Nghiên cứu tính hữu hiệu của hệ thống kiểu soát nội bộ theo hướng quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may tại Thành phố Hồ Chí Minh

NGHI N CỨU T NH HỮU HIỆU CỦ  HỆ THỐNG  
KIỂ  S  T NỘI BỘ THE  HƯỚNG  UẢN TRỊ RỦI RO  
TẠI C C D  NH NGHIỆP SẢN  UẤT NG NH DỆT MAY  
TẠI TP. HCM  
Nguyễn Thị Kiều Trang, V  Thị Hiếu Thảo, Nguyễn Thị Th y Kiều,  
Nguyễn Phạm Nhật Anh, B i Quang Huy  
Khoa Tài chính – Thương mại, Ttường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD      T   T  n Văn T ng  
T   TẮT  
Trong một tổ chức bất kỳ, sự thành bại của tổ chức phải được xác lập bằng tầm nhìn chiến lược,  
mục tiêu dài hạn và một hệ thống quản lý bài bản, một cơ chế kiểm soát nội bộ hợp lý. Đặc biệt,  
trong giai đoạn hội nhập kinh tế và có sự cạnh tranh khốc liệt thì đối với ngành dệt may, với những  
đặc điểm hoạt động đặc trưng và đặc biệt là tiềm ẩn nhiều rủi ro trong hoạt động sản xuất kinh  
doanh. Do vậy việc xây dựng và hoàn thiện một hệ thống kiểm soát nội bộ theo hướng quản trị rủi  
ro được xem là mục tiêu được quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp trong Ngành dệt may ở Việt  
Nam hiện nay nói chung và ở tại TP.HCM nói riêng. Từ những thực trạng và kết quả dữ liệu nghiên  
cứu, cho thấy hệ thống kiểm soát nội bộ của các doanh nghiệp bị tác động bởi nhiều yếu tố có liên  
quan. Bằng việc phối hợp sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, bài báo cáo  
NCKH này đã làm rõ hơn các vấn đề lý luận về các nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của hệ  
thống kiểm soát nội bộ theo hướng quản trị rủi ro của các doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may  
tại TP.HCM.  
Từ khóa: Hữu hiệu, kiểm soát nội bộ, quản trị rủi ro.  
1 GIỚI THIỆU  
Ngành dệt may là một trong những ngành công nghiệp có lịch sử phát triển lâu dài ở Việt Nam.  
Công nghiệp Dệt May là ngành có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn chuyển đổi của Việt Nam từ  
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế thị trường. Dệt may cũng là một phần cấu  
thành quan trọng trong chính sách định hướng xuất khẩu của đất nước, và một cách chung hơn,  
trong các nỗ lực của Việt Nam để hoà nhập vào nền kinh tế quốc tế. Công nghiệp dệt may tất yếu  
là một trong các ngành chủ yếu xuất khẩu trong giai đoạn đầu phát triển của cả nước. Sự thành  
công về xuất khẩu trong ngành này thường mở đường cho sự xuất hiện của một chiến lược phát  
triển định hướng phát triển có cơ sở rộng hơn. Sự thất bại về xuất khẩu của ngành này bao giờ  
cũng là triệu chứng của sự trở ngại có tính thâm căn cố đế tron g nước và của sự bất lực, không  
phát huy được lợi thế so sánh tiềm năng. Vì vậy đây là một ngành công nghiệp quan trọng không  
chỉ với tư cách là một nguồn xuất khẩu và tạo việc làm chính, mà còn vì sự tăng trưởng của ngành  
này cho thấy kết quả hoạt động kinh tế một cách tổng hợp hơn.  
1080  
Theo Phòng Thương mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI), mặc dù Việt Nam đang có lợi thế từ các  
Hiệp định thương mại lớn như CPTPP hay EVFTA nhưng ngành dệt may lại chưa thể tận dụng hết  
được các cơ hội này. Đứng trước sức ép cạnh tranh, thị trường gián đoạn do dịch bệnh, sự hỗ trợ  
đầu tư bị hạn chế đặc biệt là về chất lượng dịch vụ, giá thành dịch vụ, chăm sóc khách hàng,…  
Đi đôi với những sức ép cạnh tranh, một trong những nguyên nhân khiến các DNSX ngành dệt  
may cả nước nói chung cũng như cả các DNSX ngành dệt may tại TP.HCM sẽ chịu ảnh hưởng rất  
lớn đó là trong hoạt động kinh doanh chứa đựng nhiều rủi ro mà hoạt động kiểm soát nội bộ  
trong DN chưa thể đủ mạnh để phát hiện, kiểm soát và ngăn ngừa. Đặc biệt nghiên cứu sâu hơn  
đến các nhân tố nào có sự ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB đối với các DNSX là  
ngành dệt may tại TP.HCM.  
2 CƠ SỞ     UẬN V     H NH NGHI N CỨU  
Điều 39, Luật Kế toán Việt Nam năm 2015 nêu rõ: “Kiểm soát nội bộ là việc thiết lập và tổ chức thực  
hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy  
định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu  
đề ra”.  
Theo Hiệp hội Kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA): “Kiểm soát nội bộ là các biện pháp và cách  
thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tiền và các tài sản khác, cũng  
như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép của sổ sách”.  
KSNB là một quy trình chịu ảnh hưởng bởi hội đồng quản trị, các nhà quản lý và các nhân viên khác  
trong doanh nghiệp, được thiết lập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện các mục  
tiêu theo phạm trù sau:  
– Tính hiệu lực và hiệu quả của các hoạt động.  
– Báo cáo tài chính đáng tin cậy.  
– Sự tuân thủ pháp luật và các quy định hiện hành.  
Dựa vào các công trình nghiên cứu trước có liên quan; các lý thuyết nền, đồng thời kết hợp với việc  
khảo sát thực trạng của hệ thống KSNB theo hướng QTRR, tác giả đưa ra mô hình nghiên cứu dự  
kiến bao gồm các nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của các DNSX ngành dệt  
may tại TP.HCM. Mô hình nghiên cứu đề xuất như Hình 1:  
1081  
Phản ứng với rủi ro  
Môi trường quản lý  
Thiết lập mục tiêu  
Tính hữu  
hiệu của  
hệ thống  
KSNB  
Các hoạt động  
kiểm soát  
của các  
DNSX  
Thông tin và  
Nhận dạng sự kiện  
tiềm tàng  
ngành dệt  
may tại  
TP.HCM  
truyền thông  
Hoạt động giám sát  
Đánh giá rủi ro  
Hình 1: Mô hình nghiên cứu dự kiến (Nguồn: Tác giả xây dựng)  
Trong đó, biến phụ thuộc là “Tính hữu hiệu của hệ thống KSNB của các DNSX ngành dệt may tại  
TP.HCM và 8 biến độc lập bao gồm: Môi trường kiểm soát; Thiết lập mục tiêu; Nhận dạng sự kiện  
tiềm tàng; Đánh giá rủi ro; Phản ứng rủi ro; Các hoạt động kiểm soát; Thông tin và truyền thông; và  
Hoạt động giám sát.  
3 PHƯƠNG PH P NGHI N CỨU  
Dựa trên cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu và  
thang đo. Sau đó tiến hành kiểm tra lại các biến và thang đo từng biến trong mô hình nghiên cứu  
thông qua nghiên cứu định tính là thảo luận nhóm và xin ý kiến chuyên gia. Sau khi căn cứ vào kết  
quả của thảo luận nhóm, tác giả có được mô hình nghiên cứu chính thức với các biến và thang đo  
được hiệu chỉnh.  
Dựa vào mục tiêu nghiên cứu, kết quả tìm hiểu các công trình nghiên cứu trước có liên quan và dựa  
trên cơ sở lý thuyết có liên quan, tác giả xây dựng Bảng câu hỏi nhằm xây dựng các biến độc lập và  
biến phụ thuộc cũng như các thang đo của từng biến trong mô hình nghiên cứu. Căn cứ kết quả  
của công việc thảo luận nhóm, tác giả tiếp tục điều chỉnh và xác định mô hình nghiên cứu chính  
thức để phục vụ cho bước nghiên cứu định lượng. Xác định mô hình nghiên cứu trên cơ sở có 8 các  
nhân tố tác động đến tính hữu hiệu của HTKSNB theo hướng quản trị rủi ro của các DN ngành dệt  
may TP.HCM thông qua thảo luận nhóm, từ đó hình thành cách thức xây dựng thang đo trên cơ sở  
các nghiên cứu trước và cách thu thập dữ liệu nghiên cứu như chọn mẫu khảo sát như cách chọn  
mẫu, số lượng mẫu phát ra thu về và xác định số mẫu phù hợp với phương pháp nghiên cứu.  
4 KẾT  UẢ NGHI N CỨU V  THẢ   UẬN  
Sau khi phân tích mối tương quan, sử dụng phương pháp hồi quy tuyến tính bội để xác định mức ý  
nghĩa và mối tương quan tuyến tính của các biến trong mô hình. Phương trình hồi quy chuẩn hóa  
có dạng như sau:  
1082  
HTKSNB = 0.245 DGRR + 0.24 HDKS + 0.239 TLMT + 0.207 TTTT + 0.183 PURR + 0.153 MTQL +  
+ 0.143 HDGS + 0.14 NDSK  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, có 8 nhân tố tác động đến việc nâng cao hiệu quả của HTKSNB theo  
hướng ứng phó với thay đổi rủi ro của các DNSX ngành dệt may TP.HCM, đó là Môi trường quản lý  
(có hệ số Beta = 0,153); Thiết lập mục tiêu (có hệ số Beta = 0,239); Nhận dạng sự kiện tiểm tàng (có  
hệ số Beta = 0,14); Đánh giá rủi ro (có hệ số Beta = 0,245); Phản ứng rủi ro (có hệ số Beta = 0,183);  
Các hoạt động kiểm soát (có hệ số Beta = 0,24); Thông tin và truyền thông (có hệ số Beta = 0,207);  
và Hoạt động giám sát (có hệ số Beta = 0,143). Đây là cơ sở quan trọng để tác giả có thể đề xuất  
hàm ý chính sách nhằm nâng cao tính hữu hiệu của HTKSNB theo hướng quản trị rủi ro của các  
DNSX ngành dệt may tại TP.HCM.  
Trong các nhân tố trên thì nhân tố “Đánh giá rủi ro” có mức độ tác động mạnh nhất đến tính hữu  
hiệu của HTKSNB theo hướng quản trị rủi ro của các DNSX ngành dệt may TP.HCM; còn nhấn tố  
“Nhận diện sự kiện tiềm tàng” có mức độ tác động yếu nhất đến đến tính hữu hiệu của HTKSNB  
theo hướng quản trị rủi ro của các DNSX ngành dệt may tại TP.HCM.  
5 KẾT  UẬN V  KIẾN NGHỊ  
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đạt được, mức độ tác động của các nhân tố đến HTKSNB được sắp  
xếp theo trật tự từ cao xuống thấp như sau: nhân tố “Đánh giá rủi ro” (β = 0,245); nhân tố “Hoạt  
động kiểm soát” (β = 0,24); nhân tố “Thiết lập mục tiêu” (β = 0,239); nhân tố “Thông tin truyền thông”  
(β = 0,207); nhân tố “Phản ứng rủi ro” (β = 0.183), nhân tố “Môi trường quản lý” (β = 0,153); Hoạt  
động giám sát” (β = 0,143); và nhân tố “Nhận diện sự kiện tiềm tàng” (β = 0,14).  
Căn cứ vào mức độ tác động của các nhân tố đến HTKSNB của các DNSX ngành dệt may tại  
TP.HCM, nhóm chúng tôi đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả HTKSNB theo hướng ứng  
phó với thay đổi rủi ro trong hoạt động của các DN theo thứ tự ưu tiên như sau:  
– Bộ phận QTRR phải nâng cao công tác dự báo về nguồn cung cấp dịch vụ may mặc và biến  
động giá của các dịch vụ trên thế giới, cập nhật tình hình giá cả hàng ngày hàng giờ thông  
qua các kênh thông tin ở địa phương, báo chí, tivi, radio, Internet,...  
– Trong chu trình mua hàng, bộ phận QTRR sẽ tham mưu cho nhà quản lý năng lực đảm bảo  
nguồn hàng của đơn vị cung ứng, các điều kiện giao hàng, giá cả đầu vào...  
– Mục tiêu trước mắt các DN cần đặt ra là: Đảm bảo tốt công tác đa dạng hóa dịch vụ may  
mặc để đảm bảo nguồn hàng cung ứng sẵn có khi có thêm hợp đồng mới phù hợp với yêu  
cầu mới của khách hàng.  
– Các thông tin về khách hàng, nhà cung cấp, ngân hàng, và các quy định, chính sách của  
Nhà nước cần được bộ phận QTRR của DN xem xét, kiểm tra định kỳ hàng tháng hoặc hàng  
quý để thông tin được kịp thời cập nhật, hỗ trợ cho các quyết định của nhà quản lý.  
– Các DN cần nâng cao chất lượng sản phẩm, cải tiến kỹ thuật, nghiên cứu tìm ra các dịch vụ  
mới với chất lượng tốt để nâng cao giá bán dịch vụ, theo đó các DN liên kết các đơn vị nghiên  
1083  
cứu khoa học như Viện/Trường để ứng dụng nhanh các giải pháp khoa học công nghệ trong  
sản xuất.  
– Trước khi thực hiện ký kết các hợp đồng kinh tế mới, cần lấy ý kiến của các phòng liên quan  
như phòng kinh doanh về việc đánh giá các cơ hội và thách thức để lựa chọn khách hàng.  
– Nhà quản lý yêu cầu các bộ phận chức năng báo cáo về kết quả công việc thực hiện QTRR  
đột xuất nếu nhà quản lý cảm thấy có những diễn biến bất thường diễn ra.  
– Các DN cần xây dựng cơ chế nhận diện rủi ro cho hoạt động xuất khẩu dịch vụ từ các yếu tố  
bên trong và bên ngoài DN.  
T I  IỆU TH   KHẢ  
[1]  
Bùi Thị Minh Hải (2012), Hoàn thiện hệ thống KSNB trong các công ty may mặc Việt Nam,  
Luận án Tiến sĩ.  
[2]  
[3]  
COSO (2013), Internal Control - Integrated Framework.  
Trần Văn Tùng (2017), Nâng cao hiệu quả hệ thống kiểm soát nội bộ theo hướng ngăn ngừa  
rủi ro trong hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại Việt Nam, Tạp chí Kế toán & Kiểm  
toán, ISSN 1859-1914.  
[4]  
Trần Văn Tùng (2018), Nâng cao hiệu quả hệ thống kiểm soát nội bộ theo hướng ứng phó với  
thay đổi rủi ro tại các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam nhằm nâng cao sức cạnh tranh  
trong giai đoạn hội nhập, Kỷ yếu HTKH quốc gia 2018, ISSN: 978-804-79-1817-1 – Tháng 5-  
2018  
1084  
pdf 5 trang Thùy Anh 8140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu tính hữu hiệu của hệ thống kiểu soát nội bộ theo hướng quản trị rủi ro tại các doanh nghiệp sản xuất ngành dệt may tại Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_tinh_huu_hieu_cua_he_thong_kieu_soat_noi_bo_theo.pdf