Nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới. bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
NÂNG CAO TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI CỦA DOANH NGHIỆP Ở MỘT SỐ
QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI. BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO DOANH
NGHIỆP VIỆT NAM
Nguyễn Xuân Điền1, Hoàng Hải Ninh2, Hồ Thị Hòa3,
Học viện Tài chính
Tóm tắt:
Trong thời gian qua, chủ đề trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được đề cập đến trong
nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước. Một trong những kh a cạnh thể hiện trách nhiệm của
doanh nghiệp với xã hội đó là CSR (Corporate social responsibility). CRS được coi là những yêu
cầu quan trọng đối với các doanh nghiệp muốn phát triển vượt bậc. ài viết này phân t ch kinh
nghiệm nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới và từ đó rút ra
bài học cho doanh nghiệp Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Từ khóa: Trách nhiệm xã hội, doanh nghiệp, kinh nghiệm
IMPROVING SOCIAL RESPONSIBILITIES OF ENTERPRISES IN SOME
COUNTRIES IN THE WORLD. LESSONS FOR VIETNAMESE ENTERPRISES
Abstract:
Recently, corporate social responsibility has been mentioned abroad and domestically.
One of the aspects illustrating the responsibility toward society is CSR. CSR is regarded as
crucial requirements to develop enterprises dramatically. This research will analyze lessons
from enhancing enterprise's responsibility of several nations in the world. As a result, companies
in Vietnam can gain experience in the context of internation economic integration.
Keywords: social responsibility, enterprises, experience
Khái niệm về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp được các nhà khoa học đưa ra trong
các nghiên cứu đi trước. Keith Davis (1973) cho rằng ―CSR là sự quan tâm và phản ứng của
doanh nghiệp với các vấn đề vượt qua sự thỏa mãn những yêu cầu pháp lý, kinh tế, công nghệ‖.
Moon và Matten (2004) đề cập đến ―khái niệm CSR là khái niệm chùm, gồm nhiều khái niệm
khác nhau như đạo dức kinh doanh, doanh nghiệp từ thiện, tính bền vững và trách nhiệm môi
trường‖. Các khái niệm này đưa ra tương đối rộng. Theo nhóm Phát triển kinh tế tư nhân của
Ngân hàng Thế giới (WB) ―CSR là sự cam kết của doanh nghiệp đóng góp cho phát triển bền
vững thông qua việc góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người lao động và các thành viên
trong gia đình họ; cho cộng đồng và toàn xã hội‖
278
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Như vậy, mặc dù có nhiều khái niệm CSR được đưa ra, nhưng nội hàm các khái niệm về
CRS một cách nào đó đã thể hiện sự cam kết của doanh nghiệp tới nền kinh tế trong nhiều vấn
đề như: Trách nhiệm với người lao động, trách nhiệm với người tiêu dùng, trách nhiệm bảo vệ
môi trường và trách nhiệm chung với cộng đồng…Các doanh nghiệp thành công trên thế giới
đều nhận thức tầm quan trọng của CSR trong chiến lược phát triển của doanh nghiệp mình.
Theo Rezaee (2007) hệ thống quản trị doanh nghiệp của một quốc gia bao gồm: các
chương trình CSR, cơ chế bên trong và bên ngoài các định bởi một số yếu tố liên quan như: cơ
sở hạ tầng chính trị, chuẩn mực văn hóa, hệ thống pháp luật, cơ cấu sở hữu, môi trường, mức độ
phát triển, hoạt động CSR và các tiêu chuẩn đạo đức
1. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Trung Quốc
Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) của Trung Quốc là khái niệm mà trong
khoảng 20 năm qua đã có sự thay đổi lớn trong nền kinh tế của quốc gia này. Những năm 1990 –
2000, CSR là khái niệm được các nhà bán lẻ quốc tế đưa vào Trung Quốc để bảo vệ thương hiệu
của họ. Thời kỳ này, các doanh nghiệp Trung Quốc không coi CSR là giá trị cốt lõi và nhiệm vụ
phải hoàn thành. Đến năm 2006, Trung Quốc đã nhận thấy vai trò quan trọng của CSR trong bối
cảnh hội nhập kinh tế thế giới, khái niệm CSR được đưa vào Luật doanh nghiệp của Trung Quốc
và chuyển từ tùy chọn sang định nghĩa bắt buộc cho các công ty Trung Quốc. Kết quả là nhiều
công ty bắt dầu ban hành các báo cáo CSR đầu tiên của mình. Trong thời gian này các tổ chức
học thuật địa phương, các tổ chức phi chính phủ và tổ chức quốc tế cũng bắt đầu nghiên cứu
Từ năm 2004 đến 2018, số báo cáo trách nhiệm xã hội do các doanh nghiệp ở Trung
Quốc ban hành tăng qua các năm. Đến ngày 31/10/2018, tổng cộng 1.676 báo cáo trách nhiệm xã
hội đã được phát hành. Các doanh nghiệp báo cáo chủ yếu từ sản xuất, tài chính và bảo hiểm,
công nghệ thông tin (CNTT), sản xuất và cung cấp than, nước, khí đốt, dịch vụ xã hội, công
nghiệp lưu trữ và vận tải,…Các doanh nghiệp niêm yết, doanh nghiệp nhà nước (SOEs) và các
doanh nghiệp do nhà nước kiểm soát vẫn là lực lượng chính trong báo cáo CSR.
1676
1579
1543
1538
1526
1231
1006
771
710
627
169
96
32
13
6
2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011
2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018
Đồ thị: Số lƣợng báo cáo CSR của Trung Quốc giai đoạn 2004 – 2018.
(Nguồn: Xinhuanet.com)
279
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
Đây là một xu hướng đã phát triển đáng chú ý hơn khi các công ty Trung Quốc đã bắt
đầu mở rộng ra nước ngoài, và điều đó đã buộc nhiều doanh nghiệp Trung Quốc phải đánh giá
lại chiến lược của họ. Người tiêu dùng Trung Quốc ngày càng đánh giá cao việc thực hiện CSR
của doanh nghiệp và sẵn sàng tham gia cùng doanh nghiệp trong sáng kiến CSR. Để có được
những thành tựu trên, Trung Quốc đã áp dụng một số giải pháp sau đây:
Thứ nhất, sự quan tâm sát sao của ch nh phủ Trung Quốc đối với việc thực hiện CSR của
doanh nghiệp. Để thúc đẩy các doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội, chính phủ Trung
Quốc đã giao các Bộ, ngàng trung ương xây dựng các văn bản hướng dẫn và chính sách thúc đẩy
CSR, như Bộ Thương mại (MOFCOM) ban hành văn bản chính thức thúc đẩy các doanh nghiệp
Trung Quốc đầu tư hoặc hoạt động ở nước ngoài thực hiện CSR. Các Sở giao dịch Chứng khoán
Thâm Quyến (SIZE), Sở giao dịch Chứng khoán Thượng Hải (SSE), Ủy ban Giám sát và Quản
lý tài sản Nhà nước Trung Quốc (SASAC), Bộ Bảo vệ môi trường Trung Quốc (MEP) đã ban
hành các hướng dẫn liên quan đến CSR, quy định hướng dẫn doanh nghiệp chấp nhận và thực
hiện các yêu cầu liên quan đến CSR. Từ năm 2008, các tổ chức niêm yết bắt buộc phải đưa ra
phần CSR vào nội dung các báo cáo thường niên. Trong năm 2015, SASAC đã phát hành bộ
hướng dẫn cho doanh nghiệp nhà nước về cách thức đảm bảo thực hiện CSR thông qua hệ thống
quan lý hiệu quả. Bên cạnh đó, cũng khuyến khích các doanh nghiệp tự nguyện thực hiện hiệu
quả trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (Chin Chen Yeh, Fengyi Lin, 2019).
Trong trường hợp các doanh nghiệp vi phạm các quy định về CSR thì sẽ bị xử lý theo
quy định của nhà nước. Từ năm 2018, Trung Quốc mở rộng cải cách thí điểm trên toàn quốc, bắt
buộc những đối tượng gây ô nhiễm môi trường phải chịu trách nhiệm. Theo hệ thống, các cá
nhân hoặc công ty gây thiệt hại môi trường sẽ phải giúp khôi phục môi trường. Nếu các thiệt hại
vượt quá khả năng phục hồi, họ phải trả cho các tổn thất, một quá trình sẽ được quản lý bởi
chính quyền địa phương dưới dạng doanh thu phi thuế. Trung Quốc đặt mục tiêu tới năm 2020
thiết lập được hệ thống bồi thường thiệt hại toàn diện, hiệu quả để bảo vệ môi trường sinh thái
của đất nước.
Thứ hai, các doanh nghiệp nhận thức vai trò quan trọng của việc thực hiện CSR trong
chiến lược kinh doanh của mình. Hoạt động CSR có hiệu quả có thể giúp tăng trưởng của
doanh nghiệp bền vững. Trước tiên, khi một công ty chỉ bắt đầu các hoạt động CSR ở cấp độ
tuân thủ pháp lý, thường có xu hướng đáp ứng các quy định hoặc lời hứa cơ bản cho xã hội,
tuy nhiên càng về sau lại hướng đến hoạt động từ thiện man tính chiến lược. Các hoạt động
CSR củng cố cam kết xã hội của doanh nghiệp cũng như mang lại các tác động tích cực đến
hiệu quả tài chính. Và cuối cùng các doanh nghiệp tự điều chỉnh trong quá trình thực hiện
CSR. Các doanh nghiệp xây dựng một hệ thống hoặc quy trình hoạt động tiêu chuẩn có thể
hướng dẫn mô hình và hành vi kinh doanh của mình. Các hoạt động CSR như tiết kiệm năng
lượng không chỉ giảm chi phí hoạt động chung mà còn góp phần tác động tích cực tới môi
trường (Chin Chen Yeh và cộng sự, 2019).
Hiện nay, các doanh nghiệp Trung Quốc coi CSR là một khoản đầu tư quan trọng vào tài
sản xã hội để cạnh tranh với các đối thủ trên toàn cầu. CSR được thực hiện thông qua các chưng
trình từ thiện đơn giản, các chương trình tình nguyện truyền thống đến kế hoạch gài hạn phù hợp
280
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
với giá trị cốt lõi của doanh nghiệp và chiến lược phát triển của quốc gia, từ đó góp phần tại ra
tác động xã hội lớn hơn.
2. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Châu Âu
Kể từ khi thành lập Liên minh châu Âu, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đã thu hút
được sự chú ý ngày càng tăng ở châu Âu. Điều này được chứng minh bằng sự phát triển của họ
về các chiến lược bền vững. Chiến lược phát triển bền vững châu Âu đã được phê duyệt vào
tháng 6 năm 2001 tuyên bố rằng sự gắn kết xã hội, bảo vệ môi trường và tăng trưởng kinh tế
phải cùng tồn tại. Ngày nay, CSR đã trở thành một vấn đề ưu tiên đối với các chương trình nghị
sự của chính phủ các quốc gia Châu Âu. Hầu hết chính phủ các quốc gia Châu Âu đều áp dụng
một số mô hình khi đề cập đến CSR bao gồm: mô hình quan hệ đối tác, mô hình kinh doanh
trong cộng đồng và mô hình đảm bảo bền vững và quyền công dân. Trên cơ sở đó, các chính
sách công CSR của chính phủ hướng vào giải quyết các vấn đề sau (Albareda, 2007) :
(i) CSR trong các chính phủ: các chính sách công CSR được phát triển bởi các chính phủ
để cải thiện trách nhiệm xã hội của chính họ;
(ii) CSR trong các mối quan hệ chính phủ - doanh nghiệp: Các chính sách công CSR
được thiết kế để cải thiện trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện hoạt
động kinh doanh;
(iii) CSR trong mối quan hệ chính phủ - xã hội: Chính sách công CSR được thiết kế để
cải thiện nhận thức về trách nhiệm xã hội của các bên liên quan;
(iv) Chính sách công CSR được thiết kế để cải thiện sự hợp tác giữa chính phủ, các
doanh nghiệp và các bên
Một số mô hình CSR ở Châu Âu
Mô hình hợp tác
Trong suốt thế kỷ 20, các quốc gia trong đi theo mô hình này (Đan Mạch, Phần Lan, Hà
Lan và Thụy Điển) đã phát triển một nhà nước phúc lợi rộng lớn và toàn diện. Từ những năm
1950, các chính sách xã hội của họ đã định hướng tới việc cung cấp các dịch vụ xã hội trong
khuôn khổ này. Hơn nữa, trong thập kỷ cuối của thế kỷ XX, các chính phủ này bắt đầu thừa nhận
tầm quan trọng của các chủ thể kinh tế - là các công ty - trong việc giải quyết các vấn đề xã hội.
Do đó, có thể khẳng định rằng, đối với các chính phủ áp dụng mô hình này, sự chuyển dịch
hướng tới CSR chủ yếu liên quan đến sự thay đổi thái độ của các chủ thể xã hội (công ty, công
đoàn và tổ chức xã hội) đối với việc chia sẻ trách nhiệm trong việc xây dựng một xã hội toàn
diện hơn và một thị trường việc làm năng động và tích hợp. Đối với các chính phủ quốc gia này,
tất cả các chủ thể cùng cam kết xây dựng các chính sách và hành động CSR mới sẽ thúc đẩy sự
phát triển của một xã hội công bằng hơn.
Ngoài ra, đối với nhiều công ty, cách thức kinh doanh và vận hành của họ vốn đã bao
gồm cả trách nhiệm với xã hội. Các thiết lập quốc gia xác định một khuôn khổ, trong đó các tác
nhân công cộng và tư nhân trực tiếp tham gia vào quá trình tạo ra các chính sách công và thiết
lập quan hệ đối tác cho trách nhiệm xã hội. Quan hệ đối tác được coi là một công cụ sáng tạo và
đôi khi thậm chí là công cụ chính để giải quyết các vấn đề xã hội khó khăn. Chính quyền địa
phương, chịu trách nhiệm tạo ra các mối quan hệ đối tác như vậy, cũng tham gia rất tích cực, làm
281
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
nảy sinh ý tưởng về trách nhiệm xã hội giữa chính quyền, công ty và các tổ chức xã hội. Do đó,
việc khuyến khích quan hệ đối tác đã trở thành trọng tâm trong các chính sách công của CSR tại
các quốc gia này. Trên thực tế, trong bối cảnh Đan Mạch, quan hệ đối tác liên ngành địa phương
thực tế kết hợp khái niệm CSR.
Một trong những chính sách chung cho tất cả các quốc gia này khẳng định rằng các công
ty nên cung cấp thông tin CSR đầy đủ tuân thủ các nguyên tắc minh bạch về các vấn đề xã hội.
Chính người tiêu dùng là những người chú trọng nhất vào sản xuất có trách nhiệm xã hội. Ở Hà
Lan, ví dụ, nhãn được sử dụng để tránh nhầm lẫn. Một yếu tố khác biệt trong mô hình này là các
quan chức nhà nước có thái độ mà họ mẫu mực. Đặc biệt, trong đấu thầu công khai, chẳng hạn,
mọi nỗ lực được thực hiện để thúc đẩy việc sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ được sản xuất một
cách có trách nhiệm với xã hội. Nói tóm lại, các chính sách công của CSR được xem là một phần
của khuôn khổ thường xuyên đối với các hoạt động xã hội và việc làm. Một cam kết đáng kể
được thực hiện bởi chính quyền địa phương, những người đóng vai trò là kênh xây dựng quan hệ
đối tác, ủng hộ quan niệm về trách nhiệm xã hội giữa quản trị viên, công ty và tổ chức xã hội.
Mô hình này của các nước Bắc Âu, gắn liền với truyền thống ưu tiên lâu dài cho các thỏa
thuận hợp tác và sự đồng thuận giữa các loại hình tổ chức khác nhau, có đặc trưng bởi việc sử
dụng quan hệ đối tác như một công cụ và tạo ra một khu vực phúc lợi chung. Về bản chất, sự
thúc đẩy đối với việc áp dụng quan hệ đối tác công tư có thể được hiểu là người thừa kế văn hóa
chính trị Scandinavia, trong đó luôn đề cao sự hợp tác, đồng thuận và tham gia. Theo truyền
thống chính trị của hầu hết các nước Bắc Âu trong thế kỷ qua, các vấn đề xã hội là một phần của
năng lực cốt lõi của chính phủ và, do đó, được xem là một trong những vấn đề cơ bản mà chính
sách của họ phải giải quyết, với những giá trị này làm nền tảng triết lý xã hội của họ.
Các quốc gia trong khu vực này đều có kinh nghiệm đáng kể trong quản lý môi trường,
hiện cũng kết hợp thành phần CSR. Họ cũng được hưởng một truyền thống lịch sử ủng hộ đàm
phán xã hội, trong đó mối quan hệ giữa chính phủ và các công ty được xem là tích cực, và bao
gồm các khía cạnh hợp tác nhất định.
Mô hình doanh nghiệp trong cộng đồng
Khái niệm doanh nghiệp trong cộng đồng đề cập đến cách các chính phủ và các công ty
này thể hiện vai trò của doanh nghiệp trong xã hội, đặc biệt là liên quan đến các thách thức xã
hội và vai trò của nó trong phát triển cộng đồng. Trong mô hình này, chúng tôi đã bao gồm
Vương quốc Anh và Ireland. Chính phủ Anh là một trong những người sáng tạo nhất trong việc
phát triển khuôn khổ CSR chính trị. Nó liên kết CSR với những thách thức chính trong quản trị
xã hội mà các nước phát triển phải đối mặt.
CSR lần đầu tiên được đưa ra ở Vương quốc Anh và Ireland trong những thập kỷ cuối
của thế kỷ 20, như một phản ứng đối với sự thâm hụt trong quản trị xã hội khi các nền kinh tế
công nghiệp đang trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng, buộc các công ty phải phá sản
và gây ra những vấn đề loại trừ xã hội nghiêm trọng. Cả hai quốc gia này đã phải đối phó với các
vấn đề cấp bách về phúc lợi xã hội và nghèo đói ngày càng tăng ở các khu vực thành thị và nông
thôn, cùng với suy thoái môi trường. Chính phủ bắt đầu tìm kiếm các giải pháp cho những vấn
đề này thông qua việc thu hút tất cả các chủ thể xã hội - chủ yếu là các công ty. Họ bắt đầu tạo ra
282
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
các mạng công ty và các dự án hợp tác công tư để tăng cường CSR. Các công ty đã sớm tham
gia vào các dự án xã hội đầu tư vào cộng đồng.
Khái niệm ‗kinh doanh trong cộng đồng, nảy sinh từ ý tưởng rằng các công ty đóng vai
trò cơ bản trong sự phát triển kinh tế của các cộng đồng nơi họ hoạt động cũng như chống lại sự
loại trừ xã hội và nghèo đói. Ở Vương quốc Anh và Ireland, hiện nay, chính phủ và các công ty
thường sử dụng các khái niệm như "đầu tư vào cộng đồng", "tham gia vào cộng đồng", "chiến
lược tái tạo cho các khu vực ít được ưa thích hơn" và "cam kết với cộng đồng" để xác định đóng
góp của họ cho sự phát triển xã hội và cộng đồng.
Ý tưởng về trách nhiệm của công ty lần đầu tiên được nhìn thấy trong sự đóng góp của
các công ty cho sự phát triển bền vững thông qua các chính sách quản trị xã hội công cộng mới.
Về mặt quản lý doanh nghiệp, các chính phủ ủng hộ sự tham gia tự nguyện vào CSR. Các công
ty đưa các sáng kiến CSR vào thực tiễn thương mại và quản lý doanh nghiệp trên cơ sở tự
nguyện, hoàn toàn tách biệt với bất kỳ yêu cầu pháp lý nào. Tuy nhiên, đặc biệt là ở Vương quốc
Anh, chính phủ đã áp dụng cái được gọi là can thiệp mềm để thúc đẩy và tán thành hành động
của công ty trong các lĩnh vực CSR.
Ở cả Vương quốc Anh và Ireland, hành động của chính phủ được quan niệm là phát triển,
tạo điều kiện và cung cấp các ưu đãi cho CSR, cũng như khuyến khích quan hệ đối tác công tư.
Với vai trò là người hỗ trợ, chính phủ tìm kiếm các cơ chế cung cấp các ưu đãi, cho dù thông qua
cái gọi là quy định mềm, để khuyến khích các hành động CSR của công ty hoặc thông qua các
biện pháp thuế. Một ý tưởng quan trọng khác ở các quốc gia này liên quan đến CSR là việc xây
dựng các dự án hợp tác cho các công ty tư nhân công cộng và tư nhân, cùng nhau hoặc với khu
vực thứ ba. Điều này cho phép nắm bắt chung các vấn đề liên quan đến loại trừ xã hội, nghèo
đói, thiếu dịch vụ xã hội và chất lượng cuộc sống ở các khu vực kinh tế suy thoái. Các công ty
hợp tác trong các dự án hợp tác với chính quyền địa phương trong đào tạo nhân viên, thành lập
công ty và đầu tư vào khu vực thành thị hoặc nông thôn thiếu thốn.
Tóm lại, theo mô hình này, các hành động của chính phủ đối với CSR tập trung vào việc
hỗ trợ khu vực tư nhân, tạo điều kiện phát triển kinh tế và bền vững và tái tạo kinh tế, với sự hỗ
trợ và hợp tác của khu vực tư nhân. Các quốc gia này giải quyết các vấn đề xã hội như không
triển khai và loại trừ xã hội thông qua các chính sách CSR liên quan đến các công ty đối phó với
khủng hoảng chính quyền và tạo điều kiện cho hành động của công ty. Cuối cùng, các chính phủ
căn cứ vào việc áp dụng các biện pháp CSR của họ dựa trên quy định mềm.
Mô hình t nh bền vững và quyền công dân
Mô hình tính bền vững và quyền công dân đã giải quyết CSR từ góc độ tập trung, trên hết
thông qua các công ty được coi là "công dân tốt." Đối với các chính phủ áp dụng mô hình này,
bao gồm các nước Áo, Bỉ, Pháp, Đức và Luxembourg, khái niệm ―công dân doanh nghiệp‖ cho
rằng các công ty không chỉ phải là công dân tốt thông qua các hoạt động minh bạch và tuân thủ
nghĩa vụ thuế, mà còn họ nên vượt qua điều này. Nó cũng đề cập đến các Nghĩa vụ của doanh
nghiệp liên kết trực tiếp với môi trường địa phương của họ và góp phần giải quyết các vấn đề xã
hội bằng cách hình thành quan hệ đối tác với các chủ thể khác trong xã hội. Một trong những đặc
điểm chính của mô hình tính bền vững và quyền lực là giá trị mà nó phân bổ cho các hành vi có
283
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
trách nhiệm xã hội của công ty, điều này chắc chắn góp phần thay đổi xã hội. Về cơ bản, khái
niệm chính đằng sau khái niệm này là cho các công ty hoạt động như các tác nhân xã hội chân
chính, với quyền công dân là chiến lược được thông qua để hỗ trợ hành động của họ trong lĩnh
vực này. Trong mô hình này, hành động của chính phủ chủ yếu thúc đẩy CSR và tạo ra các
khuyến khích để giúp các công ty đảm nhận trách nhiệm xã hội của họ. Khái niệm nền kinh tế thị
trường xã hội, cũng đáp ứng cùng một nguyên tắc, kết hợp tự do kinh tế và cá nhân với công
bằng xã hội - do đó tạo ra các thành phần trách nhiệm xã hội. Trong các chính phủ này, vai trò
của tập đoàn trong xã hội gần gũi hơn với các mục tiêu xã hội và chương trình nghị sự.
Các quốc gia xây dựng mô hình t nh bền vững và quyền công dân này nói chung đảm bảo
được phúc lợi xã hội tương đối ổn, dù trong những năm 1990, phải chịu tác động của khủng
hoảng kinh tế toàn cầu, tăng chi phí xã hội và hậu quả của già hóa dân số. Do đó, trong vài năm
qua, CSR đã được thêm vào cuộc tranh luận chính trị xung quanh mối lo ngại ngày càng tăng đối
với nền kinh tế của họ, thiếu sự cạnh tranh và đổi mới nhà nước phúc lợi. Tranh luận về CSR, do
đó, thường xuất phát từ chính các công ty. Các công ty này có thể tham gia lực lượng và tạo ra
các nền tảng, nơi họ có thể chia sẻ kinh nghiệm và thể hiện bản thân với một giọng nói duy nhất.
Các quốc gia được khai thác trong mô hình CSR này có truyền thống thảo luận công khai
lâu dài về các vấn đề phát triển bền vững, bắt đầu từ lâu trước khi xuất bản Sách xanh của Ủy
ban châu Âu (2001). Tuy nhiên, các chính quyền này bắt đầu chuyển sang CSR sau năm 2001.
Kinh nghiệm này về tranh luận công khai về môi trường, về cơ bản dựa trên những năm 1990,
coi các sáng kiến CSR là một phần của sự bền vững lâu dài. Trong số các quốc gia được đưa vào
theo mô hình này, Pháp xứng đáng được chú ý đặc biệt. Tại Pháp, CSR được thiết lập tốt trong
các hoạt động được chính phủ hỗ trợ tập trung vào phát triển bền vững. Nhiều đến nỗi, đôi khi,
những hoạt động như vậy dường như được chỉ đạo bởi chính quyền, cho thấy một cách tiếp cận
mang tính quy định hơn, phù hợp với định hướng rõ ràng tập trung hơn của nhà nước Pháp.
Trong những năm gần đây, các chính phủ này đã phát triển các chiến lược phát triển bền
vững quốc gia, coi vai trò của các công ty là điểm cơ bản trong phát triển bền vững, đổi mới và
khả năng cạnh tranh. Ở Áo, ví dụ DETE (2002) nhấn mạnh sự cần thiết của các doanh nghiệp để
xác định lại hình ảnh của họ liên quan đến trách nhiệm xã hội môi trường và đề xuất rằng cần
phải khám phá các hình thức hợp tác mới với chính phủ và các bên liên quan.
Ở các quốc gia này, các chính phủ đã thúc đẩy CSR thông qua hỗ trợ cho các tổ chức
kinh doanh và thông qua các sáng kiến chính trị cụ thể về thúc đẩy và nhận thức.
3. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở Mỹ
Người dân Mỹ không chỉ mong muốn doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận mà còn phải có
trách nhiệm đối với xã hội. Nguyên tắc của Ủy ban tuyên án Mỹ là giúp cho các tổ chức thực
hiện kỳ vọng này, điều này rất quan trọng cho sự phát triển của doanh nghiệp và duy trì lợi thế
cạnh tranh. Trong những năm gần đây, ngày càng có nhiều doanh nghiệp Mỹ tham gia vào báo
cáo CSR. Theo cơ sở dữ liệu Sáng kiến báo cáo toàn cầu (GRI), số công ty của Mỹ công bố báo
cáo CSR tăng từ 70 công ty năm 2007 lên tới 540 công ty năm 2012 (chiếm 12% các công ty báo
cáo CSR trên toàn cầu). Nhiều yếu tố thúc đẩy các doanh nghiệp Mỹ phân tích hoạt động kinh
doanh và đầu tư vào hoạt động bền vững bao gồm:
284
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
Thứ nhất các doanh nghiệp ở Mỹ xác định rõ vai trò quan trọng của lập báo cáo CSR.
Có thể kể đến các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định tham gia báo cáo CSR của các doanh nghiệp
của Mỹ bao gồm (workiva.com):
(i)
Các công ty phải minh bạch với các bên liên quan. Các bên liên quan bao gồm
các nhà đầu tư, khách hàng, nhà quản lý, tổ chức phi chính phủ, nhà cung cấp, phương tiện
truyền thông, nhân viên và cộng đồng. Đối thoại và chia sẻ thông tin với các bên liên quan một
cách mạnh mẽ để cung cố các mối quan hệ, danh tiếng và xây dựng niềm tin. Ví như các tổ chức
phi chính phủ (NGO) có thể hình thành mạnh lưới mạnh mẽ hơn bằng các hỗ trợ hành động tích
cực giữa các tổ chức kinh doanh. Cung cấp các chương trình giáo dục, hội nghĩ, hội thảo về CSR
hợp tác giữa các tổ chức kinh doanh, truyền thông, tổ chức phi chính phủ, chính quyền cộng
đồng và các trường đại học. Điều này góp phần tạo điều kiện phát triển và thực hiện CSR ở Mỹ.
(ii)
Một động lực khác để đầu tư vào báo cáo CSR là khả năng quản lý rủi ro trong
các hoạt động kinh doanh. Báo cáo CSR cung cấp cơ hội cho các tổ chức lập danh mục rủi ro
kinh doanh, theo dõi và công bố các số liệu liên quan và tử đó thể hiện quyết tâm của doanh
nghiệp trong việc giảm thiểu rủi ro;
(iii) Đây là cách chia sẻ thông tin nhiều hơn so với các báo cáo tài chính truyền thống.
Trước áp lực từ các bên liên quan mong đợi các công ty tiết lộ thông tin cung cấp chính xác khả
năng phát triển lâu dài, cũng như tác động của hoạt động của công ty ở nhiều lĩnh vực (không chỉ
là bảng cân đối), lập CSR là một cách thức chia sẽ thông tin nhiều hơn;
(iv)
Các báo cáo về sáng kiến CSR có thể mang lại cho doanh nghiệp lợi thế cạnh
tranh so với các doanh nghiệp khác. Nâng cao uy tín thương hiệu và tích hợp CSR tốt trong các
hoạt động kinh doanh giúp củng cố vị thế của công ty trên thị trường và tăng khả năng tiếp cận
các cơ hội kinh doanh mới
Thứ hai, hầu hết các doanh nghiệp của Hoa Kỳ tự do thừa nhận nghĩa vụ đạo đức và
trách nhiệm xã hội của họ.Williams (2010) định nghĩa trách nhiệm tự do là giả định rằng một
công ty sẽ tự nguyện phục vụ xã hội. Dịch vụ này vượt quá trách nhiệm kinh tế, pháp lý và thậm
chí là đạo đức. Hướng dẫn của Ủy ban tuyên án Hoa Kỳ dành cho các tổ chức ở Hoa Kỳ giúp tạo
điều kiện thuận lợi cho các mục tiêu đó. Hầu như tất cả các doanh nghiệp được bảo hiểm. Điều
này bao gồm các công đoàn lao động, quan hệ đối tác, các tổ chức và hiệp hội chưa hợp nhất, các
tổ chức thành lập, các tổ chức phi lợi nhuận, quỹ hưu trí, ủy thác và các công ty cổ phần. Hầu hết
các doanh nghiệp Hoa Kỳ đề cập đến chất lượng cuộc sống và giáo dục. Các doanh nghiệp Hoa
Kỳ có xu hướng không tham gia vào các vấn đề không liên quan trực tiếp đến hoạt động của họ.
Họ chú ý đến nghệ thuật, giáo dục, văn hóa và chất lượng cuộc sống. Các công ty Hoa Kỳ tập
trung vào các vấn đề liên quan đến sự thịnh vượng của cộng đồng. Họ bỏ qua sáng kiến liên kết
chặt chẽ với hoạt động sản xuất của họ (Maignan và Ralston, 2002).
Thứ ba, các doanh nghiệp ở Mỹ đề cao các nguyên tắc CRS. Doanh nghiệp Mỹ thường
cố gắng truyền tải hình ảnh có trách nhiệm xã hội và bản chất động lực hoạt động của công ty,
quy trình và các vấn đề được xem xét khi cố gắng vẽ chân dung quyền công dân doanh nghiệp
tốt. Các công ty của Mỹ sẵn sàng giải quyết các nguyên tắc, quy tình và vấn đề CSR nhiều hơn
285
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0
có với các công ty của Pháp hay Hà Lan, điều này đã được khẳng định trong nghiên cứu của
Maignan và Ralston (2002).
4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Dựa vào kinh nghiệm một số quốc gia trên thế giới có thể rút ra bài học kinh nghiệm cho
việc nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Việt Nam như sau:
Thứ nhất, Ch nh phủ cần quan tâm sát sao đối với việc thực hiện CSR của doanh nghiệp.
Chính phủ ban hành các chính sách hỗ trợ và thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện CSR hiệu quả.
Bên cạnh đó, với vai trò là người hỗ trợ, chính phủ tìm kiếm các cơ chế cung cấp các ưu đãi (cho
dù thông qua cái gọi là quy định mềm), để khuyến khích các hành động CSR của công ty hoặc
thông qua công cụ thuế. Việc xây dựng các dự án hợp tác cho các công ty tư nhân công cộng và
tư nhân, cùng nhau hoặc với khu vực thứ ba. khẳng định rằng các công ty nên cung cấp thông tin
CSR đầy đủ tuân thủ các nguyên tắc minh bạch về các vấn đề xã hội là hướng đi hiệu quả cần
được thực hiện.
Thứ hai, doanh nghiệp cần xác định rõ vai trò của CSR đối với chiến lược phát triển của
mình. Thực hiện CSR mang lại lợi ích cho doanh nghiệp như tiết kiệm chi phí, nâng cao năng
lực cạnh tranh, tích hợp CSR tốt trong các hoạt động kinh doanh giúp củng cố vị thế của công ty
trên thị trường và tăng khả năng tiếp cận các cơ hội kinh doanh mới, nhất là trong bối cảnh hội
nhập kinh tế thế giới hiện nay. Trước thực tế đó, doanh nghiệp cần chủ động cung cấp đầy đủ
thông tin CSR, tuân thủ các nguyên tắc minh bạch về các vấn đề xã hội.
Doanh nghiệp cần chú trọng con người và đào tạo đội ngũ kê thừa trong tương lai. Bên
cạnh đó, các doanh nghiệp phải xác định lại hình ảnh của họ liên quan đến trách nhiệm xã hội và
đề xuất rằng cần phải khám phá các hình thức hợp tác mới với chính phủ và các bên liên quan.
Thường xuyên đối thoại và chia sẻ thông tin với các bên liên quan một cách mạnh mẽ để củng cố
các mối quan hệ, danh tiếng và xây dựng niềm tin cho khách hàng và cho cộng đồng.
Thứ ba, cần phải xem thực hiện CSR là một phần không thể tách rời trong chiến lược
phát triển bền vững. CSR đặc biệt nhấn mạnh tới vấn đề bảo vệ môi trường và giảm tiêu thụ tài
nguyên. Cần ban hành các chính sách quy định chặt chẽ về vấn đề bảo vệ môi trường. Doanh
nghiệp Việt Nam không thể nào bước ra thế giới nếu không có tư cách là ―công dân doanh
nghiệp toàn cầu‖. Muốn được như vậy cần coi các sáng kiến CSR là một phần của sự bền vững
lâu dài. Như trường hợp của Pháp xứng đáng được chú ý đặc biệt. Tại Pháp, CSR được thiết lập
tốt trong các hoạt động được chính phủ hỗ trợ tập trung vào phát triển bền vững. Cần thúc đẩy
đầu tư sản xuất kinh doanh gắn liền với tiết kiệm năng lượng, bảo vệ môi trường, góp phần làm
cho cuộc sống của người dân tốt đẹp hơn.
Tài liệu tham khảo
1. Almerinda Forte (2013), Corporate Social Responsibility In The United States And Europe:
How Important Is It? The Future Of Corporate Social Responsibility, International Business
& Economics Research Journal – July 2013 Volume 12, Number 7
286
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0
2. Chin Chen Yeh, Fengyi Lin, Teng Shih Wang, Chia Ming Wu (2019), Does corporate social
responsibility affect cost of capital in China?, Asian pacific management Review
3. Laura Albareda và cộng sự (2007), Public Policies on Corporate Social Responsibility: The
Role of Governments in Europe, Journal of Business Ethics 74:391-407
4. Maignan, I. and Ralston, D.A.( 2002). Corporate Social Responsibility in Europe and the
U.S.: Insights from Businesses‘ Self-Presentations. Journal of International Business Studies,
33:497-514.
5. Thomas Thomas (2009), CSR Singapore style, Social Space 54-55. Cocial space
6. Williams, C. (2010). MGMT. USA, Thomson South- Western.
287
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới. bài học kinh nghiệm cho doanh nghiệp Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nang_cao_trach_nhiem_xa_hoi_cua_doanh_nghiep_o_mot_so_quoc_g.pdf

