Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
Nguyễn Minh Hải
Đại học Ngân hàng Tp. HCM
Ngày nhận: 28/03/2021
Ngày nhận bản sửa: 04/05/2021
Ngày duyệt đăng: 19/05/2021
Tóm tắt: Một trong những vấn đề thu hút được nhiều sự chú ý của các nhà quản
trị là việc gia tăng hiệu quả làm việc của nhân viên. Sự công bằng trong tổ chức
là nhân tố tạo ra động lực làm việc của nhân viên và thông qua đó ảnh hưởng đến
kết quả công việc. Nghiên cứu dựa trên lý thuyết về sự công bằng để kiểm định mối
quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng và hiệu quả làm việc của nhân viên tại các
ngân hàng trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM). Với kích cỡ mẫu 327,
kết quả cho thấy, Sự công bằng và Sự hài lòng trong công việc có ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả làm việc của nhân viên. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa sự công bằng
trong tổ chức và sự hài lòng trong công việc không có ý nghĩa thống kê.
Từ khóa: Sự công bằng trong tổ chức, sự hài lòng trong công việc, hiệu quả làm
việc của nhân viên
The effect of Organizational Justice and Job Satisfaction on Employee Performance: Empirical
study in Banking industry inHo Chi Minh city
Abstract: One of the most attractive topic in management is employee performance improvement.
The organizational justice is an essential factor impacting on employee job performance through
employee motivation. Based on the Inequity theory, this study examined the relationship between
Organizational Justice, Job Satisfaction and Job Performance of bankers in Hochiminh City. With the
data collected from 327 respondents, the result shows that Organizational Justice and Job Satisfaction
have a significant impact on Job Performance. However, the relationship between Organizational
Justice and Job Satisfaction is not significant.
Keywords: Organizational Justice, Job satisfaction, Job Performance.
JEL classification: M12, L20.
Hai Minh Nguyen
Email: hainm@buh.edu.vn
Banking University - HCMC
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
Số 228- Tháng 5. 2021
© Học viện Ngân hàng
77
ISSN 1859 - 011X
Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc
của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
1. Giới thiệu
triển của lý thuyết chất lượng mối quan
hệ, các nhà nghiên cứu nhận thấy rằng
chất lượng mối quan hệ là một yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đến thái độ, hành vi và
hiệu quả công việc của nhân viên. Sự hài
lòng và tin tưởng là hai khía cạnh cơ bản
của chất lượng mối quan hệ (Frazier và
cộng sự, 2010; Sanchez-Franco và cộng sự,
2019). Các nghiên cứu đã cho thấy sự hài
lòng trong công việc có liên quan đáng kể
đến hiệu quả làm việc, bởi vì những nhân
viên hài lòng với công việc sẽ cung cấp
dịch vụ tốt hơn, tạo ra lòng trung thành của
khách hàng, đồng thời cũng sẽ ảnh hưởng
đến niềm tin của khách hàng và sự truyền
miệng của công chúng (Hafeez, 2019;
Nadiri & Tanova, 2010). Do đó, cải thiện
sự hài lòng của nhân viên và nâng cao cảm
giác tin tưởng vào tổ chức không những
giúp nhân viên thực hiện những công việc
khác ngoài bảng mô tả công việc mà còn
giúp có thái độ và hành vi tích cực trong
phối hợp và làm việc theo nhóm. Điều này
sẽ có lợi cho việc tăng khả năng cạnh tranh
của các doanh nghiệp và đồng thời cải
thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
(Hafeez, 2019).
Hiện tại, các nghiên cứu về sự công bằng
trong tổ chức và sự hài lòng của nhân viên
đã được thực hiện tại Việt Nam. Tuy nhiên,
nghiên cứu xét đến sự tác động đồng thời
giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công
việc và hiệu quả làm việc của nhân viên
trong lĩnh vực ngân hàng vẫn chưa được
thực hiện. Do đó, nghiên cứu này kế thừa
nghiên cứu của Li và cộng sự (2020) và
kiểm định lại mối quan hệ giữa các yếu tố
sự công bằng, sự hài lòng trong công việc
và hiệu quả làm việc của nhân viên, đồng
thời giúp xác định mức độ tác động của
từng nhân tố để từ đó đưa ra các kiến nghị
giúp nâng cao hiệu quả làm việc của nhân
viên ngân hàng trong khu vực TP.HCM.
Hiệu quả làm việc của nhân viên được xem
là một trong những chủ đề thu hút được
nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học
quản trị và các nhà quản lý. Với sự toàn cầu
hóa và sự gia tăng của cạnh tranh quốc tế,
việc quản lý tất cả các loại nguồn lực, giữ
chân nhân viên và cải thiện hiệu quả làm
việc là yếu tố then chốt cho sự thành công
của các doanh nghiệp (Nadiri và Tanova,
2010). Hiệu quả làm việc của nhân viên
ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả làm việc
của tổ chức và đóng góp trực tiếp vào sự
thành công của tổ chức. Vì vậy, việc nâng
cao hiệu suất làm việc của nhân viên đã trở
thành ưu tiên hàng đầu của các nhà quản lý.
Phương thức quản lý được phát triển liên tục
trong thời gian qua và sự cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp ngày càng trở nên gay
gắt hơn. Do đó, để giúp nâng cao hiệu quả
công tác quản lý nhân viên và gia tăng khả
năng cạnh tranh của doanh nghiệp, một số
học giả đã phát triển các nghiên cứu về hiệu
quả công việc của nhân viên và các yếu tố
ảnh hưởng của nó (Alamir và cộng sự, 2019;
Frazier và cộng sự, 2010). Các nghiên cứu
cho thấy rằng sự công bằng trong tổ chức
có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ và hành
vi cũng như hiệu suất công việc của nhân
viên, là yếu tố dự báo quan trọng về thái độ
và hành vi làm việc (Colquitt, 2001). Mặc
dù các nhà nghiên cứu đang cố gắng tìm ra
mối quan hệ giữa sự công bằng của tổ chức
và hiệu quả công việc, nhưng kết quả không
nhất quán hoặc không xác định (Alamir và
cộng sự, 2019; Hur và Ha 2019). Một số
nghiên cứu chỉ ra rằng sự công bằng có tác
động đến hiệu quả làm việc, tuy nhiên ảnh
hưởng của các khía cạnh công bằng tổ chức
đối với hiệu quả công việc là khá khác nhau
(Li và cộng sự, 2020).
Bên cạnh tác động của công bằng tổ chức
đối với thực hiện công việc, với sự phát
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 228- Tháng 5. 2021
78
NGUYỄN MINH HẢI
2. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
2.1. Hiệu quả làm việc của nhân viên
riêng mình. Do đó, nghiên cứu này tiếp cận
hiệu quả làm việc của nhân viên theo hướng
tự đánh giá, tự nhận định của cá nhân được
đề xuất bởi Stevens và cộng sự (1978).
Schermerhorn (1989) cho rằng hiệu quả
làm việc của nhân viên là chất lượng và số
lượng đạt được khi hoàn thành một nhiệm
vụ. Hiệu quả làm việc liên quan đến sự
đánh giá kết quả một nhân viên về thái độ
và kết quả công việc khi so sánh với đồng
nghiệp của họ; nó được đo về mặt mức độ
năng lực và sự đóng góp của mỗi nhân viên
trong việc đóng góp vào quá trình thực hiện
mục tiêu của tổ chức (Campbell và cộng
sự, 1990). Tương tự trong nhiều công trình
nghiên cứu khác, hiệu quả làm việc của
nhân viên được định nghĩa là hiệu quả của
các hoạt động mà nhân viên đóng góp cho
mục tiêu phát triển của tổ chức (Motowidlo,
2003). Bên cạnh đó, Munchinsky (2003) đề
xuất rằng kết quả công việc là một tập hợp
các hành vi của nhân viên có thể đo lường
được, theo dõi và đánh giá thành tích ở cấp
độ cá nhân. Kết quả công việc cũng là một
trong những chỉ số đáng chú ý nhất trong
đánh giá kết quả hoạt động của tổ chức
(Wall và cộng sự, 2004).
Borman và Motowidlo (1997) chia hiệu
quả làm việc của nhân viên thành hai khía
cạnh: hiệu quả công việc liên quan đến
nhiệm vụ và hiệu quả công việc liên quan
đến môi trường làm việc. Hiệu quả công
việc liên quan chặt chẽ đến nội dung của
công việc cụ thể, nhưng cũng liên quan
chặt chẽ đến năng lực, trình độ chuyên môn
của con người. Porter và Lawler (1968) chỉ
ra rằng có 3 hình thức chính để đánh giá
hiệu quả làm việc của nhân viên bao gồm:
Tự đánh giá, so sánh với đồng nghiệp và
đo lường kết quả đầu ra. Nghiên cứu đã
cho thấy rằng, việc áp dụng các kỹ thuật tự
đánh giá và tự nhận định là hữu ích trong
việc khuyến khích người lao động phát huy
vai trò tích cực trong thiết lập mục tiêu của
2.2. Sự công bằng trong tổ chức
Công bằng tổ chức đề cập đến nhận thức
của nhân viên về việc mình được đối xử
công bằng trong tổ chức sử dụng lao động
(Cohen-Charash và Spector, 2001); Là nhận
thức của nhân viên về sự công bằng trong
mối quan hệ trao đổi giữa họ với tổ chức về
mặt các phần thưởng và qui trình (Hendrix
và cộng sự, 1998). Thực tế có rất nhiều định
nghĩa về công bằng tổ chức nhưng nó gồm
ít nhất ba khía cạnh: công bằng phân phối,
công bằng thủ tục và công bằng tương tác
(Holbrook, 1999). Tuy nhiên, nhận thức về
công bằng không chỉ giới hạn ở so sánh mỗi
kết quả đầu ra mà nhân viên còn quan tâm
các quy định và nguyên tắc của tổ chức và
cách áp dụng các quy định trong đánh giá
hiệu quả công việc. Đồng thời, nhân viên sẽ
xem xét liệu họ đã được đối xử một cách
chân thành và tôn trọng không, được cung
cấp một cách đầy đủ, trung thực về các
thông tin từ cấp trên hay không (Colquitt,
2001; Greenberg, 1993).
Thuyết công bằng của Adams (1965) đã
cung cấp các giả thuyết cụ thể liên quan
đến sự ảnh hưởng của các nhận thức về bất
công trong phân phối tới hiệu quả làm việc
của nhân viên. Cụ thể, khi một nhân viên
thấy kết quả phân phối không công bằng,
nhân viên đó có thể tự điều chỉnh, thay đổi
chất lượng hoặc số lượng công việc để làm
cho nó trở nên công bằng với họ. Mặt khác,
trong nghiên cứu của Lind và Tyler (1988)
đã công bố nhiều lần rằng công bằng qui
trình quan trọng hơn công bằng phân phối
trong việc ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc
của nhân viên. Fasolo và cộng sự (1990)
cũng khám phá ra sự công bằng về qui trình
Số 228- Tháng 5. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
79
Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc
của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
dẫn đến sự gia tăng hiệu quả làm việc. Với
cùng hướng tiếp cận, Li và cộng sự (2020)
đã thực hiện nghiên cứu về mối quan hệ
giữa sự công bằng trong tổ chức và hiệu
quả làm việc của nhân viên trong lĩnh vực
nhà hàng khách sạn. Nghiên cứu đã đề cập
đến vai trò trung gian của khái niệm chất
lượng mối quan hệ bao gồm hai thành tố là
sự hài lòng trong công việc và niềm tin của
nhân viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy,
các thành phần của khái niệm sự công bằng
có tác động tích cực đến sự hài lòng trong
công việc của nhân viên và tác động gián
tiếp đến hiệu quả làm việc của nhân viên
thông qua sự hài lòng. Như vậy, sự công
bằng trong tổ chức có ảnh hưởng đến hiệu
quả làm việc của nhân viên.
sự hài lòng trong công việc của người lao
động, nhân viên sẽ háo hức hơn để thực
hiện các mục tiêu tổ chức và ngược lại, khi
không có sự nhận thức về công bằng, tỷ lệ
hài lòng trong công việc sẽ có xu hướng
giảm (Keklik và Us 2013). Mặt khác,
Seyyed Javadin và cộng sự (2008) chỉ ra
rằng các nhân tố khác nhau của công bằng
sẽ tác động tới sự hài lòng công việc với
những mức độ khác nhau. Nhận thức công
bằng trong phân phối có xu hướng là một
yếu tố dự báo mạnh mẽ của sự hài lòng
công việc (Martin và Bennett, 1996). Tuy
nhiên, Clay-Warner và cộng sự (2005) lại
cho rằng sự công bằng về qui trình là nhân
tố dự báo tốt nhất về sự hài lòng công việc,
cho dù công bằng phân phối cũng có hiệu
quả nhưng thật ra tác động ít hơn (Imani,
2009). Như vậy, sự nhận thức về công bằng
trong tổ chức là một yếu tố dự báo quan
trọng của sự hài lòng công việc.
H1: Sự công bằng trong tổ chức có ảnh
hưởng đến hiệu quả làm việc của nhân viên.
Nghiên cứu của Ahmadzadeh Mashinchi
và cộng sự (2012) cho thấy mỗi quan hệ
đáng kể giữa công bằng tổ chức và hài lòng
công việc. Các nghiên cứu cho thấy khi
nhận thức sự công bằng cao sẽ làm tăng
H2: Sự công bằng trong tổ chức có tác
động đến sự hài lòng trong công việc của
nhân viên.
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất
Nguồn: Tác giả đề xuất từ tổng quan nghiên cứu
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 228- Tháng 5. 2021
80
NGUYỄN MINH HẢI
2.3. Sự hài lòng trong công việc của nhân
3.1. Phương pháp nghiên cứu
viên
Nghiên cứu sử dụng phương pháp định
lượng chủ yếu kết hợp với phương pháp
định tính trong nghiên cứu sơ bộ. Sau khi
tổng hợp cơ sở lý thuyết, xây dựng mô hình
và thiết lập thang đo, phương pháp phỏng
vấn nhóm tập trung được thực hiện nhằm
hiệu chỉnh thang đo và làm rõ các biến
quan sát.
Phương pháp nghiên cứu định lượng được
thực hiện trong nghiên cứu chính thức. Dữ
liệu sau khi mã hóa được phân tích bằng
phần mềm SPSS để kiểm tra hệ số tin cậy
Cronbach’s Alpha và phân tích khám phá
nhân tố (EFA). Phần mềm Amos sẽ được
sử dụng trong phân tích khẳng định nhân tố
(CFA) và phân tích mô hình cấu trúc tuyến
tính (SEM).
Sự hài lòng trong công việc đã được nghiên
cứu rộng rãi trong nghiên cứu tâm lý (Judge
và cộng sự, 2002). Sự hài lòng công việc
theo định nghĩa của Vroom (1964) là một
kết nối cảm xúc của một người với môi
trường làm việc. Cụ thể, Locke chỉ ra rằng
sự hài lòng trong công việc là một trạng thái
tình cảm vui vẻ hay tích cực từ việc đánh
giá về một công việc hoặc kinh nghiệm
trong công việc (Locke, 1976). Robbins
và Judge (2013) đã mô tả sự hài lòng công
việc như là cảm xúc tích cực hay tiêu cực
liên quan đến một công việc. Một cá nhân
rất hài lòng sẽ có cảm giác tốt, trong khi
một nhân viên không hài lòng sẽ có cảm
giác xấu về công việc của mình.
Theo lý thuyết chất lượng mối quan hệ,
tồn tại mối tương quan thuận giữa sự hài
lòng của nhân viên và hiệu quả công việc,
tức là sự hài lòng của nhân viên dẫn đến
hiệu quả làm việc cao và sự không hài lòng
dẫn đến hiệu quả làm việc thấp. Quan điểm
thái độ- hành vi của tâm lý xã hội cho rằng
hành vi của con người phần lớn được quyết
định bởi thái độ và thái độ có thể dẫn đến
xu hướng hành vi, vì vậy sự hài lòng của
nhân viên sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả làm
việc của họ (Ciavolino và cộng sự, 2019).
Trên mối quan hệ giữa sự hài lòng và hiệu
quả công việc, Arshadi (2010) đã phát hiện
ra rằng sự hài lòng trong công việc có tác
động tích cực đáng kể đến hiệu quả công
việc. Sự hài lòng trong công việc có tác
dụng làm giảm ý định nghỉ việc và nâng
cao hiệu quả làm việc của tổ chức (Kim &
Brymer, 2011).
3.2. Thang đo sử dụng trong nghiên cứu
Thang đo về sự công bằng trong tổ chức
được xây dựng dựa theo bảng thang đo của
Colquitt (2001), sử dụng thang đo Likert 5
bậc, có sự biến thiên của các trả lời từ “hoàn
toàn không đồng ý” đến “hoàn toàn đồng
ý”. Thang đo bao gồm 20 biến quan sát
được phân chia thành 4 thành tố bao gồm:
Sự công bằng về phân phối, công bằng về
qui trình đánh giá, công bằng trong tương
tác cá nhân và công bằng về thông tin.
Thang đo sự hài lòng trong công việc của
nhân viên được xây dựng dựa trên thang
đo Likert 5 bậc của Fernand và Awamleh
(2006) bao gồm 7 biến quan sát với 1 là
“hoàn toàn không đồng ý” và 5 là “hoàn
toàn đồng ý”.
Thang đo kết quả làm việc của nhân viên
bao gồm 4 biến quan sát được xây dựng
dựa trên thang đo Likert 5 mức độ từ 1:
“Rất thấp”, 2: “Thấp”, 3: “Trung bình”, 4:
“Cao”, 5: “Rất cao” của Stevens và cộng
sự (1978) trong đó gồm biến quan sát thể
H3: Sự hài lòng trong công việc có ảnh
hưởng đến hiệu quả làm việc của nhân viên.
3. Phương pháp nghiên cứu
Số 228- Tháng 5. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
81
Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc
của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
hiện sự tự đánh giá của nhân viên về kết
qủa công việc.
thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỉ lệ số
quan sát/ biến đo lường là 5/1 nghĩa là cứ
mỗi biến đo lường cần tối thiểu là 5 quan
sát (Hair and ctg, 2006). Số biến được xác
định trong nghiên cứu định lượng là 31, do
đó số quan sát tối thiểu tương ứng là 155.
Khi tăng kích thước mẫu, độ tin cậy của
3.3. Mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân
tích nhân tố (EFA) với kích thước mẫu tối
Bꢀng 1. Diễn giꢀi các biến quan sát trong mô hình nghiên cứu
Nguồn tham
khảo
Khái niệm
Tên biến quan sát
Thang đo
Likert 1-5
Likert 1-5
Likert 1-5
Likert 1-5
Likert 1-5
Likert 1-5
DISJU1: Mức độ của kết quả công việc phản ánh
những nỗ lực anh/chị đã bỏ ra
DISJU2: Mức tương xứng của kết quả mà anh chị
nhận được so với những việc anh chị/đã thực hiện
DISJU3: Mức độ của kết quả phản ánh những gì
anh/chị đã đóng góp cho tổ chức
DISJU4: Những gì anh/chị nhận được xứng đáng
với những kết quả anh/chị đã tạo ra
PROJU1: Mức độ anh/chị có thể bảy tỏ quan điểm
và cảm xúc của mình về những thủ tục
PROJU2: Mức độ anh/chị có thể tác động tới kết
quả của quá trình đánh giá
Công bằng
phân phối
PROJU3: Sự “đồng nhất” trong áp dụng những thủ
tục
PROJU4: Mức độ chính xác của các thủ tục
PROJU5: Các thủ tục đánh giá được dựa trên
những thông tin chính xác
Likert 1-5
Likert 1-5
Likert 1-5
Công bằng
qui trình
PROJU6: Mức độ anh chị có thể yêu cầu xem xét
lại các kết quả của quá trình đánh giá
PROJU7: Những thủ tục đánh giá tuân thủ đúng
nội quy và các chuẩn mực đạo đức
PERJU1: Mức độ lịch sự trong thái độ của cấp trên
đối với anh/chị
Likert 1-5
Likert 1-5
Likert 1-5
Colquitt (2001)
Công bằng
tương tác
cá nhân
PERJU2: Sự tử tế của cấp trên đối với anh/chị
PERJU3: Sự tôn trọng của cấp trên với anh/chị
PERJU4: Mức độ cấp trên tránh bình luận, nhận
xét khiếm nhã đối với anh/chị
INFJU1: Mức độ chân thật của cấp trên trong giao
tiếp với anh/chị
INFJU2: Sự đầy đủ, rõ ràng của cấp trên khi giải
thích các thủ tục cho anh/chị
INFJU3: Sự hợp lý trong giải thích thủ tục cho anh/
chị của cấp trên
INFJU4: Mức độ kịp thời mà cấp trên truyền đạt
các thông tin trong công việc cho anh/chị
INFJU5: Mức độ cấp trên điều chỉnh cách thức
truyền đạt sao cho phù hợp với từng nhu cầu mỗi
cá nhân
Likert 1-5
Likert 1-5
Likert 1-5
Likert 1-5
Likert 1-5
Likert 1-5
Likert 1-5
Công bằng
thông tin
Likert 1-5
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 228- Tháng 5. 2021
82
NGUYỄN MINH HẢI
Nguồn tham
Khái niệm
Tên biến quan sát
Thang đo
khảo
JOBS1: Nhìn chung, anh/chị thấy hài lòng với công
việc hiện tại
JOBS2: Các ý kiến trong công việc của anh/chị
được tôn trọng
JOBS3: Hầu hết những người làm công việc như
anh/chị đều hài lòng với công việc
Likert 1-5
Likert 1-5
Likert 1-5
Sự hài lòng JOBS4: Anh/chị hài lòng với những sự công nhận
trong công của tổ chức về những gì mình đã cống hiến (tiền
Fernand và
Awamleh (2006)
Likert 1-5
việc
thưởng, thăng chức,...)
JOBS5: Anh/chị hài lòng với mức lương của mình
khi so sánh công việc này ở các công ty khác
JOBS6: Anh/chị hài lòng về mối quan hệ giữa cấp
trên của mình với nhân viên.
JOBS7: Anh/chị hài lòng với cách mà cấp trên của
mình điều hành nhân viên
Likert 1-5
Likert 1-5
Likert 1-5
JOBP1: Chất lượng kết quả công việc của anh/chị
JOBP2: Năng suất công việc của anh/chị
JOBP3: Khi anh/chị làm việc của đồng nghiệp, kết
quả của anh/chị như thế nào so với kết quả của họ
JOBP4: Khi đồng nghiệp làm việc của anh/chị, kết
quả của họ như thế nào so với kết quả khi chính
anh/chị làm
Likert 1-5
Likert 1-5
Hiệu quả
làm việc
Stevens và cộng
sự (1978)
Likert 1-5
Likert 1-5
Nguồn: Đề xuất của tác giả từ tổng quan nghiên cứu
thông tin càng tăng, vì vậy tác giả dự tính
kích thước mẫu là 300 để có một sự chính
xác tương đối trong kết quả phân tích. Tác
giả đã phát ra 350 bảng câu hỏi. Các bảng
câu hỏi được phát đến học viên tại các lớp
tại chức, các lớp đào tạo nghiệp vụ ngắn
hạn, lớp đào tạo thạc sỹ của trường Đại
học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh
và thông qua các học viên chuyển đến
đồng nghiệp của họ tại các ngân hàng trong
khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Thời
gian thực hiện từ tháng 11/2020 đến tháng
3/2021. Số lượng phiếu thu về là 331, trong
đó có 4 phiếu không hợp lệ do chưa hoàn
tất các câu hỏi. Do đó, mẫu sử dụng cho
nghiên cứu là 327.
Trong số 327 mẫu thu về, tỷ lệ nam giới
chiếm 47,4% và nữ giới chiếm 52,6%. Tỷ
lệ người lao động có độ tuổi từ 22 đến 30 là
85,6%, từ 31 đến 40 là 11,7%, từ 41 đến 50
là 1,8% và trên 50 là 0,9%.
Hệ số Cronbach’s Alpha được sử dụng để
đánh giá độ tin cậy của thang đo. Phân tích
EFA và CFA được tiến hành để phân tích
khám phá nhân tố, khẳng định giá trị hội
tụ và phân biệt của thang đo. Mô hình đo
lường và mô hình cấu trúc cũng được kiểm
định thông qua phương pháp phân tích mô
hình cấu trúc tuyến tính SEM.
Kiểm định hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha
và phân tích EFA
Kết quả phân tích cho thấy các biến quan
sát của các thành phần trong thang đo của
sự công bằng trong tổ chức đều có hệ số
tương quan biến tổng đạt trên 0,3 và hệ số
Cronbach Alpha đạt lần lượt là 0,833 (công
bằng qui trình), 0,769 (công bằng phân
4. Kết quꢀ nghiên cứu và thꢀo luận
4.1. Kết quả nghiên cứu
Số 228- Tháng 5. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
83
Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc
của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
Hình 2. Mô hình SEM đã được chuẩn hóa
Nguồn: Kết quả phân tích từ số liệu khảo sát, 2021
Bꢀng 2. Kết quꢀ kiểm định Cronbach’s Alpha các thang đo
Số biến
quan sát
Cronbach’s
Alpha
Hệ số tương quan giữa
biến- tổng nhỏ nhất
STT
Thang đo
1
2
3
4
5
6
Công bằng phân phối
4
7
4
5
7
4
0,769
0,833
0,797
0,827
0,369
0,691
0,536
0,482
0,518
0,583
-0,100
0,391
Công bằng qui trình
Công bằng tương tác cá nhân
Công bằng thông tin
Sự hài lòng trong công việc
Hiệu quả làm việc của nhân viên
Nguồn: Kết quả phân tích từ số liệu khảo sát, 2021
phối), 0,797 (công bằng tương tác cá nhân)
và 0,827 (công bằng thông tin). Thang đo
hiệu quả công việc có hệ số Cronbach Alpha
là 0,691 và các biến quan sát đều có hệ số
tương quan biến tổng đạt trên 0,3 (Bảng
2). Tuy nhiên, thang đo sự hài lòng trong
công việc có chỉ số Cronbach Alpha chỉ đạt
0,369 và các biến quan sát JOBS1, JOBS2,
JOBS3 và JOBS4 có hệ số tương quan biến
tổng đạt lần lượt là -0,005, 0,105, -0,1 và
0,14 (<0,3). Do đó, tác giả lần lượt loại bỏ
từng biến quan sát này khỏi thang đo. Tuy
nhiên, khi loại bỏ biến JOBS1, JOBS2 và
JOBS3 thì hệ số Cronbach Alpha đạt 0,747
và hệ số tương quan biến tổng của tất cả
các biến quan sát đều đạt trên 0,5. Như vậy,
sau kiểm định Cronbach Alpha, có 3 biến
bị loại bỏ (JOBS1, JOBS2 và JOBS3) và
còn lại 28 biến quan sát được đưa vào phân
tích EFA.
Kết quả phân tích EFA với phép quay
Varimax cho thấy hệ số KMO = 0,875 >
0,5 và kiểm định Bartlett có mức ý nghĩa
Sig= 0,000 < 0,05). Như vậy, phân tích
EFA được sử dụng là phù hợp. Từ 28 biến
quan sát rút trích được 5 nhân tố bao gồm:
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 228- Tháng 5. 2021
84
NGUYỄN MINH HẢI
Bꢀng 3. Kết quꢀ kiểm định mối quan hệ nhân quꢀ giữa các khái niệm (chưa chuẩn hóa)
Giả thuyết
Ước lượng
0,720
S.E.
0,116
0,12
C.R.
6,226
-0,873
1,997
P
H1
H2
H3
JOBP
JS
<---
<---
<---
OJ
OJ
JS
0,000
0,383
0,046
-0,104
JOBP
0,099
0,049
Nguồn: Kết quả phân tích từ số liệu khảo sát, 2021
(1) Công bằng phân phối, (2) công bằng qui
trình, (3) công bằng tương tác, (4) sự hài
lòng trong công việc và (5) hiệu quả làm
việc của nhân viên. Trong đó, biến quan
sát PROJU1 có hệ số tải nhân tố dưới 0,5.
Do đó, biến PROJU1 bị loại và 27 biến
còn lại được đưa vào phân tích EFA lần 2.
Kết quả phân tích EFA lần 2 cho thấy có 2
biến PROJU4 và JOBP2 có hệ số tải nhân
tố nhỏ hơn 0,5. Do đó, 2 biến PROJU4 và
JOBP2 bị loại và 25 biến còn lại được sử
dụng trong phân tích EFA lần 3. Kết quả
phân tích EFA lần 3 cho thấy hệ số KMO=
0,874> 0,5) và kiểm định Bartlett có mức ý
nghĩa Sig= 0,000< 0,05). Các biến quan sát
đều có hệ số tải nhân tố đạt trên 0,5, từ 25
biến rút trích được 5 nhân tố. Trong đó, các
biến quan sát thuộc 2 thành tố công bằng
tương tác cá nhân và công bằng thông tin
được gom lại thành một thành tố. Điều này
phù hợp với lý thuyết vì hai thành tố này
đều thuộc biến công bằng trong tương tác
(Greenberg, 1993). Do đó, tác giả đặt tên
thành tố mới là sự công bằng trong tương
tác. Các khái niệm được sử dụng trong
phân tích CFA và SEM bao gồm: Sự công
bằng tương tác (IJ), sự công bằng phân
phối (DJ), sự công bằng qui trình (PJ), sự
hài lòng trong công việc (JS) và hiệu quả
làm việc của nhân viên (JP).
p= 0,000 (<0,01), χ2/df= 1,794 (<2), GFI=
0,900, TLI= 0,913, CFI= 0,924, RMSEA=
0,049 (<0,08). Như vậy kiểm định CFA đã
cho thấy thang đo về Sự công bằng đạt yêu
cầu và có độ tin cậy cao.
Tiến hành kiểm định SEM, kết quả cho
thấy mô hình có 266 bậc tự do với các giá
trị thống kê như sau: chỉ số χ2= 475,950,
p= 0,000 (<0,01), χ2/df= 1,789 (<2), GFI=
0,899, TLI= 0,914, CFI= 0,924, RMSEA=
0,049 (<0,08). Như vậy, mô hình hoàn toàn
phù hợp với dữ liệu phân tích.
Kết quả kiểm định các giả thuyết cho thấy
giả thuyết H1 và H3 được chấp nhận với
mức ý nghĩa 5%. Sự công bằng trong tổ
chức và sự hài lòng trong công việc có sự
tác động đến hiệu quả làm việc của nhân
viên. Trong đó, sự công bằng có mức độ
tác động khá lớn với trị số 0,64, Sự hài lòng
trong công việc có tác động yếu hơn với
mức tác động là 0,14. Như vậy, sự công
bằng trong tổ chức và sự hài lòng trong
công việc có mối quan hệ cùng chiều với
hiệu quả làm việc của nhân viên trong tổ
chức. Tuy nhiên, giả thuyết H2 lại bị bác
bỏ với độ tin cậy 95%. Mối quan hệ giữa
sự công bằng trong tổ chức và sự hài lòng
trong công việc không có ý nghĩa thống kê
do hệ số p-value đạt 0,383 > 0.05.
Kiểm định CFA và mô hình SEM.
4.2. Thảo luận
Vì các khái niệm dùng trong mô hình
nghiên cứu là các khái niệm độc lập, nên
phân tích CFA được tiến hành với từng khái
niệm. Kết quả cho thấy dữ liệu thực tế phù
hợp với mô hình đo lường. Với thang đo Sự
công bằng trong tổ chức, hệ số χ2= 470,139,
Nghiên cứu cho thấy thang đo về sự hài lòng
trong công việc của nhân viên trong lĩnh vực
ngân hàng đã có sự điều chỉnh. Cụ thể, sau
kiểm định Cronbach Alpha, thang đo sự hài
lòng trong công việc có 3 biến bị loại và còn
Số 228- Tháng 5. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
85
Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc
của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
lại 4 biến quan sát. Sau khi phân tích EFA,
từ 28 biến quan sát rút trích được 5 nhân
tố. Trong đó có sự hợp nhất giữa các biến
thuộc công bằng tương tác cá nhân và công
bằng thông tin thành một nhân tố duy nhất
là sự công bằng tương tác. Các biến quan
sát PROJU1, PROJU4 và JOBP2 lần lượt bị
loại do có hệ số tải nhân tố nhỏ hơn 0,5.
Các giả thuyết H1 và H3 được chấp nhận,
Sự công bằng và Sự hài lòng trong công
việc có tác động đến hiệu quả làm việc của
nhân viên. Kết quả này đã giúp khẳng định
mối quan hệ giữa Sự công bằng và hiệu
quả làm việc của nhân viên vốn được ủng
hộ trong nghiên cứu của Ahmad và Jameel
(2021) và Asbari và cộng sự (2020). Tuy
nhiên, mối quan hệ giữa sự công bằng và
sự hài lòng không được ủng hộ, giả thuyết
H2 bị bác bỏ. Kết quả này lại khác biệt so
với giả thuyết ban đầu vốn khẳng định mối
quan hệ giữa sự công bằng và sự hài lòng
trong công việc (Ahmadzadeh Mashinchi
và cộng sự, 2012).
của nhân viên cần chú ý đến hai vấn đề
chính như sau:
Một là, đảm bảo tính công bằng trong tổ
chức. Trong đó, các vấn đề cần phải đảm
bảo tính công bằng bao gồm sự công bằng
trong phân phối, công bằng về qui trình và
công bằng trong tương tác. Đối với vấn
đề thu nhập, cần đảm bảo nhân viên nhận
được những giá trị (bao gồm tài chính và
phi tài chính) phù hợp với những cố gắng
của họ. Đối với qui trình, cần xây dựng một
qui trình thiết lập mục tiêu và đánh giá hiệu
quả công việc một cách minh bạch, đảm
bảo tính công bằng giữa các nhân viên. Đối
với tương tác, nhà quản trị cần đảm bảo
một hệ thống thông tin đầy đủ và kịp thời,
các cá nhân trong tổ chức cần được tiếp
cận thông tin và đối xử như nhau trong quá
trình làm việc.
Hai là, đảm bảo duy trì sự hài lòng của nhân
viên với công việc. Nhân viên cần được tổ
chức công nhận về những cống hiến mà họ
đã đóng góp cho tổ chức. Bên cạnh đó, nhà
quản trị cần tham khảo mức lương trên thị
trường để đảm bảo việc trả công không chỉ
công bằng với nỗ lực của nhân viên mà còn
phù hợp với mức trả công của thị trường.
Cuối cùng, nhà quản trị cần chú ý trong
mối quan hệ với cấp dưới. Sự tương tác
giữa nhà quản lý và nhân viên hình thành
cảm giác hài lòng trong công việc. Do đó,
việc tương tác với nhân viên một cách phù
hợp sẽ giúp gia tăng sự hài lòng của nhân
viên và thông qua đó gia tăng hiệu quả làm
việc của họ.
5. Kết luận và khuyến nghị
Như vậy, trong lĩnh vực ngân hàng, thang
đo khái niệm sự công bằng trong tổ chức,
sự hài lòng trong công việc và hiệu quả
công việc có sự thay đổi về số lượng biến
quan sát. Đồng thời, có sự dịch chuyển biến
quan sát giữa các nhân tố. Trong tổng số 31
biến quan sát sau các kiểm định còn lại 25
và rút trích thành 5 thành tố bao gồm: (i) Sự
công bằng trong phân phối thu nhập; (ii) sự
công bằng trong qui trình đánh giá; (iii) sự
công bằng trong tương tác; (iv) sự hài lòng
trong công việc; và (v) hiệu quả làm việc
của nhân viên.
Nghiên cứu chỉ thực hiện với mẫu 327
nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực
Thành phố Hồ Chí Minh. Khi tăng kích cỡ
mẫu hay thay đổi thời điểm, địa điểm, đối
tượng khảo sát có thể sẽ dẫn đến việc thay
đổi về các biến quan sát trong thang đo, độ
tin cậy của thang đo cũng như mối quan
hệ giữa sự công bằng trong tổ chức, sự hài
lòng trong công việc và hiệu quả làm việc
Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tác động
cùng chiều của sự công bằng trong tổ chức
và sự hài lòng trong công việc trong mối
quan hệ với hiệu quả làm việc của nhân
viên. Do đó, để gia tăng hiệu quả làm việc
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 228- Tháng 5. 2021
86
NGUYỄN MINH HẢI
của nhân viên. Hơn nữa, trên thực tế, có
nhiều nhân tố khác có ảnh hưởng trực tiếp
đến hiệu quả làm việc của nhân viên như:
Phong cách lãnh đạo, văn hóa tổ chức, sự
phù hợp giữa cá nhân và tổ chức… nhưng
chưa được đưa vào trong nghiên cứu này.
Các nghiên cứu tiếp theo có thể kiểm định
lại mô hình nghiên cứu trong các lĩnh vực
khác nhau để kiểm định lại lý thuyết và
giúp gia tăng độ tin cậy của kết quả nghiên
cứu. Các yếu tố khác liên quan đến hiệu
quả làm việc của nhân viên cũng có thể
được bổ sung vào mô hình để gia tăng độ
bao quát. Đồng thời phát triển mẫu với số
lượng lớn để đem lại độ tin cậy và tính đại
diện cao hơn ■
Tài liệu tham khꢀo
Adams, J. S. (1965). Inequity in social exchange. In Advances in experimental social psychology. 2, 267-299
Ahmad, A. R., & Jameel, A. S. (2021). Effect of organizational justice dimensions on performance of academic staff in
developing countries. Annals of the Romanian Society for Cell Biology, 259-270.
Ahmadzadeh Mashinchi, S., Yaghoubi, E., Ahmadi, E., Hadi, A., & Hamid, E. (2012). An analysis of correlation
between organizational justice and job satisfaction. African Journal of Business Management, 6(3), 995-1002.
Alamir, I., Ayoubi, R. M., Massoud, H., & Al Hallak, L. (2019). Transformational leadership, organizational justice
and organizational outcomes. Leadership & Organization Development Journal, 40 (7), 749-763
Arshadi, N. (2010). Basic need satisfaction, work motivation, and job performance in an industrial company in Iran.
Procedia-Social and Behavioral Sciences, 5, 1267-1272.
Asbari, I. B., RudyPramono, A. P., DylmoonHidayat, A., VirzaUtamaAlamsyah, P. S., & MiyvFayzhall, M. (2020). The
Effect of work-Family conflict on Job Satisfaction and Performance: A Study of Indonesian Female Employees.
International Journal of Advanced Science and Technology, 29(3), 6724-6748.
Borman, W. C., & Motowidlo, S. J. (1997). Task performance and contextual performance: The meaning for personnel
selection research. Human performance, 10(2), 99-109.
Campbell, J. P., McHenry, J. J., & Wise, L. L. (1990). Modeling job performance in a population of jobs. Personnel
psychology, 43(2), 313-575.
Ciavolino, E., Lagetto, G., Montinari, A., Al-Nasser, A. D., Al-Omari, A. I., Zaterini, M. J., & Salvatore, S. (2019).
Customer satisfaction and service domains: a further development of PROSERV. Quality & Quantity, 1-16.
Clay-Warner, J., Reynolds, J., & Roman, P. (2005). Organizational justice and job satisfaction: A test of three
competing models. Social Justice Research, 18(4), 391-409.
Cohen-Charash, Y., & Spector, P. E. (2001). The role of justice in organizations: A meta-analysis. Organizational
behavior and human decision processes, 86(2), 278-321.
Colquitt, J. A. (2001). On the dimensionality of organizational justice: a construct validation of a measure. Journal of
applied psychology, 86(3), 386-400
Drucker, P. F. (2000). The change leader. National Productivity Review, 19(2), 13-20.
Fasolo, P., & Davis-LaMastro, V. (1990). Perceived organizational support and employee diligence, commitment, and
innovation. Journal of Applied Psychology, 75(1), 51-59.
Fernandes, Cedwyn and Raed Awamleh. "Impact of organisational justice in an expatriate work environment."
Management Research News, Vol. 29 No. 11 (2006): 701-712.
Foster, R. D. (2010). Resistance, justice, and commitment to change. Human resource development quarterly, 21(1),
3-39.
Frazier, M. L., Johnson, P. D., Gavin, M., Gooty, J. and Snow, D. B. (2010). ‘Organizational justice, trustworthiness,
and trust: a multifoci examination’. Group and Organization Management, 35, 39– 76.
Greenberg, J. (1993). Stealing in the name of justice: Informational and interpersonal moderators of theft reactions to
underpayment inequity. Organizational behavior and human decision processes, 54(1), 81-103.
Hafeez, M. M. I. (2019). Influence of thriving and job satisfaction on turn over intention: Mediating role of job
satisfaction. International Journal of Information, Business and Management, 11(3), 1-8.
Hair Jr JF, Black WC, Babin BJ, Anderson R & Tathum R. (2006), Multivariate data analysis. 6th ed. Upper Saddle
River: Prentice Hall
Hendrix, W. H., Robbins, T., Miller, J., & Summers, T. P. (1998). Effects of procedural and distributive justice on
factors predictive of turnover. Journal of social behavior and personality, 13(4), 611-632
Holbrook, M. B. (Ed.). (1999). Consumer value: a framework for analysis and research. Psychology Press.
Hur, H., & Ha, H. (2019). The link between perceptions of fairness, job training opportunity and at-will employees’
work attitudes. European Journal of Training and Development, 40(4), 375-397
Số 228- Tháng 5. 2021- Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng
87
Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc
của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh
Imani, J. (2009). Analyzing the simple and multiple relationship of organizational justice with job satisfaction among
the teachers of exceptional schools in Bandar Abas city. Journal of Educational Sciences, University of Tabriz,
2(51), 27-34
Judge, T. A., Heller, D., & Mount, M. K. (2002). Five-factor model of personality and job satisfaction: a meta-analysis.
Journal of applied psychology, 87(3), 530-541
KEKLİK, B., & US, N. C. (2013). The effect of organizational justice perceptions on job satisfaction. Suleyman Demirel
University Journal of Faculty of Economics & Administrative Sciences, 18(2), 146-162
Kim, W. G., & Brymer, R. A. (2011). The effects of ethical leadership on manager job satisfaction, commitment,
behavioral outcomes, and firm performance. International Journal of Hospitality Management, 30(4), 1020-1026.
Lawler, E. E., Porter, L. W., & Tennenbaum, A. (1968). Managers' attitudes toward interaction episodes. Journal of
Applied Psychology, 52(6, Pt.1), 432–439.
Li, C. J., Chang, K. K., & Ou, S. M. (2020). The relationship between hotel staff’s organizational justice perception,
relationship quality and job performance. Cogent Social Sciences, 6(1), 1-19
Lind, E. A., & Tyler, T. R. (1988). The social psychology of procedural justice. Springer Science & Business Media.
Locke, E.A. (1976), “The nature and causes of job satisfaction”, in Dunnette, M.D. (Ed.), Handbook of Industrial and
Organizational Psychology, Rand McNally, Chicago, IL, pp. 1297-1349.
Martin, C. L., & Bennett, N. (1996). The role of justice judgments in explaining the relationship between job
satisfaction and organizational commitment. Group & Organization Management, 21(1), 84-104.
Motowidlo, S. J. (2003). Job performance. In W. C. Borman, D. R. Ilgen, & R. J. Klimoski (Eds.), Handbook of
psychology: Vol. 12. Industrial and organizational psychology (pp. 39 –53). Hoboken, NJ: Wiley.
Muchinsky, P. M. (2003). Psychology Applied to Work (7th ed.). Belmont, CA: Wadsworth.
Nadiri, H., & Tanova, C. (2010). An investigation of the role of justice in turnover intentions, job satisfaction, and
organizational citizenship behavior in hospitality industry. International journal of hospitality management,
29(1), 33-41.
Robbins, S. P., & Judge, T. A. (2013). Organizational behavior (Vol. 4). New Jersey: Pearson Education.
Sanchez-Franco, M. J., Cepeda-Carrion, G., & Roldán, J. L. (2019). Understanding relationship quality in hospitality
services: A study based on text analytics and partial least squares. Internet Research, 29(3), 478-503
Schermerhorn, J.R. (1989). Management for Productivity, John Wiley & Sons, New York. Yin, R.K. (2003). Case Study
Research Design and Methods, 3rd Ed, Sage, California.
Seyyed Javadin, S. R., Farahi, M., & Taheri Attar, G. (2008). Understanding the impact of organizational justice
dimensions on different aspects of job and organizational satisfaction. Journal of Management, 1(1), 55-70.
Stevens, J.M., Beyer, J.M. and Trice, H.M. (1978), “Assessing personal role and organizational predictors of
managerial commitment”, Academy of Management Journal, 21(1), pp. 380-96.
Vroom, V. H. (1964). Work and motivation. New York: Wiley.
Wall, T. D., Michie, J., Patterson, M., Wood, S. J., Sheehan, M., Clegg, C. W., & West, M. (2004). On the validity of
subjective measures of company performance. Personnel psychology, 57(1), 95-118.
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng- Số 228- Tháng 5. 2021
88
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu mối quan hệ giữa sự công bằng, sự hài lòng trong công việc và hiệu quả làm việc của nhân viên tại các ngân hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_moi_quan_he_giua_su_cong_bang_su_hai_long_trong_c.pdf

