Phật giáo trong quá trình dựng nghiệp của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Thị Quỳnh
PHẬT GIÁO TRONG QUÁ TRÌNH DỰNG NGHIỆP CỦA
CÁC CHÚA NGUYỄN Ở ĐÀNG TRONG
BUDDHISM IN PROCESS OF ESTABLISHING THE CAREER
OF NGUYEN LORDS IN DANG TRONG
NGUYỄN THỊ QUỲNH
TÓM TẮT: Trong quá trình mở mang bờ cõi về phía Nam dưới thời các chúa Nguyễn, Phật giáo
luôn giữ vai trò quan trọng ở xã hội Đàng Trong. Việc khảo cứu các tư liệu đương thời nhằm tìm
hiểu chính sách của các chúa Nguyễn đối với Phật giáo và vai trò của Phật giáo đối với quá trình
dựng nghiệp của các chúa Nguyễn. Qua đó cho thấy, các chúa Nguyễn đã rất quan tâm đến Phật
giáo và coi tôn giáo này như một công cụ của chính quyền để mở rộng ảnh hưởng trong dân
chúng, đồng thời cũng là phương tiện ngoại giao nhằm xác lập tính chính danh với nhà Thanh. Bên
cạnh đó, Phật giáo cũng góp phần cố kết các sắc dân di cư với dân bản địa đương thời tạo nên nền
tảng ổn định để xây dựng, bảo vệ và phát triển vùng đất Đàng Trong.
Từ khóa: chúa Nguyễn; Phật giáo; chính sách tôn giáo; tôn giáo với chính trị.
ABSTRACT: In the process of expanding the southern border under the Nguyen Lords, Buddhism
always played an important role in Dang Trong (Southern) society. Studying contemporary data
aims to understand the policies of the Nguyen Lords towards Buddhism and the role of Buddhism
in the process of establishing the career of Nguyen Lords. Thereby, it shows that Nguyen Lords
were very interested in Buddhism and considered this religion as a tool of the government to
expand the influence in the people, and also a diplomatic means to establish legitimacy with the
Thanh Dynasty. In addition, Buddhism also contributes to consolidating immigrants with the
contemporary indigenous people, creates a stable foundation for building, protecting and
developing Dang Trong territory.
Key words: Nguyen Lords; Buddhism; religious policy; religion with politics.
thức về vai trò của Phật giáo trong quá trình mở cõi
và xây dựng sự nghiệp ở Đàng Trong.
2. NỘI DUNG
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình mở cõi gây dựng sự nghiệp ở
phương Nam, các chúa Nguyễn đã cùng lúc làm ba
việc là Bắc cự, Nam tiến và củng cố chính quyền.
Để có thể xây dựng được nền tảng chính quyền của
mình ở phía Nam sông Gianh, với thành phần dân
cư khá phức tạp và mới mẻ, các chúa Nguyễn đã
dựa vào một trong những công cụ đắc lực đó là tôn
2.1. Thời Chúa Nguyễn và chính sách đối với
Phật giáo
Thời chúa Nguyễn được bắt đầu tính từ khi
Nguyễn Hoàng (Chúa Tiên) vào trấn thủ Thuận
Hóa (1558) và kết thúc khi Tây Sơn lật đổ chính
giáo. Trong bài viết này chúng tôi làm rõ những quyền năm 1777 ở Gia Định (chúa Nguyễn Phúc
chính sách của các chúa Nguyễn đối với Phật giáo
thông qua các thư tịch cổ đương thời, qua đó nhận
Dương). Thời gian tại vị dài ngắn khác nhau, đặc
điểm về chính trị cũng khác nhau giữa các chúa
thời hòa bình và thời chiến tranh. Điểm chung
125
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 23, Tháng 9 – 2020
xuyên suốt ở các chúa chính là sự nghiệp mở
mang bờ cõi về phương Nam. Trong quá trình mở
cõi ấy, các chúa đã sử dụng nhiều công cụ mà
một trong những công cụ đó là Phật giáo. Phật
giáo với các chúa Nguyễn thời kỳ này, cũng
giống như Phật giáo ở thời kỳ đầu dựng nền độc
lập của Đại Việt, không chỉ đơn giản là tôn giáo
mà còn để cố kết lòng người tốt hơn bất kỳ một
tôn giáo nào tồn tại ở nước ta đương thời.
do chính quyền xây dựng (chùa công). Mạng
lưới chùa công do Nguyễn Hoàng xây dựng thể
hiện sự sùng Phật và chính sách phát triển Phật
giáo của mình. Cristophoro Borri đã miêu tả cho ta
thấy ở Đàng Trong có nhiều đền chùa rất đẹp với
tháp cao và lầu chuông. Mỗi địa điểm dù nhỏ bé
đến đâu cũng có đền chùa thờ Phật. Tín đồ, Phật tử
thì sùng kính, sư sãi được trọng vọng [2, tr.374].
Phật giáo Đại thừa được Nguyễn Hoàng
khẳng định tại các địa bàn trấn nhiệm của ông.
Cũng như các vương triều độc lập đầu tiên của
Trong bối cảnh chính trị phức tạp buổi đầu Lê
Trung Hưng, Nguyễn Hoàng đã xin vào trấn thủ
Thuận Hóa từ năm 1558 nhưng phải đến năm 1600 Đại Việt, Nguyễn Hoàng sử dụng Phật giáo
sau khi giúp vua Lê dẹp loạn phía Bắc trở về Thuận nhằm thu phục lòng người làm cơ sở vững chắc
Hóa, Nguyễn Hoàng mới chính thức gây dựng sự
nghiệp cho dòng họ mình. Thời các chúa Nguyễn
bắt đầu có những đóng góp lớn cho Đàng Trong
nên chăng phải tính từ 1600 đến 1802, tức 202 năm.
Trong hơn hai thế kỷ các chúa Nguyễn đã phải mất
¼ thời gian chống lại chính quyền chúa Trịnh
(1627-1672), trong thời gian này các chúa Nguyễn
tập trung vào chiến tranh do vậy ít quan tâm đến tôn
cho sự nghiệp của họ Nguyễn. Sau khi thoát
khỏi sự kiểm soát của chúa Trịnh, vượt qua
hoạn nạn ở phía Bắc trở về, chúa Nguyễn
Hoàng đã xây chùa Thiên Mụ với lời đồn dân
gian “sẽ có vị chân chúa đến xây chùa ở đây,
để tụ khí thiêng, cho bền long mạch” [10,
tr.42]. Lời sấm truyền của bà già “áo đỏ quần
xanh” có thể coi như xác định sự phó thác của
giáo. Các chúa Nguyễn chỉ thực sự quan tâm đến sự trời đất với sự nghiệp của họ Nguyễn [14,
phát triển của Phật giáo trong giai đoạn hòa bình, đó tr.227]. Việc họ Nguyễn muốn dựa vào yếu tố
là thời gian trước chiến tranh Trịnh - Nguyễn (1600- tiên đoán dân gian này không phải đến năm
1627) và sau khi chiến tranh kết thúc, đặc biệt dưới
thời hai chúa Phúc Trăn và Phúc Chu.
1601 mới có mà khát vọng ấy đã có từ khi ông
vào tới Ái Tử dân địa phương dâng 7 vò nước
trong. Nguyễn Ư Dĩ (Thái phó nhà Lê) nói
rằng: “Ấy là điềm trời dâng nước cho ông đó”
[8, tr.138].
Ý thức được vai trò cần có một sợi dây
tinh thần cố kết nhân dân và hợp nhất các tín
ngưỡng, tôn giáo bản địa, Nguyễn Hoàng bắt
đầu xây dựng các ngôi chùa Phật giáo Đại thừa
trên vùng đất trấn nhiệm. Dưới thời của mình,
ông đã sửa sang, xây dựng mới 5 ngôi chùa.
Đầu tiên là chùa Thiên Mụ (1601), năm sau đó
ông cho sửa sang lại chùa Sùng Hóa. Để yên
dân trấn Quảng Nam ông cho hoàng tử thứ 6
làm trấn thủ và dựng chùa Long Hưng ở phía
Đông trấn này [10, tr.42]. Sau khi ổn định trấn
Quảng Nam năm 1607 Nguyễn Hoàng cho
dựng thêm chùa Bảo Châu (Trà Kiệu - Quảng
Nam), hai năm sau dựng chùa Kính Thiên (Lệ
Thủy - Quảng Bình) [10, tr.43]. Các vùng đất
trấn nhiệm của ông từ Quảng Bình đến trấn
Quảng Nam đều đã có các công trình Phật giáo
Các chúa tiếp theo cho đến hết đời chúa
Nguyễn Phúc Tần (1687) là thời gian chiến
tranh Trịnh - Nguyễn; việc sửa sang và xây mới
chùa chiền không như thời trước. Năm 1665,
chùa Thiên Mụ được tu sửa một lần, hai năm
sau chúa Phúc Tần cho xây chùa Hoa Vinh sau
khi loại bỏ một ngôi tháp cổ (có thể là tháp
Chăm) trên núi này [10, tr.111]. Tuy chùa chiền
không được xây dựng nhiều như thời chúa Tiên
nhưng sự sùng Phật của các chúa thì không hề
thuyên giảm khi dân gian vẫn gọi chúa Nguyễn
Phúc Nguyên là chúa Sãi. Con thứ 4 chúa Phúc
Tần, tức nguyên soái Hiệp, cũng tôn sùng Phật
126
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Thị Quỳnh
pháp nên sau khi chinh chiến về đã xây am thờ
Phật để tu [10, tr.124].
đặc biệt ở Thuận Hóa đều là những đại danh lam như
chùa công Thuận An, chùa công Kim Long, chùa
công Hà Trung, chùa công Quang Xuân, chùa công
Thiên Mụ, chùa nào cũng đặt Tăng lục, lại có Ty
Tănglục, TyNội pháp, TyHuyềnpháp[4, tr.146].
Chúa Phúc Chu là người sùng Phật nhưng
cũng ham đọc sách thánh hiền. Cách cai trị của
ông gần gũi với dân mang màu sắc Phật giáo
nhiều hơn là Nho giáo. Khi tiếp chuyện Thích
Đại Sán, trong quân doanh xảy ra hỏa hoạn ông
đã dừng buổi tiếp chuyện để trực tiếp đi chỉ đạo
việc chữa cháy, theo quan điểm của ông đây là
bổn phận trực tiếp của mình [11, tr.99].
Từ thời chúa Phúc Trăn (1687), đình chiến
Trịnh - Nguyễn được hơn một thập kỷ đã tạo điều
kiện để các chúa quan tâm hơn đến Phật giáo. Sau
khi kế vị, chúa Phúc Trăn đã xây dựng chùa Thuận
An [10, tr.135]. Nếu lời nói của Thích Đại Sán
không phải ngoa ngôn thì chúa Nguyễn Phúc Trăn
đã hơn một lần có thư mời vị hòa thượng này đến
thuyết pháp [11, tr.19]. Mời một vị sư có uy tín từ
Quảng Đông sang; thứ nhất, nhằm xiển dương Phật
pháp; thứ đến cũng nhằm nâng cao vị thế của các
chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Thời gian tại vị của
chúa Phúc Trăn tuy ngắn nhưng những việc làm
của ông cho thấy sự quan tâm sâu sắc của chính
quyền Đàng Trong đến Phật giáo. Đây cũng là nền
tảng để chúa Nguyễn Phúc Chu tiếp tục phát triển.
Dưới thời chúa Phúc Chu chùa chiền tiếp tục
được mở mang tu sửa. Năm 1692 chúa cho tu sửa
chùa núi Mỹ Am [10, tr.147]. Năm 1710, chúa cho
đúc chuông chùa Thiên Mụ, đích thân ông làm bài
minh khắc vào chuông [10, tr.171]. Năm 1714 cho
đại trùng tu chùa Thiên Mụ, sai người sang Trung
Quốc mua hơn nghìn bộ kinh Đại tạng cùng luật
và luận đặt ở tự viện. Cùng năm này, chúa Nguyễn
cho mở hội chùa Thiên Mụ, ông đã ăn chay cả
tháng [10, tr.178]. Đây không phải lần đầu chúa
Phúc Chu cho trùng tu chùa Thiên Mụ vì trước đó
khi mời Thích Đại Sán sang thuyết pháp ông đã
cho tu sửa chùa 1 lần để làm nơi cư trú và thuyết
pháp sau khi ông bị bão biển không thể trở về
nước [11, tr.167]. Năm 1716 cho sửa chùa Kính
Thiên ở Thuận Trạch và chùa Hoàng Giác ở
Phong Điền trên nền chùa cũ [10, tr.185-187].
Cùng với việc sửa sang chùa chiền, đúc
chuông, mở hội, chúa Nguyễn Phúc Chu đã hoàn
thành tâm nguyện của tiên chúa mời được Thích
Đại Sán tự Thạch Liêm đến giảng kinh, chấn hưng
Phật pháp. Bên cạnh đó, chúa còn tự nguyện cúng
tiền, đảm phụ quá nửa tài chính cho việc xây chùa
Trường Thọ [11, tr.33] của Đại Sán ở Quảng Đông.
Khi gây dựng sự nghiệp các chúa Nguyễn thực
Bắt đầu từ thời chúa Phúc Chu, các chúa đều
có pháp danh, bản thân ông mang hiệu Thiên túng
đạo nhân. Chúa Phúc Chú hiệu là Vân truyền đạo
nhân, chúa Phúc Khoát hiệu là Từ tế đạo nhân. Mẹ
chúa Phúc Thuần đã đi tu ở chùa Phúc Thành
(1774), khi bà qua đời được truy tôn là Tuệ tĩnh
thánh mẫu Nguyên sư, hiệu Thiên Long Giáo chủ.
Bên cạnh đó chúa Nguyễn còn phong
Quốc sư, chúng tôi không khảo sát được thời
gian nào thì các chúa Nguyễn đặt chức danh
cho người đảm nhiệm sự phát triển Phật pháp
này nhưng theo Thích Đại Sán thì Chúa
Nguyễn đã phong Quốc sư cho Hưng Liên tự
Quả Hoằng vốn là học trò của Thích Đại Sán
[11, tr.19]. Các chúa thì sùng Phật, còn con em
và quan lại của chúa cũng một lòng hướng
Phật. Trường hợp Nguyên soái Hiệp con thứ 4
của chúa Phúc Tần chúng tôi đã trình bày ở
trên, Tham chính Trần Đình Ân khi về trí sĩ
cũng ở ẩn tại chùa Bình Trung (Hà Trung -
Minh Linh) lấy thiền học làm vui [10, tr.161].
Do sự sùng Phật của các chúa Nguyễn nên
tình hình Phật giáo trong dân gian ở Đàng
Trong cũng có sự khởi sắc. Bên cạnh chùa công
do các Chúa Nguyễn xây dựng khi khảo sát Hải
ngoại kỷ sự chúng tôi nhận thấy có nhiều chùa
do dân chúng xây dựng mà trên đường Thạch
Liêm đi từ Thuận Hóa vào Hội An hoặc ngược
lại ông thường dừng nghỉ hoặc thuyết pháp.
sự sùng Phật, các chùa do các chúa xây ở Đàng Trong Tuy nhiên, sự phát triển của Phật giáo trong
127
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 23, Tháng 9 – 2020
dân gian dưới thời các chúa Nguyễn chưa thực
sự quy củ đến mức dân lấy nhà chùa làm nơi
trốn lính, thành ra số người đi tu thì đông
nhưng Phật pháp thì không phát triển [11,
tr.43]. Chính quyền chúa Nguyễn đã dành cho
Phật giáo sự ưu đãi khá lớn, bên cạnh việc đi tu thì
không bị bắt lính mà nhà sư (dù khá đông vẫn
không có giải pháp chấn chỉnh) còn được miễn
thuế [8, tr.486], việc miễn thuế này được ghi nhận
từ chúa Nguyễn Phúc Chu và nó chỉ được thực
hiện với các nhà sư có giới điệp [11, tr.50].
tín ngưỡng dân gian. Việc xây dựng chùa Thiên Mụ là
một điểm khá đặc biệt trong cách tiếp cận với tôn giáo
bảnđịa,thểhiệnởsựdunghợpđạogiáo(Bàgià/bàTiên)
với nền cổ nơi xây chùa là đền thờ Po Nagar của người
Chăm, chúa Nguyễn dựng lên chùa Thiên Mụ mang
theo Phật giáo Đại thừa của người Việt vào Thuận Hóa.
Tiếp sau chùa Thiên Mụ, Nguyễn Hoàng cho xây hàng
loạt chùa Phật giáo Đại thừa vào vùng đất của mình từ
QuảngBìnhđếnQuảngNam,nhữngcôngtrìnhđóphần
lớnnằmtrêncácvếttíchtôngiáobảnđịacũ.
Các chính sách của các chúa Nguyễn thể hiện
rõ ý đồ kết hợp thần quyền với vương quyền. Chúa
Các chúa không xây dựng thêm chùa mới
nhưng việc tu bổ, sửa sang vẫn được tiến hành đều Phúc Chu đã phát triển ý định này của chúa
đặn đến cả thời chúa Phúc Thuần - người có công Nguyễn Hoàng. Ông sử dụng Phật giáo để chính
dựng lại chùa Long Quang phía Tây kinh thành Huế danh cho mình với nhân dân và dùng Phật giáo như
[9, tr.84]. Phải thừa nhận một thực tế là khi đã hoàn
một phương tiện ngoại giao nhằm chính danh
thành việc đặt cơ sở thống trị trên vùng đất Đàng ngang với nhà Lê. Sau khi hòa thượng Thạch Liêm
Trong, thu phục được nhân tâm thì việc xây dựng về nước, chúa Phúc Chu thực hiện lời khuyên của
chùa chiền hầu như vắng bóng. Tuy nhiên, điều đó ông đi triều cống nhà Thanh để xin sắc phong. Việc
không có nghĩa là các chúa hạn chế sự phát triển của mời Thạch Liêm chắc hẳn cũng nằm trong khối âm
Phật giáo mà nó chỉ thế hiện ở vai trò của Phật giáo
vớisựsinh tồn củachính quyềnbắtđầusuy giảm.
mưu lợi dụng uy tín của hòa thượng này với triều
đình nhà Thanh để được nhà Thanh thừa nhận sự
Chính sách sùng Phật và xiển dương Phật pháp chính danh của dòng họ Nguyễn ở Đàng Trong.
của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã thể hiện rất rõ Việc lợi dụng Phật giáo và uy tín của Thạch Liêm
ràng. Đây là chính sách xuyên suốt của chính quyền cho mưu đồ chính trị của chúa Nguyễn thể hiện khá
Đàng Trong trong quá trình tồn tại của nó, nhất là rõ trong thư cầu phong gửi cho triều Thanh:
trong những thời điểm quan trọng khi gây dựng sự “…Cha ông thần tin Phật, đời đời tu hành. Thầy
nghiệp thời chúa Nguyễn Hoàng, kiến thiết củng cố của thần là nhà sư Trường Thọ Am ở Quảng Đông
chính quyền thời chúa Phúc Trăn, Phúc Chu. Phật là Thạch Liêm truyền dạy kinh điển…” [4, tr.357].
giáo được sử dụng nhằm cố kết nhân dân, quy tụ các
tôn giáo, tín ngưỡng bản địa. Các chúa còn dựa vào
3. KẾT LUẬN
Phật giáo được các chúa Nguyễn coi trọng.
Phật giáo như điểm tựa tâm linh để khẳng định tính Bản thân các chúa Nguyễn sùng Phật, có nhiều
chính danh với nhân dân và với nhà Thanh.
2.2. Sự tác động của Phật giáo trong việc xây
dựng sự nghiệp của chúa Nguyễn
việc làm thiết thực để xiển dương Phật giáo trên xứ
sở cai trị của mình. Chính vì thế, Phật giáo có điều
kiện phát triển mạnh mẽ vào giai đoạn hòa bình
Thành phần dân cư Đàng Trong khá phức tạp, vì trước và sau chiến tranh Trịnh - Nguyễn. Phật giáo
thếtôngiáobảnđịacũngnhưvậy.CácchúaNguyễncần được các chúa phát triển một cách có hệ thống từ
thiết phải có một tôn giáo như một sợi chỉ tâm linh để việc xây dựng chùa chiền, đến tổ chức xiển dương
thống nhất toàn dân. Tôn giáo đó phải phù hợp với Phật pháp đặc biệt dưới thời chúa Phúc Chu.
phongtục bản địa là trọngnhânvà bình đẳngđểanlòng
Một trong những điều kiện để các chúa phát
dân di cư trước đó và di cư theo chúa Nguyễn (2 đợt). triển được Phật giáo là vì nó phù hợp với tâm
ThuậnHóavốnđãcóPhậtgiáoTiểuthừa,nhiệmvụcủa thức của người dân bao gồm dân bản địa và dân
Nguyễn Hoàng là dung hợp Phật giáo Đại thừa vào với từ nơi khác tới. Các chúa đã khéo léo kết hợp với
128
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Thị Quỳnh
nền tảng tín ngưỡng bản địa vào với Phật giáo
Đại thừa. Dưới thời các chúa Nguyễn nếu chúa
nào quan tâm khuyến khích phát triển mạnh Phật
giáo thì xã hội tương đối ổn định và thu phục
được nhân tâm trong cả phủ chúa lẫn ngoài xã
hội. Phật giáo được xem như sợi dây tinh thần cố
kết quần chúng xung quanh phủ chúa. Không một
tôn giáo nào lúc bấy giờ có thể thay thế vị trị của
Phật giáo đúng như lời Li Tana nhận xét [12,
tr.194-195]. Với ý nghĩa này Phật giáo có thể
xem như một hệ quy chiếu phản ánh thực trạng
xã hội xưa. Phật giáo được chúa Nguyễn sử
dụng vào mục đích chính trị của mình. Vào giai
đoạn này sự khác biệt của Phật giáo nhập thế so
với Phật giáo thời kỳ đầu dựng nước Đại Việt
là ở chỗ không có những vị sư có khả năng thao
túng hoặc dự việc triều chính. Đồng thời, tôn
giáo không thể khống chế chính trị; trái lại, tôn
giáo còn trở thành công cụ của chính trị. Có thể
buổi đầu độc lập, trí thức Nho học còn khan
hiếm nên mới xuất hiện nhiều nhà sư tham gia
sâu vào chính trị. Dưới thời chúa Nguyễn vắng
bóng hẳn việc này, có thể đó là do năng lực
chính trị của dòng dõi chúa Nguyễn đã khá
vững vàng, bên cạnh đó những lưu dân, những
trung thần đi theo chúa Nguyễn cũng có khả
năng thực hiện tất cả các công việc điều hành
đất nước.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phan Thuận An (2011), Một số pháp bảo thời chúa Nguyễn Phúc Chu hiện còn lưu giữ tại 3
ngôi chùa ở Huế, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 4 (87).
[2] Cristophoro Borri, Xứ đàng Trong năm 1621, Bản dịch của Hồng Nhuệ, Nguyễn Khắc Xuyên
và Nguyễn Nghị, ấn bản điện tử Prc tác giả lưu giữ.
[3] Giác Chinh, Trần Đức Liêm (2012), Đóng góp của Minh Vương Nguyễn Phúc Chu trong công cuộc
phát triển Đàng Trong và Phật giáo Đàng Trong, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 5.
[4] Lê Quý Đôn (1997), Phủ biên tạp lục, bản dịch của Viện Sử học, Nxb Văn Hóa-Thông Tin, Hà Nội.
[5] Đỗ Quang Hưng (2011), Phật giáo và chính trị đầu kỷ nguyên độc lập tiếp cận từ một luận đề của
Max Weber, Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa học Xã hội và Nhân Văn, số 27.
[6] Nguyễn Văn Kim (2010), Ứng đối của chính quyền Đàng Trong với các thế lực phương Tây,
Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa học Xã hội và Nhân Văn, số 26.
[7] Tạ Quốc Khánh (2012), Minh vương Nguyễn Phúc Chu và công nghiệp mở mang bờ cõi, phát
triển Phật giáo Đàng Trong, Nghiên cứu Lịch sử, số 6.
[8] Phan Khoang (1967), Việt sử: Xứ đàng Trong 1558-1777, Nxb Khai Trí, Sài Gòn.
[9]QuốcsửquántriềuNguyễn(1992),ĐạiNamnhấtthốngchí, bảndịchcủaViệnSửhọc, NxbThuậnHóa,Huế.
[10] Quốc sử quán triều Nguyễn (1962), Đại Nam thực lục tiền biên, bản dịch của Viện Sử học,
Nxb Sử Học, Hà Nội, tập I.
[11] Thích Đại Sán (1963), Hải ngoại kỷ sự, bản dịch của Viện Đại học Huế, Nxb Đại học Huế.
[12] Li Tana (1999), Xứ Đàng Trong - Lịch sử kinh tế xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18, Nxb Trẻ.
[13] Lê Bá Trình, Nguyễn Ngọc Quỳnh (2017), Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong thời Chúa
Nguyễn Phúc Chu - Cái nhìn từ bên ngoài, Thông tin Khoa học xã hội, số 8.
[14] Tạ Chí Đại Trường (2014), Thần, Người và đất Việt, Nxb Tri thức, Hà Nội.
Ngày nhận bài: 17-11-2019. Ngày biên tập xong: 13-4-2020. Duyệt đăng: 24-9-2020
129
Bạn đang xem tài liệu "Phật giáo trong quá trình dựng nghiệp của các chúa Nguyễn ở Đàng Trong", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phat_giao_trong_qua_trinh_dung_nghiep_cua_cac_chua_nguyen_o.pdf

