Đề xuất ứng dụng công nghệ phát triển chuỗi cung ứng nông sản từ đồng bằng sông Cửu Long đến Thành phố Hồ Chí Minh

Working Paper 2022.1.2.15  
- Vol 1, No 2  
ĐỀ XUẤT ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ PHÁT TRIỂN CHUỖI CUNG ỨNG  
NÔNG SẢN TỪ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG ĐẾN  
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
Phạm Trần Trúc Mai; Trần Nguyễn Ngọc Anh; Nguyễn Huỳnh Diệp Quyên1  
Sinh viên K59CLC - Kinh tế đối ngoại  
Trần Đức Trí  
Sinh viên K59E - Kinh tế đối ngoại  
Cơ sở II Trường Đại học Ngoại thương tại TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam  
Nguyễn Thị Phương Chi  
Giảng viên Bộ môn Kinh doanh - Thương mại quốc tế  
Cơ sở II Trường Đại học Ngoại thương tại TP. Hồ Chí Minh, Việt Nam  
Tóm tắt  
Chuỗi cung ứng nông sản tại Việt Nam nói chung và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long nói  
riêng có nhiều điểm mạnh và tiềm năng phát triển, tuy nhiên còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế chưa  
được giải quyết triệt để. Những biến động từ thị trường trong thời gian qua đã cho thấy rõ hơn  
mặt yếu kém trong việc liên kết các chủ thể tham gia chuỗi, dẫn đến hàng loạt các hậu quả  
nghiêm trọng, đặc biệt là vấn đề đứt gãy chuỗi cung ứng nông sản trong bối cảnh dịch COVID-  
19 vừa qua. Nhận thấy những lợi ích to lớn cũng như cơ hội từ việc áp dụng ứng dụng công nghệ  
hiện đại, cần thiết phải có một ứng dụng mà tại đó thông tin được tổng hợp một cách đồng bộ và  
chính xác từ hai bên nguồn cung và nguồn cầu; liên kết được thông tin về nhu cầu vận chuyển  
hàng hóa cả đường đi và đường về. Có như thế, tính hiệu quả, đồng bộ cũng như minh bạch  
trong chuỗi cung ứng hiện tại mới được nâng cao, điều này góp phần gia tăng giá trị của ngành  
cũng như cải thiện hình ảnh nông sản Việt trong nội địa cũng như thị trường quốc tế trong tương  
lai.  
Từ khóa: Chuỗi cung ứng nông sản ngắn, ĐBSCL, nông sản, HTX/TL, ứng dụng.  
A PROPOSAL FOR THE TECHNOLOGICAL APPLICATION IN  
DEVELOPING THE AGRICULTURAL SUPPLY CHAIN  
FROM MEKONG RIVER DELTA TO HO CHI MINH CITY  
Abstract  
The agricultural supply chain in Vietnam in general and Mekong River Delta in particular has an  
abundance of strengths and potential developments, however, it also reveals various weaknesses  
that are not solved properly. The recent market fluctuations have clearly demonstrated the  
1
Tác giả liên hệ, Email: [email protected]  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (02/2022) | 208  
 
shortcomings in the connection among involved parties in this agricultural supply chain, which  
leads to a mass of severe consequences, especially the disruption in the agricultural supply chain  
during the COVID-19 pandemic. Realizing the great benefits as well as opportunities from the  
application of modern technology, it is necessary to have an application where information is  
synchronously and accurately aggregated from both sides of the supplier and essential source of  
demand; disseminate the information of transportation needs on both routes. As a result, the  
effectiveness, synchronization as well as the transparency of the current supply chain are  
enhanced, which contributes to increasing the industry’s value, along with improving the image  
of Vietnamese agricultural products in the domestic as well as international markets in the future.  
Keywords: Short Food Supply Chains, Mekong river delta, agricultural products, co-  
operative/monger, application.  
1. Lời mở đầu  
Việt Nam là một đất nước đi lên từ nền nông nghiệp thô sơ, lạc hậu. Trong những năm trở  
lại đây, nền nông nghiệp Việt Nam đã chứng kiến sự tăng lên đáng kể về năng suất cũng như  
sản lượng các loại mặt hàng nông thủy sản chủ lực như lúa gạo, cà phê, cao su, cá tra, tôm sú,...  
Đóng góp cho những thành tựu này không thể không nhắc đến vai trò to lớn của khu vực Đồng  
bằng sông Cửu Long - trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất cả nước, đóng góp khoảng  
90% sản lượng gạo, 65% sản lượng thủy sản và 70% sản lượng trái cây cho xuất khẩu cả nước  
(Báo Nhân dân, 2021). Trong những năm gần đây, khu vực ĐBSCL đã cho thấy sự chuyển  
dịch cơ cấu sản xuất, tập trung hướng đến đầu tư về mặt cơ chế, chính sách hỗ trợ cũng như  
những ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại mới cho một số mặt hàng nông sản có  
thế mạnh. Đến cuối năm 2017, diện tích rau màu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản  
xuất tăng mạnh lên đến 230 nghìn ha với sản lượng hơn 4 triệu tấn, diện tích cây ăn trái toàn  
khu vực cũng tương tự, đạt gần 300 nghìn ha với sản lượng gần 4 triệu tấn/năm (Bộ  
NN&PTNT, 2020).  
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền nông nghiệp Việt Nam nói chung  
và ĐBSCL nói riêng đã và đang phải đối mặt với không ít những khó khăn, thách thức. Cụ thể,  
chuỗi cung ứng nông sản từ ĐBSCL đến TPHCM còn tồn tại nhiều điểm hạn chế lớn như  
chuỗi cung ứng dài gồm nhiều khâu, đối tượng trung gian tham gia làm chi phí bị độn lên rất  
cao; quy mô sản xuất người nông dân còn manh mún, nhỏ lẻ, chưa có sự hợp tác hiệu quả giữa  
các chủ thể tham gia giai đoạn sản xuất nông sản; sự phụ thuộc quá nhiều vào hệ thống thương  
lái dẫn đến tình trạng bị ép giá, gây nên sự bất hợp lý trong quá trình phân chia lợi nhuận cho  
các chủ thể tham gia trong chuỗi,.. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông, cơ sở hạ tầng còn thấp  
khiến cho khâu vận chuyển nông sản vẫn còn nhiều điểm nút cần tháo gỡ để tối ưu hóa đường  
đi cũng như chi phí vận chuyển. Tất cả những vấn đề này càng trở nên trầm trọng hơn trong  
bối cảnh dịch bệnh Covid-19, khi vấn đề cung cấp lương thực, thực phẩm cho cả thành phố là  
vô cùng cấp bách.  
Hiện nay, chuyển đổi số luôn được khẳng định là một xu thế tất yếu cho mọi ngành hàng.  
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao - Bùi Thanh Sơn nhấn mạnh nông nghiệp là một trong tám lĩnh vực  
ưu tiên chuyển đổi số trong “Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng  
đến năm 2030”. Chính vì lẽ đó, điều cấp thiết hiện tại là ngành nông nghiệp cần thực hiện số  
hóa trong khâu sản xuất và ứng dụng thương mại điện tử, sử dụng các kỹ thuật quản lý trong  
chuỗi cung ứng, từ đó có thể mang lại lợi ích cho các chủ thể tham gia (Trần Chí Dũng, 2021).  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (02/2022) | 209  
Mặc dù có những thành công nhất định nhưng tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam vẫn còn  
nhiều tồn tại, [..] hoặc do tăng lượng lao động thô mà không phải là do tối ưu hóa các nguồn  
lực sản xuất hay ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất (Barker, Ringler, Nguyen, &  
Rosegrant, 2004; Huynh & Le, 2010; Nguyen & Goletti, 2001; Vu, 2009).  
Cho đến thời điểm hiện tại, có khá nhiều những khó khăn tồn tại trong nền nông nghiệp,  
tuy nhiên cho riêng vùng châu thổ ĐBSCL lại không nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu,  
học tập chuyên sâu để giải quyết. Theo đó, cần thiết cần phải có một giải pháp mang tính ứng  
dụng thực thi cao, có khả năng lan rộng, đánh dần vào nhận thức của từng các chủ thể tham gia  
chuỗi, khuyến khích, hỗ trợ thay đổi tư duy, tận dụng những thế mạnh nguồn lực hiện có để  
đảm bảo một nền nông nghiệp mang tính hiệu quả, năng suất và chất lượng hơn. Vì vậy, bài  
nghiên cứu này viết ra với mục đích đào sâu và đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm mang  
lại sự phát triển lâu dài cho nền nông nghiệp khu vực ĐBSCL.  
2. Tổng quan về cơ sở lý thuyết  
2.1. Chuỗi cung ứng nông sản ngắn (Short Food Supply Chains - SFSC)  
Trong bài nghiên cứu, nhóm tác giả phân tích những nhân tố ảnh hưởng đến chuỗi cung  
ứng ngắn (SFSC), vì mục đích nghiên cứu nhằm đề xuất giải pháp rút ngắn chuỗi cung ứng  
nông sản từ ĐBSCL đến TP. HCM.  
Chuỗi cung ứng nông sản ngắn (SFSC) là một chuỗi cung ứng có ít trung gian tham gia,  
đôi khi người sản xuất phân phối sản phẩm trực tiếp tới tay người tiêu dùng, việc sản xuất và  
phân phối được diễn ra trên một phạm vi địa lý nhất định (Luane và cộng sự, 2018).  
Sự phát triển đa dạng trong SFSC đã đạt được nhiều thành tựu đáng chú ý, có thể kể đến  
nhận thức của người tiêu dùng, khả năng sẵn sàng chi trả cũng như hiệu ứng tích cực trong  
hành vi của người nông dân. Thực tế, SFSC (bán hàng từ nhà vườn hay nền nông nghiệp được  
cộng đồng hỗ trợ) đã được nghiên cứu rộng rãi (Kneafsey et al., 2013), thu hút nhiều sự quan  
tâm và hỗ trợ học thuật (Moustier and Loc, 2013; Renting, 2003; Marsden et al., 2000).  
Theo nghiên cứu, SFSC có 3 loại: chuỗi trực tiếp là chuỗi người sản xuất bán trực tiếp  
nông sản cho người tiêu dùng cuối cùng; chuỗi ngắn về khoảng cách không gian là chuỗi bán  
trong phạm vi gần hay tại địa phương của người sản xuất; chuỗi ngắn mở rộng là chuỗi thông  
qua các cửa hàng bán đặc sản địa phương hoặc cửa hàng bán sản phẩm hữu cơ (không tính  
phạm vi xa/gần) để bán cho người tiêu dùng (Marsden và cộng sự, 2000; Renting và cộng sự,  
2003).  
SFSC góp phần tăng cường sự tin tưởng xã hội, làm thay đổi và gắn kết giữa các chủ thể  
trong chuỗi. Ngoài ra, chuỗi đóng vai trò đáng kể trong sự tăng trưởng đối với nhu cầu chăm  
sóc sức khỏe bằng việc giảm thiểu các hóa chất, gia tăng chất lượng sản phẩm và đảm bảo tính  
công bằng cho các chủ thể (F. Galli và Brunori, 2013; Gunnar và cộng sự, 2019; Agata, 2019;  
Lucian, 2015; Tanasa (2015); Irene, 2016).  
2.1.1. Các thành phần cơ bản trong chuỗi  
Dựa vào các nghiên cứu, chuỗi cung ứng bất kỳ gồm 3 thành phần cơ bản: gồm hệ thống  
các thực thể và các kết nối giữa các thành viên trong chuỗi (Lambert, 1998); hay gồm toàn bộ  
con người, những vật thể hoặc sự kiện được gọi là các thành tố hoặc các nút (Một định nghĩa  
khác của Harland, 1996).  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (02/2022) | 210  
● Nhà cung cấp được xem như một thành viên bên ngoài - có năng lực sản xuất không  
giới hạn (Huỳnh Thị Thu Sương, 2012).  
● Nhà cung cấp dịch vụ là những tổ chức cung cấp dịch vụ cho nhà sản xuất, nhà phân  
phối, nhà bán lẻ và khách hàng. Nhà cung cấp dịch vụ có những chuyên môn và kỹ năng đặc  
biệt ở một hoạt động riêng biệt trong chuỗi cung ứng. Chính vì thế, họ có thể thực hiện những  
dịch vụ này hiệu quả hơn và với mức giá tốt hơn so với chính các nhà sản xuất, nhà phân phối,  
nhà bán lẻ hay người tiêu dùng làm điều này (Nguyễn Thị Huyền, 2021).  
● Nhóm tiêu thụ: Những khách hàng hay người tiêu dùng là những người mua và sử dụng  
sản phẩm (Huỳnh Thị Thu Sương, 2012).  
2.1.2. Kênh phân phối  
Dòng sản phẩm/dịch vụ (còn được gọi là dòng chảy vật lý – Physical Flow) là dòng chảy  
không thể thiếu trong chuỗi, đi từ các nhà cung cấp đầu tiên đến người tiêu dùng (end to end)  
(Christopher, 2006). Hình thức tổ chức sản xuất chính trong nông nghiệp ở Việt Nam là nông  
hộ, chiếm 90% tổng diện tích sản xuất nông nghiệp (Nhóm Ngân hàng Thế giới, 2016).  
Nguồn: SCAP-IPSARD, 2021  
2.2. Mặt hàng nông sản  
2.2.1. Khái niệm  
Nông sản là những sản phẩm hoặc bán thành phẩm của ngành sản xuất hàng hóa thông qua  
việc gây trồng và sự phát triển của cây trồng. Nông sản hàng hoá (cash crops) là khái niệm  
dùng để chỉ các loại nông sản mà người nông dân sản xuất ra với mục đích bán ra thị trường.  
Theo Hiệp định về Nông nghiệp (Agreement on Agriculture) của WTO năm 2009, sản  
phẩm nông sản bao gồm các loại hàng hóa có nguồn gốc từ hoạt động nông nghiệp như: (1) các  
sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúa gạo, bột mì, sữa, động vật sống, cà phê, hồ tiêu, hạt điều,  
chè, rau quả tươi,vv… (2) Các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, bơ, dầu ăn, thịt,… (3) Các  
sản phẩm được chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như bánh kẹo, sản phẩm từ sữa, xúc xích,  
rượu, thuốc lá, bông xơ, da động vật thô,…  
2.2.2. Đặc điểm mặt hàng nông sản tươi  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (02/2022) | 211  
Đối với người tiêu dùng ở thị trường châu Á, tươi gần như đề cập tới thực/động vật sống.  
Những sản phẩm được dự trữ trong 1 giai đoạn đều khiến cho chúng không còn là “tươi”  
(Figuié, 2004).  
Nông sản cung ứng có rõ tính chất thời vụ, chất địa phương, vùng. Thêm vào đó, nông sản  
dễ hư hỏng và do sản xuất công nghiệp, nông sản có nguy cơ nhiễm dư lượng kháng sinh,  
thuốc bảo vệ thực vật, làm giảm chất lượng nông sản và làm mất an toàn thực phẩm (Đoàn  
Tranh, 2020)  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Thu thập dữ liệu  
Trong quá trình nghiên cứu, nhóm đã sử dụng các nguồn thông tin sơ cấp và thứ cấp để  
làm cơ sở cho bài viết. Về nguồn thông tin sơ cấp, nhóm nghiên cứu đã tiến hành thực hiện  
khảo sát, phỏng vấn sâu với các đối tượng liên quan đến chuỗi cung ứng nông sản từ ĐBSCL  
đến TP. HCM bao gồm HTX/TL, chủ phương tiện vận tải nông sản và các chủ cửa hàng bán  
nông sản ở TP.HCM. Cụ thể, nhóm nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn trực tiếp 13 đại diện  
liên minh các HTX nông nghiệp qua Zalo và 30 tài xế xe tải hoạt động ở các nhóm Facebook  
(Xe tải tìm hàng, Hội anh em xe tải miền nam,...) thông qua các cuộc gọi điện trực tiếp. Đối  
với các chủ cửa hàng, sạp bán nông sản ở TP. HCM, nhóm đã thu về 32 mẫu đơn khảo sát  
online và phỏng vấn sâu qua điện thoại. Những thông tin với các đối tượng trên là nguồn thông  
tin đầu vào quan trọng để phân tích được những vấn đề đang tồn tại. Ngoài ra, nhóm nghiên  
cứu còn thu thập các thông tin thứ cấp về thực trạng chuỗi này thông qua các báo cáo, thống kê  
từ các cơ quan ban ngành Nhà nước.  
3.2. Phân tích dữ liệu  
Sau khi tổng hợp được thông tin khảo sát trực tiếp qua điện thoại đối với Chủ tịch/Phó  
Chủ tịch Liên minh HTX và các người tài xế xe tải, các form khảo sát online đối với chủ cửa  
hàng, nhóm nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thống kê để tổng hợp và phân loại các thông  
tin theo cùng một nhóm. Sau khi được thống kê và tổng hợp, thông tin được nhóm nghiên cứu  
rút ra nhận xét bằng phương pháp mô tả.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Thực trạng quá trình vận chuyển nông sản từ ĐBSCL đến TP. HCM  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (02/2022) | 212  
● Khảo sát các tài xế chạy xe tải chở nông sản ở khu vực ĐBSCL  
STT  
Các tiêu chí  
Kết quả  
12/30 (40%) chỉ chở hàng nông sản.  
9/30 (30%) chỉ chở hàng công nghiệp.  
Còn lại chở luân chuyển cả hai  
Tỷ lệ tài xế chạy chở  
nông sản  
1
6/30 (20%) qua các mối quen  
Nguồn tìm đơn hàng  
vận tải  
12/30 (40%) qua trung gian môi giới  
9/30 (30%) chạy cố định cho các công ty vận tải  
Còn lại tìm qua các group kết nối vận tải online  
2
Tỷ lệ tài xế khó tìm  
được đơn hàng  
70% gặp khó khăn  
30% khá ổn định do chạy cố định cho các công ty  
3
4
5
Tỷ lệ xe bị rỗng chiều  
về  
29/30 (96.7%) xe rỗng chiều về  
Còn lại nhận chở hàng về cho các mối quen ở ĐBSCL  
Thời gian để tài xế tìm  
hàng lấp đầy xe ở chiều thông tin nhu cầu hàng đồng thời cũng đăng bài viết lên các  
2-3 tiếng (tài xế gọi điện một số bên quen biết để tìm kiếm  
về  
hội nhóm Facebook nhưng kết quả mang lại còn thấp)  
56.6% đồng ý tham gia và có khả năng trả phí ở mức vừa  
phải (2% - 3% giá trị đơn hàng)  
33.3% sẽ không tham gia vì đã có nguồn hàng chạy sẵn  
10% không tham gia vì các lý do khác  
Tỷ lệ sẵn sàng tham gia  
các sàn giao dịch vận  
tải  
6
Các mong muốn của tài  
xế khi tham gia sàn  
giao dịch vận tải  
Phí dịch vụ ở mức hợp lý (2-3%)  
Số lượng chuyến ghép phải nhiều  
Có nhiều chính sách, điều khoản bảo vệ lợi ích của tài xế  
7
8
Đánh giá mô hình ứng  
dụng  
66.7% đánh giá tính khả thi cũng như tiềm năng của ứng  
dụng  
Bảng 1. Kết quả phỏng vấn sâu các tài xế chạy ở ĐBSCL  
Nguồn: Nhóm tác giả nghiên cứu  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (02/2022) | 213  
Theo như kết quả khảo sát đối với 30 tài xế chạy xe tải ở khu vực ĐBSCL, những vấn đề  
về tìm kiếm các chủ hàng là vô cùng khó khăn đặc biệt trong tình trạng Covid-19. 70% các tài  
xế được phỏng vấn cho rằng họ tìm được các nguồn hàng nhận chở qua trung gian (người quen,  
môi giới,..). Chính vì thông qua những trung gian không ổn định và nhất thời như vậy nên việc  
có được nguồn hàng ổn định là vô cùng khó và đặc biệt trong tình trạng xã hội giãn cách như  
hiện tại. Ngoài ra, khi đã đến TP. HCM, ở chiều về tài xế do thiếu các nguồn liên kết thông tin  
nên cũng gặp khó khăn trong việc tìm hàng chiều về. Cụ thể, 29/30 (~96,7%) tài xế trả lời  
phỏng vấn cho rằng việc rỗng chiều về là không thể tránh khỏi. Trên thực tế, các cá nhân được  
phỏng vấn cho rằng họ mất khoảng 2-3 tiếng để có thể kết nối với số lượng ít hàng chiều về  
thông qua điện thoại cho các bên quen biết). Điều này đã không tối ưu được tần suất sử dụng  
xe tải cũng như chi phí logistics.  
Ngoài ra, theo Thời Báo Tài Chính Việt Nam (2017), các chi phí khiến giá cước vận tải  
đường dài cao là nhiên liệu (chiếm 35 - 50%), nhân công (chiếm 15 - 20%), phí cầu đường, vật  
tư phụ tùng,... Quy mô của các doanh nghiệp vận tải nhỏ, không tổ chức được mạng lưới kinh  
doanh liên kết, không có kênh thông tin để trao đổi, nên tỷ lệ xe chạy rỗng cao và hệ số lợi  
dụng trọng tải thấp. Vì vậy, trong các nhóm tài xế trên Facebook, đến khoảng 60% là bài viết  
về nhu cầu ghép chuyến với nhau (nhóm tác giả nghiên cứu). Từ đây, có thể thấy có một nhu  
cầu lớn về liên kết thông tin.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (02/2022) | 214  
4.2. Thực trạng mua bán nông sản của các HTX ở ĐBSCL  
● Khảo sát các Chủ tịch/Phó Chủ tịch liên minh HTX nông nghiệp ở khu vực Đồng  
bằng sông Cửu Long  
STT  
Các tiêu chí  
Kết quả thu được  
Lúa gạo, khoai, chanh, các loại trái cây (khóm, mãng  
cầu, mít, xoài,..)  
1
Loại nông sản sản xuất chính  
Thông qua thương lái là chính  
2
3
Kênh thu mua nông sản chính  
Còn lại là các doanh nghiệp thu mua theo hợp đồng  
Tính nghiêm trọng của tình  
trạng ép giá của thương lái đối  
với người nông dân  
85% đồng ý vẫn còn tình trạng ép giá mặc dù đã  
được các liên minh HTX đã giúp đỡ bằng cách giới  
thiệu cho những kênh tiêu thụ khác.  
Rất hạn chế mặc dù đã được các liên minh HTX tập  
huấn phương thức bán hàng trên mạng, trên sàn giao  
dịch thương mại  
Khả năng sử dụng công nghệ  
của các HTX  
4
5
Có 2 loại thương lái:  
Vai trò của thương lái trong  
chuỗi cung ứng nông sản  
- Thu mua về tự chế biến và tìm nguồn tiêu thụ  
- Thu mua về bán lại cho doanh nghiệp, cho các  
thương lái tại chợ đầu mối (chủ yếu)  
Hầu hết là xe tải (92%)  
Phương tiện vận chuyển nông  
sản  
6
7
Ghe, tàu cho mặt hàng lúa, gạo (đội ghe lớn ở tỉnh  
An Giang)  
Hầu hết các thương lái lớn có phương tiện vận tải  
riêng  
Cách thức vận chuyển nông sản  
Các HTX không có phương tiện riêng, phải thuê các  
mối xe quen nếu lượng hàng lớn, nếu lượng hàng ít  
thì gửi chành xe  
Bảng 2. Kết quả khảo sát liên minh HTX tại các tỉnh  
Nguồn: Nhóm tác giả nghiên cứu  
Thực tế khảo sát các đại diện liên minh HTX tại 13 tỉnh khu vực ĐBSCL cho thấy 85%  
người nông dân bán hàng nông sản của mình qua các thương lái. Mặc dù liên tục bị các trung  
gian thương lái ép giá để hưởng lợi cho mình nhưng người nông dân vẫn duy trì thói quen bán  
qua cho các thương lái này. Trong những năm gần đây, đại diện HTX cho rằng họ đã có những  
biện pháp để thúc đẩy sự chủ động của người dân trong việc tìm đầu ra cho các loại nông sản  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (02/2022) | 215  
của mình. Tuy nhiên, tính ứng dụng của các giải pháp chưa thực sự cho thấy sự thay đổi rõ rệt.  
Nguyên nhân phần chính là do tập tính lâu đời của người dân nơi đây khó có thể thay đổi  
nhanh chóng và hiệu quả. Đối với hình thức vận chuyển nông sản, đại diện của HTX cho rằng  
92% các loại nông sản được vận chuyển bằng xe tải đối với các loại nông sản ngắn ngày. Việc  
tìm kiếm phương tiện vận tải cho chuyến hàng của mình không gặp khó khăn. Thương lái lớn  
thường có sẵn đội xe riêng của mình. Còn về các thương lái nhỏ và HTX, với lượng hàng lớn,  
họ sẽ thuê ngoài những mối quen; với lượng hàng nhỏ sẽ gửi chành xe. Tuy nhiên, xét về  
hướng lâu dài, họ đều mong muốn có thể tiếp cận được nhiều sự lựa chọn hơn về giá cước  
cũng như loại xe phù hợp với mặt hàng nông sản của mình.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (02/2022) | 216  
4.3. Thực trạng mua bán nông sản của các cửa hàng, sạp bán lẻ tại TP. HCM  
● Khảo sát qua form đối với các cửa hàng, sạp bán nông sản ở TP. HCM  
STT  
1
Các tiêu chí  
Kết quả  
60.6% là chủ quầy, sạp bán nông sản tại chợ  
27.3% là chủ cửa hàng bán lẻ nông sản tại khu dân cư  
Còn lại là chủ cửa hàng bán sỉ nông sản, gánh bán ngoài đường,  
công ty thu mua và kinh doanh nông sản, chủ bán hàng tại nhà  
Đối tượng tham  
gia khảo sát  
63.6% mua từ chợ đầu mối, cửa hàng bán sỉ nông sản  
27.3% mua qua trung gian (thương lái)  
6.1% mua trực tiếp từ người nông dân/HTX  
Còn lại là trồng tại nhà  
Nguồn nông sản  
đầu vào  
2
3
66.7% người khảo sát sử dụng phương tiện vận tải riêng đến nơi  
thu mua  
18.2% người khảo sát được bên bán gửi hàng trực tiếp đến (tiền  
hàng bao gồm cước xe)  
9.1% người khảo sát được bên bán gửi hàng trực tiếp đến (tiền  
hàng không bao gồm cước xe)  
Vận chuyển  
nông sản  
6.1% người khảo sát thuê xe để chở hàng về  
54.5% không rành lắm, chỉ biết cơ bản trong việc sử dụng điện  
thoại thông minh và các ứng dụng công nghệ  
39.4% khá rành trong việc sử dụng điện thoại thông minh và các  
ứng dụng công nghệ  
Khả năng sử  
dụng công nghệ  
4
5
6.1% không có điện thoại thông minh  
57.6% Có, sẵn sàng tham gia nếu nền tảng cung cấp lượng thông  
tin chất lượng và thu phí tham gia phù hợp  
39.4% Không, vẫn ưa chuộng lấy hàng từ các bên mối trung gian  
hoặc các chợ đầu mối  
Đánh giá mô  
hình ứng dụng  
3% Sẽ tham gia nếu có điện thoại thông minh  
57.6% cho rằng khó thỏa thuận, liên hệ để mặc cả giữa các bên  
54.5% cho rằng nguồn cung hiện tại vẫn đề xuất giá hấp dẫn hơn  
48.5% lo ngại các thao tác trên ứng dụng sẽ phức tạp  
45.5% lo ngại nguồn cung không ổn định  
Khó khăn đối  
với mô hình sử  
dụng ứng dụng  
6
39.4% lo ngại ảnh hưởng tới lợi nhuận  
Bảng 3. Kết quả khảo sát qua form đối với cửa hàng bán nông sản ở TP. HCM  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (02/2022) | 217  
Nguồn: Nhóm tác giả nghiên cứu  
Trong quá trình khảo sát 33 cửa hàng bán nông sản ở TP. HCM, 63.6% cho biết họ nhập  
lượng hàng bán hàng ngày qua chợ đầu mối để mua hàng về bán và 27.3% là thông qua trung  
gian (thương lái). Vì các đối tượng điền form khảo sát ở TP. HCM - nơi có công nghệ phát  
triển nên phần lớn chủ cửa hàng có khả năng sử dụng các nền tảng công nghệ trong quá trình  
mua hàng hóa online. Ngoài ra, khi được hỏi về lý do tại sao không mua nông sản trực tiếp từ  
người nông dân, 57.6% cho rằng khó thỏa thuận, liên hệ để mặc cả giữa các bên, 54.5% cho  
rằng nguồn cung hiện tại vẫn đề xuất giá hấp dẫn hơn, hay thay đổi giá trong quá trình bán,  
48.5% lo ngại các thao tác trên ứng dụng sẽ phức tạp, còn lại là các lo ngại về sự ổn định của  
nguồn cung và tiền phí sử dụng ứng dụng.  
4.4. Điểm mạnh và điểm yếu của chuỗi cung ứng nông sản truyền thống từ ĐBSCL đến  
TP. HCM  
Từ những dữ liệu thu thập được ở trên, có thể rút ra một số nhận xét về chuỗi cung ứng  
nông sản từ ĐBSCL đến TP. HCM như sau:  
4.4.1. Điểm mạnh  
Thứ nhất, hệ thống tổ chức của chuỗi cung ứng truyền thống đang diễn ra theo đúng tập  
quán xưa nay của các chủ thể, có sự phân chia nhiệm vụ rõ ràng, và mỗi chủ thể đều có nhiều  
kinh nghiệm trong thực hiện nhiệm vụ đó, tối đa hóa năng suất của mình.  
Thứ hai, các chủ thể tham gia chuỗi hầu hết đều nhận thức được tầm quan trọng cũng như  
lợi ích to lớn của việc ứng dụng công nghệ trong đời sống. Bên cạnh đó là các chủ trương,  
chính sách của nhà nước đối với việc thúc đẩy nhanh quá trình áp dụng công nghệ vào đời  
sống hằng ngày của mỗi người dân cũng là một nền tảng vững chắc để các chủ thể có thể dễ  
dàng bắt kịp xu thế, yêu cầu mới.  
4.4.2. Điểm yếu  
Thứ nhất, chuỗi cung ứng nông sản dài, gồm nhiều khâu trung gian dẫn đến tình trạng giá  
nông sản bị độn lên nhiều lần, trong khi giá mua tại vườn không cao. Trên thực tế, gần 90%  
đối tượng thu mua của hộ nông dân là hệ thống các thương lái, điều này dẫn đến sự bất hợp lý  
trong việc phân chia lợi nhuận các chủ thể tham gia chuỗi, trong đó người nông dân luôn luôn  
là đối tượng chịu thiệt thòi nhiều nhất. Cụ thể, người nông dân thường xuyên phải chịu tình  
trạng bị ép giá nặng nề bởi thương lái. Nhưng hậu quả lớn nhất chính là sự gia tăng rất lớn chi  
phí thương mại trong các khâu trung gian trong chuỗi dẫn đến hàng hóa khi đến tay người tiêu  
dùng cuối cùng bị độn lên từ 3-4 lần so với giá gốc được mua tại nhà vườn. Nếu xét đến tình  
hình thị trường hiện nay, khi Việt Nam đã là quốc gia tham gia ký kết các FTA thế hệ mới như  
CPTPP, EVFTA,.. thì Việt Nam phải chấp nhận cam kết không bảo hộ và tuân thủ theo các  
tiêu chuẩn của các quốc gia thành viên và thị trường thế giới. Chính xu hướng này đã đặt ra  
yêu cầu cao hơn cho nền nông nghiệp Việt Nam phải chấp nhận cạnh tranh công bằng với các  
mặt hàng ngoại nhập ở thị trường trong nước. Nếu nông sản Việt mất đi ưu thế về giá như vậy,  
khả năng cao là các mặt hàng do chính người Việt sản xuất sẽ “thua trận” ngay trên chính sân  
nhà của mình. Bên cạnh hậu quả về mặt chi phí, chính việc có quá nhiều trung gian tham gia  
vào chuỗi đã khiến cho quá trình truy xuất nguồn gốc sản phẩm gặp nhiều cản trở, điều này  
dẫn đến tính minh bạch cũng như tính hệ thống của dữ liệu thông tin về hàng hóa trên thị  
trường gặp phải nhiều bất cập.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (02/2022) | 218  
Về nỗ lực từ Nhà nước, cũng đã có nhiều biện pháp được đề ra để thúc đẩy mô hình chuỗi  
cung ứng nông sản ngắn, bao gồm một số văn bản chính sách quan trọng như Quyết định số  
23/QĐ-TTg, Nghị định 98/2018/NĐ-CP,... Tuy nhiên, việc thực thi còn gặp nhiều bất cập khi  
vấn đề này còn chưa được chú trọng đầu tư và thiếu cơ quan đứng ra chịu trách nhiệm quản lý.  
Thứ hai là sự thiếu liên kết thông tin giữa bên sản xuất là các hộ nông dân/HTX với thị  
trường. Bên cạnh việc chú trọng đầu tư vào khâu sản xuất, các hộ nông dân/HTX vẫn chưa  
thực sự nhận thức rõ được tầm quan trọng của việc nắm bắt được các tín hiệu từ thị trường để  
từ đó định hướng sản xuất theo đúng nhu cầu của thị trường về cả chất lượng và số lượng. Điều  
này dẫn đến tình trạng dễ thấy là những thông điệp “giải cứu nông sản” xảy ra hằng năm theo  
chu kỳ mà không có bất kỳ một giải pháp toàn diện và đồng bộ nào được thực hiện. Tình trạng  
“được mùa rớt giá, được giá mất mùa” gây ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập người nông dân  
cũng như hình ảnh nông sản Việt trong mắt người tiêu dùng nội địa và cả thị trường xuất khẩu.  
Thứ ba, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong định hướng sản xuất và kết nối cung -  
cầu trong chuỗi cung ứng hiện nay còn rất hạn chế mặc dù đa số các liên minh HTX đã được  
tập huấn phương thức bán hàng trên mạng và các sàn giao dịch thương mại điện tử. Nguyên  
nhân chủ yếu là do tập quán xưa nay chỉ chăm lo sản xuất, việc tiếp cận với các thiết bị công  
nghệ gặp nhiều khó khăn và mất thời gian ở giai đoạn đầu, cùng với việc chưa nhận thấy rõ tác  
động to lớn từ công nghệ và tính thích ổn định, an nhàn của người nông dân đã làm cho việc sử  
dụng công nghệ chưa thực sự phổ biến và cũng không bền vững khi đã được đưa vào thử  
nghiệm bước đầu.  
Thứ tư, chuỗi cung ứng nông sản tại TP. HCM còn phụ thuộc nhiều vào các nguồn cung  
qua kênh phân phối truyền thống. Các chợ đầu mối và chợ truyền thống vốn là đầu ra của hơn  
70% lượng nông sản cung cấp cho TP. HCM. Khi dịch lây lan, hầu hết các khu chợ này đều bị  
tạm đóng cửa làm gia tăng gánh nặng cung ứng của các kênh phân phối hiện đại như các siêu  
thị lớn nhỏ trong thành phố vốn chỉ chiếm chưa đến 30% (Bộ Công Thương, 2021), kết quả là  
dẫn đến tình trạng đứt gãy cung - cầu một cách nghiêm trọng như vừa qua.  
5. Giải pháp, kiến nghị  
Qua quá trình nghiên cứu dữ liệu sơ cấp và thứ cấp, nhóm tác giả đề xuất một ứng dụng  
cho phép bên cung (các HTX/TL tại ĐBSCL) đăng tải thông tin nông sản, kết nối với bên cầu  
(các cửa hàng bán lẻ, sạp ở các khu dân cư tại TP. HCM) và kết nối các bên với chủ phương  
tiện vận tải, góp phần rút ngắn chuỗi cung ứng truyền thống, làm tăng giá trị nông sản, giảm  
chi phí phát sinh không cần thiết.  
Ứng dụng sẽ tham gia vào phần lớn chuỗi cung ứng nông sản từ ĐBSCL đến TP. HCM  
với ba giai đoạn sau: (1) giai đoạn kết nối đơn hàng và liên hệ vận chuyển, (2) giai đoạn vận  
chuyển nông sản liên tỉnh , (3) giai đoạn vận chuyển từ điểm tập kết ở TP. HCM đến các cửa  
hàng, sạp ở khu vực dân cư và (4) giai đoạn vận chuyển chiểu về từ TP.HCM về ĐBSCL .  
5.1 Giai đoạn kết nối đơn hàng  
HTX/TL sau khi hoàn tất thu mua nông sản tại vườn sẽ đăng bán các sản phẩm. Khi đó,  
các chủ cửa hàng sẽ lên ứng dụng tham khảo và tiến hành đặt hàng theo nhu cầu của mình. Khi  
2 bên đã thống nhất với nhau về lượng nông sản giao dịch, HTX/TL tiến hành tìm kiếm  
phương tiện vận tải để vận chuyển hàng hóa. Tại giai đoạn này, ứng dụng đề xuất thời gian vận  
chuyển và giá cước dự tính để HTX/TL tự do lựa chọn theo nhu cầu của mình.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (02/2022) | 219  
Nếu xe tải với trọng lượng lớn không đi thẳng được đến các cửa hàng tại TP. HCM thì ứng  
dụng cũng thông báo cho HTX/TL có thể tiến hành đặt trước xe tải hạng nhẹ tại TP. HCM để  
xe có thể tập kết đúng giờ.  
5.2. Giai đoạn vận chuyển từ ĐBSCL đến TP.HCM  
Về giá cước, hai bên tiến hành thỏa thuận dựa trên bảng chi phí do app đề xuất (có thể  
chênh lệch 30%). Sau đó, hàng nông sản được đăng ký vận chuyển sẽ được đưa đến địa điểm  
được thỏa thuận giữa bên HTX/TL và tài xế. Dựa vào tính năng gợi ý lộ trình tối ưu và dự báo  
ùn tắc, tài xế chọn được quãng đường tốt nhất.  
5.3. Giai đoạn từ các bãi tập kết đến các cửa hàng ở khu dân cư  
Nếu trọng tải xe và thời gian giao hàng nằm trong khung cho phép lưu thông nội đô, các  
xe này sẽ chạy thẳng đến các cửa hàng. Trong trường hợp cần phân ra nhiều chuyến nhỏ hơn  
để giao đến từng cửa hàng, xe sẽ tập kết tại các chợ đầu mối (chợ Thủ Đức, chợ Bình Điền,  
chợ Hóc Môn) mà tại đó, tài xế đã được đặt chuyến trước đó sẽ có mặt và tiến hành giao hàng  
đến các cửa hàng.  
5.4. Giai đoạn chiều về từ TP. HCM về ĐBSCL  
Trước khi xe chạy tại ĐBSCL, tài xế đăng tải thông tin bắt đầu hành trình và app cập nhật  
thời gian, địa điểm xe/ghe dự kiến có mặt tại TP. HCM. Người dân hoặc chủ hàng cần ký gửi  
hàng chiều từ TP. HCM đến ĐBSCL nắm bắt thông tin này và thực hiện ký gửi.  
6. Những giá trị mà ứng dụng mang lại cho các chủ thể  
● Đối với HTX/TL  
Nhờ có ứng dụng, HTX/TL có thể linh hoạt, chủ động trong việc tìm kiếm nguồn cầu cho  
nông sản của mình ở TP. HCM. Điều này sẽ góp phần nâng cao thu nhập của người nông dân  
và cải thiện chất lượng nông sản của họ. Quá trình bán nông sản trực tiếp cho nguồn cầu, nông  
sản của người dân sẽ không còn bị ép giá như trước đây. Ngoài ra, quá trình HTX/TL đăng bán  
sản phẩm của mình, nếu chất lượng nông sản tốt và đạt chuẩn, giá trị, hình ảnh nông sản của  
mình sẽ được gia tăng trên diện rộng.  
● Đối với chủ cửa hàng, sạp bán nông sản  
Việc kết nối trực tiếp với nhiều nguồn cung nông sản tại ĐBSCL giúp cho các chủ cửa  
hàng, sạp có nhiều hơn sự lựa chọn về chủng loại cũng như giá cả cho nguồn hàng của mình.  
Từ đó, tăng thu nhập cũng như khả năng cạnh tranh so với các cửa hàng, sạp hoạt động theo  
cách truyền thống. Ngoài ra, việc bỏ bớt các khâu, đối tượng trung gian không cần thiết cũng  
một phần giúp tăng chất lượng, độ tươi ngon của hàng hóa khi đến tay người tiêu dùng.  
● Đối với chủ phương tiện  
Ứng dụng đã góp phần giải quyết vấn đề liên kết thông tin cho chủ phương tiện. Nếu trước  
đây, phần lớn họ phải nhờ qua các trung gian giới thiệu đến chủ hàng, giờ đây, nhờ có nền tảng  
công nghệ này, chủ phương tiện có sự lựa chọn đa dạng về nguồn hàng nông sản nhận chở.  
Điều này cũng giúp cho chủ phương tiện tối ưu hóa một chuyến chở nông sản nhờ tăng tỷ lệ  
lấp đầy xe. Ngoài ra, chủ phương tiện có khả năng rút ngắn quãng đường đi của xe nhờ thuật  
toán tối ưu hóa đường đi mà ứng dụng cung cấp.  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (02/2022) | 220  
● Đối với xã hội  
Ứng dụng giải quyết được bài toán khó trong chuỗi cung ứng nông sản từ ĐBSCL đến  
TP.HCM, đảm bảo được nguồn cung lương thực cho toàn thành đặc biệt trong bối cảnh dịch  
bệnh vẫn còn đang tiếp diễn ở hiện tại. Với những chủ thể tham gia vào ứng dụng, họ sẽ nâng  
cao được hiệu suất công việc của mình và gia tăng thêm được thu nhập trung bình. Trên hết, sự  
liên kết chặt chẽ giữa các chủ thể không chỉ tối ưu chi phí logistics còn giúp chuỗi cung ứng  
tinh gọn và hiệu quả hơn.  
7. Kết luận  
Bài báo cáo nhằm mục tiêu tiếp tục đào sâu nghiên cứu và đề xuất giải pháp mang mô hình  
tích hợp công nghệ giải quyết các vấn đề bất cập trong chuỗi cung ứng nông sản từ ĐBSCL  
đến TP. HCM hiện tại. Từ những dữ liệu sơ cấp với mẫu tuy không nhiều nhưng phần nào  
cũng cho thấy sự trùng khớp với các dữ liệu thứ cấp mà nhóm nghiên cứu tham khảo.  
Một lợi thế không thể không nhắc đến là sự phù hợp của giải pháp với các chủ trương, chỉ  
đạo của các bộ ngành. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hiện nay đang đẩy mạnh việc  
liên kết chuỗi giá trị cho sản phẩm nông nghiệp, trong đó kết nối cung cầu cho nhóm đối tượng  
HTX là một nhiệm vụ cấp bách và lâu dài. Do đó, giải pháp hoàn toàn có thể tận dụng được sự  
ủng hộ cũng như sự hỗ trợ về cơ chế, thủ tục của các cơ quan quản lý nhà nước.  
Tuy nhiên trên thực tế, giải pháp này cũng nhận thức khó khăn nhất định trong việc triển  
khai ban đầu. Cụ thể, các đối tượng tham gia nền tảng là hộ nông dân/ HTX, tiểu thương, chủ  
quầy, sạp, cửa hàng bán lẻ cho thấy khả năng hạn chế trong các thao tác sử dụng ứng dụng trên  
điện thoại thông minh. Bên cạnh đó, những vấn đề về pháp lý và bảo mật thông tin là một đáng  
để lưu ý. Việc nhận ra và nỗ lực giải quyết những khó khăn nêu trên giúp cho giải pháp có thể  
ngày càng được hoàn thiện, có khả năng phục vụ và mang lại lợi ích cho khách hàng nói riêng  
và toàn xã hội nói chung.  
Tài liệu tham khảo  
Bộ Công Thương (2019), “Báo cáo Logistics Việt Nam 2019-Logistics: Nâng cao giá trị nông  
sản”,  
NXB  
Công  
Thương,  
Available  
at:  
content/uploads/2019/12/Bao-cao-logistics-viet-nam-2019.pdf/ (Accessed 9 October 2021).  
Bùi, N., Vũ, N., Lê, H., Trần, C. & Đỗ, G., 2021, “Kinh nghiệm phát triển chuỗi cung ứng  
ngắn  
của  
Hungary  
và  
Pháp”,  
[online]  
File.vnua.edu.vn,  
Available  
at:  
hungary-chuoi-cung-ung-ngan-hang-nong-san.pdf (Accessed 19 October 2021).  
Cadilhon, J., Moustier, P., Poole, N., Phan, T. & Fearne, A., (2021), “Traditional vs. Modern  
Food Systems? Insights from Vegetable Supply Chains to Ho Chi Minh City (Vietnam)”,  
(Accessed 19 October 2021).  
Đoàn, T., (2020), “Đặc điểm của sản xuất và kinh doanh nông sản của nông dân Việt Nam”,  
423e-988e-a31f226ec046_dacdiemsanxuatnongsandoantranh.pdf, (Accessed 20 October  
2021).  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (02/2022) | 221  
Đỗ, H., (2021), “Mở ra không gian mới cho sản xuất và tiêu thụ nông sản”, [online]  
khong-gian-moi-cho-san-xuat-va-tieu-thu-nong-san/444870.vgp, (Accessed 1 October 2021).  
Gérard, P., C.& Marshall, F. (2000), “Supply chain inventory management and the value of  
shared information,” Manage. Sci., vol. 46, no. 8, pp. 1032–1048.  
Huỳnh, S., (2012), “Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự hợp tác trong chuỗi cung ứng  
đồ gỗ, trường hợp nghiên cứu: Vùng Đông Nam Bộ”, [ebook] Linh Trương, pp.13, 19, 20.  
Hương, G., (2021), “Đường đi của nông sản thiết yếu”, [online] Tạp chí Kinh tế Sài Gòn,  
September 2021).  
Joby, G.V. & Madhusudanan, P., (2019), “A study of factors affecting supply chain  
performance”,  
Available  
at:  
6596/1355/1/012018/pdf, (Accessed 09/10/2021).  
J. S. Shang, S. Li, & P. Tadikamalla (2004), “Operational design of a supply chain system  
using the Taguchimethod, response surface methodology, simulation, and optimization”, Int. J.  
Prod. Res., vol. 42, no.18, pp. 3823–3849.  
Nguyễn, H., (2021), “Bài giảng môn: Quản trị chuỗi cung ứng”, Available at:  
(Accessed 20 October 2021).  
Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) (2009), “Hiệp định nông nghiệp”, p.3.  
Available  
at:  
9%20nong%20nghiep.pdf, (Accessed 20 October 2021).  
fisherys/farming/organic-farming/organics-glance#buildingtrustinorganicfarming, (Accessed  
02/10/2021).  
Vũ, V.P., “Nông dân Việt và ước mơ về chuỗi cung ứng ngắn”, Available at:  
30/09/2021).  
Viện Chính sách và chiến lược PTNNNT (2020), “Bộ NN&PTNT lên kế hoạch thay thế…  
(Accessed 22/10/2021).  
FTU Working Paper Series, Vol. 1 No. 2 (02/2022) | 222  
pdf 15 trang Thùy Anh 17901 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đề xuất ứng dụng công nghệ phát triển chuỗi cung ứng nông sản từ đồng bằng sông Cửu Long đến Thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfde_xuat_ung_dung_cong_nghe_phat_trien_chuoi_cung_ung_nong_sa.pdf