Bảo hộ sở hữu trí tuệ trong hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi
ISSN 1859-3666
MỤCꢀLỤC
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
1. Lê Thị Việt Nga, Doãn Nguyên Minh và Bùi Thị Thu - Tác động của các biện pháp kỹ thuật và
vệ sinh dịch tễ đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam vào thị trường EU. Mã số: 153.1IBMg.12
The Impacts of TBT and SPS Measures on Vietnam's Seafood Exports to Eu Market
2. Đỗ Thị Bình - Tinh thần đổi mới của doanh nghiệp trẻ: phân tích từ nguồn lực và năng lực động.
Mã số: 153.1IBAdm.11
3
11
Innovative Spirit of Young Enterprises: Analysis from Resources and Dynamic Capabilities
Approach
3. Trần Chí Thiện và Trần Nhuận Kiên - Bảo hộ sở hữu trí tuệ trong hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo ở
vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Mã số: 153.1ISMET.12
19
Intellectual property protection in supporting startups in ethnic minority and moutainous
areas
QUẢN TRỊ KINH DOANH
4. Nguyễn Phương Linh và Cao Tuấn Khanh - Mối quan hệ của năng lực hấp thụ, tích hợp đa kênh
và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp bán lẻ. Mã số: 153.2BMkt.21
26
37
45
The relationship of absorption, multi - channel integration capability and firm performance
of retail enterprises.
5. Nguyễn Thị Ngọc Lan - Tác động của kế toán quản trị đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp
Việt Nam. Mã số: 153.2BAcc.21
Impact of management accounting on business results of Vietnamese enterprises
6. Bùi Thị Thu Loan và Nguyễn Xuân Thắng - Nhận diện vai trò của đòn bẩy tài chính trong mối
quan hệ giữa tinh thần doanh nhân và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa
bàn Hà Nội. Mã số: 153.2BAdm.21
Identifying the role of financial leverage in the relationship between the entrepreneurship and
business performance of small and medium enterprises in Hanoi
7. Lưu Thị Minh Ngọc, Nguyễn Phương Mai và Đặng Thị Hương - Ứng dụng thẻ điểm quản trị
công ty trong đánh giá công ty cổ phần có vốn nhà nước, nghiên cứu trường hợp tại công ty cổ phần
Quản lý Bảo trì Đường thủy Nội địa số 4. Mã số: 153.2BAdm.21
55
Applying Corporate Governance Scorecard in evaluating state-owned joint stock companies:
Case study of Inland Waterways Management and Maintenance Joint Stock Company No. 4
khoa học
1
thương mại
Số 153/2021
1
8. Trần Thị Kim Phương, Phạm Công Hậu, Nguyễn Thanh Trúc, Trần Trung Vĩnh và
Trương Bá Thanh - Ảnh hưởng của hành vi tương tác qua truyền thông mạng xã hội đến trung
thành thương hiệu: Trường hợp khách du lịch tại Đà Nẵng. Mã số: 153.2BMkt.21
The impact of customer engagement behaviours on social media on brand loyalty: a case
study of domestic tourists in Da Nang city, Vietnam
62
9. Nguyễn Thu Thủy, Lê Thanh Tâm, Đoàn Minh Ngọc và Lê Đức Hoàng - Các yếu tố ảnh
hưởng tới ý định sử dụng dịch vụ cho vay khách hàng cá nhân của một chi nhánh ngân hàng thương
mại - nghiên cứu trường hợp ACB Thăng Long. Mã số: 153.2FiBa.22
71
83
Factors Affecting Intention to Use Personal Loan Service of A Commercial Bank Branch
- ACB Thang Long Case Study
10. Nguyễn Thị Hiên - Các yếu tố ảnh hưởng đến bất cân xứng thông tin trên Sàn giao dịch chứng
khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Mã số: 153.2FiBa.21
The Factors Affecting Information Asymetry on Hochiminh City Stock Exchange (HOSE)
Ý KIẾN TRAO ĐỔI
11. Phan Hữu Nghị - Đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế: nghiên cứu tại Việt Nam.
Mã số: 153.3TrEM.32
91
96
Foreign Direct Investment and Economic Growth: Case Study in Vietnam
12. Lê Bá Phong - Tăng cường khả năng đổi mới sáng tạo cho các doanh nghiệp Việt Nam:
Tác động điều tiết của văn hóa hợp tác và vai trò trung gian của năng lực quản trị tri thức.
Mã số: 153.3BAdm.31
Stimulating Vietnamese enterprises’ innovation capability: The moderating effect of col-
laborative culture and mediating role of knowledge management capability
13. Vũ Tuấn Dương và Nguyễn Thị Thanh Nhàn - Nghiên cứu tác động của chất lượng và giá
trị dịch vụ đến sự hài lòng của sinh viên tại một số trường đại học tư thục trên địa bàn Hà Nội.
Mã số: 153.3OMIs.31
105
Study on Impact of Service Quality and Value on Student Satisfaction at Several Private
Universities in Hanoi City
khoa học
thương mại
2
Số 153/2021
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
BẢO HỘ SỞ HỮU TRÍ TUỆ TRONG HỖ TRỢ
KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO
Ở VÙNG DÂN TỘC THIỂU SỐ VÀ MIỀN NÚI
Trần Chí Thiện
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh
Email: tranchithienht@tueba.edu.vn
Trần Nhuận Kiên
Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh
Email: tnkien@tueba.edu.vn
Ngày nhận: 15/03/2021
Ngày nhận lại: 26/04/2021
Ngày duyệt đăng: 28/04/2021
ảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có tác dụng rất lớn trong hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo. Vùng dân
tộc thiểu số và miền núi của nước ta có tiềm năng to lớn trong thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo
B
với các sản phẩm nông, lâm đặc sản, dược liệu cũng như du lịch sinh thái cộng đồng, trong đó nhiều sản
phẩm đã được bảo hộ sở hữu trí tuệ. Đáng tiếc, đã có một số hiện tượng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ nổi
cộm. Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện thể chế về sở hữu trí tuệ, đòi hỏi phải có các giải pháp tăng cường
bảo hộ sở hữu trí tuệ để hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo. Trước hết, cần tập trung hỗ trợ tạo lập tài sản trí tuệ
và đăng ký quyền sở hữu trí tuệ; sau đó, tập trung vào việc quản lý và khai thác các lợi ích của tài sản trí
tuệ đã được bảo hộ.
Từ khóa: Bảo hộ sở hữu trí tuệ, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo, vùng dân tộc thiểu số và miền núi.
JEL Classifications: F68, K11, O34
1. Giới thiệu
(Phương Anh, 2019). Vì vậy, cần phải có một số giải
pháp hữu hiệu để tăng cường công tác bảo hộ sở hữu
trí tuệ nhằm thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, góp
phần tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo và nâng cao
năng lực cạnh tranh của các địa phương trong vùng.
2. Phương pháp nghiên cứu
Dữ liệu để nghiên cứu gồm các thông tin từ văn
bản quy phạm pháp luật đã ban hành, các công trình
khoa học trong và ngoài nước có liên quan đến bảo
hộ sở hữu trí tuệ trong KNST kết hợp với quan sát
thực tế tại một số tỉnh đại diện cho vùng
DTTS&MN, từ tham gia thảo luận, tọa đàm với một
số chuyên gia của một số bộ ngành trung ương, một
số cán bộ của các sở ngành cấp tỉnh, một số cố vấn
KN, một số trung tâm hỗ trợ KN, vườn ươm và
doanh nghiệp KNST.
Khởi nghiệp sáng tạo (KNST) là lĩnh vực có liên
quan mật thiết đến sở hữu trí tuệ (SHTT) vì sản
phẩm khởi nghiệp có hàm lượng chất xám cao, có
giá trị thương mại lớn, cần phải được bảo hộ bởi
pháp luật về quyền sở hữu trí tuệ. Ở Việt Nam hiện
nay, song song với phát triển phong trào khởi nghiệp
sáng tạo, vấn đề bảo hộ SHTT cho các sản phẩm
khởi nghiệp (KN) đã và đang được Nhà nước đặc
biệt quan tâm. Tuy vậy, phần lớn các nhà khởi
nghiệp trong vùng dân tộc thiểu số và miền núi
(DTTS&MN), gồm 51 tỉnh và thành phố trực thuộc
trung ương, thường đặt trọng tâm chú ý của mình
vào phát triển sản phẩm, mô hình kinh doanh mới,
tức là sáng tạo ra tài sản trí tuệ mà chưa thực sự quan
tâm đến đăng ký bảo hộ quyền sở hữu các tài sản trí
tuệ ấy. Một số hiện tượng vi phạm sở hữu trí tuệ
trong vùng đã xảy ra. Cơ quan Thương mại và Đầu
tư của Chính phủ Australia (Austrade) đã chỉ ra sở
hữu trí tuệ là một trong 5 thách thức cơ bản đối với
hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Việt Nam
Các phương pháp nghiên cứu gồm phân tích,
tổng hợp các thông tin kết hợp với so sánh, đối chiếu
giữa chính sách với yêu cầu thực tiễn, giữa chính
sách với thực thi chính sách.
khoa học
!
19
thương mại
Số 153/2021
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
3. Cơ sở lý luận về sở hữu trí tuệ và bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ
3.1. Khái niệm sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu
trí tuệ
Khi trình độ phát triển của nền kinh tế càng cao,
tài sản trí tuệ càng có giá trị thương mại lớn nên
quyền sở hữu trí tuệ đối với các tài sản này rất dễ bị
xâm phạm. Đối với nhà sáng tạo tài sản trí tuệ, tình
trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ sẽ làm họ nản chí
vì họ không thu được lợi ích kinh tế từ sản phẩm do
mình tạo ra. Đối với xã hội, tệ nạn vi phạm quyền sở
hữu trí tuệ sẽ không khuyến khích tạo ra nhiều hàng
hóa trí tuệ nên không kích thích đổi mới và tiến bộ
công nghệ, ảnh hưởng tiêu cực đến năng suất lao
động, tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh của
quốc gia. Để bảo đảm tính cạnh tranh lành mạnh
trong nền kinh tế; khuyến khích sáng tạo trí tuệ, kích
thích đổi mới và thúc đẩy tiến bộ công nghệ thì cần
phải ngăn chặn các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí
tuệ và bảo vệ lợi ích của chủ sở hữu trí tuệ; tức là,
cần phải bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (Goldstein at
al., 2008). Việc đăng ký SHTT còn giúp nhà sáng
tạo chuyển giao công nghệ một cách an toàn, giúp
họ tiếp cận nhà đầu tư một cách đáng tin cậy hơn, dễ
dàng hơn và thuận tiện cho họ trong việc góp vốn
bằng quyền SHTT.
Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (World
Intellectual Property Organization - WIPO) thì tài
sản trí tuệ (intellectual property - IP) là một loại tài
sản bao gồm những sáng tạo vô hình của trí tuệ con
người (WIPO, 2016). Đã là tài sản của con người thì
tất yếu phải có quyền sở hữu, theo Tổ chức Thương
mại Thế giới (WTO) thì quyền sở hữu tài sản trí tuệ
(intellectual property rights) là quyền trao cho người
có một sáng tạo trí óc nào đó có giá trị đối với xã
hội; quyền này cho phép người sáng tạo độc quyền
sử dụng sáng tạo sản phẩm của mình trong một
khoảng thời gian nhất định (WTO, 2021). Theo Luật
Sở hữu trí tuệ năm 2009 (sửa đổi, bổ sung), quyền
sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với
tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên
quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp
và quyền đối với giống cây trồng (Quốc hội, 2009)
3.2. Đặc điểm của tài sản trí tuệ
Bản chất vô hình của tài sản trí tuệ gây khó khăn
cho chủ sở hữu khi so sánh với tài sản truyền thống
như đất đai hoặc hàng hóa thông thường. Không
giống như tài sản truyền thống, tài sản trí tuệ không
thể phân chia, một số lượng không giới hạn người có
thể “tiêu thụ” hàng hóa trí tuệ mà không bị cạn kiệt.
Mặt khác, các khoản đầu tư vào hàng hóa trí tuệ gặp
phải nguy cơ bị chiếm đoạt: trong khi chủ đất có thể
bao quanh khu đất của họ bằng hàng rào chắc chắn
và thuê vệ sĩ để bảo vệ thì một người sáng tạo ra tài
sản trí tuệ chỉ có thể làm rất ít để ngăn cản người
mua đầu tiên của họ nhân rộng rồi bán nó với giá
thấp hơn (Goldstein and Reese, 2008).
3.4.2. Pháp luật về bảo hộ sở hữu trí tuệ
Bảo hộ SHTT được thực hiện bằng pháp luật
nhằm khuyến khích việc tạo ra nhiều loại tài sản trí
tuệ. Luật pháp trao cho người sáng tạo quyền sở hữu
đối với tài sản trí tuệ mà họ tạo ra trong một khoảng
thời gian có giới hạn. Trong thời gian này, chủ sở
hữu tài sản trí tuệ có thể thu được lợi nhuận từ tài
sản ấy; đó chính là động lực kinh tế cho việc tạo ra
các sáng tạo có hàm lượng trí tuệ cao. Bằng cách
trao đổi các quyền độc quyền có thời gian hạn chế
lấy sự công bố các phát minh và tác phẩm sáng tạo,
xã hội và nhà sáng tạo cùng có lợi. Đây là cách
khuyến khích các nhà phát minh, tạo ra và công bố
sản phẩm hoặc tác phẩm của họ. Pháp luật về bảo hộ
SHTT phải cân bằng giữa quyền lợi của nhà sáng
tạo và của xã hội sao cho các quyền lợi này đủ mạnh
để khuyến khích việc tạo ra tài sản trí tuệ nhưng các
quy định về bảo hộ không quá cứng nhắc đến nỗi
ngăn cản việc công bố và sử dụng rộng rãi chúng;
đây là trọng tâm hàng đầu của pháp luật sở hữu trí
tuệ hiện đại (Nguyễn Đức Anh, 2020).
3.3. Tầm quan trọng của tài sản trí tuệ
Tài sản trí tuệ có vai trò trọng yếu trong nền kinh
tế tri thức dựa vào đổi mới và sáng tạo. Các nhà kinh
tế ước tính rằng có tới 30% đến 40% thành tựu về
năng suất lao động và tăng trưởng kinh tế trong suốt
thế kỷ 20 của Hoa Kỳ là nhờ đổi mới sáng tạo dưới
nhiều hình thức khác nhau. Ngày nay, khoảng 2/3
giá trị các doanh nghiệp lớn của Mỹ có nguồn gốc
từ các tài sản trí tuệ (IP) được bảo hộ dưới hình thức
bằng sáng chế và nhãn hiệu. Thúc đẩy sáng tạo và
bảo vệ tài sản trí tuệ mới, do vậy là ưu tiên hàng đầu
của các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ (Shapiro
at al., 2007).
4. Bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với khởi nghiệp
sáng tạo trong vùng dân tộc thiểu số và miền núi
4.1. Tình hình khởi nghiệp sáng tạo trong vùng
dân tộc thiểu số và miền núi
Năm 2016, Thủ tướng Chính phủ ban hành Đề
án “Hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo
quốc gia đến năm 2025” (Đề án 844), thúc đẩy hệ
3.4. Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
3.4.1. Sự cần thiết phải bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
khoa học
!
thương mại
20
Số 153/2021
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo ở nước ta. DTTS&MN đã bước đầu phát triển và đạt được một
Tiếp theo, hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật số kết quả ban đầu. Các hoạt động hỗ trợ tập huấn,
lần lượt ra đời, chính sách hỗ trợ KNST ở Việt Nam đào tạo, hướng dẫn lập đề án ý tưởng khởi nghiệp;
ngày càng rõ ràng, cụ thể hơn.
tổ chức các cuộc thi tìm kiếm tài năng khởi nghiệp,
Với môi trường pháp lý ngày càng hoàn thiện, tổ chức diễn đàn kết nối giữa các nhà đầu tư và các
phong trào KNST ở nước ta đã có những bước phát nhà khởi nghiệp... đã được tổ chức thường xuyên và
triển mạnh mẽ. Cuối năm 2019, Việt Nam đã có rộng khắp; sự kết nối giữa các địa phương trong
khoảng 3000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo vùng với các trung tâm khởi nghiệp lớn và với mạng
(DN KNST), 38 vườn ươm khởi nghiệp, 170 khu lưới khởi nghiệp quốc gia ngày càng hiệu quả.
làm việc chung, 61 quỹ đầu tư mạo hiểm, 23 tổ chức
4.2. Tình hình bảo hộ sở hữu trí tuệ trong khởi
thúc đẩy kinh doanh. 52/63 địa phương đã ban hành nghiệp sáng tạo ở Việt Nam
kế hoạch và bố trí nguồn lực hỗ trợ các hoạt động
KNST. Việt Nam đứng thứ ba trong 6 nước ASEAN
4.2.1. Tình hình bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm
về hệ sinh thái khởi nghiệp, sau Indonesia và đến phát triển tài sản trí tuệ và bảo hộ SHTT cho các
Singapore. Chỉ số đổi mới sáng tạo của nước ta được tài sản ấy. Hoạt động bảo hộ quyền SHTT ở nước ta
Diễn đàn Kinh tế thế giới xếp thứ 42/129 quốc gia được bắt đầu triển khai từ thập kỷ 1980, nhưng chỉ
được xếp hạng và đứng đầu 29 quốc gia có thu nhập từ khi Quốc hội ban hành bộ Luật Dân sự (năm
trung bình (Việt Hưng, 2019).
1995) thì hoạt động này mới bắt đầu tiến triển. Từ
Tuy nhiên, phong trào KNST ở nước ta không khi Quốc hội ban hành Luật Sở hữu trí tuệ (năm
đồng đều. Hệ sinh thái KNST ở các trung tâm lớn 2005), Việt Nam là thành viên chính thức của WTO,
như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng đã gia nhập ASEAN và tham gia nhiều hiệp định
phát triển khá mạnh mẽ. Trong khi đó, ở nhiều địa thương mại tự do, hoạt động này ngày càng trở nên
phương trong vùng DTTS&MN, KNST còn khá sôi động với tất cả các dạng tài sản trí tuệ được bảo
trầm lắng. Vì kinh tế-xã hội chậm phát triển, các hộ (Quốc hội, 2009).
thành tố trong hệ sinh thái khởi nghiệp như trường
Gần đây, ngày 25/6/2019, Quốc hội đã ban hành
đại học, viện nghiên cứu, cố vấn khởi nghiệp, vườn Luật Sở hữu trí tuệ năm 2019 (sửa đổi, bổ sung)
ươm khởi nghiệp, không gian làm việc chung... nơi “quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến
đây vừa thiếu, vừa yếu; có ít các doanh nghiệp lớn, quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối
ít có các nhà đầu tư thiên thần, quỹ đầu tư mạo hiểm với giống cây trồng và việc bảo hộ các quyền đó”.
nên sự hỗ trợ của hệ sinh thái cho các hoạt động
khởi nghiệp bị hạn chế.
Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của
Bộ Chính trị (Khóa XII) về một số chủ trương,
Tuy vậy, vùng DTTS&MN lại có những ưu thế chính sách chủ động tham gia Cuộc cách mạng công
đặc biệt trong khởi nghiệp sáng tạo. Một là, địa nghiệp lần thứ tư đã yêu cầu “Hoàn thiện pháp luật
hình, thổ nhưỡng, khí hậu đa dạng, phong phú và về SHTT, bảo hộ và khai thác hiệu quả, hợp lý các
độc đáo của mỗi tiểu vùng, mỗi địa phương cho TSTT do Việt Nam tạo ra; khuyến khích thương mại
phép sản xuất các cây trồng, vật nuôi đặc hữu. Hai hoá và chuyển giao quyền SHTT, đặc biệt là đối với
là, cộng đồng các dân tộc thiểu số tại các địa phương các sáng chế tại Việt Nam” (Khoản 2, Mục III).
này có kinh nghiệm sản xuất bản địa và nền văn hóa
Nghị quyết số 53/NQ-CP ngày 17/7/2019 của
dân gian đậm đà bản sắc dân tộc. Do đó, đây là vùng Chính phủ về giải pháp khuyến khích, thúc đẩy
có thế mạnh sản xuất các loại nông lâm sản đặc sản, doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp hiệu quả, an
cây dược liệu đặc hữu và phát triển du lịch sinh thái toàn và bền vững, tại Khoản 6, Mục III đã quy định
cộng đồng. Đa số các DN KNST đã hướng vào khai “tăng cường hỗ trợ bảo hộ sở hữu trí tuệ ở trong
thác các thế mạnh này của các địa phương và tạo ra nước và ngoài nước cho các sản phẩm nông nghiệp
nhiều sản phẩm hàng hóa đặc sản, chất lượng cao, chủ lực, đặc thù; thúc đẩy xây dựng và phát triển
riêng có. Trong đó, nhiều sản phẩm đã được bảo hộ thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc (mã
sở hữu trí tuệ dưới các hình thức gắn liền với tên số vạch, QR code...), tài sản trí tuệ cho các sản phẩm
vùng miền, địa phương như nhãn hiệu tập thể, nhãn được bảo hộ”.
hiệu chứng nhận, chỉ dẫn địa lý.
Quyết định số 118/QĐ-TTg ngày 25 /1/2021 của
Với sự phối hợp của các tổ chức thuộc hệ sinh Thủ tướng Chính phủ về ban hành Chương trình đổi
thái KNST, phong trào khởi nghiệp của vùng mới công nghệ quốc gia đến năm 2030, tại Khoản 3,
khoa học
!
21
thương mại
Số 153/2021
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
Mục II, Điều 1 có quy định: a)… “xem xét hỗ trợ chi mạng xã hội như Facebook, Zalo (Thanh tra Bộ
phí chuyển giao công nghệ, mua bản quyền, mua Khoa học và Công nghệ, 2019).
thiết kế, mua phần mềm…” và; “b) Hỗ trợ doanh
4.2.2. Tình hình hỗ trợ sở hữu trí tuệ trong khởi
nghiệp khai thác cơ sở dữ liệu về sở hữu công nghiệp sáng tạo ở Việt Nam
nghiệp để ứng dụng vào sản xuất kinh doanh”.
Do tầm quan trọng của SHTT, ngay từ văn bản
Có thể nói khung pháp lý cho xây dựng và phát quy phạm pháp luật đầu tiên của Nhà nước ta về
triển các tài sản trí tuệ ở nước ta ngày càng hoàn KNST - Đề án 844 (2016), đã nêu rõ chủ trương: hỗ
thiện hơn.
trợ một phần kinh phí cho các hoạt động đánh giá,
Trong giai đoạn 2011-2019, trên phạm vi cả định giá tài sản trí tuệ; tư vấn pháp lý, sở hữu trí tuệ,
nước, trong đó có vùng DTTS&MN, đã có 5.000 số thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và
phát sóng về SHTT trên các kênh truyền hình ở phát triển công nghệ, tài sản trí tuệ (Điểm c, Mục 5,
trung ương và tất cả các địa phương, 37.000 người Phần III, Điều 1) (Thủ tướng Chính phủ, 2016).
đã được tập huấn, 10.000 lượt người đã được đào Thông tư 45/TT-BTC về quản lý tài chính cho Đề án
tạo về SHTT. Trong thời kỳ 2011-2015, Nhà nước 844 cũng tái khẳng định nội dung này.
đã tập huấn, đào tạo nhằm cung cấp các kiến thức cơ
Đến Nghị định 39/2018/NĐ-CP, ngày 11/3/2018
bản về sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp, cộng đồng; về quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ
đến thời kỳ 2017-2019, nội dung tập huấn, đào tạo DNNVV, tại Khoản 1, Điều 21, Chính phủ đã cam
đã được nâng cao - chuyên sâu về nghiệp vụ, quản kết hỗ trợ tư vấn về sở hữu trí tuệ, khai thác và phát
trị tài sản trí tuệ. Trong 10 năm qua, Nhà nước đã hỗ triển tài sản trí tuệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa
trợ về SHTT cho 600 lượt doanh nghiệp; hỗ trợ cho khởi nghiệp sáng tạo, gồm bốn nội dung: a) Hỗ trợ
118 sản phẩm nông nghiệp chủ lực địa phương, 100% giá trị hợp đồng tư vấn về thủ tục xác lập,
trong khi đó, hơn 300 sản phẩm nông nghiệp chủ lực chuyển giao, bảo vệ quyền SHTT; b) hỗ trợ 100%
khác của các địa phương đã được các doanh nghiệp, giá trị hợp đồng tư vấn về xây dựng và thực hiện
cộng đồng chủ động bố trí kinh phí, triển khai các chính sách, chiến lược hoạt động SHTT; c) hỗ trợ
hoạt động bảo hộ và khai thác quyền SHTT (Cục Sở 100% giá trị hợp đồng tư vấn về thiết kế, đăng ký
hữu trí tuệ, 2021).
bảo hộ, khai thác và phát triển giá trị của nhãn hiệu,
Tuy nhiên, các hành vi xâm phạm quyền SHTT kiểu dáng công nghiệp, sáng chế; d) hỗ trợ 100% giá
đang có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức tạp. trị hợp đồng tư vấn về xây dựng và phát triển tài sản
Vi phạm xảy ra phổ biến nhất là với các nhãn hiệu trí tuệ đối với chỉ dẫn địa lý (Chính phủ, 2018).
hàng hóa, kiểu dáng công nghiệp và chỉ dẫn địa lý.
Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 14/01/2020 của Thủ
Chẳng hạn, có nhiều hãng nước chấm đã gắn tên tướng Chính phủ về thúc đẩy phát triển doanh
sản phẩm của họ bằng nhãn hiệu “Nước mắm Phú nghiệp công nghệ số Việt Nam đã yêu cầu “Hỗ trợ
Quốc” đã được bảo hộ chỉ dẫn địa lý để dễ dàng tiêu hình thành và phát triển doanh nghiệp có khả năng
thụ. Ngoài ra, các chủng loại sản phẩm hàng hóa tăng trưởng nhanh dựa trên khai thác tài sản trí tuệ,
đều có hàng giả, từ hàng tiêu dùng thông thường công nghệ số, mô hình kinh doanh mới”.
(như thực phẩm, quần áo…) đến đồ gia dụng,
Quyết định số 2205/QĐ-Tg ngày 24/12/2020 của
phương tiện máy móc hoặc các sản phẩm cao cấp, Thủ tướng Chính phủ về Chương trình phát triển tài
đặc dụng (như mỹ phẩm, dược phẩm). Hàng giả có sản trí tuệ quốc gia đến năm 2030 đưa ra mục tiêu
mặt cả ở thành thị lẫn nông thôn, được bán cả ở các chung: “Đưa sở hữu trí tuệ trở thành công cụ quan
cửa hàng nhỏ, tại các chợ truyền thống, cả trong các trọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo
trung tâm thương mại hiện đại và các siêu thị. Hành môi trường khuyến khích đổi mới sáng tạo và thúc
vi xâm phạm xảy ra với mọi thành phần kinh tế: tư đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội”. Các mục
nhân, nhà nước và liên doanh, thậm chí ở cả một vài tiêu cụ thể được xác định đến năm 2025 gồm: i)
doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài (Nguyễn “100% các trường đại học, viện nghiên cứu được
Đức Anh, 2020).
tuyên truyền nâng cao nhận thức và hỗ trợ bảo hộ
Về phương thức vi phạm, gần đây, các đối tượng quyền sở hữu trí tuệ cho các kết quả nghiên cứu
vi phạm có xu hướng chuyển dịch từ tiếp thị, phân khoa học và đổi mới sáng tạo”; ii) “Tối thiểu 40%
phối theo phương thức truyền thống sang hình thức sản phẩm được công nhận là sản phẩm quốc gia, sản
thương mại điện tử (thông qua các trang bán hàng phẩm chủ lực quốc gia, sản phẩm, dịch vụ chủ lực,
trực tuyến, website bán hàng và đặc biệt là các trang đặc thù cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và
khoa học
!
thương mại
22
Số 153/2021
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
sản phẩm gắn với Chương trình mỗi xã một sản cần xem xét một cách có hệ thống các biện pháp cần
phẩm (Chương trình OCOP) được hỗ trợ đăng ký thiết để quản lý, thực thi quyền SHTT của mình
bảo hộ, quản lý và phát triển tài sản trí tuệ, kiểm soát nhằm đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất từ
nguồn gốc và chất lượng sau khi được bảo hộ”. Để quyền SHTT này (Kiều Anh, 2020).
thực hiện các mục tiêu này, Chương trình triển khai
thực hiện 06 nội dung: 1) Tăng cường các hoạt động nghiệp sáng tạo vùng dân tộc thiểu số và miền núi
tạo ra tài sản trí tuệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân Phong trào khởi nghiệp sáng tạo của nước ta mới
4.3. Tình hình bảo hộ sở hữu trí tuệ khởi
lực về đổi mới sáng tạo và sở hữu trí tuệ”; “2) Thúc trải qua một giai đoạn ngắn kể từ năm 2016, sau sự
đẩy đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ ở trong và ngoài ra đời của Đề án 844. Phần lớn các DN KNST là DN
nước”; “3) nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và mới thành lập và tỷ lệ thành công rất thấp (dưới
phát triển tài sản trí tuệ”; 4) Thúc đẩy và tăng cường 10%). Ở vùng DTTS&MN, hệ sinh thái khởi nghiệp
hiệu quả thực thi và chống xâp phạm quyền sở hữu ở đa số các địa phương mới ở cấp độ I (mới hình
trí tuệ”; “5) Phát triển, nâng cao năng lực các tổ thành). Tại hầu hết các địa phương trong vùng, hiện
chức trung gian và chủ thể quyền sở hữu trí tuệ”; và đã có Nghị quyết của Hội đồng nhân dân và Kế
“6) Hình thành, tạo dựng văn hóa sở hữu trí tuệ hoạch của Ủy ban nhân dân (cấp tỉnh) để bố trí
trong xã hội”.
nguồn lực và triển khai các nội dung hỗ trợ KNST,
Tuy vậy, trên thực tế, mặc dù phong trào khởi trong đó, có hỗ trợ về sở hữu trí tuệ.
nghiệp đang phát triển mạnh mẽ ở nhiều địa
Tính đến 31/10/2019, nước ta đã có 1.096 sản
phương, nhưng nhiều DN KNST chưa thực sự quan phẩm nông sản và 215 sản phẩm nông thôn khác
tâm đến vấn đề bảo hộ tài sản trí tuệ. Có rất nhiều lý được bảo hộ SHTT; đó là các sản phẩm đặc sản của
do dẫn đến thực trạng này: i) DN KNST vì chưa có các địa phương, sử dụng dấu hiệu chỉ dẫn nguồn gốc
đủ kiến thức về nhận diện và đánh giá các tài sản trí địa lý, gắn với cộng đồng nông thôn. Trong đó, có
tuệ nên giá trị của quyền SHTT thường không được 70 chỉ dẫn địa lý, 395 nhãn hiệu chứng nhận và 936
đánh giá đầy đủ; tiềm năng của quyền SHTT cũng nhãn hiệu tập thể. Đối với nông sản, khu vực có số
chưa được các doanh nghiệp nhận thức đúng mức; lượng nông sản được bảo hộ nhiều nhất là Đồng
ii) nhiều doanh nghiệp xác định rằng trong giai đoạn bằng sông Cửu Long với 284 sản phẩm (22,88%),
khởi nghiệp, họ chỉ cần quan tâm đến vấn đề phát tiếp đến là Trung du và Miền núi phía Bắc với 279
triển sản phẩm, gọi vốn đầu tư, lập kế hoạch market- sản phẩm (22,48%), Đồng bằng sông Hồng 218 sản
ing, bán hàng mà chưa cần quan tâm đến SHTT; iii) phẩm (17,57%), Duyên hải Miền Trung 116 sản
các nhà khởi nghiệp chưa tiếp cận được đầy đủ các phẩm (9,35%), Bắc Trung bộ 100 sản phẩm
thông tin về SHTT và sự kết nối giữa DN KNST với (8,05%), Đông Nam Bộ 64 sản phẩm (5,15%) và
các đơn vị chuyên môn về SHTT ít được thực hiện. Tây Nguyên là khu vực có số lượng nông sản được
Việc không chú trọng đúng mức vào vấn đề bảo bảo hộ thấp nhất với 55 sản phẩm (4,43%) (Lưu Đức
hộ quyền SHTTcó nguy cơ gây ra những rủi ro Thanh, 2019). Như vậy, 51 tỉnh/thành phố trực
nghiêm trọng cho DN KNST. Một là, bản thân thuộc trung ương trong vùng DTTS&MN đã phát
doanh nghiệp có thể xâm phạm quyền SHTT của huy được thế mạnh đặc thù và đã chiếm trên 80% số
doanh nghiệp khác. Chẳng hạn, khi sử dụng nhãn lượng nông sản được bảo hộ của cả nước.
hiệu cho các sản phẩm, dịch vụ mình cung cấp, nếu
Đến nay, 65/74 (87,8%) sản phẩm đã được công
doanh nghiệp không có kiến thức và thông tin về sở nhận chỉ dẫn địa lý ở Việt Nam là các sản phẩm
hữu trí tuệ thì rất có thể sẽ chọn phải một nhãn hiệu thuộc vùng DTTS&MN. Riêng trong năm 2020, 20
đã được bảo hộ. Như vậy, họ đã vô tình xâm phạm sản phẩm chủ lực, đặc thù của các tỉnh vùng
quyền đối với nhãn hiệu của người khác, mất thời DTTS&MN đã được Nhà nước hỗ trợ bảo hộ, quản
gian, chi phí để tạo dựng uy tín cho người khác và lý tài sản trí tuệ như: Cam Cao Phong - tỉnh Hòa
thậm chí còn có thể bị kiện tụng. Hai là, doanh Bình, Bưởi năm roi Bình Minh - tỉnh Vĩnh Long,
nghiệp bị các doanh nghiệp khác xâm phạm tài sản Tôm sú Cà Mau - tỉnh Cà Mau, Khóm Cầu Đúc -
trí tuệ (SBLAW, 2021). Do đó, DN KNST cần tìm tỉnh Hậu Giang, Cam Hà Giang - tỉnh Hà Giang,
hiểu, đăng ký, sử dụng bảo hộ SHTT như một công Yến sào Cù Lao Chàm - Hội An - tỉnh Quảng Nam,
cụ hiệu quả để bảo vệ thương hiệu mà mình bỏ công Tôm hùm bông Phú Yên - tỉnh Phú Yên, Dầu tràm
gây dựng, tránh để bị xâm phạm mà mình không đủ Huế - tỉnh Thừa Thiên - Huế, Cam Hàm Yên - tỉnh
cơ sở pháp lý để tự bảo vệ. Mặt khác, doanh nghiệp Tuyên Quang… (Cục Sở hữu trí tuệ, 2021).
khoa học
!
23
thương mại
Số 153/2021
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
Việc xây dựng thương hiệu cho các sản phẩm phương thực hiện Chương trình phát triển tài sản trí
gắn với cộng đồng đã trở thành một định hướng tuệ giai đoạn đến năm 2030. Trên cơ sở đó, các bộ
quan trọng, cho phép nâng cao giá trị của các nông ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sớm ban hành kế
sản đặc sản, phát triển thị trường sản phẩm sạch theo hoạch thực hiện Chương trình này.
các tiêu chuẩn chất lượng VietGAP, GlobalGAP,
Thứ ba, các Sở Khoa học và Công nghệ cấp tỉnh
góp phần tổ chức lại sản xuất theo hướng hình thành trong vùng DTTS& MN cần nâng cao hiệu lực, hiệu
các vùng nguyên liệu tập trung, chuyên canh trên cơ quả quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ, thông qua
sở lợi thế về điều kiện sản xuất và văn hóa bản địa. việc kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về
Tuy nhiên, hiện chưa thống kê được trong đó có sở hữu trí tuệ, xác định, củng cố các đầu mối chuyên
bao nhiêu sản phẩm là sản phẩm của các hoạt động trách tại các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan
khởi nghiệp sáng tạo; cũng chưa có số liệu về tình ở địa phương, đẩy mạnh cơ chế phối hợp liên ngành
trạng vi phạm quyền sở hữu trí tuệ của các tài sản đã trong quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ nói chung
được bảo hộ. Trên thực tế, đã xuất hiện nhiều sản và sở hữu trí tuệ của khởi nghiệp sáng tạo nói riêng.
phẩm không rõ nguồn gốc được bán tràn lan “đội lốt”
Thứ tư, các sở khoa học và công nghệ trong vùng
một số sản phẩm nổi tiếng trong vùng đã được bảo hộ DTTS& MN cũng cần tăng cường phối hợp với các
chỉ dẫn địa lý như Sâm Ngọc Linh, nước mắm Phú cơ quan hành chính nhà nước và các cơ quan tư
Quốc, nho Ninh Thuận, hạt dẻ Trùng Khánh, chè Tân pháp trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; kiểm
Cương… làm ảnh hưởng đến niềm tin của thị trường tra, kiểm soát và xử lý nghiêm các hành vi xâm
vào các sản phẩm chính hãng, “thứ thiệt”.
phạm quyền sở hữu trí tuệ (Kiều Anh, 2020).
Thứ năm, cần tăng cường năng lực của các cơ
Thực tế cho thấy, công tác hỗ trợ bảo hộ SHTT
trong vùng còn nhiều bất cập, số lượng DN KNST quan nhà nước thông qua nâng cấp cơ sở hạ tầng kỹ
đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ còn chưa nhiều so với thuật thông tin và đào tạo, tập huấn nâng cao kiến
tiềm năng do: i) các DN chưa thực sự quan tâm, thức chuyên môn về SHTT của đội ngũ cán bộ tại
thông thường, họ chỉ đăng ký bảo hộ khi thấy tài sản các cơ quan quản lý nhà nước các cấp về hỗ trợ công
trí tuệ của mình có dấu hiệu bị vi phạm; ii) thời gian tác bảo hộ sở hữu trí tuệ trong khởi nghiệp sáng tạo.
để được cấp văn bằng dài, thủ tục còn phức tạp; iii)
Thứ sáu, cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến
cơ sở hạ tầng kỹ thuật hỗ trợ người dân tiếp cận và kiến thức, pháp luật về SHTT nói chung, Luật SHTT
khai thác thông tin về SHTT còn yếu và thiếu; iv) nói riêng cho các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và
công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa đáp nhân dân trong vùng, trong đó chú trọng tuyên
ứng được yêu cầu liên kết vùng và hội nhập quốc tế; truyền về vai trò của tài sản trí tuệ, tác dụng và hiệu
v) việc xử lý các vi phạm còn chưa đủ hiệu lực răn quả của việc bảo hộ SHTT.
đe (chủ yếu là tịch thu hàng giả, cảnh cáo và phạt
hành chính); iv) năng lực của chủ thể nhà nước động SHTT: tổ chức đào tạo về SHTT cho DNKNST;
trong quản lý tài sản trí tuệ còn hạn chế. kết nối các đối tác sở hữu trí tuệ chuyên nghiệp trong
5. Giải pháp bảo hộ sở hữu trí tuệ hỗ trợ khởi từng lĩnh vực công nghệ; cung cấp dịch vụ thông tin sở
nghiệp sáng tạo trong vùng DTTS&MN hữu trí tuệ cho các DNKNST; hỗ trợ đăng ký bảo hộ
Thứ bảy, Nhà nước cần hỗ trợ DNKNST trong hoạt
Trong tương lai, KNST trong vùng DTTS&MN sẽ các tài sản trí tuệ, hướng dẫn quản lý và khai thác hiệu
tạo ra nhiều hơn các loại tài sản trí tuệ có giá trị thương quả các tài sản trí tuệ đã được bảo hộ.
mại cao hơn, tất yếu sẽ dẫn đến nguy cơ cao hơn về vi
Thứ tám, cần coi đào tạo SHTT trong trường đại
phạm quyền sở hữu trí tuệ. Nhà nước cần phải thực học, cao đẳng là một môn học bắt buộc, đặc biệt ở
hiện các giải pháp hữu hiệu để hỗ trợ phát triển tài sản các trường kinh doanh và các trường kỹ thuật để
trí tuệ, đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ và khai thác lợi sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường có đủ kiến
ích kinh tế từ các tài sản trí tuệ đã được bảo hộ.
Thứ nhất, Nhà nước cần sớm ban hành các văn
thức vững vàng về SHTT trong khởi nghiệp.
Thứ chín, Nhà nước cần có chính sách khuyến
bản hướng dẫn thực hiện Luật Sở hữu trí tuệ (sửa khích các nhà khởi nghiệp, nhóm khởi nghiệp liên
đổi, bổ sung) năm 2019 và đồng bộ hóa các nội dung kết, hợp tác với các trường đại học, viện nghiên cứu
của Luật Chuyển giao công nghệ, Luật Hỗ trợ DN để khai thác các ý tưởng sáng tạo, phát triển tài sản
NVV với các nội dung của Luật này.
trí tuệ, rút ngắn thời gian ứng dụng kết quả nghiên
Thứ hai, Bộ Khoa học và Công nghệ cần sớm có cứu khoa học - công nghệ vào sản xuất, kinh doanh
văn bản hướng dẫn các bộ ngành khác và các địa và hình thành nên các doanh nghiệp khởi nghiệp.
khoa học
!
thương mại
24
Số 153/2021
KINH TẾ VÀ QUẢN LÝ
Việc thực hiện tốt các giải pháp này sẽ thúc đẩy
12. SBLAW (2021), Sở hữu trí tuệ với doanh
tích cực giảm nghèo và phát triển kinh tế-xã hội ở banquyen/tin-chi-tiet/so-huu-tri-tue-voi-doanh-
vùng DTTS&MN, hòa nhịp cùng sự phát triển nghiep-khoi-nghiep/2553.html;
chung của đất nước.!
13. Lưu Đức Thanh (2019), Xây dựng, quản lý
và phát triển chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu chứng nhận
vi_VN/web/guest/phat-trien-chi-dan-dia-ly/-
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyễn Đức Anh (2020), Thực trạng bảo hộ /asset_publisher/SGA9PgvmYtWI/;
quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam,
tri-tue-tai-viet-nam/;
14. Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ
pháp về thực thi quyền sở hữu trí tuệ,
2. Kiều Anh (2020), Phần lớn startup thiếu kiến https://thanhtra.most.gov.vn/thanhtra/tin-
vi_VN/web/guest/hoat-ong-shcn-trong-nuoc//asset- giai-phapve-thuc-thi-quyen-shtt.aspx;
publisher/ 7xsjBfqhCDAV/content/phan-lon-start-
up-thieu-kien-thuc-ve-so-huu-tri-tue;
15. Thủ tướng Chính phủ (2016), Quyết định số
844QĐ-TTg ngày 18/05/2016 về phê duyệt Đề án hỗ
3. Phương Anh (2019), Việt Nam đứng thứ ba ở trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc
Đông Nam Á về số lượng doanh nghiệp khởi nghiệp, gia đến năm 2025;
16. Thủ tướng Chính phủ (2020), Chỉ thị số
dong-nam-a-ve-so-luong-doanh-nghiep-khoi- 01/CT-TTg ngày 14/01/2020 về thúc đẩy phát triển
nghiep-d107823.html, truy cập 24/09/2019;
doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam;
4. Chính phủ (2018), Nghị định 39/2018/NĐ-CP
17. Thủ tướng Chính phủ (2020), Quyết định số
về quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ 2205/QĐ-TTg ngày 24/12/2020 về phê duyệt
DNNVV;
5. Chính phủ (2019), Nghị quyết 53/NQ-CP ngày
Chương trình phát triển tài sản trí tuệ đến năm 2030;
18.WIPO (2016); Understanding Industrial
khích, thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào nông en/wipo_pub_895_2016.pdf;
nghiệp hiệu quả, an toàn và bền vững;
19.WTO (2021), What are intellectual property
noip.gov.vn/vi_VN/web/guest/hoat-dong-shcn-
trong-nuoc/-/asset_publisher/7xsjBfqhCDAV/ con-
tent/hoat-dong-ho-tro-phat-trien-tai-san-tri-tue;
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2019), Nghị quyết
Summary
The protection of intellectual property rights has
số 52-NQ-TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về a great effect on startup support. Our country's eth-
một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia nic minority and mountainous regions have great
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư;
potential in promoting startups with agricultural,
8. Goldstein, P.; Reese, R. A. (2008), Copyright, forestry specialty and medicinal products as well as
Patent, Trademark and Related State Doctrines: community ecotourism, many of which are protect-
Cases and Materials on the Law of Intellectual ed by the Law of Intellectual Property.
th
Property (6 ed.)., New York, Foundation Press. Unfortunately, there have been a number of promi-
ISBN 978-1-59941-139-2;
nent intellectual property violations. Therefore, in
9. Việt Hưng (2019), Bước tiến dài của khởi addition to institutional improvement of intellectual
nghiệp Việt Nam năm 2019, http://theleader.vn/ property, it is required to have solutions to enhance
buoc-tien-dai-cua-khoi-nghiep-vietnam-2019- protection of intellectual property to support the
1575865492812.htm;
startups. First of all, it is necessary to focus on sup-
10. Quốc hội (2009), Luật Sở hữu trí tuệ, số porting creation of intellectual property and registra-
36/2009/QH12, ngày 19 tháng 6 năm 2009 (cập tion of intellectual property rights; thereafter, focus
nhật, sửa đổi);
on management and exploitation of the benefits of
11. Quốc hội (2019), Luật Sở hữu trí tuệ, số the protected intellectual properties.
07/VBHN-VPQH, ngày 25 tháng 6 năm 2019;
khoa học
thương mại
25
Số 153/2021
Bạn đang xem tài liệu "Bảo hộ sở hữu trí tuệ trong hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bao_ho_so_huu_tri_tue_trong_ho_tro_khoi_nghiep_sang_tao_o_vu.pdf

