Giáo trình Luật thương mại Việt Nam (Phần 1)

ĐẠI HỌC HUẾ  
KHOA LUẬT  
ThS. LÊ THỊ HẢI NGỌC (Chủ biên)  
ThS. CAO ĐÌNH LÀNH, ThS. NGUYỄN THANH TÙNG  
ThS. ĐẶNG THỊ VŨ HƯỜNG, CN. MAI XUÂN HỢI  
Tài liệu học tập  
LUẬT THƯƠNG MẠI  
VIỆT NAM  
(Phần 1)  
(Tái bản lần thứ ba; có chỉnh sửa, bổ sung)  
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC HUẾ  
Huế - 2013  
Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam  
Lê Thị Hải Ngọc  
Tài liệu học tập: Luật thương mại Việt Nam / Lê Thị Hải Ngọc  
(ch.b.), Cao Đình Lành, Nguyễn Thanh Tùng, Đặng Thị Vũ Hường, Mai  
Xuân Hợi. - Tái bản lần thứ 3. - Huế : Đại học Huế. - 21cm  
Thư mục: tr. 178-179  
Ph.1. - 2013. - 180tr.  
1. Luật thương mại 2. Việt Nam 3. Tài liệu học tập  
343.597 - dc14  
DUF0050p-CIP  
Mã số sách: TK/97 - 2013/T3  
LỜI NÓI ĐẦU  
Luật thương mại là môn học nghiên cứu về các hoạt động trong  
lĩnh vực kinh doanh – thương mại.  
Để đáp ứng nhu cầu học tập, nghiên cứu của sinh viên ngành luật,  
cũng như những người nghiên cứu về lĩnh vực kinh doanh – thương mại,  
ThS. Lê Thị Hải Ngọc cùng ThS. Cao Đình Lành, ThS. Nguyễn Thanh  
Tùng, ThS. Đặng Thị Vũ Hường và CN. Mai Xuân Hợi đã biên soạn và  
cùng trao đổi góp ý hoàn thiện tài liệu này với mục đích giúp người học  
nắm bắt được những kiến thức cơ bản về pháp luật trong lĩnh vực kinh  
doanh – thương mại.  
Trong quá trình biên soạn tập tài liệu này, tác giả đã tham khảo  
các giáo trình và tài liệu giảng dạy môn học của các các cơ sở đào tạo  
Luật khác trong nước và thế giới, tác giả đã cập nhật, bổ sung thêm  
nhiều vấn đề theo từng nội dung cụ thể. Hy vọng cuốn sách sẽ giúp ích  
cho các sinh viên, học viên trong quá trình học tập, nghiên cứu môn học  
Luật thương mại 1.  
Trong quá trình biên soạn Tài liệu học tập, chắc chắn không  
tránh khỏi những sai sót, khiếm khuyết. Nhóm tác giả mong muốn nhận  
được những ý kiến đóng góp, phê bình từ các bạn đọc để lần tái bản sau  
sẽ hoàn thiện hơn.  
Xin trân trọng giới thiệu Tài liệu học tập Luật thương mại Việt  
Nam phần 1 cùng bạn đọc!  
Thay mặt nhóm tác giả  
Chủ biên  
ThS. Lê Thị Hải Ngọc  
MỤC LỤC  
Trang  
13  
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ LUẬT THƯƠNG MẠI  
13  
1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT THƯƠNG  
MẠI VIỆT NAM  
1.1. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung  
1.2. Trong nền kinh tế thị trường  
13  
14  
2. VAI TRÒ CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT  
KINH DOANH-THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ  
TRƯỜNG HIỆN NAY  
18  
19  
2.1. Các yêu cầu khách quan do nền kinh tế thị trường đặt ra  
đối với luật thương mại và pháp luật kinh doanh – thương mại  
2.2. Đặc điểm của nền kinh tế thị trường Việt Nam  
20  
20  
2.3. Các nội dung cơ bản của nền kinh tế thị trường đòi hỏi  
luật thương mại và pháp luật kinh doanh – thương mại phải  
đáp ứng  
3. KHÁI NIỆM LUẬT THƯƠNG MẠI  
21  
21  
3.1. Quan điểm về Luật kinh tế, Luật thương mại, Luật kinh  
doanh  
3.2. Khái niệm Luật thương mại  
3.3. Đối tượng điều chỉnh của Luật thương mại  
3.4. Chủ thể của Luật thương mại  
4. NGUỒN CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI  
4.1. Khái niệm  
23  
24  
28  
31  
31  
31  
4.2. Các loại nguồn của Luật thương mại  
CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ HỢP TÁC XÃ  
36  
1. KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỢP TÁC XÃ  
36  
36  
37  
39  
1.1. Khái niệm  
1.2. Đặc điểm  
2. NGUYÊN TẮC TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỢP  
TÁC XÃ  
2.1. Tự nguyện thành lập, gia nhập, ra khỏi hợp tác xã  
40  
40  
2.2. Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã kết nạp rộng rãi thành  
viên. Hợp tác xã  
2.3. Dân chủ, bình đẳng và công khai  
40  
40  
41  
2.4. Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và cùng có lợi  
2.5. Thành viên, hợp tác xã thành viên và hợp tác xã, liên hiệp  
hợp tác xã có trách nhiệm thực hiện cam kết theo hợp đồng dịch  
vụ và theo quy định của điều lệ  
41  
2.6. Bảo đảm về công tác đào tạo, giáo dục và bồi dưỡng cho  
thành viên Hợp tác xã  
2.7. Hợp tác và phát triển cộng đồng  
41  
41  
47  
47  
48  
49  
51  
3. THÀNH LẬP VÀ ĐĂNG KÝ KINH DOANH HỢP TÁC XÃ  
4. QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ XÃ VIÊN HỢP TÁC XÃ  
4.1. Điều kiện trở thành thành viên, hợp tác xã thành viên  
4.2. Quyền và nghĩa vụ của thành viên hợp tác xã  
4.3. Chấm dứt tư cách thành viên, hợp tác xã thành viên  
5. CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ TỔ CHỨC VÀ QUẢN LÝ TRONG  
HỢP TÁC XÃ  
5.1. Đại hội thành viên  
51  
55  
58  
5.2. Hội đồng quản trị hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã  
5.3. Giám đốc (tổng giám đốc) hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã  
5.4. Ban kiểm soát, kiểm soát viên  
59  
60  
6. CHẾ ĐỘ TÀI CHÍNH VÀ CHẾ ĐỘ SỞ HỮU TÀI SẢN  
TRONG HỢP TÁC XÃ  
6.1. Vốn của hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã  
61  
64  
6.2. Xử lý các khoản lỗ, khoản nợ của hợp tác xã, liên hiệp  
hợp tác xã  
6.3. Phân phối thu nhập  
65  
65  
65  
66  
68  
7. TỔ CHỨC LẠI, GIẢI THỂ, PHÁ SẢN HỢP TÁC XÃ  
7.1. Tổ chức lại hợp tác xã  
7.2. Giải thể hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã  
7.3. Phá sản hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã  
CHƯƠNG 4: PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN  
VÀ HỘ KINH DOANH  
69  
A. PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN  
1. KHÁI QUÁT VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN  
1.1. Khái niệm doanh nghiệp tư nhân  
69  
69  
69  
70  
72  
72  
75  
78  
78  
1.2. Đặc điểm doanh nghiệp tư nhân  
2.THÀNHLẬP,GIẢITHỂVÀPHÁSẢNDOANHNGHỆPTƯNHÂN  
2.1. Thành lập doanh nghiệp tư nhân  
2.2. Giải thể doanh nghiệp tư nhân  
2.3. Phá sản doanh nghiệp  
3. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN  
VÀ CHỦ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN  
3.1. Quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp tư nhân  
3.2. Quyền và nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp tư nhân  
78  
80  
82  
82  
82  
83  
85  
B. PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH  
1. KHÁI QUÁT VỀ HỘ KINH DOANH  
1.1. Khái niệm  
1.2. Đặc điểm của hộ kinh doanh  
2. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ  
KINH DOANH ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH  
2.1. Điều kiện đăng ký kinh doanh  
2.2. Trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh  
3. QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CỦA HỘ KINH DOANH  
3.1. Quyền của hộ kinh doanh  
85  
86  
89  
89  
89  
90  
3.2. Nghĩa vụ của hộ kinh doanh  
4. CÁC QUY ĐỊNH KHÁC VỀ VIỆC THAY ĐỔI, TẠM NGỪNG  
VÀ CHẤM DỨT KINH DOANH CỦA HỘ KINH DOANH  
4.1. Thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh  
4.2. Tạm ngừng kinh doanh  
90  
90  
92  
92  
4.3. Chấm dứt hoạt động kinh doanh  
4.4. Hết hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh  
CHƯƠNG 5: PHÁP LUẬT VỀ CÔNG TY  
93  
A. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TY  
1. SỰ RAĐỜI, PHÁT TRIỂN CỦACÔNGTY VÀ LUẬT CÔNGTY  
1.1. Khái niệm và đặc điểm của công ty  
93  
93  
93  
94  
96  
96  
1.2. Sự ra đời của công ty và luật công ty  
2. CÁC LOẠI HÌNH CÔNG TY PHỔ BIẾN TRÊN THẾ GIỚI  
2.1. Công ty đối nhân  
2.2. Công ty đối vốn  
103  
108  
109  
B. CÔNG TY THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM  
1. CÁC QUY ĐỊNH CHUNG VỀ CÔNG TY THEO LUẬT  
DOANH NGHIỆP 2005  
1.1. Thành lập và đăng ký kinh doanh  
109  
1.2. Quyền và nghĩa vụ của công ty  
1.3. Tổ chức lại công ty  
115  
117  
119  
122  
122  
1.4. Giải thể công ty  
1.5. Phá sản công ty  
2. CÁC LOẠI HÌNH CÔNG TY THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM  
2.1. Công ty cổ phần  
122  
138  
2.2. Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên  
2.3. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên  
155  
2.4. Công ty hợp danh  
162  
MỘT SỐ CÂU HỎI VÀ TÌNH HUỐNG ÔN TẬP  
171  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
178  
Chương 1  
KHÁI QUÁT VỀ LUẬT THƯƠNG MẠI  
1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI  
VIỆT NAM  
1.1. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung  
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Luật Kinh tế (hiện nay  
gọi là Luật Thương mại) được hình thành trước hết dựa trên cơ sở tiếp  
thu những thành quả lý luận về Luật kinh tế ở Liên Xô và một số nước  
xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây 1.  
Theo quan niệm truyền thống của các nước xã hội chủ nghĩa trước  
đây, Luật kinh tế trước đây được coi là một ngành luật độc lập, điều  
chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý, lãnh đạo kinh tế của  
Nhà nước và tổ chức thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh của  
các đơn vị kinh tế cơ sở xã hội chủ nghĩa.  
Ở Việt Nam, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Luật kinh tế  
được coi là là một ngành luật độc lập trong hệ thống pháp luật Việt Nam,  
bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ kinh  
tế phát sinh trong quá trình lãnh đạo và thực hiện các hoạt động sản xuất  
kinh doanh giữa các tổ chức kinh tế xã hội chủ nghĩa với nhau.  
Như vậy, Luật kinh tế là ngành luật điều chỉnh các quan hệ xã hội  
phát sinh chủ yếu giữa các tổ chức xã hội chủ nghĩa với nhau trong quá  
trình lãnh đạo và thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh nên chủ thể  
của Luật kinh tế chủ yếu là những tổ chức xã hội chủ nghĩa.  
Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, việc kinh doanh chủ yếu  
được các tổ chức thuộc thành phần kinh tế quốc doanh thực hiện. Do  
vậy, Luật kinh tế trong thời kỳ này chủ yếu tập trung ghi nhận các chế  
1. Luật thương mại trước đây được gọi là Luật kinh tế.  
13  
độ pháp lý liên quan đến việc tổ chức và hoạt động của các tổ chức kinh  
tế quốc doanh. Nội dung của chế độ pháp lý này bao gồm các nội dung  
như: địa vị pháp lý của các chủ thể Luật kinh tế; chế độ pháp lý về tài  
sản của các đơn vị kinh tế quốc doanh; chế độ pháp lý về kế hoạch hoá  
nền kinh tế quốc dân; chế độ pháp lý hạch toán kinh tế; chế độ hợp đồng  
kinh tế và trọng tài kinh tế.  
1.2. Trong nền kinh tế thị trường  
Từ năm 1986, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đưa ra chủ  
trương chuyển đổi nền kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung  
sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị  
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.  
Nghị quyết đã khẳng định: “Thực chất của đổi mới về cơ chế quản lý  
kinh tế là cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh  
xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ” 2.  
Bên cạnh việc khẳng định bản chất của việc đổi mới, Đảng ta cũng  
xác định rõ hai đặc trưng cơ bản của cơ chế mới là:  
Thứ nhất, tính kế hoạch;  
Thứ hai, sử dụng đúng đắn quan hệ hàng hoá - tiền tệ.  
Trong thời kỳ hiện nay, việc đổi mới cơ chế kinh tế đã làm thay  
đổi cơ bản tính chất của các quan hệ kinh doanh. Điều này cũng đưa đến  
yêu cầu tất yếu phải có sự thay đổi trong thuật ngữ sử dụng là Luật  
thương mại cho phù hợp với thực tế khách quan hiện nay. Khác với mô  
hình kinh tế kế hoạch hoá, kinh tế thị trường đòi hỏi phải xoá bỏ chế độ  
độc tôn của một hình thức sở hữu, đòi hỏi phải khuyến khích và phát  
triển một cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với sự bình đẳng của chúng  
trước pháp luật. Kinh tế thị trường đòi hỏi phải có một môi trường pháp  
lý bảo đảm quyền tự do kinh doanh của tất cả các chủ thể tham gia hoạt  
động sản xuất - kinh doanh. Đặc biệt, kinh tế thị trường đòi hỏi quyền  
2 Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc  
lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nôi, tr.65  
14  
lực công cộng phải thật sự tôn trọng nguyên tắc tự do kinh doanh của tất  
cả các chủ thể tham gia kinh doanh trên thương trường.  
Có thể hiểu khác nhau về nội dung của cơ chế kinh tế, song trong  
mọi trường hợp, Luật thương mại hiện nay đều được coi là một bộ phận  
cấu thành của cơ chế kinh tế.  
Về bản chất, Luật thương mại được hiểu là tổng hợp các quy phạm  
pháp luật do Nhà nước ban hành, điều chỉnh những quan hệ kinh tế phát  
sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các thương nhân  
hoặc giữa chúng với cơ quan quản lý Nhà nước về kinh tế nhằm thực  
hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước.  
Như vậy, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, Luật  
kinh tế Việt Nam trước đây cũng đã có sự thay đổi. Luật thương mại  
hiện nay cùng với pháp luật kinh doanh, thương mại sẽ là sự phản ánh  
pháp lý một cơ chế thị trường với những đặc trưng cơ bản sau:  
Một là, nền kinh tế của Việt Nam hiện nay là nền kinh tế đang  
trong bước chuyển nhanh sang một cơ chế mới. Tính chất quá độ của  
của nền kinh tế ảnh hưởng lớn đến tính chất của cả hệ thống pháp luật về  
quản lý kinh tế nói chung và Luật thương mại nói riêng. Điều này thể  
hiện ở chỗ, trong toàn bộ hệ thống pháp luật kinh doanh vẫn còn tồn tại  
những quy định được coi là “tàn dư” của cơ chế kinh tế cũ và xét về tổng  
thể, phải chấp nhận rằng, chúng ta không thể có ngay một hệ thống pháp  
luật kinh doanh với chất lượng và cơ cấu hoàn toàn mới - pháp luật của  
nền kinh tế thị trường 3.  
Hai là, cơ chế kinh tế mà chúng ta xây dựng không hình thành từ  
sự hoàn thiện của cơ chế cũ - cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu  
bao cấp; mà ngược lại. Do vậy, quá trình hình thành cơ chế mới đòi hỏi  
phải có sự tư duy mới và theo đó, là tư duy pháp lý mới với tính cách là  
cơ sở lý luận và tư tưởng của quá trình đó.  
3 Xem “Giáo trình Luật kinh tế Việt Nam”, (1997), Đại học Quốc gia Hà Nội,  
Nxb Đại quốc gia Hà Nội.  
15  
Ba là, khi chuyển đổi cơ chế kinh tế, chúng ta chưa kịp chuẩn bị  
một hệ thống các quy tắc xử sự trong đời sống kinh tế nhiều thành phần  
theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Do vậy, so với tiến  
trình của các quan hệ kinh tế, pháp luật thường xuất hiện chậm hơn với  
sự biến động và phát triển của các quan hệ kinh tế. Trong khi chúng ta  
chủ trương “cởi trói” cho các cơ sở sản xuất kinh doanh nhưng chúng ta  
lại chưa tạo được một hành lang pháp lý cần thiết cho các doanh nghiệp  
hoạt động.  
Luật thương mại hiện nay bao gồm các nội dung sau:  
1. Pháp luật về chủ thể kinh doanh;  
2. Pháp luật về hợp đồng kinh doanh - thương mại;  
3. Pháp luật về giải quyết tranh chấp kinh doanh - thương mại;  
4. Pháp luật về cạnh tranh;  
5. Pháp luật về phá sản.  
Như vậy, về bản chất, phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại  
không có gì thay đổi nhiều vẫn là các quan hệ phát sinh trong quá trình  
kinh doanh. Song, quá trình kinh doanh hiện nay có những thay đổi cả  
về chủ thể lẫn phương thức kinh doanh, do vậy, các quan hệ trong quá  
trình này cũng có những thay đổi cơ bản 4.  
Những thay đổi của Luật thương mại trong giai đoạn này tập  
trung vào các nội dung cơ bản sau:  
Thứ nhất, chủ thể của Luật thương mại được mở rộng một cách  
đáng kể, cả các loại hình kinh doanh lẫn tư cách pháp lý.  
Khi các loại hình kinh doanh được mở rộng và được pháp luật  
thừa nhận tư cách pháp lý thì các nguyên tắc cơ bản trong kinh doanh  
như: tự do kinh doanh, bình đẳng trong kinh doanh, cạnh tranh lành  
mạnh,... được xác lập; địa vị pháp lý của các chủ thể được xác định cụ  
thể; quyền và nghĩa vụ của các chủ thể được pháp luật ghi nhận một  
cách rõ ràng và đầy đủ.  
4 Xem “Giáo trình Luật thương mại - Tập 1” (2006), Đại học Luật Hà Nội, Nxb  
Công an nhân dân.  
16  
Thứ hai, nội dung của Luật thương mại có những thay đổi lớn về  
những chế độ pháp lý lẫn những quy định cụ thể.  
Trong hoạt động kinh doanh, các chủ thể luôn có mối quan hệ  
với nhau. Chủ thể chủ yếu của Luật thương mại là các thương nhân  
(gồm doanh nghiệp và cá nhân có đăng ký kinh doanh) nên để có mối  
quan hệ trong kinh doanh đều chủ yếu thông qua quan hệ hợp đồng kinh  
tế. Nội dung Luật thương mại trong nền kinh tế thị trường đã thay đổi  
chế độ hợp đồng kinh tế thành chế độ hợp đồng thương mại. Do đó,  
pháp luật về hợp đồng thương mại hiện nay có nhiều điểm khác với chế  
độ hợp đồng kinh tế trước đây. Nhiều quy định về hợp đồng thương mại  
là sự phát triển, cụ thể hoá các quy định của Bộ luật dân sự, phù hợp với  
những đặc thù của lĩnh vực kinh doanh, thương mại.  
Khi nội dung chế độ hợp đồng thương mại có sự thay đổi, các quy  
định của pháp luật về giải quyết tranh chấp cũng thay đổi. Hiện nay, các  
tranh chấp về kinh tế trước đây được gọi là các tranh chấp trong kinh  
doanh, thương mại. Hình thức giải quyết, cơ quan giải quyết, thẩm  
quyền và trình tự giải quyết các tranh chấp trong kinh doanh - thương  
mại cũng có sự thay đổi.  
Thứ ba, trong cơ chế bao cấp, những quy định của pháp luật về kế  
hoạch hoá nền kinh tế quốc dân và hạch toán kinh tế là nội dung chủ yếu  
của Luật kinh tế. Trong giai đoạn hiện nay, những quy định của pháp  
luật về những vấn đề trên có những thay đổi lớn, chủ yếu chỉ áp dụng  
cho đối với một số doanh nghiệp Nhà nước (công ty Nhà nước và những  
doanh nghiệp Nhà nước mà Nhà nước có cổ phần, vốn góp chi phối). Do  
vậy, trong nội dung của Luật thương mại, chế độ pháp lý về kế hoạch  
hoá nền kinh tế quốc dân và hạch toán kinh tế không còn là giữ vị trí chủ  
yếu như trước đây. Để đáp ứng với thực tiễn và yêu cầu khách quan của  
nền kinh tế, một số chế định mới hình thành, như: chế định pháp luật về  
phá sản, chế định pháp luật về cạnh tranh,...  
Tóm lại, trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung, Luật kinh tế tồn tại  
như một ngành luật độc lập, điều chỉnh về những quan hệ phát sinh trong  
quá trình tổ chức và thực hiện hoạt động kinh doanh của các đơn vị kinh  
17  
tế quốc doanh. Khi Việt Nam chuyển đổi cơ chế kinh tế vận hành theo  
cơ chế thị trường, để phù hợp với cơ chế quản lý kinh tế mới, Luật kinh  
tế đã được đổi thành Luật thương mại và đây không chỉ là sự thay đổi về  
tên gọi mà còn có nhiều thay đổi về nội dung và hình thức. Luật thương  
mại có hệ thống chủ thể rộng rãi hơn, các quan hệ kinh tế cũng mang  
tính chất tài sản nhiều hơn, phương pháp dân sự (bình đẳng, thoả thuận)  
được áp dung rộng rãi hơn so với trước đây (chủ yếu phương pháp mệnh  
lệnh hành chính). Các văn bản pháp luật kinh doanh, thương mại được  
sửa đổi, bổ sung ngày càng đáp ứng được nhu cầu đổi mới kinh tế của  
đất nước. Chuyển sang kinh tế thị trường, hơn bao giờ hết, pháp luật  
kinh doanh nói chung và Luật thương mại nói riêng có vai trò ngày càng  
quan trọng trong đời sống kinh tế của đất nước.  
2. VAI TRÒ CỦA LUẬT THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT KINH  
DOANH -THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG  
HIỆN NAY  
Từ năm 1986, Nhà nước ta chủ trương phát triển nền kinh tế hàng  
hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường. Qua một thời gian thực  
hiện, đã chứng minh được hiệu quả của chủ trương, đường lối đúng đắn  
đó cả về phương diện lý luận và phương diện thực tiễn: nền kinh tế nào  
cũng cần đến sự quản lý của Nhà nước.  
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh tế diễn ra rất phức tạp  
(đa dạng về chủ thể, về lợi ích,...). Tham gia vào quá trình hoạt động  
kinh tế là các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Lợi nhuận là  
mục đích theo đuổi và động lực phát triển của doanh nghiệp. Dưới sự tác  
động của các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, các doanh  
nghiệp sẽ phát triển không đồng đều dẫn đến nguy cơ độc quyền, lũng  
đoạn thị trường, làm ăn gian dối. Vì vậy, cần thiết phải có sự quản lý của  
Nhà nước để đảm bảo một nền kinh tế có tính tổ chức cao, ổn định, công  
bằng và có định hướng rõ rệt.  
Tiêu chí cơ bản nhất để đánh giá pháp luật có đúng đắn hay không,  
chính là sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường. Một xã hội,  
18  
nếu không có pháp luật hoặc pháp luật không phù hợp với những yêu  
cầu của nền kinh tế thị trường thì nền kinh tế thị trường không thể vận  
hành trôi chảy được. Một khi pháp luật không được chú trọng đúng với  
tầm quan trọng của nó thì kinh tế thị trường sẽ rơi vào tình trạng lộn xộn  
và đi đến thất bại.  
Vai trò của luật thương mại nói riêng và pháp luật kinh doanh–  
thương mại nói chung được quy định bởi những yêu cầu khách quan do  
chính nền kinh tế thị trường đặt ra, nhất là nền kinh tế thị trường Việt  
Nam, một nền kinh tế thị trường với những đặc thù riêng của mình.  
2.1. Các yêu cầu khách quan do nền kinh tế thị trường đặt ra đối với  
luật thương mại và pháp luật kinh doanh – thương mại  
Các quy định của luật thương mại và pháp luật kinh doanh –  
thương mại cần đảm bảo các yêu cầu sau đây:  
Thứ nhất, trong nền kinh tế thị trường, việc đảm bảo thống nhất,  
hài hoà giữa kinh tế và xã hội là một yêu cầu khách quan.  
Pháp luật phải đóng vai trò bảo đảm tính hai mặt chủ yếu của quá  
trình đó: một mặt, bảo đảm quyền tự do của công dân; mặt khác phải  
đảm bảo lợi ích của xã hội, bảo vệ người tiêu dùng, người lao động;  
không để xảy ra tình trạng làm kinh tế bằng bất cứ giá nào và bằng bất  
cứ thủ đoạn nào.  
Thứ hai, pháp luật kinh doanh – thương mại phải bảo đảm sự  
bình đẳng và công bằng.  
Nói đến kinh tế thị trường là nói đến đa hình thức sở hữu đối với  
tư liệu sản xuất, đa thành phần kinh tế, đa lợi ích, vì vậy đòi hỏi phải có  
sự bình đẳng và công bằng.  
Bình đẳng được hiểu là trong những hoàn cảnh như nhau, mọi  
doanh nghiệp được hưởng những khả năng, điều kiện và cơ hội như  
nhau; Phải được ngang quyền với nhau trong quan hệ, không có sự phân  
biệt đối xử nào.  
Công bằng được hiểu là một giá trị quan trọng của pháp luật. Một  
quy định của pháp luật được coi là công bằng khi được nhiều người ủng  
19  
hộ. Do đó, để có một hệ thống pháp luật đạt được yêu cầu đó, phải xây  
dựng một cơ chế xây dựng pháp luật thật sự dân chủ.  
Thứ ba, pháp luật phải được đề cao để hạn chế và đi đến xoá bỏ  
mọi tình trạng thiếu lành mạnh.  
Trong nền kinh tế thị trường: tự do năng động, sáng tạo và nhạy bén  
là những yêu cầu khách quan của nó. Những cũng dễ dàng từ đó có nguy cơ  
làm xuất hiện tình trạng vô Chính phủ, tuỳ tiện làm ăn gian lận trong nền  
kinh tế thị trường nên chúng ta phải đặt ra yêu cầu đề cao pháp luật.  
2.2. Đặc điểm của nền kinh tế thị trường Việt Nam  
Nền kinh tế thị trường Việt Nam có những nét đặc thù sau:  
a. Nền kinh tế thị trường Việt Nam được xây dựng từ một nền kinh  
tế kế hoạch tập trung cao độ. Nền kinh tế thị trường đối lập với nền kinh  
tế tự nhiên, tự cung tự cấp và đối lập với cơ chế cấp phát - giao nộp. Đặc  
điểm này xác định mức độ cải cách của hệ thống pháp luật, đòi hỏi phải  
được thay thế bằng một hệ thống pháp luật mới phù hợp.  
b. Nền kinh tế thị trường Việt Nam với vai trò chủ đạo của nền  
kinh tế quốc doanh, mục đích nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định và có  
hiệu quả của nền kinh tế. Muốn đạt được mục đích, cần phải đảm bảo  
cho thành phần kinh tế quốc doanh chiếm vị trí then chốt trong nền kinh  
tế: Có đủ lực lượng vật chất chi phối thị trường; là tấm gương sáng về  
năng suất về lao động, chất lượng.  
c. Nền kinh tế thị trường Việt Nam có định hướng Xã hội chủ  
nghĩa. Nếu nhìn nhận đặc trưng của Xã hội chủ nghĩa là mục tiêu của  
một chế độ kinh tế phải đạt được là: dân giàu, nước mạnh, xã hội công  
bằng văn minh, thì Nhà nước Việt Nam sử dụng các yếu tố của nền kinh  
tế thị trường như là một công cụ để thực hiện các mục tiêu đó.  
2.3. Các nội dung cơ bản của nền kinh tế thị trường đòi hỏi luật  
thương mại và pháp luật kinh doanh – thương mại phải đáp ứng  
Thứ nhất, tạo ra những tiền đề pháp lý vững chắc để ổn định các  
quan hệ kinh tế, làm cho mọi thành phần kinh tế kinh tế, mọi công dân  
yên tâm chủ động phát huy mọi tiềm năng sáng tạo và tiềm lực kinh tế.  
20  
Thứ hai, tạo ra một cơ chế pháp lý đảm bảo một cách có hiệu quả  
sự bình đẳng thực sự giữa các thành phần kinh tế.  
Thứ ba, đấu tranh phòng và chống một cách có hiệu quả những  
hiện tượng tiêu cực nảy sinh trong quá trình vận hành của nền kinh tế thị  
trường, đồng thời bảo vệ một cách chắc chắn lợi ích hợp pháp của các  
doanh nghiệp, của mọi công dân và của người tiêu dùng.  
3. KHÁI NIỆM LUẬT THƯƠNG MẠI  
3.1. Quan điểm về Luật kinh tế, Luật thương mại, Luật kinh doanh  
a. Quan điểm về Luật kinh tế  
Quan điểm về Luật kinh tế được biết đến ở các nước tư bản từ  
những năm đầu của thế kỷ XX, khi trong nền kinh tế xuất hiện những  
nhân tố mới như: sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, sự phát  
triển của kinh tế nhà nước, sự xuất hiện độc quyền,...  
Nội dung của Luật kinh tế bao gồm: Luật thương mại, Luật lao  
động, một số quy định về sở hữu công nghiệp và lĩnh vực dân sự.  
Theo quan niệm này, Luật kinh tế ở Việt Nam được coi là một  
ngành luật độc lập, theo đó, Luật kinh tế “bao gồm tổng hợp các quy  
phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình  
tổ chức, quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh giữa các doanh  
nghiệp với nhau và với các cơ quan quản lý nhà nước”.  
Như vậy, với quan điểm này, Luật kinh tế là một ngành luật độc  
lập, có phạm vi, đối tượng và phương pháp điều chỉnh riêng.  
b. Quan điểm về Luật kinh doanh  
Theo quan điểm của một số nước khác, Luật kinh doanh là một  
ngành luật độc lập, được hiểu là “tổng thể các quy phạm pháp luật điều  
chỉnh các quan hệ kinh doanh và các quan hệ xã hội khác liên quan mật  
thiết với quan hệ kinh doanh, trong đó, có các quan hệ trong lĩnh vực  
quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh nhằm đảm bảo lợi ích  
của nhà nước và xã hội”.  
21  
Ở Việt Nam, thuật ngữ Luật kinh doanh hay Pháp luật kinh doanh  
cũng đã xuất hiện nhiều và được bàn đến nhưng chủ yếu là trong các đề  
tài nghiên cứu khoa học và các hội thảo khoa học. Nội dung cơ bản của  
Luật kinh doanh bao gồm bốn nội dung cơ bản: pháp luật về các loại  
hình doanh nghiệp, pháp luật về hành vi kinh doanh, pháp luật về phá  
sản, pháp luật về cơ quan tài phán trong kinh doanh.  
c. Quan điểm về Luật thương mại  
Trong đời sống kinh tế - xã hội cũng như trong khoa học pháp lý ở  
các nước theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa, Luật thương mại tồn  
tại như là một ngành luật độc lập, có vai trò rất quan trọng. Luật thương  
mại cùng với Luật dân sự điều chỉnh các quan hệ tài sản mang tính chất  
hàng hoá - tiền tệ.  
Ở Việt Nam, cùng với việc ban hành Luật thương mại 1997, trên  
thực tế đã xuất hiện nhiều khái niệm về Luật thương mại. Song, do khái  
niệm “thương mại” được hệ thống pháp luật nước ta lúc đó tiếp cận ở  
nghĩa hẹp, nó chỉ là một khâu của hoạt động thương mạ nên Luật thương  
mại không được coi là một ngành luật độc lập mà chỉ được coi là một bộ  
phận cấu thành môn Luật kinh tế.  
Trong thời gian gần đây, để phù hợp với xu hướng của các nước  
trên thế giới, hoạt động thương mại được pháp luật Việt Nam ghi nhận  
theo nghĩa rộng; đó là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: mua  
bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt  
động khác nhằm mục đích sinh lợi. Với quan điểm như vậy, cho nên  
môn học Luật kinh tế được các cơ sở đào tạo Luật đổi tên theo khung  
chương trình đào tạo là môn học Luật thương mại.  
Tóm lại, ở một phương diện nào đó, Luật kinh tế, Luật kinh doanh  
hay Luật thương mại được sử dụng như những khái niệm cùng loại điều  
chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực kinh tế, thương mại hoặc kinh  
doanh tại một nước nào đó. Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào cách thức và mức  
độ can thiệp của nhà nước vào hoạt động nói trên mà trong nội dung của  
mỗi quan điểm có sự khác nhau.  
22  
3.2. Khái niệm Luật thương mại  
Luật kinh tế trước đây điều chỉnh những quan hệ kinh tế gắn  
liền với quá trình sản xuất - kinh doanh của các đơn vị kinh tế nhà  
nước hặc với chức năng quản lý nhà nước với tính cách vừa là chủ thể  
của quyền lực công vừa là chủ sở hữu của những tư liệu sản xuất nền  
tảng xã hội 5.  
Hiện nay, với xu thế tất yếu của thời đại, kinh tế thị trường đòi hỏi  
phải xóa bỏ sự độc tôn của một hình thức sở hữu, đòi hỏi phải khuyến  
khích và phát triển một cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với sự bình đẳng  
của chúng trước pháp luật. Kinh tế thị trường đòi hỏi phải có môi trường  
pháp lý đảm bảo quyền tự do kinh doanh của tất cả các chủ thể sản xuất  
– kinh doanh.  
Đặc biệt, kinh tế thị trường đòi hỏi tổ chức công quyền phải tôn  
trọng nguyên tắc tự do kinh doanh của các loại hình doanh nghiệp. Trên  
cơ sở kế thừa những thành tựu nghiên cứu các vấn đề lý luận của luật  
kinh tế trước đây và dựa vào sự phát triển của đời sống kinh doanh,  
thương mại hiện nay, Luật thương mại hiện nay được hiểu là tổng hợp  
các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, điều  
chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình tổ chức và thực hiện hoạt  
động kinh doanh thương mại giữa các thương nhân với nhau và các cơ  
quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền.  
Từ khái niệm Luật thương mại, có thể nhận thấy Luật thương mại  
có hai thuộc tính cơ bản, đó là phạm vi điều chỉnh và chủ thể của Luật  
thương mại.  
Phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại được hiểu thông qua các  
hành vi điều chỉnh của Luật thương mại, đó là:  
- Thông qua Luật thương mại, nhà nước điều chỉnh hành vi kinh  
doanh của các chủ thể kinh doanh, các hoạt động của thương nhân, như:  
5 Xem Giáo trình “Luật kinh tế” của TS. Nguyễn Như Phát và TS. Phạm Hữu  
Nghị chủ biên, NxB Giáo dục (năm 2000).  
23  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 65 trang Thùy Anh 11260 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Luật thương mại Việt Nam (Phần 1)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_luat_thuong_mai_viet_nam_phan_1.pdf