được chuẩn bị. Trước  
tiên là kiệu rước Thần. Đây là cổ kiệu hai  
đòn khiêng được giăng hoa, kết trái đẹp  
mắt. Kiệu có kích thước khoảng 80cm  
x100cm, nóc kiệu có 4 mái trang trí 4 giao  
lá, rèm kiệu được giăng hoa kết đèn rực rỡ.  
Dân làng sẽ chọn ra bốn mục đồng khoẻ  
mạnh, mặc khăn đống, áo dài khiêng kiệu.  
Kế đến là bộ cờ. Ngoài cờ nhỏ của mục  
đồng còn có cờ lớn của 13 bộ tộc họ trong  
làng. Cờ lớn cán tre dài 5 mét được khoan  
lỗ để có thể đút cây ngang qua dùng treo  
các vật linh (tứ linh: long, lân, quy, phụng),  
con giống, nông cụ (cày, bừa, cuốc, xẻng,  
nia,..). Chính từ cách thức trang trí cờ này  
mà các họ tộc sẽ thi thố với nhau để chiếm  
những giải thưởng danh dự trong lễ hội.  
Các họ tộc có tiền của thường rước thợ mộc  
Kim Bồng về tiện đẽo các con giống bằng  
gỗ rất công phu. Do mang trên mình nhiều  
thứ như vậy nên cờ lớn thường rất nặng, chỉ  
những lực điền trai tráng trong làng được  
trang bị đầy đủ nai nịt ngang lưng mới đủ  
sức cầm cờ.  
3. Văn hóa tổ chức của người bình dân  
đối với mục đồng  
Có thể thấy, mục đồng trong văn hoá  
dân gian Việt Nam là một hình tượng có  
thực, rất gần gũi nhưng lại được gán những  
yếu tố tâm linh khiến người đời vừa yêu  
mến vừa nể sợ. Do vậy, người xưa đã dành  
hẳn một lễ hội cho đối tượng này và tổ  
chức rất long trọng. GS.TSKH Tô Ngọc  
Thanh, Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian  
Việt Nam, đã nhận định: “Lễ hội mục đồng  
rất độc đáo, có thể là duy nhất trên đất nước  
Việt Nam”6.  
Điển hình nhất là lễ rước Mục đồng  
xưa kia được tổ chức tại làng Phong Lệ,  
Hoà Châu, Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng.  
Theo lệ, cứ đến các năm Tý, Ngọ, Mẹo,  
Dậu, tức là cứ cách 3 năm thì làng lại tổ  
chức lễ rước Mục đồng một lần. Lễ rước  
Sau khi chuẩn bị đầy đủ các vật lễ,  
chiều 29 tháng Ba Âm lịch, người ta sẽ tổ  
chức lễ dạo đồng. Đây là lúc con cháu sinh  
sống ở mọi nơi kéo về làng đông đủ. Mục  
đồng sẽ cầm cờ dạo quanh các cánh đồng  
để tỏ ý cầu mưa. Những người giả cả ốm  
yếu không ra dự được nhưng vẫn lo lắng  
hỏi con cháu xem mục đồng có cầm cờ lội  
6 Theo  
62  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
qua ruộng nhà mình không. Nếu biết là  
không thì họ rất buồn và nói: rứa là năm ni  
ruộng mình thua mùa rồi. Chính vì vậy, dù  
mệt nhưng mục đồng cũng phải cố gắng  
cầm cờ lội qua khắp các ruộng trong làng,  
không bỏ sót bất cứ ruộng nào để cầu phúc  
tốt tươi cho tất thảy ruộng đồng.  
Ảnh 3: Đám rước với cờ xí rợp trời  
Đến cồn Thần, đám rước dừng lại,  
kiệu Thần được đặt vào vị trí trang trọng  
nhất. Trùm Mục quỳ trên chiếu hoa, thay  
mặt cho mục đồng làm lễ triệu thỉnh Thần.  
Sau khi khấn vái, Trùm Mục gieo hai đồng  
tiền vào cái dĩa đặt trước mặt: một sắp một  
ngửa báo hiệu Thần đã giáng. Một hồi sênh  
nổi lên, tiếp theo là ba hồi chiêng trống.  
Rồi trống cơm, phường bát âm cũng tấu lên  
những âm điệu rộn rã chào mừng. Khi nhạc  
dứt, Trùm Mục dõng dạc xướng:  
- Chúng mục đồng làng Phong Lệ ta!  
- Dạ (mọi người đồng thanh đáp lại)  
- Rước Thần Nông về làng Phong Lệ ta!  
- Giá hạ! Giá hạ! (Gieo giống xuống  
ruộng đồng)  
Ảnh 2: Dạo đồng  
Sáng ngày 30, lễ rước chính thức  
diễn ra. Từ khi trời chưa hừng đông, tiếng  
trống hiệu đã được gióng lên triệu tập dân  
làng về dự lễ. Vị trí đầu tiên của lễ hội là  
sân đình Thần, hay còn gọi là đình Mục  
đồng. Khi dân làng đã tề tựu đầy đủ, Trùm  
Mục (người cai quản các mục đồng) trong  
lễ phục trịnh trọng tiến vào hậu tẩm khấn  
vái, cung kính thỉnh bài vị Thần Nông nâng  
cao ngang mày rồi quỳ xuống đặt vào trong  
kiệu. Đoàn rước trong tư thế sẵn sàng, cờ xí  
ngay ngắn. Chiêng trống được gióng lên,  
tất cả mục đồng hướng vào chánh điện,  
đồng loạt chắp tay xá ba cái rồi đám rước  
bắt đầu di chuyển hướng về cồn Thần.  
Dẫn đầu đoàn rước là cờ của mục  
đồng, kế đến là cờ 13 họ tộc. Dàn cổ nhạc  
cùng chiêng trống hoà tấu không ngừng.  
Mỗi nhà có trâu đều sắm sửa lễ phẩm,  
thường là một mâm xôi với hoa quả, có khi  
là một con gà hay đầu heo được người đội  
theo đám rước. Nổi bật giữa đoàn người là  
kiệu rước Thần uy nghi. Dân làng nối đuôi  
đi sau cùng.  
- Mừng cho tốt lúa, tốt gieo. Vũ  
thuận phong điều, mừng reo một tiếng!  
- A!  
Dứt tiếng reo, đoàn mục đồng cầm cờ  
nối đuôi theo vị Trùm Mục chạy tới, chạy  
lui quanh tảng đá trắng giữa cồn Thần. Sau  
một hồi, tất cả chỉnh đốn lại hàng ngũ  
chuẩn bị rước Thần về đình làng. Lượt về  
càng nghiêm trang hơn vì mọi người đều  
tâm niệm là Thần đang ngự trên kiệu. Trời  
vừa sáng, đám rước về đến đình làng. Tiếp  
đến là lễ đặt bài vị và lễ dâng vật cúng của  
dân làng. Bài vị Thần được đặt lên bàn thờ  
nơi hậu tẩm chính đình. Lễ vật xôi gà được  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 7 * 2014  
63  
bày trên chiếu hoa trải khắp ba gian đình,  
mọi người đều hoan hỉ vì tin rằng lòng  
thành kính của mình đã được thần chứng  
giám. Trong lễ, ai ai cũng giữ sự cung kính  
trước các mục đồng.  
Mặt trời lên khỏi ngọn tre là lúc lễ  
vừa xong. Mọi người trở về với công việc  
thường ngày nhưng trong lòng lại mừng vui  
khấp khởi với một niềm tin vào đồng ruộng  
tốt tươi, vụ mùa bội thu sắp tới.  
4. Văn hóa tái hiện về biểu tượng mục đồng  
Không chỉ tồn tại trong huyền thoại,  
trong tín ngưỡng mà hình ảnh mục đồng đã  
bước từ ký ức ra đời sống, trở thành một  
hình ảnh quen thuộc trong rất nhiều tác  
phẩm nghệ thuật dân gian lẫn bác học.  
Thơ ca  
vào tranh vẽ với những triết lý nhân sinh  
sâu sắc. Nổi tiếng nhất là hai bức vẽ mục  
đồng dưới dạng câu đối. Bức thứ nhất vẽ  
chú bé ngồi trên lưng trâu thổi sáo, thơ đề  
“Hà diệp cái thanh thanh” (Lọng lá sen  
xanh thẳm) hay một phiên bản khác là  
“Thiên thanh lọng suy dịch” (Trời xanh  
trong tiếng sáo). Bức thứ hai, khắc hoạ hình  
ảnh mục đồng mình trần đóng khố, nằm  
ngửa trên lưng trâu, tay cầm dây thả diều  
giống hình một chiếc nón, thơ đề là “Vũ thu  
phong nhật dực” (Một cánh bay trong gió  
thu).  
“Ai bảo chăn trâu là khổ. Chăn trâu  
sướng lắm chứ. Ngồi mình trâu, vuốt ngọn  
cờ lau và giọng hát nghêu ngao,...”. Vào  
những năm 1950 – 1970, hầu như người  
dân Nam Bộ nào cũng thuộc nằm lòng  
những câu hát này. Lời hát mộc mạc, giai  
điệu vui tươi dễ nghe, dễ nhớ, dễ hát, lâu  
dần trở thành một câu hát dân gian truyền  
miệng gợi lên hình ảnh đồng quê yên ả với  
những thú vui vô cùng giản dị.  
Và có lẽ cũng ít ai quên được bài thơ  
nổi tiếng của nhà thơ Giang Nam: Quê  
hương. Ngay những câu đầu tiên, tác giả đã  
khắc hoạ một cách dung dị và trong lành  
hình ảnh chú bé chăn trâu, để qua đó cả  
vùng trời quê hương hiện ra rất đỗi yên  
bình.  
Ảnh 6: Mục đồng cưỡi trâu dưới khắc họa  
của nghệ nhân làng tranh Đông Hồ (Nguồn:  
Tìm hiểu về bức tranh thứ nhất.  
Tranh miêu tả chú bé mục đồng ngồi đè lên  
những bông sen trên lưng trâu, đang say  
sưa thổi sáo, trên đầu là một chiếc lá sen  
thật to che mát. Đồng hành với mục đồng là  
chú trâu đang nghển tai lắng nghe ra chiều  
thích thú lắm. Toàn thể bức tranh toát lên  
vẻ yên bình, thanh thoát, sự hoà điệu giữa  
con người với cảnh vật. Nhiều người cho  
rằng, nội dung bức tranh mang tính minh  
triết của Phật giáo: tính phá chấp (ngồi đè  
lên bông sen), sự chế ngự bản ngã (cưỡi  
trâu) và sự hoà nhập chân tính của con  
người với thiên nhiên.  
“Thưở còn thơ ngày hai buổi đến trường  
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ  
Ai bảo chăn trâu là khổ  
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao”  
(Quê hương – Giang Nam)  
Ở bức thứ hai, là hình ảnh chú bé  
trong tư thế nằm ngồi thật thảnh thơi trên  
lưng trâu và còn mang theo cả thú vui trẻ  
nhỏ là thả diều. Nếu lý giải theo triết lý nhà  
Phật thì chiếc nón của chú bé mục đồng  
Hội hoạ, điêu khắc  
Ngay từ xa xưa, trong các tranh dân  
gian Đông Hồ, mục đồng đã trở thành một  
nhân vật đặc biệt được các nghệ nhân đưa  
64  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
hoá thành cánh diều bay bổng lên trời cao  
như sự vươn lên của trí tuệ. Tuy nhiên, dù  
biết hay không biết những cách lý giải đó  
thì bất cứ người dân Việt nào khi nhìn vào  
hai bức tranh này đều cảm thấy thật dung  
dị, thân quen, tâm hồn con người như được  
trải rộng ra cả khung trời tuổi thơ vô tư,  
trong trẻo.  
Trong lĩnh vực điêu khắc, hình tượng  
được khắc hoạ phổ biến nhất là chú bé mục  
đồng tóc để chỏm, ngồi vắt vèo trên lưng  
trâu thổi sáo. Giữa chốn phố thị, để tìm một  
chút yên bình của làng quê, không ít gia  
đìnhg đã trưng bày những tượng điêu khắc,  
những tranh ảnh có hình ảnh chú bé mục  
đồng cưỡi trâu, như một cách nhắc nhớ lại  
những ký ức êm đềm của tuổi thơ.  
lo của các em nhỏ.  
“Ê, cho mượn cái mo cau, quạt cho  
mát chút đi. Chà, bây giờ mình nghỉ một  
chút, hát cho vui một chút rồi mình lại chơi  
tiếp, bạn nhé.  
Ngoài đồng có bụi dưa hồng. Ngoài  
đồng có bụi chuối bông.  
Nghé nghé, con gì bơi không hát mà la.  
Bỏ bè, bỏ bạn, không ôn bài mà la suốt ngày  
Chiều chiều én liệng qua đồng. Chiều  
chiều én liệng bến sông  
Nghé nghé, nghé con hun hút cuộc  
vui, ở bờ, ở bụi, ai đuổi mày mà u ú ù.”  
Ca khúc thứ hai cũng rất nổi tiếng  
trong thời gian gần đây và đó là một ca  
khúc viết cho giới trẻ, ca khúc Mục đồng  
của tác giả Tăng Nhật Tuệ.  
“Này ta nhóm một tiếng ca lửa hồng  
hát đón ánh trăng vàng lên. Này ta đón ngày  
ấu thơ quay về, về bên giấc mơ lành. Còn  
tiếng cười sau cánh cửa chờ ta đấy thôi, còn  
bếp hồng đang nhóm lại ngày thơ đấy thôi.  
Đường còn thật xa trái tim ấp ôm những  
ngày qua, là ngọn lửa ấm đã nuôi lớn ta  
những ngày xa.  
Ảnh 7, 8: Những tượng gốm quen thuộc  
thường thấy trong các nếp nhà Việt  
Này ta vẫn là chú bé mục đồng giữa  
bát ngát mây trời không u sầu. Này ta hát  
bài hát ru yên bình, hát với ánh trăng vàng  
lên. Này ta uống giọt sương trên lá cỏ và  
nghe dế kêu mừng. Còn tiếng cười sau cánh  
cửa chờ ta đấy thôi. Còn bếp hồng đang  
nhóm lại ngày thơ đấy thôi.  
Đừng vội vàng bay chú chim sáng  
nay trên cành khô. Ngày còn hồng lên hót  
vang với ta những ngày xưa. Còn tiếng  
cười sau cánh cửa chờ ta đấy thôi. Còn bếp  
hồng đang nhóm lại ngày thơ đấy thôi.  
Đừng vội vàng bay chú chim sáng  
nay trên cành khô. Ngày còn hồng lên hót  
vang với ta những ngày xưa …  
Âm nhạc  
Trong lĩnh vực âm nhạc, trước đây  
không nhiều ca khúc viết về mục đồng vì  
dường như lúc đó, con người vẫn còn quen  
thuộc lắm hình ảnh làng quê, nhìn đâu cũng  
thấy cảnh những chú bé chăn trâu vô tư trên  
đồng quê bát ngát. Nhưng ngày nay, khi  
những thứ tưởng chừng quen thuộc đó đã  
trở thành ký ức thì lòng người lại không  
nguôi hoài niệm và tái hiện nó trở lại trong  
những ca khúc và không ít trong số đó là  
những ca khúc dành cho thiếu nhi và giới trẻ.  
Có thể dẫn ra đây ca khúc Nghêu  
ngao mục đồng của tác giả Trần Xuân Tiên  
với những ca từ rất trong trẻo và càng đáng  
yêu hơn khi được thể hiện qua giọng hát líu  
Này ta vẫn là chú bé mục đồng hát  
bát ngát mây trời không u sầu…”  
(Mục đồng – Sáng tác: Tăng Nhật Tuệ)  
TẠP CHÍ KHOA HỌC SỐ 7 * 2014  
65  
Một ca khúc khác cũng là một sáng  
tác dành cho giới trẻ theo thể loại nhạc rock  
mới lạ, ca khúc Bài hát mục đồng do nhạc  
sĩ khiếm thị Hà Chương sáng tác. Có thể  
xem những cảm xúc của Hà Chương trong  
ca khúc là một vùng ký ức sâu lắng tích tụ  
từ bao đời của người con đất Việt vì dù  
chưa một lần nhìn hình ảnh làng quê (tác  
giả là người khiếm thị) nhưng Hà Chương  
đã truyền tải được những rung động rất  
trong trẻo qua “đôi mắt” của một chú mục  
đồng trẻ thơ.  
“Cơn gió chiều nhè nhẹ nâng cánh  
diều, làng yên bình thân yêu. Cánh đồng  
vàng, lũ bạn tôi mơ màng nhìn diều bay  
thênh thang. Nào mình cùng nắm tay cười  
vang và nghe hương đồng mênh mang. Kìa  
một chú chim sẻ non, gieo lời hót trong  
ngần. Diều ơi! Diều ơi! Bay lên dùm tôi  
những ước mơ nhỏ bé, nâng lên trời xanh  
những khát khao tuổi thơ. Với bao mộng  
mơ diều ơi ngày ấy, lớn lên trong tôi tình  
yêu con người.  
yêu đến lung linh. Bồng bềnh diều bay lên,  
chòng chềnh diều bay lên…”  
5. Kết luận  
Đâu đó, trong sâu thẳm mỗi con  
người Việt Nam đều khao khát một lần  
được chạy chân trần trên đồng ruộng, nằm  
trên lưng trâu ngân nga những bài đồng dao  
thơ ấu. Đó là dấu ấn, là ký ức không bao  
giờ phai nhạt.  
Dù được tái hiện dưới hình thức nào  
đi nữa (trong thơ ca, nhạc họa hay tái hiện  
trong đời thực qua lễ hội Mục đồng,…) thì  
người dân gốc nông nghiệp đều có chung  
mục đích là gửi gắm ước mong, nguyện  
vọng tốt đẹp của mình vào biểu tượng trung  
tâm: biểu tượng mục đồng. Khi tìm hiểu về  
biểu tượng mục đồng trong văn hóa Việt  
Nam qua việc áp dụng cấu trúc bốn thành  
phần, người viết không chỉ biết về tâm thức  
của người Việt trong cách nhìn nhận về đối  
tượng này mà còn được tìm hiểu rõ thêm về  
một trong những lễ hội dân gian độc đáo  
của dân tộc. Lễ hội Mục đồng dành cho trẻ  
chăn trâu nên cũng có thể xem đó như ngày  
cúng tổ nghề (giống như ngày tổ nghề thêu,  
nghề may, nghề đúc…). Nhưng về tâm thức  
cộng đồng, lễ hội lại giống như một ngày  
sinh nhật tuổi ấu thơ. Trong đó, ai cũng có  
thể tìm thấy những hình ảnh, những dấu ấn  
của bản thân và đều cảm thấy có trách  
nhiệm phải duy trì ngày lễ giống như duy trì  
kỷ niệm ngày sinh hằng năm của mình vậy  
Cuối ngày rồi một cánh diều bay,  
phiêu du trên bầu trời. dù đời ngược xuôi,  
diều vẫn trôi tôi về miền cổ tích. Tiếng sáo  
diều làm lòng nhẹ thênh, cho ta quên ưu  
phiền. một ngày bình yên, diều hát ngân  
nga bài hát mục đồng…  
Gió ơi xin đừng làm diều tôi đứt dây!  
Mưa ơi nhẹ rơi kẻo diều tôi tả tơi! Để diều  
gọi trăng lên, đem ánh sáng hiền, và tình  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Đào Duy Anh 2014: Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Thế giới, Hà Nội.  
[1] Đinh Gia Khánh (cb), Cù Huy Cận 1995: Các vùng văn hóa Việt Nam, Nxb Văn học  
Hà Nội.  
[2] Trần Long 2013: Tập bài giảng môn Văn hóa dân gian, ĐH KHXH&NV Tp.HCM  
[3] Trần Ngọc Thêm 2006: Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb Tổng hợp Tp.HCM.  
[4] Vũ Ngọc Khánh 2007: Văn hóa dân gian người Việt, Nxb Quân đội Nhân dân.  
[5] Bách khoa toàn thư mở Wikipedia,  
66  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHÚ YÊN  
[6] Chu Mạnh Cường: Con trâu  
[7] Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc: Chùa mục đồng và tượng mục đồng ở Nam Bộ  
[8] Ngọc Bảo: Chăn trâu  
[9] Nguyễn Trần Bình: Cặp tranh chăn trâu  
[10] Văn Thành Lê: Lễ rước mục đồng làng Phong Lệ  
Abstract  
The Symbol of “Herdsman” in Vietnamese Folklore  
Herdsman has long been a symbol attached to Vietnam’s countryside and villages. It is  
such a popular thing that the mentioning simply recalls the scenery of a young boy riding  
buffalo and playing flute. However, it is not only the image of Vietnam villages’ peace, but also  
has more special values. This paper will systemize the values of this symbol in the minds of the  
ordinary people, from which, explaining some perspectives about the life and world of farmers  
from the ancient time to their current efforts in preserving them. Although there have been many  
researches about the herdsman, none of them approaches this topic from a cultural perspective  
under any specific cultural theory. With this article, we take advantage of a popular structure in  
folklore research, including four components: awareness-based culture, behavior-based  
culture, organizational culture and re-creating culture.  
Key words: symbol, folklore, festival, herdsman  
pdf 10 trang Thùy Anh 17680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Biểu tượng mục đồng trong văn hóa dân gian Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbieu_tuong_muc_dong_trong_van_hoa_dan_gian_viet_nam.pdf