Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh

Nguyễn Minh Hải  
Đại học Ngân hàng Tp. HCM  
Ngày nhận: 28/03/2021  
Ngày nhận bản sửa: 04/05/2021  
Ngày duyệt đăng: 19/05/2021  
Tóm tắt: Một trong những vấn đề thu hút được nhiều sự chú ý của các nhà quản  
trị là việc gia tăng hiệu quả làm việc của nhân viên. Sự công bằng trong tổ chức  
là nhân tố tạo ra động lực làm việc của nhân viên và thông qua đó ảnh hưởng đến  
kết quả công việc. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết về sự công bằng để kiểm định mối  
quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng và hiệu quả làm việc của nhân viên tại các  
ngân hàng trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM). Với kích cỡ mẫu 327,  
kết quả cho thấy, Sự công bằng và Sự hài lòng trong công việc có ảnh hưởng trực  
tiếp đến hiệu quả làm việc của nhân viên. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa sự công bằng  
trong tổ chức và sự hài lòng trong công việc không có ý nghĩa thống kê.  
Từ khóa: Sự công bằng trong tổ chức, sự hài lòng trong công việc, hiệu quả làm  
việc của nhân viên  
The effect of Organizational Justice and Job Satisfaction on Employee Performance: Empirical  
study in Banking industry inHo Chi Minh city  
Abstract: One of the most attractive topic in management is employee performance improvement.  
The organizational justice is an essential factor impacting on employee job performance through  
employee motivation. Based on the Inequity theory, this study examined the relationship between  
Organizational Justice, Job Satisfaction and Job Performance of bankers in Hochiminh City. With the  
data collected from 327 respondents, the result shows that Organizational Justice and Job Satisfaction  
have a significant impact on Job Performance. However, the relationship between Organizational  
Justice and Job Satisfaction is not significant.  
Keywords: Organizational Justice, Job satisfaction, Job Performance.  
JEL classification: M12, L20.  
Hai Minh Nguyen  
Email: hainm@buh.edu.vn  
Banking University - HCMC  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
Số 228- Tháng 5. 2021  
© Học viện Ngân hàng  
77  
ISSN 1859 - 011X  
Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc  
của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh  
1. Giới thiệu  
triển của lý thuyết chất lượng mối quan  
hệ, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng  
chất lượng mối quan hệ là một yếu tố quan  
trọng ảnh hưởng đến thái độ, hành vi và  
hiệu quả công việc của nhân viên. Sự hài  
lòng và tin tưởng là hai khía cạnh cơ bản  
của chất lượng mối quan hệ (Frazier và  
cộng sự, 2010; Sanchez-Franco và cộng sự,  
2019). Các nghiên cứu đã cho thấy sự hài  
lòng trong công việc có liên quan đáng kể  
đến hiệu quả làm việc, bởi vì những nhân  
viên hài lòng với công việc sẽ cung cấp  
dịch vụ tốt hơn, tạo ra lòng trung thành của  
khách hàng, đồng thời cũng sẽ ảnh hưởng  
đến niềm tin của khách hàng và sự truyền  
miệng của công chúng (Hafeez, 2019;  
Nadiri & Tanova, 2010). Do đó, cải thiện  
sự hài lòng của nhân viên và nâng cao cảm  
giác tin tưởng vào tổ chức không những  
giúp nhân viên thực hiện những công việc  
khác ngoài bảng mô tả công việc mà còn  
giúp có thái độ và hành vi tích cực trong  
phối hợp và làm việc theo nhóm. Điều này  
sẽ có lợi cho việc tăng khả năng cạnh tranh  
của các doanh nghiệp và đồng thời cải  
thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp  
(Hafeez, 2019).  
Hiện tại, các nghiên cứu về sự công bằng  
trong tổ chức và sự hài lòng của nhân viên  
đã được thực hiện tại Việt Nam. Tuy nhiên,  
nghiên cứu xét đến sự tác động đồng thời  
giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công  
việc và hiệu quả làm việc của nhân viên  
trong lĩnh vực ngân hàng vẫn chưa được  
thực hiện. Do đó, nghiên cứu này kế thừa  
nghiên cứu của Li và cộng sự (2020) và  
kiểm định lại mối quan hệ giữa các yếu tố  
sự công bằng, sự hài lòng trong công việc  
và hiệu quả làm việc của nhân viên, đồng  
thời giúp xác định mức độ tác động của  
từng nhân tố để từ đó đưa ra các kiến nghị  
giúp nâng cao hiệu quả làm việc của nhân  
viên ngân hàng trong khu vực TP.HCM.  
Hiệu quả làm việc của nhân viên được xem  
là một trong những chủ đề thu hút được  
nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học  
quản trị và các nhà quản lý. Với sự toàn cầu  
hóa và sự gia tăng của cạnh tranh quốc tế,  
việc quản lý tất cả các loại nguồn lực, giữ  
chân nhân viên và cải thiện hiệu quả làm  
việc là yếu tố then chốt cho sự thành công  
của các doanh nghiệp (Nadiri và Tanova,  
2010). Hiệu quả làm việc của nhân viên  
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả làm việc  
của tổ chức và đóng góp trực tiếp vào sự  
thành công của tổ chức. Vì vậy, việc nâng  
cao hiệu suất làm việc của nhân viên đã trở  
thành ưu tiên hàng đầu của các nhà quản lý.  
Phương thức quản lý được phát triển liên tục  
trong thời gian qua và sự cạnh tranh giữa  
các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay  
gắt hơn. Do đó, để giúp nâng cao hiệu quả  
công tác quản lý nhân viên và gia tăng khả  
năng cạnh tranh của doanh nghiệp, một số  
học giả đã phát triển các nghiên cứu về hiệu  
quả công việc của nhân viên và các yếu tố  
ảnh hưởng của nó (Alamir và cộng sự, 2019;  
Frazier và cộng sự, 2010). Các nghiên cứu  
cho thấy rằng sự công bằng trong tổ chức  
có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ và hành  
vi cũng như hiệu suất công việc của nhân  
viên, là yếu tố dự báo quan trọng về thái độ  
và hành vi làm việc (Colquitt, 2001). Mặc  
dù các nhà nghiên cứu đang cố gắng tìm ra  
mối quan hệ giữa sự công bằng của tổ chức  
và hiệu quả công việc, nhưng kết quả không  
nhất quán hoặc không xác định (Alamir và  
cộng sự, 2019; Hur và Ha 2019). Một số  
nghiên cứu chỉ ra rằng sự công bằng có tác  
động đến hiệu quả làm việc, tuy nhiên ảnh  
hưởng của các khía cạnh công bằng tổ chức  
đối với hiệu quả công việc là khá khác nhau  
(Li và cộng sự, 2020).  
Bên cạnh tác động của công bằng tổ chức  
đối với thực hiện công việc, với sự phát  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 228- Tháng 5. 2021  
78  
NGUYỄN MINH HẢI  
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
2.1. Hiệu quả làm việc của nhân viên  
riêng mình. Do đó, nghiên cứu này tiếp cận  
hiệu quả làm việc của nhân viên theo hướng  
tự đánh giá, tự nhận định của cá nhân được  
đề xuất bởi Stevens và cộng sự (1978).  
Schermerhorn (1989) cho rằng hiệu quả  
làm việc của nhân viên là chất lượng và số  
lượng đạt được khi hoàn thành một nhiệm  
vụ. Hiệu quả làm việc liên quan đến sự  
đánh giá kết quả một nhân viên về thái độ  
và kết quả công việc khi so sánh với đồng  
nghiệp của họ; nó được đo về mặt mức độ  
năng lực và sự đóng góp của mỗi nhân viên  
trong việc đóng góp vào quá trình thực hiện  
mục tiêu của tổ chức (Campbell và cộng  
sự, 1990). Tương tự trong nhiều công trình  
nghiên cứu khác, hiệu quả làm việc của  
nhân viên được định nghĩa là hiệu quả của  
các hoạt động mà nhân viên đóng góp cho  
mục tiêu phát triển của tổ chức (Motowidlo,  
2003). Bên cạnh đó, Munchinsky (2003) đề  
xuất rằng kết quả công việc là một tập hợp  
các hành vi của nhân viên có thể đo lường  
được, theo dõi và đánh giá thành tích ở cấp  
độ cá nhân. Kết quả công việc cũng là một  
trong những chỉ số đáng chú ý nhất trong  
đánh giá kết quả hoạt động của tổ chức  
(Wall và cộng sự, 2004).  
Borman và Motowidlo (1997) chia hiệu  
quả làm việc của nhân viên thành hai khía  
cạnh: hiệu quả công việc liên quan đến  
nhiệm vụ và hiệu quả công việc liên quan  
đến môi trường làm việc. Hiệu quả công  
việc liên quan chặt chẽ đến nội dung của  
công việc cụ thể, nhưng cũng liên quan  
chặt chẽ đến năng lực, trình độ chuyên môn  
của con người. Porter và Lawler (1968) chỉ  
ra rằng có 3 hình thức chính để đánh giá  
hiệu quả làm việc của nhân viên bao gồm:  
Tự đánh giá, so sánh với đồng nghiệp và  
đo lường kết quả đầu ra. Nghiên cứu đã  
cho thấy rằng, việc áp dụng các kỹ thuật tự  
đánh giá và tự nhận định là hữu ích trong  
việc khuyến khích người lao động phát huy  
vai trò tích cực trong thiết lập mục tiêu của  
2.2. Sự công bằng trong tổ chức  
Công bằng tổ chức đề cập đến nhận thức  
của nhân viên về việc mình được đối xử  
công bằng trong tổ chức sử dụng lao động  
(Cohen-Charash và Spector, 2001); Là nhận  
thức của nhân viên về sự công bằng trong  
mối quan hệ trao đổi giữa họ với tổ chức về  
mặt các phần thưởng và qui trình (Hendrix  
và cộng sự, 1998). Thực tế có rất nhiều định  
nghĩa về công bằng tổ chức nhưng nó gồm  
ít nhất ba khía cạnh: công bằng phân phối,  
công bằng thủ tục và công bằng tương tác  
(Holbrook, 1999). Tuy nhiên, nhận thức về  
công bằng không chỉ giới hạn ở so sánh mỗi  
kết quả đầu ra mà nhân viên còn quan tâm  
các quy định và nguyên tắc của tổ chức và  
cách áp dụng các quy định trong đánh giá  
hiệu quả công việc. Đồng thời, nhân viên sẽ  
xem xét liệu họ đã được đối xử một cách  
chân thành và tôn trọng không, được cung  
cấp một cách đầy đủ, trung thực về các  
thông tin từ cấp trên hay không (Colquitt,  
2001; Greenberg, 1993).  
Thuyết công bằng của Adams (1965) đã  
cung cấp các giả thuyết cụ thể liên quan  
đến sự ảnh hưởng của các nhận thức về bất  
công trong phân phối tới hiệu quả làm việc  
của nhân viên. Cụ thể, khi một nhân viên  
thấy kết quả phân phối không công bằng,  
nhân viên đó có thể tự điều chỉnh, thay đổi  
chất lượng hoặc số lượng công việc để làm  
cho nó trở nên công bằng với họ. Mặt khác,  
trong nghiên cứu của Lind và Tyler (1988)  
đã công bố nhiều lần rằng công bằng qui  
trình quan trọng hơn công bằng phân phối  
trong việc ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc  
của nhân viên. Fasolo và cộng sự (1990)  
cũng khám phá ra sự công bằng về qui trình  
Số 228- Tháng 5. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
79  
Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc  
của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh  
dẫn đến sự gia tăng hiệu quả làm việc. Với  
cùng hướng tiếp cận, Li và cộng sự (2020)  
đã thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ  
giữa sự công bằng trong tổ chức và hiệu  
quả làm việc của nhân viên trong lĩnh vực  
nhà hàng khách sạn. Nghiên cứu đã đề cập  
đến vai trò trung gian của khái niệm chất  
lượng mối quan hệ bao gồm hai thành tố là  
sự hài lòng trong công việc và niềm tin của  
nhân viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy,  
các thành phần của khái niệm sự công bằng  
có tác động tích cực đến sự hài lòng trong  
công việc của nhân viên và tác động gián  
tiếp đến hiệu quả làm việc của nhân viên  
thông qua sự hài lòng. Như vậy, sự công  
bằng trong tổ chức có ảnh hưởng đến hiệu  
quả làm việc của nhân viên.  
sự hài lòng trong công việc của người lao  
động, nhân viên sẽ háo hức hơn để thực  
hiện các mục tiêu tổ chức và ngược lại, khi  
không có sự nhận thức về công bằng, tỷ lệ  
hài lòng trong công việc sẽ có xu hướng  
giảm (Keklik và Us 2013). Mặt khác,  
Seyyed Javadin và cộng sự (2008) chỉ ra  
rằng các nhân tố khác nhau của công bằng  
sẽ tác động tới sự hài lòng công việc với  
những mức độ khác nhau. Nhận thức công  
bằng trong phân phối có xu hướng là một  
yếu tố dự báo mạnh mẽ của sự hài lòng  
công việc (Martin và Bennett, 1996). Tuy  
nhiên, Clay-Warner và cộng sự (2005) lại  
cho rằng sự công bằng về qui trình là nhân  
tố dự báo tốt nhất về sự hài lòng công việc,  
cho dù công bằng phân phối cũng có hiệu  
quả nhưng thật ra tác động ít hơn (Imani,  
2009). Như vậy, sự nhận thức về công bằng  
trong tổ chức là một yếu tố dự báo quan  
trọng của sự hài lòng công việc.  
H1: Sự công bằng trong tổ chức có ảnh  
hưởng đến hiệu quả làm việc của nhân viên.  
Nghiên cứu của Ahmadzadeh Mashinchi  
và cộng sự (2012) cho thấy mỗi quan hệ  
đáng kể giữa công bằng tổ chức và hài lòng  
công việc. Các nghiên cứu cho thấy khi  
nhận thức sự công bằng cao sẽ làm tăng  
H2: Sự công bằng trong tổ chức có tác  
động đến sự hài lòng trong công việc của  
nhân viên.  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Nguồn: Tác giả đề xuất từ tổng quan nghiên cứu  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 228- Tháng 5. 2021  
80  
NGUYỄN MINH HẢI  
2.3. Sự hài lòng trong công việc của nhân  
3.1. Phương pháp nghiên cứu  
viên  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định  
lượng chủ yếu kết hợp với phương pháp  
định tính trong nghiên cứu sơ bộ. Sau khi  
tổng hợp cơ sở lý thuyết, xây dựng mô hình  
và thiết lập thang đo, phương pháp phỏng  
vấn nhóm tập trung được thực hiện nhằm  
hiệu chỉnh thang đo và làm rõ các biến  
quan sát.  
Phương pháp nghiên cứu định lượng được  
thực hiện trong nghiên cứu chính thức. Dữ  
liệu sau khi mã hóa được phân tích bằng  
phần mềm SPSS để kiểm tra hệ số tin cậy  
Cronbach’s Alpha và phân tích khám phá  
nhân tố (EFA). Phần mềm Amos sẽ được  
sử dụng trong phân tích khẳng định nhân tố  
(CFA) và phân tích mô hình cấu trúc tuyến  
tính (SEM).  
Sự hài lòng trong công việc đã được nghiên  
cứu rộng rãi trong nghiên cứu tâm lý (Judge  
và cộng sự, 2002). Sự hài lòng công việc  
theo định nghĩa của Vroom (1964) là một  
kết nối cảm xúc của một người với môi  
trường làm việc. Cụ thể, Locke chỉ ra rằng  
sự hài lòng trong công việc là một trạng thái  
tình cảm vui vẻ hay tích cực từ việc đánh  
giá về một công việc hoặc kinh nghiệm  
trong công việc (Locke, 1976). Robbins  
và Judge (2013) đã mô tả sự hài lòng công  
việc như là cảm xúc tích cực hay tiêu cực  
liên quan đến một công việc. Một cá nhân  
rất hài lòng sẽ có cảm giác tốt, trong khi  
một nhân viên không hài lòng sẽ có cảm  
giác xấu về công việc của mình.  
Theo lý thuyết chất lượng mối quan hệ,  
tồn tại mối tương quan thuận giữa sự hài  
lòng của nhân viên và hiệu quả công việc,  
tức là sự hài lòng của nhân viên dẫn đến  
hiệu quả làm việc cao và sự không hài lòng  
dẫn đến hiệu quả làm việc thấp. Quan điểm  
thái độ- hành vi của tâm lý xã hội cho rằng  
hành vi của con người phần lớn được quyết  
định bởi thái độ và thái độ có thể dẫn đến  
xu hướng hành vi, vì vậy sự hài lòng của  
nhân viên sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả làm  
việc của họ (Ciavolino và cộng sự, 2019).  
Trên mối quan hệ giữa sự hài lòng và hiệu  
quả công việc, Arshadi (2010) đã phát hiện  
ra rằng sự hài lòng trong công việc có tác  
động tích cực đáng kể đến hiệu quả công  
việc. Sự hài lòng trong công việc có tác  
dụng làm giảm ý định nghỉ việc và nâng  
cao hiệu quả làm việc của tổ chức (Kim &  
Brymer, 2011).  
3.2. Thang đo sử dụng trong nghiên cứu  
Thang đo về sự công bằng trong tổ chức  
được xây dựng dựa theo bảng thang đo của  
Colquitt (2001), sử dụng thang đo Likert 5  
bậc, có sự biến thiên của các trả lời từ “hoàn  
toàn không đồng ý” đến “hoàn toàn đồng  
ý”. Thang đo bao gồm 20 biến quan sát  
được phân chia thành 4 thành tố bao gồm:  
Sự công bằng về phân phối, công bằng về  
qui trình đánh giá, công bằng trong tương  
tác cá nhân và công bằng về thông tin.  
Thang đo sự hài lòng trong công việc của  
nhân viên được xây dựng dựa trên thang  
đo Likert 5 bậc của Fernand và Awamleh  
(2006) bao gồm 7 biến quan sát với 1 là  
“hoàn toàn không đồng ý” và 5 là “hoàn  
toàn đồng ý”.  
Thang đo kết quả làm việc của nhân viên  
bao gồm 4 biến quan sát được xây dựng  
dựa trên thang đo Likert 5 mức độ từ 1:  
“Rất thấp”, 2: “Thấp”, 3: “Trung bình”, 4:  
“Cao”, 5: “Rất cao” của Stevens và cộng  
sự (1978) trong đó gồm biến quan sát thể  
H3: Sự hài lòng trong công việc có ảnh  
hưởng đến hiệu quả làm việc của nhân viên.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Số 228- Tháng 5. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
81  
Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc  
của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh  
hiện sự tự đánh giá của nhân viên về kết  
qủa công việc.  
thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỉ lệ số  
quan sát/ biến đo lường là 5/1 nghĩa là cứ  
mỗi biến đo lường cần tối thiểu là 5 quan  
sát (Hair and ctg, 2006). Số biến được xác  
định trong nghiên cứu định lượng là 31, do  
đó số quan sát tối thiểu tương ứng là 155.  
Khi tăng kích thước mẫu, độ tin cậy của  
3.3. Mẫu nghiên cứu  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân  
tích nhân tố (EFA) với kích thước mẫu tối  
Bꢀng 1. Diễn giꢀi các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu  
Nguồn tham  
khảo  
Khái niệm  
Tên biến quan sát  
Thang đo  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
DISJU1: Mức độ của kết quả công việc phản ánh  
những nỗ lực anh/chị đã bỏ ra  
DISJU2: Mức tương xứng của kết quả mà anh chị  
nhận được so với những việc anh chị/đã thực hiện  
DISJU3: Mức độ của kết quả phản ánh những gì  
anh/chị đã đóng góp cho tổ chức  
DISJU4: Những gì anh/chị nhận được xứng đáng  
với những kết quả anh/chị đã tạo ra  
PROJU1: Mức độ anh/chị có thể bảy tỏ quan điểm  
và cảm xúc của mình về những thủ tục  
PROJU2: Mức độ anh/chị có thể tác động tới kết  
quả của quá trình đánh giá  
Công bằng  
phân phối  
PROJU3: Sự “đồng nhất” trong áp dụng những thủ  
tục  
PROJU4: Mức độ chính xác của các thủ tục  
PROJU5: Các thủ tục đánh giá được dựa trên  
những thông tin chính xác  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Công bằng  
qui trình  
PROJU6: Mức độ anh chị có thể yêu cầu xem xét  
lại các kết quả của quá trình đánh giá  
PROJU7: Những thủ tục đánh giá tuân thủ đúng  
nội quy và các chuẩn mực đạo đức  
PERJU1: Mức độ lịch sự trong thái độ của cấp trên  
đối với anh/chị  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Colquitt (2001)  
Công bằng  
tương tác  
cá nhân  
PERJU2: Sự tử tế của cấp trên đối với anh/chị  
PERJU3: Sự tôn trọng của cấp trên với anh/chị  
PERJU4: Mức độ cấp trên tránh bình luận, nhận  
xét khiếm nhã đối với anh/chị  
INFJU1: Mức độ chân thật của cấp trên trong giao  
tiếp với anh/chị  
INFJU2: Sự đầy đủ, rõ ràng của cấp trên khi giải  
thích các thủ tục cho anh/chị  
INFJU3: Sự hợp lý trong giải thích thủ tục cho anh/  
chị của cấp trên  
INFJU4: Mức độ kịp thời mà cấp trên truyền đạt  
các thông tin trong công việc cho anh/chị  
INFJU5: Mức độ cấp trên điều chỉnh cách thức  
truyền đạt sao cho phù hợp với từng nhu cầu mỗi  
cá nhân  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Công bằng  
thông tin  
Likert 1-5  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 228- Tháng 5. 2021  
82  
NGUYỄN MINH HẢI  
Nguồn tham  
Khái niệm  
Tên biến quan sát  
Thang đo  
khảo  
JOBS1: Nhìn chung, anh/chị thấy hài lòng với công  
việc hiện tại  
JOBS2: Các ý kiến trong công việc của anh/chị  
được tôn trọng  
JOBS3: Hầu hết những người làm công việc như  
anh/chị đều hài lòng với công việc  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Sự hài lòng JOBS4: Anh/chị hài lòng với những sự công nhận  
trong công của tổ chức về những gì mình đã cống hiến (tiền  
Fernand và  
Awamleh (2006)  
Likert 1-5  
việc  
thưởng, thăng chức,...)  
JOBS5: Anh/chị hài lòng với mức lương của mình  
khi so sánh công việc này ở các công ty khác  
JOBS6: Anh/chị hài lòng về mối quan hệ giữa cấp  
trên của mình với nhân viên.  
JOBS7: Anh/chị hài lòng với cách mà cấp trên của  
mình điều hành nhân viên  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
JOBP1: Chất lượng kết quả công việc của anh/chị  
JOBP2: Năng suất công việc của anh/chị  
JOBP3: Khi anh/chị làm việc của đồng nghiệp, kết  
quả của anh/chị như thế nào so với kết quả của họ  
JOBP4: Khi đồng nghiệp làm việc của anh/chị, kết  
quả của họ như thế nào so với kết quả khi chính  
anh/chị làm  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Hiệu quả  
làm việc  
Stevens và cộng  
sự (1978)  
Likert 1-5  
Likert 1-5  
Nguồn: Đề xuất của tác giả từ tổng quan nghiên cứu  
thông tin càng tăng, vì vậy tác giả dự tính  
kích thước mẫu là 300 để có một sự chính  
xác tương đối trong kết quả phân tích. Tác  
giả đã phát ra 350 bảng câu hỏi. Các bảng  
câu hỏi được phát đến học viên tại các lớp  
tại chức, các lớp đào tạo nghiệp vụ ngắn  
hạn, lớp đào tạo thạc sỹ của trường Đại  
học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh  
và thông qua các học viên chuyển đến  
đồng nghiệp của họ tại các ngân hàng trong  
khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Thời  
gian thực hiện từ tháng 11/2020 đến tháng  
3/2021. Số lượng phiếu thu về là 331, trong  
đó có 4 phiếu không hợp lệ do chưa hoàn  
tất các câu hỏi. Do đó, mẫu sử dụng cho  
nghiên cứu là 327.  
Trong số 327 mẫu thu về, tỷ lệ nam giới  
chiếm 47,4% và nữ giới chiếm 52,6%. Tỷ  
lệ người lao động có độ tuổi từ 22 đến 30 là  
85,6%, từ 31 đến 40 là 11,7%, từ 41 đến 50  
là 1,8% và trên 50 là 0,9%.  
Hệ số Cronbach’s Alpha được sử dụng để  
đánh giá độ tin cậy của thang đo. Phân tích  
EFA và CFA được tiến hành để phân tích  
khám phá nhân tố, khẳng định giá trị hội  
tụ và phân biệt của thang đo. Mô hình đo  
lường và mô hình cấu trúc cũng được kiểm  
định thông qua phương pháp phân tích mô  
hình cấu trúc tuyến tính SEM.  
Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha  
và phân tích EFA  
Kết quả phân tích cho thấy các biến quan  
sát của các thành phần trong thang đo của  
sự công bằng trong tổ chức đều có hệ số  
tương quan biến tổng đạt trên 0,3 và hệ số  
Cronbach Alpha đạt lần lượt là 0,833 (công  
bằng qui trình), 0,769 (công bằng phân  
4. Kết quꢀ nghiên cứu và thꢀo luận  
4.1. Kết quả nghiên cứu  
Số 228- Tháng 5. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
83  
Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc  
của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh  
Hình 2. Mô hình SEM đã được chuẩn hóa  
Nguồn: Kết quả phân tích từ số liệu khảo sát, 2021  
Bꢀng 2. Kết quꢀ kiểm định Cronbach’s Alpha các thang đo  
Số biến  
quan sát  
Cronbach’s  
Alpha  
Hệ số tương quan giữa  
biến- tổng nhỏ nhất  
STT  
Thang đo  
1
2
3
4
5
6
Công bằng phân phối  
4
7
4
5
7
4
0,769  
0,833  
0,797  
0,827  
0,369  
0,691  
0,536  
0,482  
0,518  
0,583  
-0,100  
0,391  
Công bằng qui trình  
Công bằng tương tác cá nhân  
Công bằng thông tin  
Sự hài lòng trong công việc  
Hiệu quả làm việc của nhân viên  
Nguồn: Kết quả phân tích từ số liệu khảo sát, 2021  
phối), 0,797 (công bằng tương tác cá nhân)  
và 0,827 (công bằng thông tin). Thang đo  
hiệu quả công việc có hệ số Cronbach Alpha  
là 0,691 và các biến quan sát đều có hệ số  
tương quan biến tổng đạt trên 0,3 (Bảng  
2). Tuy nhiên, thang đo sự hài lòng trong  
công việc có chỉ số Cronbach Alpha chỉ đạt  
0,369 và các biến quan sát JOBS1, JOBS2,  
JOBS3 và JOBS4 có hệ số tương quan biến  
tổng đạt lần lượt là -0,005, 0,105, -0,1 và  
0,14 (<0,3). Do đó, tác giả lần lượt loại bỏ  
từng biến quan sát này khỏi thang đo. Tuy  
nhiên, khi loại bỏ biến JOBS1, JOBS2 và  
JOBS3 thì hệ số Cronbach Alpha đạt 0,747  
và hệ số tương quan biến tổng của tất cả  
các biến quan sát đều đạt trên 0,5. Như vậy,  
sau kiểm định Cronbach Alpha, có 3 biến  
bị loại bỏ (JOBS1, JOBS2 và JOBS3) và  
còn lại 28 biến quan sát được đưa vào phân  
tích EFA.  
Kết quả phân tích EFA với phép quay  
Varimax cho thấy hệ số KMO = 0,875 >  
0,5 và kiểm định Bartlett có mức ý nghĩa  
Sig= 0,000 < 0,05). Như vậy, phân tích  
EFA được sử dụng là phù hợp. Từ 28 biến  
quan sát rút trích được 5 nhân tố bao gồm:  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 228- Tháng 5. 2021  
84  
NGUYỄN MINH HẢI  
Bꢀng 3. Kết quꢀ kiểm định mối quan hệ nhân quꢀ giữa các khái niệm (chưa chuẩn hóa)  
Giả thuyết  
Ước lượng  
0,720  
S.E.  
0,116  
0,12  
C.R.  
6,226  
-0,873  
1,997  
P
H1  
H2  
H3  
JOBP  
JS  
<---  
<---  
<---  
OJ  
OJ  
JS  
0,000  
0,383  
0,046  
-0,104  
JOBP  
0,099  
0,049  
Nguồn: Kết quả phân tích từ số liệu khảo sát, 2021  
(1) Công bằng phân phối, (2) công bằng qui  
trình, (3) công bằng tương tác, (4) sự hài  
lòng trong công việc và (5) hiệu quả làm  
việc của nhân viên. Trong đó, biến quan  
sát PROJU1 có hệ số tải nhân tố dưới 0,5.  
Do đó, biến PROJU1 bị loại và 27 biến  
còn lại được đưa vào phân tích EFA lần 2.  
Kết quả phân tích EFA lần 2 cho thấy có 2  
biến PROJU4 và JOBP2 có hệ số tải nhân  
tố nhỏ hơn 0,5. Do đó, 2 biến PROJU4 và  
JOBP2 bị loại và 25 biến còn lại được sử  
dụng trong phân tích EFA lần 3. Kết quả  
phân tích EFA lần 3 cho thấy hệ số KMO=  
0,874> 0,5) và kiểm định Bartlett có mức ý  
nghĩa Sig= 0,000< 0,05). Các biến quan sát  
đều có hệ số tải nhân tố đạt trên 0,5, từ 25  
biến rút trích được 5 nhân tố. Trong đó, các  
biến quan sát thuộc 2 thành tố công bằng  
tương tác cá nhân và công bằng thông tin  
được gom lại thành một thành tố. Điều này  
phù hợp với lý thuyết vì hai thành tố này  
đều thuộc biến công bằng trong tương tác  
(Greenberg, 1993). Do đó, tác giả đặt tên  
thành tố mới là sự công bằng trong tương  
tác. Các khái niệm được sử dụng trong  
phân tích CFA và SEM bao gồm: Sự công  
bằng tương tác (IJ), sự công bằng phân  
phối (DJ), sự công bằng qui trình (PJ), sự  
hài lòng trong công việc (JS) và hiệu quả  
làm việc của nhân viên (JP).  
p= 0,000 (<0,01), χ2/df= 1,794 (<2), GFI=  
0,900, TLI= 0,913, CFI= 0,924, RMSEA=  
0,049 (<0,08). Như vậy kiểm định CFA đã  
cho thấy thang đo về Sự công bằng đạt yêu  
cầu và có độ tin cậy cao.  
Tiến hành kiểm định SEM, kết quả cho  
thấy mô hình có 266 bậc tự do với các giá  
trị thống kê như sau: chỉ số χ2= 475,950,  
p= 0,000 (<0,01), χ2/df= 1,789 (<2), GFI=  
0,899, TLI= 0,914, CFI= 0,924, RMSEA=  
0,049 (<0,08). Như vậy, mô hình hoàn toàn  
phù hợp với dữ liệu phân tích.  
Kết quả kiểm định các giả thuyết cho thấy  
giả thuyết H1 và H3 được chấp nhận với  
mức ý nghĩa 5%. Sự công bằng trong tổ  
chức và sự hài lòng trong công việc có sự  
tác động đến hiệu quả làm việc của nhân  
viên. Trong đó, sự công bằng có mức độ  
tác động khá lớn với trị số 0,64, Sự hài lòng  
trong công việc có tác động yếu hơn với  
mức tác động là 0,14. Như vậy, sự công  
bằng trong tổ chức và sự hài lòng trong  
công việc có mối quan hệ cùng chiều với  
hiệu quả làm việc của nhân viên trong tổ  
chức. Tuy nhiên, giả thuyết H2 lại bị bác  
bỏ với độ tin cậy 95%. Mối quan hệ giữa  
sự công bằng trong tổ chức và sự hài lòng  
trong công việc không có ý nghĩa thống kê  
do hệ số p-value đạt 0,383 > 0.05.  
Kiểm định CFA và mô hình SEM.  
4.2. Thảo luận  
Vì các khái niệm dùng trong mô hình  
nghiên cứu là các khái niệm độc lập, nên  
phân tích CFA được tiến hành với từng khái  
niệm. Kết quả cho thấy dữ liệu thực tế phù  
hợp với mô hình đo lường. Với thang đo Sự  
công bằng trong tổ chức, hệ số χ2= 470,139,  
Nghiên cứu cho thấy thang đo về sự hài lòng  
trong công việc của nhân viên trong lĩnh vực  
ngân hàng đã có sự điều chỉnh. Cụ thể, sau  
kiểm định Cronbach Alpha, thang đo sự hài  
lòng trong công việc có 3 biến bị loại và còn  
Số 228- Tháng 5. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
85  
Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc  
của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh  
lại 4 biến quan sát. Sau khi phân tích EFA,  
từ 28 biến quan sát rút trích được 5 nhân  
tố. Trong đó có sự hợp nhất giữa các biến  
thuộc công bằng tương tác cá nhân và công  
bằng thông tin thành một nhân tố duy nhất  
là sự công bằng tương tác. Các biến quan  
sát PROJU1, PROJU4 và JOBP2 lần lượt bị  
loại do có hệ số tải nhân tố nhỏ hơn 0,5.  
Các giả thuyết H1 và H3 được chấp nhận,  
Sự công bằng và Sự hài lòng trong công  
việc có tác động đến hiệu quả làm việc của  
nhân viên. Kết quả này đã giúp khẳng định  
mối quan hệ giữa Sự công bằng và hiệu  
quả làm việc của nhân viên vốn được ủng  
hộ trong nghiên cứu của Ahmad và Jameel  
(2021) và Asbari và cộng sự (2020). Tuy  
nhiên, mối quan hệ giữa sự công bằng và  
sự hài lòng không được ủng hộ, giả thuyết  
H2 bị bác bỏ. Kết quả này lại khác biệt so  
với giả thuyết ban đầu vốn khẳng định mối  
quan hệ giữa sự công bằng và sự hài lòng  
trong công việc (Ahmadzadeh Mashinchi  
và cộng sự, 2012).  
của nhân viên cần chú ý đến hai vấn đề  
chính như sau:  
Một là, đảm bảo tính công bằng trong tổ  
chức. Trong đó, các vấn đề cần phải đảm  
bảo tính công bằng bao gồm sự công bằng  
trong phân phối, công bằng về qui trình và  
công bằng trong tương tác. Đối với vấn  
đề thu nhập, cần đảm bảo nhân viên nhận  
được những giá trị (bao gồm tài chính và  
phi tài chính) phù hợp với những cố gắng  
của họ. Đối với qui trình, cần xây dựng một  
qui trình thiết lập mục tiêu và đánh giá hiệu  
quả công việc một cách minh bạch, đảm  
bảo tính công bằng giữa các nhân viên. Đối  
với tương tác, nhà quản trị cần đảm bảo  
một hệ thống thông tin đầy đủ và kịp thời,  
các cá nhân trong tổ chức cần được tiếp  
cận thông tin và đối xử như nhau trong quá  
trình làm việc.  
Hai là, đảm bảo duy trì sự hài lòng của nhân  
viên với công việc. Nhân viên cần được tổ  
chức công nhận về những cống hiến mà họ  
đã đóng góp cho tổ chức. Bên cạnh đó, nhà  
quản trị cần tham khảo mức lương trên thị  
trường để đảm bảo việc trả công không chỉ  
công bằng với nỗ lực của nhân viên mà còn  
phù hợp với mức trả công của thị trường.  
Cuối cùng, nhà quản trị cần chú ý trong  
mối quan hệ với cấp dưới. Sự tương tác  
giữa nhà quản lý và nhân viên hình thành  
cảm giác hài lòng trong công việc. Do đó,  
việc tương tác với nhân viên một cách phù  
hợp sẽ giúp gia tăng sự hài lòng của nhân  
viên và thông qua đó gia tăng hiệu quả làm  
việc của họ.  
5. Kết luận và khuyến nghị  
Như vậy, trong lĩnh vực ngân hàng, thang  
đo khái niệm sự công bằng trong tổ chức,  
sự hài lòng trong công việc và hiệu quả  
công việc có sự thay đổi về số lượng biến  
quan sát. Đồng thời, có sự dịch chuyển biến  
quan sát giữa các nhân tố. Trong tổng số 31  
biến quan sát sau các kiểm định còn lại 25  
và rút trích thành 5 thành tố bao gồm: (i) Sự  
công bằng trong phân phối thu nhập; (ii) sự  
công bằng trong qui trình đánh giá; (iii) sự  
công bằng trong tương tác; (iv) sự hài lòng  
trong công việc; và (v) hiệu quả làm việc  
của nhân viên.  
Nghiên cứu chỉ thực hiện với mẫu 327  
nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực  
Thành phố Hồ Chí Minh. Khi tăng kích cỡ  
mẫu hay thay đổi thời điểm, địa điểm, đối  
tượng khảo sát có thể sẽ dẫn đến việc thay  
đổi về các biến quan sát trong thang đo, độ  
tin cậy của thang đo cũng như mối quan  
hệ giữa sự công bằng trong tổ chức, sự hài  
lòng trong công việc và hiệu quả làm việc  
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tác động  
cùng chiều của sự công bằng trong tổ chức  
và sự hài lòng trong công việc trong mối  
quan hệ với hiệu quả làm việc của nhân  
viên. Do đó, để gia tăng hiệu quả làm việc  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 228- Tháng 5. 2021  
86  
NGUYỄN MINH HẢI  
của nhân viên. Hơn nữa, trên thực tế, có  
nhiều nhân tố khác có ảnh hưởng trực tiếp  
đến hiệu quả làm việc của nhân viên như:  
Phong cách lãnh đạo, văn hóa tổ chức, sự  
phù hợp giữa cá nhân và tổ chức… nhưng  
chưa được đưa vào trong nghiên cứu này.  
Các nghiên cứu tiếp theo có thể kiểm định  
lại mô hình nghiên cứu trong các lĩnh vực  
khác nhau để kiểm định lại lý thuyết và  
giúp gia tăng độ tin cậy của kết quả nghiên  
cứu. Các yếu tố khác liên quan đến hiệu  
quả làm việc của nhân viên cũng có thể  
được bổ sung vào mô hình để gia tăng độ  
bao quát. Đồng thời phát triển mẫu với số  
lượng lớn để đem lại độ tin cậy và tính đại  
diện cao hơn ■  
Tài liệu tham khꢀo  
Adams, J. S. (1965). Inequity in social exchange. In Advances in experimental social psychology. 2, 267-299  
Ahmad, A. R., & Jameel, A. S. (2021). Effect of organizational justice dimensions on performance of academic staff in  
developing countries. Annals of the Romanian Society for Cell Biology, 259-270.  
Ahmadzadeh Mashinchi, S., Yaghoubi, E., Ahmadi, E., Hadi, A., & Hamid, E. (2012). An analysis of correlation  
between organizational justice and job satisfaction. African Journal of Business Management, 6(3), 995-1002.  
Alamir, I., Ayoubi, R. M., Massoud, H., & Al Hallak, L. (2019). Transformational leadership, organizational justice  
and organizational outcomes. Leadership & Organization Development Journal, 40 (7), 749-763  
Arshadi, N. (2010). Basic need satisfaction, work motivation, and job performance in an industrial company in Iran.  
Procedia-Social and Behavioral Sciences, 5, 1267-1272.  
Asbari, I. B., RudyPramono, A. P., DylmoonHidayat, A., VirzaUtamaAlamsyah, P. S., & MiyvFayzhall, M. (2020). The  
Effect of work-Family conflict on Job Satisfaction and Performance: A Study of Indonesian Female Employees.  
International Journal of Advanced Science and Technology, 29(3), 6724-6748.  
Borman, W. C., & Motowidlo, S. J. (1997). Task performance and contextual performance: The meaning for personnel  
selection research. Human performance, 10(2), 99-109.  
Campbell, J. P., McHenry, J. J., & Wise, L. L. (1990). Modeling job performance in a population of jobs. Personnel  
psychology, 43(2), 313-575.  
Ciavolino, E., Lagetto, G., Montinari, A., Al-Nasser, A. D., Al-Omari, A. I., Zaterini, M. J., & Salvatore, S. (2019).  
Customer satisfaction and service domains: a further development of PROSERV. Quality & Quantity, 1-16.  
Clay-Warner, J., Reynolds, J., & Roman, P. (2005). Organizational justice and job satisfaction: A test of three  
competing models. Social Justice Research, 18(4), 391-409.  
Cohen-Charash, Y., & Spector, P. E. (2001). The role of justice in organizations: A meta-analysis. Organizational  
behavior and human decision processes, 86(2), 278-321.  
Colquitt, J. A. (2001). On the dimensionality of organizational justice: a construct validation of a measure. Journal of  
applied psychology, 86(3), 386-400  
Drucker, P. F. (2000). The change leader. National Productivity Review, 19(2), 13-20.  
Fasolo, P., & Davis-LaMastro, V. (1990). Perceived organizational support and employee diligence, commitment, and  
innovation. Journal of Applied Psychology, 75(1), 51-59.  
Fernandes, Cedwyn and Raed Awamleh. "Impact of organisational justice in an expatriate work environment."  
Management Research News, Vol. 29 No. 11 (2006): 701-712.  
Foster, R. D. (2010). Resistance, justice, and commitment to change. Human resource development quarterly, 21(1),  
3-39.  
Frazier, M. L., Johnson, P. D., Gavin, M., Gooty, J. and Snow, D. B. (2010). ‘Organizational justice, trustworthiness,  
and trust: a multifoci examination’. Group and Organization Management, 35, 39– 76.  
Greenberg, J. (1993). Stealing in the name of justice: Informational and interpersonal moderators of theft reactions to  
underpayment inequity. Organizational behavior and human decision processes, 54(1), 81-103.  
Hafeez, M. M. I. (2019). Influence of thriving and job satisfaction on turn over intention: Mediating role of job  
satisfaction. International Journal of Information, Business and Management, 11(3), 1-8.  
Hair Jr JF, Black WC, Babin BJ, Anderson R & Tathum R. (2006), Multivariate data analysis. 6th ed. Upper Saddle  
River: Prentice Hall  
Hendrix, W. H., Robbins, T., Miller, J., & Summers, T. P. (1998). Effects of procedural and distributive justice on  
factors predictive of turnover. Journal of social behavior and personality, 13(4), 611-632  
Holbrook, M. B. (Ed.). (1999). Consumer value: a framework for analysis and research. Psychology Press.  
Hur, H., & Ha, H. (2019). The link between perceptions of fairness, job training opportunity and at-will employees’  
work attitudes. European Journal of Training and Development, 40(4), 375-397  
Số 228- Tháng 5. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
87  
Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc  
của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh  
Imani, J. (2009). Analyzing the simple and multiple relationship of organizational justice with job satisfaction among  
the teachers of exceptional schools in Bandar Abas city. Journal of Educational Sciences, University of Tabriz,  
2(51), 27-34  
Judge, T. A., Heller, D., & Mount, M. K. (2002). Five-factor model of personality and job satisfaction: a meta-analysis.  
Journal of applied psychology, 87(3), 530-541  
KEKLİK, B., & US, N. C. (2013). The effect of organizational justice perceptions on job satisfaction. Suleyman Demirel  
University Journal of Faculty of Economics & Administrative Sciences, 18(2), 146-162  
Kim, W. G., & Brymer, R. A. (2011). The effects of ethical leadership on manager job satisfaction, commitment,  
behavioral outcomes, and firm performance. International Journal of Hospitality Management, 30(4), 1020-1026.  
Lawler, E. E., Porter, L. W., & Tennenbaum, A. (1968). Managers' attitudes toward interaction episodes. Journal of  
Applied Psychology, 52(6, Pt.1), 432–439.  
Li, C. J., Chang, K. K., & Ou, S. M. (2020). The relationship between hotel staff’s organizational justice perception,  
relationship quality and job performance. Cogent Social Sciences, 6(1), 1-19  
Lind, E. A., & Tyler, T. R. (1988). The social psychology of procedural justice. Springer Science & Business Media.  
Locke, E.A. (1976), “The nature and causes of job satisfaction”, in Dunnette, M.D. (Ed.), Handbook of Industrial and  
Organizational Psychology, Rand McNally, Chicago, IL, pp. 1297-1349.  
Martin, C. L., & Bennett, N. (1996). The role of justice judgments in explaining the relationship between job  
satisfaction and organizational commitment. Group & Organization Management, 21(1), 84-104.  
Motowidlo, S. J. (2003). Job performance. In W. C. Borman, D. R. Ilgen, & R. J. Klimoski (Eds.), Handbook of  
psychology: Vol. 12. Industrial and organizational psychology (pp. 39 –53). Hoboken, NJ: Wiley.  
Muchinsky, P. M. (2003). Psychology Applied to Work (7th ed.). Belmont, CA: Wadsworth.  
Nadiri, H., & Tanova, C. (2010). An investigation of the role of justice in turnover intentions, job satisfaction, and  
organizational citizenship behavior in hospitality industry. International journal of hospitality management,  
29(1), 33-41.  
Robbins, S. P., & Judge, T. A. (2013). Organizational behavior (Vol. 4). New Jersey: Pearson Education.  
Sanchez-Franco, M. J., Cepeda-Carrion, G., & Roldán, J. L. (2019). Understanding relationship quality in hospitality  
services: A study based on text analytics and partial least squares. Internet Research, 29(3), 478-503  
Schermerhorn, J.R. (1989). Management for Productivity, John Wiley & Sons, New York. Yin, R.K. (2003). Case Study  
Research Design and Methods, 3rd Ed, Sage, California.  
Seyyed Javadin, S. R., Farahi, M., & Taheri Attar, G. (2008). Understanding the impact of organizational justice  
dimensions on different aspects of job and organizational satisfaction. Journal of Management, 1(1), 55-70.  
Stevens, J.M., Beyer, J.M. and Trice, H.M. (1978), “Assessing personal role and organizational predictors of  
managerial commitment”, Academy of Management Journal, 21(1), pp. 380-96.  
Vroom, V. H. (1964). Work and motivation. New York: Wiley.  
Wall, T. D., Michie, J., Patterson, M., Wood, S. J., Sheehan, M., Clegg, C. W., & West, M. (2004). On the validity of  
subjective measures of company performance. Personnel psychology, 57(1), 95-118.  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 228- Tháng 5. 2021  
88  
pdf 12 trang Thùy Anh 13580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_moi_quan_he_giua_su_cong_bang_su_hai_long_trong_c.pdf