Giáo trình Văn hóa kinh doanh (Phần 2)

CHƯƠNG 3: VĂN HOÁ ỨNG XỬ TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH  
3.1. VĂN HOÁ ỨNG XỬ TRONG NỘI BỘ DOANH NGHIỆP  
3.1.1. Vai trò và biểu hiện của văn hóa ứng xử trong nội bộ doanh nghiệp  
3.1.1.1. Vai trò của văn hoá ứng xử  
- Văn hóa ứng xử giúp cho doanh nghiệp dễ dàng thành công hơn.  
Khi cách ứng xử của các thành viên trong doanh nghiệp được mọi người hưởng ứng,  
lúc đó sẽ dễ đạt được những kết quả chắc chắn hơn, như dành được sự nâng đỡ, cộng tác,  
tạo thêm những tín nhiệm mới, thu thập được nhiều khách hàng hơn và bản thân giữ được  
sự yên lành. Và ngay những ngày lúc khó khăn đi nữa thì những người này cũng vì bạn  
đến cùng.  
- Văn hóa ứng xử làm đẹp thêm hình tượng của doanh nghiệp.  
Letitia Basldrige là một chuyên gia hàng đầu về lĩnh vực ứng xử tại Mỹ cho rằng:  
“Phép ứng xử khéo léo là hiệu quả có giá trị, chúng làm tăng phẩm chất của đời sống,  
đóng góp cho đạo đức người lãnh đạo tốt nhất, làm đẹp thêm hình tượng của doanh  
nghiệp, và do đó nó đóng một vai trò chủ yếu trong vấn đề phát sinh lợi nhuận. Mặt khác,  
việc ứng xử không tốt, dốt nát, không cẩn thận thì làm đánh mất đi nhân cách con người,  
cũng như sự thăng tiến và ngay cả việc làm”. Như vậy, cách ứng xử của cấp trên, cấp  
dưới trong nội bộ doanh nghiệp có tác động qua lại với nhau trên tinh thần hợp tác thiện  
chí và cùng có phản ứng tích cực như nhau ở tất cả các cá nhân, bộ phận trước những vấn  
đề cần giải quyết của doanh nghiệp. Nếu mối quan hệ này được kết hợp hài hòa với mục  
tiêu vì lợi ích chung của doanh nghiệp sẽ tạo nên sức mạnh đưa doanh nghiệp tiến lên  
phía trước.  
- Văn hóa ứng xử tạo điều kiện phát huy dân chủ cho mọi thành viên.  
Mọi người nhận được sự tín nhiệm và hỗ trợ cần thiết dựa trên những giá trị, chuẩn  
mực đã được thiết lập của doanh nghiệp để chủ động tiến hành công việc được giao phó,  
sáng tạo, chịu trách nhiệm cá nhân cao hơn về công việc, quan hệ trên dưới chan hòa,  
được chia sẻ thông tin để có cơ hội tham gia sâu hơn vào các quyết định của doanh  
nghiệp.  
- Văn hóa ứng xử giúp củng cố và phát triển địa vị của mỗi cá nhân trong nội bộ  
doanh nghiệp.  
Mỗi cá nhân khi tham gia vào công việc kinh doanh của doanh nghiệp đều có một vị  
trí nhất định. Văn hóa ứng xử không những giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao  
118  
mà còn xây dựng được lòng tin đối với lãnh đạo và đồng nghiệp, từ đó tạo cơ hội thăng  
tiến cho họ.  
3.1.1.2. Biểu hiện của văn hóa ứng xử  
- Văn hóa ứng xử của cấp trên đối với cấp dưới.  
Thứ nhất, xây dựng cơ chế tuyển chọn, bổ nhiệm công khai, bình đẳng, cạnh tranh,  
dùng người đúng chỗ.  
Ở cương vị lãnh đạo doanh nghiệp, việc dùng người đúng chỗ để phát huy được sở  
trường của họ đóng một vai trò hết sức quan trọng. Người lãnh đạo cần hiểu chính xác  
bản chất con người là thực thể như thế nào với một nhân sinh quan rõ ràng. Nếu không có  
nhân sinh quan rõ ràng rất dễ mắc sai lầm chủ quan trong phân biệt thực thể khác nhau  
giữa những cá nhân khác nhau. Dẫn đến, không những không phát huy được tài năng của  
người đó mà còn có khi triệt tiêu các tài năng. Lịch sử đã chứng minh rằng những nhà  
lãnh đạo kiệt xuất đều là những người hiểu rất rõ bản chất con người, cũng như biết tìm ra  
và phát huy những năng lực tiềm ẩn của người dưới quyền họ. Người lãnh đạo dùng đúng  
người, đúng việc sẽ phát huy được tài năng của người đó, tạo cho người đó niềm say mê  
trong công việc đồng thời gây không khí phấn khích cho những người khác.  
Thứ hai, chế độ thưởng phạt công minh.  
Khi thực hiện công việc quản lý đòi hỏi người lãnh đạo phải có khiển trách, có khen  
thưởng. Sự thành công chỉ có thể đạt được khi bạn đã nỗ lực hết mình, từ đó có thể thấy  
việc khen thưởng những người tỏ ra cố gắng trong công việc là cần thiết. Đừng vì bất kỳ  
một lý do nào mà quên đi sự khen thưởng. Những lần quên như vậy sẽ làm nhiệt tình của  
cấp dưới nguội đi. Cần hiểu rằng “là người, không ai không mắc lỗi”, từ đó có thái độ  
khoan dung hơn với lỗi lầm của người khác. Luôn nhớ trong hoàn cảnh nào cũng phải dựa  
trên lợi íhc chung, coi trọng công bằng khi dùng người. Một người lãnh đạo như vậy sẽ  
khiến nhân viên nể phục. Khi khiển trách, người lãnh đạo nên đứng trên lợi ích của tập  
thể, của doanh nghiệp, không đứng trên cương vị cá nhân để khiển trách. Làm được như  
vậy, người cấp dưới sẽ không chống đối mà vui vẻ tiếp thu. Việc phê bình, chê trách nhân  
viên cũng đòi hỏi phải có nghệ thuật. Hãy thực hiện theo bước tiến: Bước đầu bằng khẳng  
định, chê trách và cuối cùng là khích lệ.  
Thứ ba, thu phục được nhân viên dưới quyền.  
Khi đưa ra những mệnh lệnh, yêu cầu, người quản lý làm cho nhân viên dưới quyền  
tuân theo với một thái độ chấp nhận vui vẻ thì mới gọi là thành công. Như vậy, việc chỉ  
đạo nhân viên không chỉ đơn thuần là việc đưa ra những yêu cầu, mệnh lệnh mà nó đòi  
hỏi người quản lý phải có nghệ thuật, sự am hiểu tâm lý con người. Giao việc cho nhân  
119  
viên là việc cần làm. tuy nhiên, không phải đến đó là người quản lý hết trách nhiệm mà  
nếu có thể được, phải có tinh thần sẵn sàng làm gương khi cần thiết. Nói một cách khác,  
giao việc cho nhân viên nhưng người quản lý phải luôn có thái độ hăng hái như chính  
mình bắt tay vào việc. Làm đúng được như vậy, nhân viên sẽ tự cảm nhận được lòng nhiệt  
tình, hăng hái của người quản lý và tiến hành công việc của họ với tinh thần trách nihệm  
cao nhất. Tất nhiên, hiệu quả công việc sẽ tăng và nhân viên sẽ rút ra nhiều kinh nghiệm  
quý báu.  
Thứ tư, khen thưởng là một nghệ thuật.  
Sử dụng lời khen có hiệu quả sẽ có tác dụng khơi dậy tinh thần làm việc của nhân  
viên. Lời khen cần xuất phát từ tấm lòng. Khi làm việc, người lãnh đạo hãy khen nhân  
viên khi họ làm được những điều dù nhỏ nhặt nhưng là việc tốt. Nhớ khen cả những  
người có nỗ lực dù họ có thuộc tầng lớp thấp nhất trong doanh nghiệp. Khen cả những  
nhân viên mới vào doanh nghiệp để có lòng tự tin trong công việc. Với những nhân viên  
đã gặp thất bại đang chán nản, càng phải dùng lời khen như liều thuốc động viên tinh thần  
họ. Hãy nhớ câu nói: Người khen có thể quên lời khen nhưng người được khen sẽ giữ mãi  
trong lòng lời khen đó. Tuy vậy, khen một nhân viên nhưng cũng phải làm cho người ấy  
nhận thấy sự quan trọng của những đồng nghiệp khác.  
Thứ năm, quan tâm đến thông tin phản hồi từ phía nhân viên.  
Tâm lý làm việc của nhân viên ảnh hưởng rất lớn đến không khí làm việc chung  
trong doanh nghiệp, và tất nhiên không khí này sẽ gây ảnh hưởng tới chính khách hàng,  
nhà cung cấp và đối thủ cạnh tranh trong ngành mà doanh nghiệp đang hoạt động. Nếu  
nhà lãnh đạo doanh nghiệp không quan tâm đúng mức tới những lời phàn nàn từ phía  
nhân viên có nghĩa là họ đang tạo ra sự oán hận, tinh thần làm việc kém và số lượng lao  
động rời khỏi doanh nghiệp tăng lên. Ngày nay, nhân viên ngày càng phải đối mặt với  
nhiều mối phiền muộn tại nơi làm việc như: tranh chấp giữa các nhân viên với nhau,  
không hài lòng. Họ có thể là những người gióng hồi chuông cảnh tỉnh chứ không phải là  
những kẻ quấy rối. Mặt khác, những lời phàn nàn trong doanh nghiệp có thể cung cấp cho  
bạn những phản hồi có ích. “Lời phàn nàn của nhân viên cũng có giá trị như lời phàn nàn  
của khách hàng”, Janelte Barlow, nhà tư vấn quản trị nhân sự và là tác giả của cuốn  
“Complaint is a gitf” cho biết: “Họ không bao giờ nên bị sa thải, giống như lời phàn nàn  
của khách hàng cũng không bao giờ bị bỏ ngoài tai”.  
Thứ sáu, quan tâm đến cuộc sống riêng tư của nhân viên nhưng không nên quá tò  
mò.  
Cấp trên hãy cố gắng nhớ được tên họ của cấp dưới, khi gọi nhân viên có cảm tình  
hơn. Tình cờ gặp nhân viên ở đâu đó, nên tiến lại hỏi han về gia đình, sức khỏe ... sẽ làm  
120  
cho cấp dưới cảm động trở lên gần gũi với cấp trên hơn. Đã là cấp trên phải tâm lý: Giỏi  
vận dụng các yếu tố đánh vào tình cảm để khích lệ nhiệt tình làm việc của cấp dưới khiến  
họ làm việc hết mình.  
Thứ bẩy, xử lý những tình huống căng thẳng có hiệu quả.  
Trong doanh nghiệp cũng như tại văn phòng, công nhân, nhân viên cũng như người  
quản lý thường phải giáp mặt với nhiều tình huống căng thẳng được gọi là stress. Trong  
văn phòng doanh nghiệp, việc thường xảy ra những tình huống stress là tất yếu vì: nhịp độ  
công việc đôi khi quá tải gây mệt mỏi, căng thẳng ; đông người thường va vấp nhau về ý  
kiến ; còn có thể vì những khó khăn, đau buồn trong đời sống riêng tư ... Để xử lý các tình  
huống căng thẳng, lãnh đạo doanh nghiệp đóng vai trò lớn đồng thời cần có sự phối hợp  
chặt chẽ giữa các cá nhân và nhà quản lý ; cá nhân học cách đề kháng với stress ; nhà  
quản lý nên định kỳ họp kiểm điểm công việc, kịp thời phát hiện ra vấn đề từ khi mới nảy  
sinh, sâu sát cấp dưới, tìm hiểu những thắc mắc, từ đó tìm ra những biện pháp giải quyết  
thích hợp giải tỏa cơn stress.  
- Văn hóa ứng xử của cấp dưới và cấp trên.  
Mối quan hệ với cấp trên có thể là tác nhân đầu tiên góp phần làm cho công tác trở  
nên dễ chịu hay bị áp lực. Lãnh đạo chính là người quyết định mức lương, cấp bậc, chức  
vụ của bạn và có thể cũng đóng một vai trò quan trọng trong trạng thái tinh thần của bạn.  
Sai lầm trong tư duy quản lý truyền thống là chỉ có cấp trên mới quản lý cấp dưới.  
Tuy nhiên, hầu hết các nhà quản lý thành công đều là những người trao quyền và tạo điều  
kiện tốt nhất cho cấp dưới có thể quản lý cấp trên và đáp ứng sự mong chờ của ông ta.  
Điều này trở nên hết sức quan trọng để tạo ra một không khí làm việc lành mạnh, có động  
lực.  
Thứ nhất, cấp dưới cần biết cách thể hiện vai trò của mình trước cấp trên.  
Những nhà quản lý nhân sự tốt nhất là những người tuyển được nhân viên thông  
minh hơn, nhanh nhẹn hơn và khéo léo hơn họ. Vì vậy, để lọt qua vòng tuyển dụng, các  
ứng viên cần phải hiểu được sếp mong đợi gì ở họ để có thể đáp ứng một cách tốt nhất.  
Thứ hai, tôn trọng và cư xử đúng mức với cấp trên.  
Khi có những ý kiến xung đột trong khi bàn bạc công việc kinh doanh với cấp trên,  
ý kiến của bạn không được cấp trên tán thành. Tuy nhiên, dù sao bạn làm theo ý muốn sẽ  
không có lợi cho bạn. Là cấp dưới, bạn phải cố gắng làm cho cấp trên thay đổi quan điểm  
và đánh giá cao hơn ý kiến bạn đề xuất. Cần phải hiểu rằng, để đạt được điều đó, bạn phải  
biết rõ cấp trên cũng như hiểu những gì mà cấp trên mong đợi từ đó lựa cách đưa ra ý  
kiến, dẫn dắt nó về điều mà cấp trên quan tâm với một thái độ đúng mực, tôn trọng.  
121  
Thứ ba, làm tốt công việc của bạn.  
Khi bạn làm tốt công viêc nghĩa là bạn đang làm lợi cho doanh nghiệp và cấp trên  
của mình. Không một ông chủ nào lại không đánh giá cao nhân viên của mình khi anh ta  
không những thể hiện được năng lực, trình độ mà còn làm việc có trách nhiệm, hoàn  
thành tốt công việc được giao, không để ảnh hưởng đến phần việc của người khác.  
Thứ tư, chia sẻ, tán dương.  
Hãy để cấp trên của bạn tín nhiệm những việc bạn đã, đang và sẽ làm. Hãy cố gắng  
để cấp trên nhận ra những hiệu quả mà bạn đạt được trong công việc và khen thưởng cho  
bạn xứng đáng. Nhưng nhớ rằng, đừng giành lấy ánh hào quang cho riêng mình dù đó là  
thành công của riêng bạn mà hãy chia sẻ thành công với cấp trên của bạn, điều này sẽ làm  
cho cấp trên chia sẻ với bạn những cơ hội công việc về sau.  
Thứ năm, nhiệt tình.  
Hãy cố gắng hoàn thành phận sự của mình hoàn hảo hơn sự kỳ vọng của cấp trên.  
Bên cạnh đó, hãy chấp nhận những thử thách mới. Đôi khi cách tốt nhất để tạo ra điểm  
mạnh của bạn chính là bằng cách thử những việc mới. Rất có thể bạn sẽ học hỏi được  
thêm nhiều điều và cấp trên của bạn sẽ ấn tượng về tinh thần đồng đội của bạn và ghi nhớ  
rằng bạn luôn sẵn sàng giúp đỡ.  
- Văn hóa ứng xử giữa các đồng nghiệp  
Được đồng nghiệp ủng hộ, cộng tác, bạn như được chắp thêm đôi cánh. Năng động,  
có khả năng tư duy độc lập, có kinh nghiệm... vẫn chưa đủ tạo nên tác phong chuyên  
nghiệp. Bạn cần biết cách phối hợp cùng với các đồng nghiệp. Tựa như những viên gạch,  
sự phối hợp ăn ý giữa các đồng nghiệp sẽ tạo nên một ngôi nhà vừa đẹp vừa bền.  
Thứ nhất, sự lôi cuốn lẫn nhau.  
Qua giao tiếp gây được ấn tượng ban đầu, từ đó, dễ tiếp xúc, dễ chan hòa, dể cảm  
nhận nhân cách của nhau, tìm được sự tương đồng về thái độ làm việc. Trong quan hệ  
đồng nghiệp, xây dựng được quan hệ như vậy rất có lợi cho hoạt động chung của doanh  
nghiệp, trong đó những quan hệ cá nhân tốt đẹp sẽ xây dựng nên một tập thể vững mạnh  
vì mục tiêu chung là sự phát triển của doanh nghiệp.  
Thứ hai, xây dựng thái độ cởi mở, giúp đỡ lẫn nhau.  
Bình đẳng trong lao động và xử sự, không tỏ ra hơn người, kẻ cả;  
Năng động, khẩn trương, trung thực chứ không thủ đoạn, giả dối;  
Đồng cảm mà không ba phải.  
122  
Thứ ba, xây dựng tình bạn, tình đồng nghiệp.  
Cơ sở lâu dài trong việc xây dựng tình bằng hữu trong nội bộ doanh nghiệp tùy  
thuộc rất lớn vào văn hóa doanh nghiệp và cơ chế cạnh tranh về lợi ích mà doanh nghiệp  
đã áp dụng. Việc sử dụng con người như thế nào, coi cái gì là quan trọng trong đối nhân  
xử thế của các nhà lãnh đạo doanh nghiệp là tác nhân trực tiếp hình thành nên quan hệ  
bằng hữu, thân ái, tin cậy nhau trong nội bộ doanh nghiệp. Bởi vì, suy cho cùng, giao tiếp  
ứng xử không thể chỉ là những câu nói, cử chỉ mang tính xã giao mà phải chứa đựng trong  
bản chất và mục tiêu của nó là thúc đẩy sự hợp tác hướng vào công việc.  
- Văn hóa ứng xử với công việc.  
Thứ nhất, cẩn thận trong cách ăn mặc của bạn.  
Hãy mặc đồng phục theo như doanh nghiệp đã đề ra.  
Thứ hai, tôn trọng lĩnh vực của người khác.  
Trong doanh nghiệp, mỗi người đã được phân công phụ trách một lĩnh vực. Tỏ ra  
mình giỏi giang, nhất là trong công việc mà mình không phụ trách, không chuyên sâu là  
điều tối kỵ nếu không muốn nói là gây khó chịu cho đồng nghiệp.  
Thứ ba, mở rộng kiến thức của bạn.  
Có ý thức học và biết học cách ứng xử và biết cách ứng xử: Học giúp chúng ta ứng  
xử một cách linh hoạt, đóng góp tích cực cho công việc của cá nhân mình và cho doanh  
nghiệp.  
Thứ tư, tôn trọng giờ giấc làm việc:  
Bạn được làm việc tại doanh nghiệp và được trả lương. Hãy đừng cắt xén thời gian  
làm việc đã được quy định cho công việc riêng của mình, đồng thời, cũng đừng quá chi li  
trong việc làm việc thật chính xác thời gian quy định. Hãy làm việc hết mình vì công việc  
được giao, nếu gặp một người quản lý tốt, bạn sẽ được đền bù xứng đáng.  
Thứ năm, thực hiện công việc đúng tiến độ  
Hãy bao quát công việc và cẩn thận kiểm tra để chắc chắn công việc đang trôi chảy  
với phương pháp mà bạn đã lên kế hoạch. Hãy thực tế về một nhiệm vụ sẽ thực hiện trong  
bao lâu, và hãy thông báo cho những người khác biết trước thời gian nếu bạn dự kiến  
hoãn thời hạn lại – lập các thời hạn cuối cùng phải làm và phải kịp thời hạn đó.  
Thứ sáu, lắng nghe.  
Nói và lắng nghe, cả hai đều là sự khéo léo trong giao tiếp. Cách học hỏi tốt nhất là  
cách lắng nghe. Lắng nghe để biết những điều mà mình chưa biết: Nghe ý kiến của người  
123  
khác để tạo cho mình kiến thức. Hãy lắng nghe những mặt mạnh, mặt yếu của một vấn đề.  
Đồng thời hãy quan tâm về những phương pháp mà đồng nghiệp của mình tin vào đó, có  
nghĩa là bạn đã giành được sự trung thành của họ và họ sẽ sẵn sàng giúp đỡ hết lòng khi  
bạn cần.  
Thứ bảy, làm việc siêng năng.  
Hãy sẵn sàng và vui vẻ, nắm thêm những nhiệm vụ mới và sáng tạo nhiều hơn điều  
mà người khác trông chờ. Đừng chỉ hài lòng với công việc của bạn, hãy tin những lĩnh  
vực mà bạn có thể làm tốt hơn, và tự mình làm cho mình có giá trị hơn.  
Thứ tám, giải quyết vấn đề riêng của bạn.  
Khi bạn trình bày một vấn đề, cũng nên đưa ra giải pháp có thể thực hiện được.  
Đừng nên phàn nàn về những nguyên tắc không thể thay đổi được, đồng thời không nên  
đổ lỗi cho người khác khi mình mắc lỗi. Hãy nhận trách nhiệm khi bạn mắc lỗi, bằng cách  
làm việc tích cực hơn để đảm bảo điều sai lầm đó không xảy ra nữa.  
3.1.2. Tác động của văn hóa ứng xử trong nội bộ doanh nghiệp  
3.1.2.1. Xây dựng thái độ an tâm công tác  
An tâm công tác là một nhân tố hàng đầu trong việc xây dựng thái độ lao động của  
nhân viên. Thiếu an tâm công tác làm giảm hiệu năng lao động, giảm sự gắn bó với doanh  
nghiệp như: Chế độ làm việc suốt đời, thăng tiến nội bộ đã tạo cho người lao động hội  
nhập được mục tiêu sự nghiệp của họ vào mục tiêu chung của doanh nghiệp và tạo tiền đề  
để xây dựng cái gọi là “tình cảm một khối”.  
Sự an tâm công tác này được tạo ra bởi các mối quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp  
như quan hệ của cấp trên với cấp dưới và ngược lại, quan hệ của những người đồng cấp.  
Các quan hệ ứng xử trong doanh nghiệp phải đảm bảo rằng mọi người không bị phân hóa  
bởi những nghi kỵ, những bất đồng ý kiến, gièm pha ... Và hơn nữa phải cho họ những  
quyền chính đáng để thích nghi và đóng góp vào những quyết định chung của tập thể. Và  
như thế những nhu cầu cấp cao trong bậc thang nhu cầu của Maslow có điều kiện được  
thỏa mãn, khiến người lao động có thể cống hiến lại một cách tích cực cho doanh nghiệp.  
Một số yếu tố khác tác động đến thái độ an tâm trong nội bộ doanh nghiệp như: khoảng  
cách đi lại thuận tiện, phương tiện đưa đón của doanh nghiệp, sự phân công công việc,  
nhiệm vụ phù hợp, khen thưởng đề bạt v.v...  
3.1.2.2. Mang lại hiệu quả công việc cao  
“Chỉ cần ánh mắt thân thiện, một cái bắt tay nhiệt tình, những lời khuyến khích tự  
tin của người quản lý, bạn sẽ thấy hiệu quả công việc các nhân viên mang lại nâng cao  
124  
một cách đáng ngạc nhiên” – Christophe Wood. Chủ tịch Công ty Estee Lauder Group tại  
Nhật Bản tâm đắc nói.  
3.1.2.3. Tạo hứng khởi làm việc trong toàn doanh nghiệp  
Tinh thần làm việc của nhân viên luôn quyết định sự thành công của mỗi doanh  
nghiệp. Để có được một đội ngũ nhân viên năng động, làm việc “hết mình” thì mỗi doanh  
nghiệp ngoài hệ thống tiền lương hợp lý cũng cần có những biện pháp kích thích khả năng  
của các nhân viên. Người lãnh đạo doanh nghiệp giỏi luôn biết kết hợp các hình thức  
khen thưởng về vật chất và tinh thần. Nhiều khi chỉ là một ánh mắt nhìn thân thiện hay  
một lời khen thưởng, một lời thăm hỏi chân thành ... cũng có tác dụng động viên, khuyến  
khích tinh thần làm việc của nhân viên. Bởi con người ngoài những nhu cầu thiết yếu của  
cuộc sống còn có nhu cầu xã hội, nhu cầu được khẳng định mình. Từ tinh thần làm việc  
hăng hái, hồ hởi của mọi người vì sự phát triển của doanh nghiệp được phát huy.  
3.1.2.4. Xây dựng và củng cố tinh thần hợp tác  
Sự hợp tác này trên tinh thần thiện chí và cùng có phản ứng tích cực như nhau ở tất  
cả các cá nhân, các bộ phận trong doanh nghiệp trước các vấn đề cần giải quyết của doanh  
nghiệp. Điều này không có nghĩa là mọi cá nhân trong doanh nghiệp phải giống nhau về  
quan điểm hay cách thức giải quyết những vấn đề phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh  
doanh của doanh nghiệp mà quan trọng nhất ở chỗ: Trước đòi hỏi của tình thế, những khó  
khăn và các vấn đề nảy sinh, tất cả các thành viên trong doanh nghiệp đều có thái độ thiện  
chí, tích cực, chung vai gánh sức, gắn kết với nhau giải quyết triệt để theo chức năng,  
cương vị và nhiệm vụ của mình để đưa doanh nghiệp của mình tiến lên phía trước.  
3.1.2.5. Xây dựng văn hóa doanh nghiệp có bản sắc riêng  
Những người lao động và tập thể lao động trong doanh nghiệp đều phải dựa vào  
nhau để tồn tại và phát triển. Họ cần gắn bó với nhau và cố gắng để làm sao trong đời  
sống thường nhật, ranh giới giữa người quản lý và người bị quản lý càng giảm bớt khoảng  
cách càng tốt. Một trong những yêu cầu có thể giảm được khoảng cách là họ phải hiểu  
nhau, đồng cảm cùng nhau, quan tâm đến nhau và biết cách giúp đỡ nhau khi cần thiết.  
Từ đó xây dựng những nét văn hóa riêng có trong doanh nghiệp, làm sao cho các thành  
viên cảm nhận được tình cảm gắn bó lẫn nhau trong một gia đình lớn là doanh nghiệp.  
Ngoài giờ lao động, họ có nhiều lý do để giao tiếp, ứng xử. Có thể xây dựng văn hóa  
trong doanh nghiệp qua việc truyền thống thể hiện sự quan tâm đến nhau như nhân ngày  
sinh, ngày cưới, ngày về nhà mới... mọi người cùng đến để chia vui; đến để thăm hỏi khi  
đồng nghiệp ốm đau, sinh con ; đồng thời còn đến để chia buồn khi đồng nghiệp có người  
thân qua đời. Sự chia vui và chia buồn, tính chất của từng sự việc rất rõ ràng, văn hóa ứng  
xử phải phù hợp với cách thức thực hiện rất khác nhau giữa các doanh nghiệp.  
125  
3.1.3. Những điều cần tránh trong văn hóa ứng xử nội bộ doanh nghiệp  
3.1.3.1. Những điều cần tránh đối với nhà lãnh đạo doanh nghiệp  
- Không biết cách dùng người.  
Người là gốc của vạn vật. Đối với doanh nghiệp, nhân tài cũng là nhân tố cốt lõi,  
quyết định cho sự thành bại của doanh nghiệp đó. Nhưng nhìn lại đời sống kinh tế xung  
quanh chúng ta, đâu đâu cũng có hiện tượng để mất nhân tài, vì sao lại như vậy ?  
Thứ nhất, dùng người chỉ vì thân.  
Dùng người chỉ vì thân sẽ hạn chế việc dùng nhân tài tích cực và có tính sáng tạo.  
Nói một cách khách quan, phương thức này rõ ràng giảm bớt phần hao phí bên trong của  
doanh nghiệp trong thời kỳ đầu lập nghiệp, tăng cường lực ngưng tụ của doanh nghiệp, là  
thành viên cùng một gia tộc, mức tín nhiệm sẽ tương đối cao, tiện cho việc triển khai kinh  
doanh, giảm giá thành quản lý, quyết sách nhanh chóng, lợi cho việc kinh doanh linh hoạt  
của doanh nghiệp. Tuy nhiên, sau khi doanh nghiệp đã trưởng thành, những thói xấu trong  
việc quản lý kiểu gia tộc sẽ nổi rõ lên: Bức tường ngăn gia tộc của người lãnh đạo gây trở  
ngại đến cơ hội xuất hiện của những nhân tài không phải gia tộc, từ đó không dễ nảy sinh  
lòng trung thành và lực hướng tâm đối với doanh nghiệp, quyền lực của người lãnh đạo  
không có sự hạn chế, thiếu sự giám sát đôn đốc có hiệu quả; lãnh đạo thường dùng tình  
thay lý, làm chế độ trở thành hình thức, cá nhân độc đoán quyết sách dẫn đến những tổn  
thất cho doanh nghiệp.  
Thứ hai, ganh ghét người hiền tài, sai lầm nhiều lãnh đạo doanh nghiệp hay mắc  
phải.  
“Thành sự là người, thất bại cũng là người”. Nhà lãnh đạo doanh nghiệp muốn đứng  
được trên mảnh đất không thất bại trong cuộc cạnh tranh kịch liệt trên thị trường thì phải  
thay đổi tâm lý hẹp hòi. Nếu lòng dạ hẹp hòi, không dung nạp được người dưới quyền có  
tài năng vượt quá mình, tiến hành loại bỏ người hơn mình nhất định sẽ rơi vào mảnh đất  
không thắng trong cuộc cạnh tranh thị trường khốc liệt ; đồng thời sẽ khó khăn cho việc  
thu hút sức đồng lòng của nhiều người.  
Thứ ba, không chú ý nâng cao tính năng động của đội ngũ nhân viên.  
Người lãnh đạo một doanh nghiệp cần phải hiểu rõ rằng: Nhân tài, chỉ có không  
ngừng được kích thích thì mới làm sống lại, làm cho tính lười biếng của con người  
chuyển thành tiên tiến, không ngừng sáng tạo cái mới, không ngừng tiến lên, không  
ngừng chiến thắng, nếu không nhân tài của doanh nghiệp sẽ trở thành xơ cứng, từ đó làm  
thiệt hại cho lợi ích của doanh nghiệp.  
126  
Thứ tư, làm người lãnh đạo mà không chú ý giữ cho kết cấu nhân lực hợp lý hóa và  
đa dạng hóa, từ đó làm ảnh hưởng đến sức mạnh của doanh nghiệp.  
Trong bối cảnh toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, quy mô các doanh nghiệp ngày  
càng phát triển, bối cảnh đa dạng hóa kinh doanh đang thịnh hành càng đòi hỏi phải đa  
dạng hóa nhân lực trong tất cả các lĩnh vực tài chính, lao động sản xuất, marketing, luật  
pháp. Như vậy, số lượng nhân viên không những cần nhiều, mà còn phải có nhiều tài khác  
nhau, nếu người nhiều nhưng chỉ tinh thông một mặt, tất nhiên sẽ ảnh hưởng đến sức  
mạnh chỉnh thể. Nếu như trên một chiếc thuyền, người trên thuyền chỉ biết bơi chèo và  
chèo giỏi, nhưng không có người biết cầm lái, thì rõ ràng thuyền ấy không thể ra khơi.  
- Người lãnh đạo thiếu tầm chiến lược.  
Trong giới doanh nghiệp nước Mỹ thường lưu hành một câu “người không hiểu  
chiến lược, không thể làm giám đốc”, cho thấy rõ tính chất quan trọng của chiến lược quy  
hoạch dài hạn. Khi phân tích chiến lược, người lãnh đạo cần suy nghĩ tới nội dung bên  
trong và bên ngoài. Mặt bên “trong” chỉ tình trạng của bản thân doanh nghiệp, bao gồm:  
vốn, con người, nhà xưởng, chỗ ưu thế đặc biệt của doanh nghiệp. Mặt bên “ngoài” chỉ  
hoàn cảnh bên ngoài tác động đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm tình  
hình kinh tế thế giới và khu vực, xu thế phát triển kinh tế, phong tục văn hóa, tập quán,  
tình hình của ngành kinh tế mà doanh nghiệp theo đuổi và tình hình đối thủ cạnh tranh  
v.v... Sự lựa chọn chiến lược chính xác phải tổng hợp được các nhân tố hai mặt “trong” và  
“ngoài”. Bất kỳ nội dung nào trong đó bị coi nhẹ hoặc nhận thức không rõ đều có khả  
năng dẫn đến sai lầm khi đề ra chiến lược kinh doanh cho doanh nghiệp.  
- Độc đoán chuyên quyền, tập quyền quá mức.  
Chủ doanh nghiệp là người lãnh đạo tất cả các công nhân viên, đảm bảo uy quyền  
nhất định là cực kỳ cần thiết, nhưng uy quyền không có nghĩa là độc tài. Tập quyền quá  
mức, chuyên quyền độc đoán rất dễ làm cho người lãnh đạo nảy sinh sự ham hố quyền  
lực; từ đó mất đi tất cả những phẩm chất tốt đẹp của người lãnh đạo như lý trí, bình tĩnh,  
chính trực, công bằng, dân chủ, làm mất lòng tin của cấp dưới. Chuyên quyền độc đoán  
còn bóp chết tính chủ động và cảm giác trách nhiệm của cấp dưới; gây trở ngại ngay cho  
người lãnh đạo khó tập trung tinh lực suy nghĩ những vấn đề mang tính chiến lược của  
doanh nghiệp. Như vậy, tác phong của người lãnh đạo chuyên quyền độc đoán quá mức  
sẽ cản trở sự phát triển của doanh nghiệp, còn như trao quyền đúng mức là cách làm đúng  
đắn, phù hợp với trào lưu hiện đại, với lý luận và quan niệm quản lý hiện đại.  
3.1.3.2. Những điều cần tránh đối cấp dưới  
- Lạm dụng việc nghỉ ốm  
127  
Vấn đề này luôn là chuyện đau đầu đối với người quản lý. Điều này khiến các ban  
giám đốc gặp khó khăn trong việc lên kế hoạch, lập dự án cũng như dự trù thời gian và  
chất lượng thực thi công việc.  
- Ý thức vệ sinh kém  
Một bánh xà phòng và một ống kem đánh răng có thể có tác dụng rất lớn trong việc  
cải thiện các mối quan hệ tại nơi làm việc. Những nhân viên biết giữ gìn vệ sinh luôn  
được đồng nghiệp và cấp trên quý mến. Ngược lại, sếp cũng rất khó chịu với những nhân  
viên có tác phong luộm thuộm và không biết giữ vệ sinh cá nhân.  
- Tự do quá trớn  
Sẽ thật tuyệt vời nếu bạn có được sự tự do trong công việc. Tuy nhiên, nếu sự tự do  
này trở nên quá mức, bạn cần điều chỉnh giảm bớt xuống. Cấp trên không muốn thấy các  
nhân viên của mình tự do đến mức “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”, bởi họ cảm thấy  
như vậy sẽ rất khó kiểm soát công việc trong doanh nghiệp.  
- Thông tấn xã vỉa hè  
Những lời đồn đại luôn gây khó chịu cho người quản lý. Họ cho rằng nguyên nhân  
của các lời đồn là do nhân viên không tập trung vào công việc mà chỉ để tâm vào những  
vấn đề khác. Doanh nghiệp là nơi làm việc chứ không phải để tán gẫu.  
- Sử dụng điện thoại di động quá nhiều trong giờ làm việc.  
Sẽ không thích hợp khi bạn nhận quá nhiều cuộc điện thoại di động tại nơi làm việc.  
Đừng buộc cấp trên phải nghe trộm các cuộc trò chuyện qua điện thoại di động của bạn,  
chỉ để biết xem liên quan đến công việc hay không. Họ còn rất nhiều công việc khác cần  
thiết hơn để làm.  
- Giải quyết mâu thuẫn cá nhân trong giờ làm việc.  
Người quản lý không mong muốn nơi làm việc của mình trở thành một sân bóng,  
nơi mà hai đội kỳ phùng địch thủ quyết đấu với nhau. Họ không muốn mình trở thành  
trọng tài bắt đắc dĩ đứng ra dàn xếp mâu thuẫn giữa các nhân viên.  
- Luôn miệng kêu ca phàn nàn.  
Không có gì dễ làm sếp bực mình bằng những lời phàn nàn, kêu ca của nhân viên từ  
ngày này qua ngày khác. Doanh nghiệp luôn đưa ra những phần thưởng và quyền lợi để  
khuyến khích nhân viên làm việc, nhưng dường như nó không bao giờ đầy đủ đối với  
những người hay phàn nàn.  
128  
3.1.3.3. Những điều cần tránh trong quan hệ đồng nghiệp  
Thứ nhất, không nên có thái độ ganh đua không lành mạnh với đồng nghiệp. Những  
hành động khích bác, nói xấu sau lưng đồng nghiệp của mình sẽ khiến cho bạn bị đánh  
giá thấp đi dưới con mắt của những người khác và bạn sẽ không được gì ngoài sự xa lánh  
của những người xung quanh.  
Thứ hai, thái độ co mình, khép kín đối với các đồng nghiệp chỉ làm cho bạn gặp  
nhiều khó khăn hơn trong chính công việc của mình. Chia sẻ những ý kiến suy nghĩ của  
mình về công việc với mọi người trong công ty là biện pháp tốt nhất để bạn và đồng  
nghiệp có dịp gần gũi và hiểu về cách làm việc của nhau, từ đó những phối hợp trong  
công việc sẽ dễ dàng được thực hiện hơn.  
Thứ ba, tránh thái độ độc tài bảo thủ khi giải quyết công việc bởi ý kiến của bạn có  
thể đúng nhưng chưa đủ. Lắng nghe ý kiến của những người khác, cùng chung vai góp  
sức, vấn đề sẽ dễ giải quyết thành công.  
Thứ tư, đừng tách mình ra khỏi cộng đồng, hãy sống cùng tập thể.  
Thứ năm, không nên làm hộ phần việc của người khác với các lý do sau: Vô tình,  
bạn sẽ tạo nên tính ỷ lại trong các đồng nghiệp và tập thể. Mỗi người chỉ có lượng thời  
gian nhất định, đủ để giải quyết những công việc của mình. Nếu ôm đồm cùng lúc nhiều  
việc, chẳng khác nào bạn đã mua dây buộc mình.  
Thứ sáu, không cư xử với đồng nghiệp với thái độ kẻ cả, thiếu tôn trọng cho dù bạn  
có thâm niên lớn hơn, tránh gây hiềm khích. Khi nảy sinh khúc mắc với đồng nghiệp cần  
giải quyết ngay, trước khi để tình hình căng thắng. Quỹ thời gian ở văn phòng của bạn  
còn nhiều hơn ở gia đình. Vì thế, nếu chỉ “bằng mặt mà không bằng lòng”, quả là chẳng  
dễ thở chút nào.  
3.2. VĂN HOÁ ỨNG XỬ TRONG ĐÀM PHÁN VÀ THƯƠNG LƯỢNG  
3.2.1. Quan niệm về đàm phán và thương lượng trong hoạt động kinh doanh  
3.2.1.1. Quan niệm  
Khi hai bên đối tác có những mâu thuẫn, xung đột thì cần tổ chức thương lượng để  
đi dần đến ký kết hòa giải, những hợp đồng kinh doanh. Mỗi bên sẽ cử một người đại diện  
hay một đoàn đại diện để ngồi vào bàn đàm phán. Muốn thương lượng thành công thì hai  
bên phải tuân theo một số nguyên tắc và có phương pháp khoa học để tham khảo nhau,  
cùng nhau phát huy sáng kiến gỡ thế găng, đi đến hòa giải, hợp đồng.  
- Theo từ điển tiếng Việt: Các tác giả Huỳnh Tịnh Của, Đào Duy Anh viết “Thương  
lượng là đôi bên hay nhiều bên bàn đắn đo, chước lượng ... tính cho cân phân, đồng đều”.  
129  
- Theo tác giả I.Nierenberg – tác giả của cuốn “Nghệ thuật đàm phán” – người mà tờ  
Nhật báo phố Wall gọi là cha đẻ của nghệ thuật đàm phán cho rằng “Thương lượng không  
phải là một ván cờ, không nên yêu cầu một thắng, một thua, cũng không phải là một trận  
chiến phải tiêu diệt hay đặt đối phương vào thế chết, mà thương lượng vẫn là một cuộc  
hợp tác đôi bên cùng có lợi”, và “Bất cứ khi nào người ta trao đổi ý kiến nhằm thay đổi  
mối quan hệ, khi con người bàn bạc để đi đến thống nhất, họ đều phải đàm phán với  
nhau”.  
3.2.1.2. Bốn kết quả của cuộc đàm phán  
Thua – Thua  
Kết quả này xảy ra khi cả hai bên đều không đạt được mong muốn của mình.  
Trong các cuộc đàm phán có kết quả thua – thua, nếu được chọn thì không một đối tác  
nào muốn ngồi vào bàn đàm phán với bên đàm phán cũ.  
Thắng – Thua hoặc Thua – Thắng  
Kết quả này xảy ra khi một bên đạt được mục đích còn một bên thất bại. Cảm giác  
thất bại là một cảm giác không dễ chịu, vì thế khi một bên không được thỏa mãn yêu cầu  
sẽ không bao giờ muốn ngồi vào bàn đàm phán với bên thắng nữa.  
Thắng – Thắng  
Thắng – Thắng là kết quả lý tưởng nhất cho các cuộc đàm phán. Những yêu cầu và  
mục đích của cả hai bên đều được thỏa mãn và cả hai đứng lên với cảm giác hài lòng, sẵn  
sàng cho các cuộc đàm phán tiếp theo.  
Không có kết quả  
Trường hợp thứ tư là không có kết quả, không có ai thắng ai thua. Giữa hai trường  
hợp “không có kết quả” và “thua – thua” có sự khác biệt lớn: Khi kết quả là thua – thua,  
cả hai bên đều đứng dậy với ý nghĩ không bao giờ tiến hành đàm phán với bên kia một  
lần nữa còn khi đàm phán không mang lại kết quả gì, không bên nào chịu thiệt, hai bên  
vẫn có thể ngồi vào bàn đàm phán tiếp trong lần sau.  
3.2.2. Biểu hiện của văn hóa trong đàm phán và thương lượng  
3.2.2.1. Hành vi phi ngôn ngữ, ngôn ngữ trong đàm phán  
Các nghiên cứu về quá trình giao tiếp cho biết 90% ý nghĩa lời nói trong giao tiếp  
trực tiếp đều được truyền tải thông qua các phương tiện phi ngôn ngữ. Có nghĩa là trong  
đàm phán, chỉ có 10% nội dung được thông qua lời nói. Những con số này cho thấy tầm  
quan trọng của văn hóa ứng xử phi ngôn ngữ được đánh giá cao. Các chuyên gia cho rằng  
trong cuộc đàm phán kéo dài 30 phút, hai người có thể biểu hiện hơn 800 thông điệp phi  
130  
lời nói khác nhau. Nếu cả hai đều không hiểu hay không nhận ra những thông điệp này,  
thì cả hai chỉ dừng lại ở mức độ giao tiếp thấp. Lúc đó sẽ không ngạc nhiên nếu kết quả  
của cuộc đàm phán không đến đích.  
- Ba bước trong giao tiếp phi ngôn ngữ.  
Văn hóa ứng xử thông qua giao tiếp phi ngôn ngữ đòi hỏi một sự tinh tế của người  
tham gia giao tiếp. Bên cạnh việc để ý đến các cử chỉ, điệu bộ và thông điệp bạn nói với  
người đối diện, bạn còn phải biết cách đọc được những cử chỉ của người đối diện và ý  
nghĩa của chúng. Hoạt động giao tiếp phi ngôn ngữ có ba giai đoạn:  
Giai đoạn thứ nhất, nhận biết người đối diện: Sau một vài phút ban đầu, bạn bắt đầu  
chú ý đến những cử chỉ phi ngôn ngữ của người đối diện. Anh ta bắt chéo chân tay trong  
khi đang nói chuyện ? Anh ta nhìn thẳng vào mắt bạn ? Anh ta che miệng khi đặt câu hỏi  
? Sau đó bạn hệ thống các cử chỉ đó để đánh giá người đó có trung thực không, đang chán  
nản, tức giận hay nghi ngờ. Ban đầu có thể bạn không nhận biết được 100% những cử chỉ  
đó, nhưng ít nhất bạn cũng có thể nhận ra được một điều gì đó đang diễn ra ở người tham  
gia đàm phán.  
Giai đoạn thứ hai, nhận biết bản thân: Ngay khi bạn nhận thấy người đối diện nói  
mà không hề hé miệng, điều đó chứng tỏ bạn cũng đang giao tiếp bằng hành vi phi ngôn  
ngữ. Trong suốt cuộc đàm phán, bạn nhận thấy đối tác ngồi trên ghế khoanh tay và bắt  
chéo chân. Cử chỉ đó nói lên rằng người đó đang không hài lòng. Khi bạn hiểu được ý  
nghĩa đó, bạn sẽ thấy mình đang để tập tài liệu trong lòng và vắt chéo chân. Vì vậy, để  
hiểu được ý nghĩa của ngôn ngữ cơ thể, trước tiên bạn phải chú ý đến cử chỉ của bản thân  
trước.  
Giai đoạn thứ ba, giao tiếp phi ngôn ngữ để kiểm soát bản thân và đối tác. Trong ví  
dụ trên, ngay sau khi bạn nhận ra cử chỉ của đối tác, bạn có thể thay đổi cử chỉ phi ngôn  
ngữ của mình. Bằng cách đặt tập tài liệu lên bàn, thả chân thẳng xuống, không bắt chéo  
chân, bạn thay đổi tư thế của mình dễ chấp nhận hơn. Khi bạn bắt đầu kiểm soát hành vi  
cử chỉ của mình và của người đối diện, chúng ta sẽ thấy được những cái lợi của ngôn ngữ  
cơ thể. Ngôn ngữ của cơ thể phản ánh cảm xúc thực sự bên trong. Hiểu được ngôn ngữ đó  
bạn có thể sử dụng chúng một cách có lợi nhất trong các cuộc đàm phán.  
- Tập hợp các điệu bộ, cử chỉ.  
Thông qua những hành vi riêng lẻ sẽ là rất khó để đoán biết cảm xúc thực sự. Tuy  
nhiên, khi các cử chỉ đó được tập hợp lại với nhau, chúng sẽ vẽ ra được bức tranh chính  
xác về những gì đang diễn ra trong suy nghĩ của người đối diện. Ban đầu, giao tiếp phi lời  
nói rất khó, nhưng nếu bạn tự quan sát hành vi, cử chỉ của chính mình và của người khác  
131  
hàng ngày, bạn sẽ biết cách tập hợp các hành vi đó lại. Giao tiếp phi ngôn ngữ trong đàm  
phán rất quan trọng bởi vì nó giúp bạn phải biết thay đổi điều gì đó để có thể đạt được  
mục đích.  
Để nắm bắt được tín hiệu phi ngôn ngữ từ người đối diện, cần có bước nhìn khái  
quát người đối diện. Muốn vậy, hãy chia cơ thể ra làm 5 vùng: Mặt và đầu, thân, tay, bàn  
tay và chân.  
* Mặt và đầu: Là cánh cửa giúp bạn đi vào được suy nghĩ của người đối diện. Sau  
đây là một số dấu hiệu:  
- Không giao tiếp mắt: Những người muốn che dấu điều gì thường không giao tiếp  
mắt khi nói dối.  
- Nhìn lướt qua người đối diện: Khi cảm thấy chán, người ta thường nhìn lướt qua  
bạn hoặc liếc nhìn xung quanh phòng.  
- Nhìn sâu vào mắt người đối diện: Người nào bực tức với bạn thường nhìn chằm  
chằm vào mắt bạn.  
- Duy trì giao tiếp mắt: Đó là những người trung thực và đáng tin cậy.  
- Hơi ngoảnh đầu: Khi đánh giá điều mà bạn đang nói, người đối diện hơi ngoảnh  
đầu về một bên như muốn nghe rõ hơn.  
- Nghiêng đầu: Chứng tỏ người đối diện không chắc chắn lắm về điều vừa nghe nói.  
- Gật đầu: Khi đồng ý với bạn, người đối diện sẽ gật đầu khi nghe bạn nói.  
- Cười: Khi cảm thấy tự tin và khi đồng ý với bạn, người đó sẽ cười với bạn.  
* Thân thể: Thân thể cũng đóng một vai trò quan trọng trong giao tiếp phi ngôn ngữ.  
Nếu đối tác tiến lại gần hơn, nghĩa là công việc đang tiến triển theo chiều hướng tốt.  
Người đối diện khi không đồng tình với bạn hoặc không chắc chắn điều gì sẽ ngồi dịch ra  
xa còn khi họ cảm thấy lo lắng hoặc nghi ngờ, họ sẽ xê dịch người bên này bên kia, về  
phía trước, lùi lại phía sau. Trong hầu hết các cuộc đàm phán, người ta thường duy trì một  
tư thế nhất định. Khi bạn đàm phán, hãy để ý đến những thay đổi hoặc dịch chuyển nhỏ  
của đối tác. Những thay đổi nhỏ này có thể mang ý nghĩa đối tác không đồng ý hoặc thay  
đổi quan điểm.  
* Tay: Nhìn chung, cánh tay mở rộng nghĩa là người đó rất hài lòng với quá trình  
đàm phán. Nếu người đó khoanh tay trước ngực, là người đó không đồng tình với cách  
đàm phán của bạn. Nếu đối tác ngả người xa khỏi bàn và cho tay ra phía sau thành ghế,  
nghĩa là cần đề cập đến vấn đề lớn hơn hoặc đây là phản ứng đối với vấn đề đang bàn tới.  
132  
* Bàn tay: Có hàng ngàn điệu bộ, cử chỉ của bàn tay. Chỉ riêng bàn tay không thể  
cho biết đối tác đang nghĩ gì, nhưng khi kết hợp với các cử chỉ khác của cơ thể thì lại tiết  
lộ được điều gì đó.  
- Mở lòng bàn tay: Được coi là một thông điệp tích cực, không có gì phải che dấu.  
- Vòng bàn tay ra sau đầu: Đối tác muốn đề cập đến vấn đề quan trọng hơn.  
- Đan các ngón tay vào nhau: Thể hiện sự trịnh trọng của đối tác hoặc đối tác muốn  
điều khiển cuộc đàm phàn.  
- Ra mồi hôi tay: Dấu hiệu của sự lo sợ, lo lắng hoặc thiếu tự tin.  
- Cử chỉ động chạm: Cử chỉ sờ mũi, tai, cằm, đầu vô ý là dấu hiệu của sự lo lắng và  
bất an.  
* Chân: Tư thế của chân cũng quyết định đến một phần thái độ của đối tác trong  
đàm phán. Nếu bạn muốn đối tác mình sẵn sàng hợp tác và đáng tin cậy hãy để thẳng  
chân, bàn chân chạm xuống sàn và hơi nghiêng người về phía đối tác, đối tác sẽ nhận thấy  
ở bạn một dấu hiệu tích cực.  
3.2.2.2. Tạo sự tin tưởng trong đàm phán  
Sự tin tuởng của đối tác đối với mình là chìa khóa giúp đàm phán thành công. Đối  
tác càng tin vào sự thành thật, tính liêm chính và độ tin cậy của bạn, bạn càng có cơ hội  
tiến đến kết quả thắng – thắng. Nếu vì một lý do nào đó mà đối tác không tin tưởng, bạn  
sẽ thấy khó có sự nhân nhượng dù là nhỏ nhất. Tạo sự tin tưởng với đối tác thông qua một  
số biểu hiện cụ thể sau:  
- Chứng minh năng lực của mình: Cho đối tác thấy được sự thành thạo về chuyên  
môn của mình và nhiệt tình tiến tới kết quả đàm phán sẽ tạo được tin tưởng.  
- Đảm bảo cử chỉ điệu bộ của bạn đúng với lời nói.  
- Tạo phong thái chững chạc. Một phong thái chỉnh tề, chững chạc rất quan trọng.  
Tạo ra được một diện mạo tốt, lựa chọn từ khi nói một cách cẩn thận, giọng nói rõ ràng tự  
tin và giao tiếp mắt sẽ giúp cho đối tác đánh giá tốt và tin tưởng vào bạn.  
- Giao tiếp với mục đích tốt đẹp. Một số khiếm khuyết trong giao tiếp có thể được  
bỏ qua nếu đối tác biết được bạn có mục đích tốt đẹp.  
- Làm những gì đã hứa. Mối quan hệ tin tưởng giữa hai bên sẽ luôn được duy trì nếu  
các bên đều giữ lời hứa và tôn trọng sự thỏa thuận. Độ tin cậy là một yếu tố quan trọng  
trong quyết định có tiến hành các cuộc đàm phán lần sau không.  
133  
- Lắng nghe. Chăm chú lắng nghe ý kiến của đối tác, quan sát tư thế của người đó sẽ  
giúp bạn biết có tin tưởng được không.  
- Truyền đạt nhiều thông tin. Giao tiếp – ứng xử càng trung thực và cởi mở càng tạo  
được sự tin cậy.  
- Trung thực – ngay cả khi phải chịu thua thiệt. Nếu đối tác sai sót khi đưa ra những  
con số, mặc dù có thể có lợi, bạn hãy nhắc anh ta. Đối tác lúc đó sẽ tin tưởng hơn vào  
bạn.  
- Kiên nhẫn. Trong đàm phán, kiên nhẫn là một đức tính rất đáng quý. Không ai  
thích bàn chuyện với người bán hàng nhanh, chỉ quan tâm đến kết quả cuối cùng. Sự kiên  
nhẫn đem lại sự tin tưởng và quyết định đúng đắn. Cuộc đàm phán nào cũng có một kỳ  
hạn cuối cùng. Bất cứ một người đàm phán nào trong lòng nói chung cũng có một sự tính  
toán là trước thời điểm ấy sẽ đi đến một thỏa thuận về một điều gì đó. Người tham gia  
đàm phán thường hay đợi đến thời hạn cuối cùng mới chịu nhượng bộ hoặc thỏa hiệp. Bởi  
vậy, trong khi đàm phán, có một sự kiên nhẫn rất lớn, để chờ thời cơ chín muồi.  
- Bảo vệ sự công bằng. Hãy đảm bảo cho đối tác cũng đạt được kết quả công bằng  
với bạn. Khi hai bên cùng hài lòng sẽ tạo cơ hội cho những lần đàm phán sau.  
- Thảo luận những vấn đề rộng thay vì những vấn đề nhỏ hơn. Để tạo dựng niềm  
tin, hãy cố nới rộng vấn đề ra. Nếu đối tác muốn bạn giảm bớt giá hàng, hãy chấp nhận  
giảm giá nếu đối tác mua tăng số lượng hoặc mở rộng hợp đồng.  
3.2.2.3. Kỹ năng đặt câu hỏi trong đàm phán và thương lượng  
Trình độ cao hay thấp về giao tiếp – ứng xử của người đàm phán được quyết định  
bởi mức độ và cách thức đặt câu hỏi hay trả lời vấn đề của người ấy. Naguib Mahfouz đã  
nói: “Biết người nhanh nhậy qua câu trả lời. Biết người khôn ngoan qua cách đưa câu  
hỏi”. Trong quá trình đặt câu hỏi, bạn phải luôn chú ý không chỉ lời nói của đối tác mà  
còn cả hành động, phản ứng, phong thái và cử chỉ, điệu bộ của họ nữa vì chúng bộc lộ  
phần nào suy nghĩ của đối tác. Cách hỏi khéo léo có thể đem lại cho bạn một lượng thông  
tin lớn cần thiết để bạn sử dụng chiến thuật trong đàm phán. Cách đặt câu hỏi nhằm vào  
một số mục đích chính sau:  
- Thu nhập thông tin: Thông tin càng nhiều và chính xác sẽ hỗ trợ rất lớn cho mọi  
quyết định trong đàm phán của họ.  
- Khi đối tác đưa ra thông tin, bạn nên làm rõ và kiểm tra lại thông tin đó, từ đó giúp  
bạn phát hiện được những vấn đề có thể gây bất lợi cho mình.  
134  
- Kiểm tra độ hiểu và mức độ quan tâm của đối tác: Đối tác của bạn quan tâm như  
thế nào đến kết quả của đàm phán? Muốn biết mức độ hợp tác trong một vấn đề, bằng  
cách hỏi anh ta có thể chấp nhận mức thấp hơn so với yêu cầu của anh ta không?  
- Xác định phong cách ứng xử: Đối tác là người như thế nào? Người đó từ đâu đến,  
có nhiều kinh nghiệm đàm phán không? Đó là một người trung thực? Quyết đoán? Cẩn  
thận? Những câu hỏi nhằm nắm bắt được những thông tin này sẽ ảnh hưởng đến cuộc  
đàm phán.  
- Tạo sự hòa nhập: Khi bạn hỏi đối tác, bạn sẽ có được những thuận lợi, bạn có thể  
hiểu nhiều hơn về đối tác đồng thời họ cũng thấy quý mến bạn hơn. Điều này rất cần thiết  
trong trường hợp anh ta không hiểu hoặc không đồng ý với vấn đề bạn đang nói, anh ta  
chưa thật sự cởi mở trong đàm phán.  
- Tiến đến thỏa thuận: Câu hỏi có thể giúp bạn biết được nguyện vọng thực sự hoặc  
sẵn sàng đi đến thỏa thuận của đối tác.  
- Giảm căng thẳng: Nhiều cuộc đàm phán trở nên căng thẳng. Khi có điều gì sai xảy  
ra, đặt câu hỏi để biết thêm các thông tin về quan điểm của đối tác rất hữu hiệu, những  
thông tin biết thêm có thể định hướng lại cuộc đàm phán. Một câu hỏi khác làm giảm  
căng thẳng là pha một chút hài hước vào cuộc nói chuyện.  
- Tạo sự cố gắng tích cực hoặc sự hòa hợp: Một câu nói tạo sự tích cực đơn giản là  
“Tôi rất đề cao anh”. Đôi khi bạn đã biết câu trả lời nhưng vẫn hỏi. Đồng thời thể hiện sự  
quan tâm đến người đối diện là việc bạn nên làm.  
3.2.2.4. Kỹ năng trả lời trong đàm phán và thương lượng  
- Không nên trả lời hết mọi vấn đề được hỏi: Người trả lời nên khéo léo rút gọn  
phạm vi câu được hỏi, hoặc có thể triển khai ý mới, đào sâu thêm câu được hỏi tùy thuộc  
vào sự am hiểu, chủ động và tình thế giao tiếp cũng như mức độ cảm nhận về lợi hại khi  
trả lời câu hỏi.  
- Không trả lời sát vào câu hỏi của đối phương: Trả lời câu hỏi gì cũng vậy, cần để  
cho mình một khoảng cách để tiến thoái hay nhận diện rõ ý đồ của đối phương khi hỏi.  
Khi trả lời không nên bộc lộ thực lực ra quá sớm và ồ ạt. Thông thường có thể áp dụng  
cách giải thích một vấn đề gì tương tự, sau đó mới quay lại chủ đề chính. Hoặc có thể  
dùng những câu hỏi ngược lại, hay dùng cách nói nghi vấn (thế chăng, không phải sao,  
chẳng lẽ ...) để di chuyển trọng điểm, hay giảm mức độ quan trọng của vấn đề được nêu  
ra.  
- Giảm bớt cơ hội để đối phương hỏi đến cùng: Nếu người nêu câu hỏi phát hiện ra  
sơ hở của câu trả lời, thường họ sẽ truy hỏi đến cùng. Khi trả lời không được để đối  
135  
phương phát hiện ra chỗ sơ hở bằng cách trả lời khái quát trên nguyên tắc hoặc khẳng  
định tính chất khách quan, hạn chế mức độ cụ thể khi trả lời.  
- Dành đủ thời gian cất nhắc kỹ vấn đề được đưa ra đàm phán. Bạn cần chủ động,  
điềm tĩnh trong đối thoại ngay từ những phút đầu tiên, đôi khi phải biết lờ đi một cách vô  
tình hay hữu ý những câu hỏi dồn ép của đối tác.  
- Xác định đúng những điều không đáng phải trả lời. Với những câu hỏi có thể gây  
nhiễu, đưa bạn vào thế bị động, thua thiệt trong đàm phán, bạn cần xác định đúng loại câu  
hỏi này bằng cách từ chối hoặc hỏi lại ý nhị với mục đích ngăn chặn đối phương đưa tiếp  
những câu hỏi tương tự. Cần tránh tỏ thái độ khó chịu hay cố tình lờ đi câu hỏi của đối  
phương, bởi như thế đồng nghĩa với ý “tôi không nói chuyện với ông”.  
- Đừng trả lời quá dễ dàng. Người đàm phán khi trả lời nên đi thẳng vào câu hỏi, có  
mục đích rõ ràng và cần tìm hiểu ý chân thực của vấn đề. Trong nhiều trường hợp, sự trả  
lời dễ dãi có thể bị đánh giá là nông nổi và hời hợt và do đó dễ rơi vào thế lép hoặc đối  
phương cũng chỉ có thể ứng xử lại một cách tương tự.  
- Không nên để rơi vào tình thế là đối địch trực tiếp với đối tác trong các tình huống  
đối thoại. Luôn tỏ ra như cùng đứng về quan điểm hay lập luận của họ. Phủ định ngay và  
quá trực tiếp đối phương trong từng tình huống giao tiếp cụ thể khiến cho cuộc đàm phán  
căng thẳng, có xu hướng đi xa hơn những vấn đề hai bên cùng tiếp cận.  
- Đưa ra những dẫn chứng tình huống : Nên chuẩn bị khoảng 10 đến 12 dẫn chứng  
tình huống để định vị sản phẩm dịch vụ của mình so với các đối thủ cạnh tranh.  
Lưu ý: Tránh việc chỉ trích, chê bai trực tiếp đối thủ cạnh tranh. Thay vào đó, đưa ra  
bình luận nhận xét của khách hàng về những lợi ích và sự hài lòng khi sử dụng sản phẩm  
và dịch vụ của doanh nghiệp bạn.  
- Đưa ra những giải pháp hiệu quả: Nhiệm vụ của bạn là phải làm cho khách hàng  
tin tưởng vào sản phẩm dịch vụ của bạn cũng như những gì bạn đã cam kết. Kết thúc cuộc  
giao dịch, bạn nên tóm tắt lại những yêu cầu và giải pháp thực hiện, sẵn sàng trả lời bất cứ  
câu hỏi nào của đối tác để làm vững thêm quyết định.  
3.2.2.5. Kỹ năng nghe trong đàm phán và thương lượng  
Trong đàm phán và thương lượng, nghe cũng thể hiện văn hóa ứng xử. Có rất ít nhà  
đàm phán biết cách lắng nghe, do đó mất nhiều cơ hội biết được yêu cầu và mục đích của  
đối tác. Các số liệu cho thấy, những người không biết cách lắng nghe chỉ có thể hiểu được  
50% nội dung cuộc nói chuyện. Sau 48 tiếng, tỉ lệ này giảm xuống chỉ còn 25%. Khi đối  
tác nói, không nên nhìn ra chỗ khác, hay tỏ thái độ bồn chồn, mà phải nhìn thẳng vào mắt  
136  
họ. Vẻ chăm chú sẽ gây cho người nói tâm lý mình tôn trọng họ, đồng thời qua đó cũng  
thu thập được một cách đầy đủ thông tin cần thiết để phục vụ cho đàm phán.  
Thông qua thái độ của người nghe mà làm cho không khí đàm phán thân mật, hai  
bên đối tác sẽ cảm thấy mối quan hệ gần gũi nhau hơn. Trong khi nghe cần chú ý đến  
những ý tứ ẩn giấu bên trong lời nói để đoán biết nhu cầu tâm lý của đối tác, đồng thời  
luôn quan sát thái độ của đối tác để có thể ứng xử hợp lý nhất trong từng tình huống.  
3.2.3. Tác động của văn hóa ứng xử đến đàm phán và thương lượng  
3.2.3.1. Văn hóa ứng xử là một yếu tố quan trọng quyết định đến thành công của đàm  
phán  
Thông qua đàm phán để đi đến ký kết hợp đồng là một khâu vô cùng quan trọng  
trong họat động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp.  
Cuộc đàm phán thương mại thành công có thể đưa một khoản lợi nhuận lớn đến cho  
doanh nghiệp. Cùng với các yếu tố như: chất lượng và giá cả sản phẩm dịch vụ, thời gian  
giao hàng, điều kiện thanh toán ... văn hóa ứng xử trong đàm phán và thương lượng cũng  
đóng một vai trò quan trọng không kém. Phép ứng xử tốt giúp cho đối tác hiểu rõ và  
không hiểu lầm về mục đích đàm phán, củng cố niềm tin với đối tác về thiện chí hợp tác  
của công ty mình, tăng cường không khí thân thiện trong đàm phán, thậm chí có thể phá  
tan không khí căng thẳng và thoát ra khỏi sự bế tắc, từ đó tạo điều kiện thực hiện thành  
công việc ký kết các điều khoản trong hợp đồng. Ngược lại, ứng xử kém trong cuộc đàm  
phán làm cho đối tác hiểu sai ý đồ và thiện chí hợp tác sẽ dễ dàng làm cho cuộc đàm phán  
bị thất bại.  
3.2.3.2. Văn hóa ứng xử hứa hẹn mang lại những cơ hội hợp tác mới  
Văn hóa ứng xử không chỉ là yếu tố quan trọng mang lại thành công cho đàm phán  
mà còn tạo ra những cơ hội cho cả hai bên đối tác tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau và  
trưởng thành.  
Người đàm phán có cách ứng xử văn hóa có tâm, có khả năng mẫn cảm nhận thấy  
nhu cầu của người khác, thậm chí bị công kích cũng không có phản ứng tiêu cực mà trước  
sau có thái độ bình tĩnh, tìm kiếm kết quả có lợi cho cả hai bên. Trong trường hợp cả hai  
bên cùng thắng, hai bên đàm phán hoặc nhiều, hoặc ít đều đạt được cái mà họ mong muốn  
trong đàm phán. Thậm chí nếu không đạt được kết quả như dự kiến cũng không ai phải về  
tay không, ít nhiều ai cũng có được lợi ích từ trong đó và cùng thúc đẩy đàm phán thành  
công. Người đàm phán ứng xử có văn hóa không chỉ quan tâm đến kết quả thắng – thắng  
của cuộc đàm phán đó mà họ còn hướng tới một mối quan hệ hiểu biết và tôn trọng nhau  
137  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 50 trang Thùy Anh 15960 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Văn hóa kinh doanh (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_van_hoa_kinh_doanh_phan_2.pdf