Bộ luật lao động năm 2019 với yêu cầu về bình đẳng giới trong điều kiện hiện nay
BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 VỚI YÊU CẦU...
VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY
ĐẶNG THU HÀ*
Trong bài báo này, tác giả nghiên cứu về một số quy định mới của Bộ luật Lao động năm
2019 nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong quan hệ lao động, góp phần đảm bảo quyền, nghĩa
vụ và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia vào quan hệ lao động, phù hợp với Hiến pháp
năm 2013 và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: Bộ luật Lao động năm 2019, bình đẳng giới, người sử dụng lao động, người
lao động, lao động nam, lao động nữ.
Ngày nhận bài: 03/11/2020; Biên tập xong: 10/11/2020; Duyệt đăng: 20/11/2020
The author studies some new provisions of the 2019 Labor Code to promote gender
equality in labor relations, to contribute to ensuring the rights, obligations and interests
of participants in labor relations that is in accordance with the 2013 Constitution and
our current requirements of socio-economic development.
Keywords: The 2019 Labor Code, gender equality, employer, employee, male employee,
female employee.
ộ luật Lao động năm 2019 có hiệu vấn đề bình đẳng giới, bảo vệ quyền lợi
lực thi hành ngày 01/01/2021 là
sự cụ thể hóa các quyền cơ bản
chính đáng của phụ nữ là hết sức quan
trọng. Điều 26 Hiến pháp năm 2013 quy
định: “1. Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi
mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền
và cơ hội bình đẳng giới. 2. Nhà nước, xꢁ hội
và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển
toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xꢁ
B
của công dân và quyền con người trong
lĩnh vực lao động. Một điểm đáng chú ý
là Bộ luật này đã thể hiện cách tiếp cận và
tư duy mới về bình đẳng giới, phù hợp
với yêu cầu, đặc điểm, trình độ của người
lao động, yêu cầu của nền sản xuất trong
điều kiện hiện nay. Bộ luật có nhiều quy
định mới nhằm đảm bảo bình đẳng giới,
tạo ra môi trường lao động thân thiện, lành
mạnh, hỗ trợ cho người lao động (nam và
nữ) cân bằng giữa công việc và cuộc sống.
1
hội. 3. Nghiêm cấm phân biệt đối xꢀ về giới”.
Lao động và việc làm là nguồn gốc của
mọi của cải trong xã hội, là vấn đề thiết
thân đối với đời sống của mỗi cá nhân và
gia đình. Đảm bảo bình đẳng giới trong
lao động không những là nguồn động viên
to lớn đối với người lao động, mà còn là
phương thức góp phần phát triển bền vững
cơ quan, doanh nghiệp. Liên quan đến việc
thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực lao
động và việc làm Điều 35 Hiến pháp năm
2013 quy định: “1. Công dân có quyền làm
việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm
việc. 2. Người làm công ăn lương được bảo
đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn;
được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi…”.
1. Một số quy định về bình đẳng giới
và quyền con người, quyền công dân về
lao động trong Hiến pháp năm 2013
Điều 16 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ:
“1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.
2. Không ai bị phân biệt đối xꢀ trong đời sống
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xꢁ hội”.
Với quy định trên, khái niệm “bình đẳng”
có nghĩa rất rộng, phải được thể hiện
trong mọi mối quan hệ, mọi lĩnh vực của
đời sống xã hội. Việt Nam là đất nước có
truyền thống phong kiến lâu đời, do vậy, * Trường Đại học Kiến trúc
Số chuyên đề 4 - 2020
116 Khoa học Kiểm sát
ĐẶNG THU HÀ
Như vậy, Bộ luật Lao động năm 2019 nhiệm của người sử dụng lao động trong
việc đảm bảo bình đẳng giới
đã điều chỉnh tất cả các chủ thể gồm Nhà
nước, lao động nữ, lao động nam và chủ
sử dụng lao động trong việc đảm bảo bình
đẳng giới trong quan hệ lao động. Đây là
sự cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về bình
đẳng giới, đảm bảo quyền công dân và
quyền con người trong lĩnh vực lao động,
tạo hành lang pháp lý căn bản để khai thác
tối ưu tiềm năng về nguồn nhân lực trong
thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, góp phần
quan trọng phát triển kinh tế - xã hội, bảo
đảm an sinh xã hội và nâng cao đời sống
nhân dân.
Khoản 1 Điều 153 Bộ luật Lao động
năm 2012 ghi rõ về chính sách của Nhà
nước đối với lao động nữ: “Bảo đảm quyền
làm việc bình đẳng của lao động nữ”. Khoản
1 Điều 135 Bộ luật Lao động năm 2019
cũng quy định: “Bảo đảm quyền bình đẳng
của lao động nữ, lao động nam, thực hiện các
biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và phòng,
chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc”.
Điều luật này thể hiện một quan điểm rõ
ràng coi bình đẳng giới là vấn đề của cả
lao động nam và lao động nữ. Mặt khác,
để xây dựng môi trường an toàn trong lao
động theo quy định của Hiến pháp năm
2013, còn cần phải phòng chống quấy rối
tình dục tại nơi làm việc.
Khoản 2 Điều 135 Bộ luật Lao động
năm 2019 quy định Nhà nước “khuyến
khích người sꢀ dụng lao động tạo điều kiện để
lao động nữ, lao động nam có việc làm thường
xuyên, áp dụng rộng rꢁi chế độ làm việc theo
thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn
thời gian, giao việc làm tại nhà”. Cũng về
vấn đề này, khoản 2 Điều 153 Bộ luật Lao
động năm 2012 quy định: “Khuyến khích
người sꢀ dụng lao động tạo điều kiện để lao
động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng
rộng rꢁi chế độ làm việc theo thời gian biểu
linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao
việc làm tại nhà”. Như vậy, nếu như tại Bộ
luật Lao động năm 2012, việc giao việc
làm tại nhà sẽ được ưu tiên cho phụ nữ
bởi quan niệm phụ nữ sẽ là người phải
gánh vác công việc chăm sóc gia đình
thì trong Bộ luật Lao động năm 2019, cả
nam và nữ sẽ được bình đẳng về cơ hội
có việc làm thường xuyên và cũng bình
đẳng trong nghĩa vụ chăm sóc gia đình.
Tùy từng điều kiện hoàn cảnh của mỗi
người lao động mà chủ sử dụng lao động
có thể vận dụng linh hoạt điều luật này
để hỗ trợ người lao động trong việc cân
bằng giữa công việc và gia đình, không
2. Một số quy định mới của bộ luật
Lao động năm 2019 đảm bảo bình đẳng
giới trong quan hệ lao động
Từ xưa đến nay, tồn tại phổ biến một
quan niệm đồng nhất giữa khái niệm
bình đẳng giới với các vấn đề của phụ
nữ, pháp luật có những quy định bảo vệ
phụ nữ cũng có nghĩa là đã góp phần đảm
bảo bình đẳng giới. Bộ luật Lao động năm
2012 chương X có tiêu đề “Những quy định
riêng đối với lao động nữ” gồm các điều từ
Điều 153 đến Điều 160. Với quan niệm
mới về bình đẳng giới, Chương X Bộ luật
Lao động năm 2019 có tiêu đề “Những quy
định riêng đối với lao động nữ và đảm bảo
bình đẳng giới” gồm 8 điều từ Điều 135 đến
Điều 142. Các điều luật của Bộ luật Lao
động năm 2019 có nhiều điểm khác biệt so
với Bộ luật Lao động năm 2012, phù hợp
hơn với thực tiễn, đồng thời đảm bảo hài
hòa lợi ích của các bên tham gia vào quan
hệ lao động. Trong đó, nữ giới vẫn được
coi là đối tượng được quan tâm nhất.
Sự tiến bộ của Bộ luật Lao động năm
2019 trong đảm bảo bình đẳng giới thể
hiện trong nội hàm, nội dung của các điều
luật cũng như trong cách diễn đạt, làm rõ
hơn vai trò của lao động nam trong việc
tham gia thúc đẩy bình đẳng giới, đồng
thời cũng là chủ thể thụ hưởng thành quả
của bình đẳng giới. Cụ thể như sau:
2.1. Chính sách của Nhà nước về bình phân biệt người đó là lao động nam hay
đẳng giới trong quan hệ lao động và trách lao động nữ.
Số chuyên đề 4 - 2020
Khoa học Kiểm sát 117
bỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 VỚI YÊU CẦU...
Khoản 5 Điều 135 Bộ luật Lao động động nữ quy định: “Người sꢀ dụng lao động
năm 2019 quy định: Nhà nước có kế hoạch, không được sꢀ dụng lao động nữ làm việc ban
biện pháp tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong các
nơi có nhiều lao động; khoản 6, Điều 153,
Bộ luật Lao động năm 2012 quy định “Nhà
nước có kế hoạch, biện pháp tổ chức nhà trẻ,
lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ”. So
sánh hai điều khoản này của hai Bộ luật
cho thấy cách tiếp cận đầy đủ hơn về bình
đẳng giới trong chính sách hỗ trợ người
lao động của Nhà nước. Trên thực tế,
không chỉ có những nơi có nhiều lao động
nữ như các khu công nghiệp dệt may, các
vùng nông nghiệp sản xuất lớn… mà tất
cả những khu công nghiệp nơi tập trung
người lao động nam, nữ nói chung đều
cần có sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc
xây dựng trường lớp, cung cấp các tiện
ích xã hội để người lao động thuận lợi hơn
trong công việc chăm sóc con cái, có điều
kiện để nâng cao năng suất và hiệu quả
lao động. Bên cạnh đó, với quy định của
khoản 4 Điều 136 Bộ luật Lao động năm
2019 thì người sử dụng lao động cũng
phải có trách nhiệm cùng với Nhà nước
hỗ trợ, giúp đỡ xây dựng nhà trẻ, mẫu
giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu
giáo cho người lao động nói chung (bao
gồm lao động nam và nữ). Với Bộ luật Lao
động năm 2012 thì chỉ có lao động nữ mới
có thể nhận được khoản hỗ trợ này.
2.2. Nghĩa vụ của người sử dụng lao
động về đảm bảo bình đẳng giới trong sử
dụng, sa thải và đơn phương chấm dứt
hợp đồng lao động với người lao động
Khoản 1 Điều 137 Bộ luật Lao động
năm 2019 về bảo vệ thai sản quy định:
“Người sꢀ dụng lao động không được sꢀ
dụng người lao động làm việc ban đêm, làm
thêm giờ và đi công tác xa trong trường hợp
sau đây: a) Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ
tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng
sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; b) Đang nuôi
con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp được
người lao động đồng ý”.
trường hợp sau đây: a) Mang thai từ tháng
thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở
vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải
đảo; b) Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.
Như vậy, quy định Bộ luật Lao động
năm 2019 đã cho thấy một cách tiếp cận
mới, coi vấn đề thai sản, chăm sóc con nhỏ
không chỉ là vấn đề của phụ nữ, nam giới
cũng có quyền, nghĩa vụ chăm sóc con
nhỏ. Song, bên cạnh đó, để đảm bảo cơ
hội bình đẳng trong lao động, hài hòa lợi
ích giữa người sử dụng lao động và người
lao động, Bộ luật Lao động năm 2019 cho
phép người lao động (nam và nữ) có thể
thỏa thuận với người sử dụng lao động
trong các trường hợp nêu trên. Có thể nói,
với sự linh hoạt đó, tùy từng hoàn cảnh
gia đình, nhu cầu công việc mà người sử
dụng lao động và người lao động (không
phân biệt nam hay nữ) có thể thỏa thuận
để có cách giải quyết hiệu quả nhất.
Khoản 3 Điều 137 Bộ luật Lao động
năm 2019 quy định: “Người sꢀ dụng lao
động không được sa thải hoặc đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao
động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai
sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường
hợp người sꢀ dụng lao động là cá nhân chết,
bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân
sự, mất tích hoặc đꢁ chết hoặc người sꢀ dụng
lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt
động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký
kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra
thông báo không có người đại diện theo pháp
luật, người được ủy quyền thực hiện quyền
và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp
luật”. Cũng về vấn đề này, Bộ luật Lao
động năm 2012 quy định: “Người sꢀ dụng
lao động không được sa thải hoặc đơn phương
chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động
nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản,
nuôi con dưới 12 tháng tuổi,…”. Trong thực
Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Lao động tế, kết hôn là việc của cả nam và nữ; thai
năm 2012 về bảo vệ thai sản đối với lao sản, nuôi con nhỏ cũng cần sự hỗ trợ của
118 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 4 - 2020
ĐẶNG THU HÀ
nam giới. Vì vậy, quy định của Bộ luật Lao bảo hiểm xꢀ hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi,
động năm 2019 thể hiện sự công bằng của lao động nữ không bị xꢁ lý kꢂ luật lao động”.
pháp luật trong việc bảo vệ công ăn việc
làm cho người lao động nói chung (không
phân biệt nam hay nữ) trong thời gian kết
hôn, thai sản và nuôi con nhỏ.
2.3. Mở rộng đối tượng được hưởng chế
độ thai sản; đối tượng được hưởng trợ cấp
trong thời gian chăm sóc con ốm đau, thai
sản và thực hiện các biện pháp tránh thai
Bộ luật Lao động năm 2019 không còn quy
định này. Đây cũng chính là điểm mới
thể hiện bình đẳng giới trong quan hệ lao
động, khắc phục tình trạng một bộ phận
lao động nữ ỷ lại, chây lười, không làm
hết trách nhiệm trong thời gian mang thai,
nuôi con nhỏ, đảm bảo quyền và lợi ích
hợp pháp của người sử dụng lao động và
những người lao động khác có liên quan.
Khoản 5 Điều 139 quy định: “Lao động
nam khi vợ sinh con, người lao động nhận
nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, lao động
nữ mang thai hộ và người lao động là người
mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng
chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về
bảo hiểm xꢀ hội”. Điều 140 quy định về bảo
đảm việc làm cho tất cả các đối tượng là
người lao động nghỉ thai sản (bao gồm cả
lao động nam trong thời gian nghỉ khi vợ
sinh con): “Lao động được bảo đảm việc làm
cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời
gian theo quy định tại các khoản 1, 3 và 5 Điều
139 của Bộ luật này mà không bị cắt giảm tiền
lương và quyền, lợi ích so với trước khi nghỉ
thai sản; trường hợp việc làm cũ không còn thì
người sꢁ dụng lao động phải bố trí việc làm
khác cho họ với mức lương không thấp hơn
mức lương trước khi nghỉ thai sản”.
Điều 141 quy định về trợ cấp trong
thời gian chăm sóc con ốm đau, thai sản
và thực hiện các biện pháp tránh thai:
“Thời gian nghỉ việc khi chăm sóc con dưới
07 tuổi ốm đau, khám thai, sẩy thai, nạo, hút
thai, thai chết lưu, phá thai bệnh lý, thực hiện
các biện pháp tránh thai, triệt sản, người lao
động được hưởng trợ cấp theo quy định của
pháp luật về bảo hiểm xꢀ hội”. Như vậy, theo
quy định của điều luật này, không chỉ có
lao động nữ, người lao động nam cũng
có quyền được nghỉ để chăm sóc con ốm
đau, thực hiện các biện pháp tránh thai…
2.5. Bình đẳng giới trong các quy định
về lao động nữ
Hiện nay, lao động nữ chiếm gần 50%
lực lượng lao động. So với nam giới, tỷ lệ
thất nghiệp của lao động nữ khá cao do
hạn chế về sức khỏe, những mâu thuẫn
giữa sinh nở và làm việc, cơ hội tìm được
việc làm phù hợp sau khi sinh thấp hơn.
Vì vậy, lao động nữ luôn là đối tượng
được ưu tiên trong việc thực hiện các mục
tiêu về bình đẳng giới trong quan hệ lao
động. Bộ luật Lao động năm 2019 kế thừa
Bộ luật Lao động năm 2012 trong các quy
định về chính sách của Nhà nước và trách
nhiệm của người sử dụng lao động đối
với lao động nữ, đảm bảo chế độ về nghỉ
thai sản và quyền được làm việc trong
thời gian nghỉ thai sản. Bên cạnh đó, Bộ
luật Lao động năm 2019 có một số sửa
đổi, bổ sung nhằm tăng tính linh hoạt của
các điều luật, cho phép người sử dụng lao
động nữ và bản thân lao động nữ có thể
giải quyết các quan hệ lao động phù hợp
với hoàn cảnh và yêu cầu của công việc.
Điều 138 Bộ luật Lao động năm 2019
quy định về quyền đơn phương chấm dứt,
tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động
nữ mang thai: “1. Lao động nữ mang thai
nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc
sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn
phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm
hoꢀn thực hiện hợp đồng lao động. Trường
hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
2.4. Bình đẳng giới trong xử lý kỷ luật
lao động
Bộ luật Lao động năm 2012 quy định:
“Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế hoặc tạm hoꢀn thực hiện hợp đồng lao động thì
độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về phải thông báo cho người sꢁ dụng lao động
Số chuyên đề 4 - 2020
Khoa học Kiểm sát 119
bỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 VỚI YÊU CẦU...
kèm theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa Trách nhiệm của người sử dụng lao động
bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc
sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi. 2. Trường hợp
tạm hoꢀn thực hiện hợp đồng lao động, thời
gian tạm hoꢀn do người lao động thỏa thuận
với người sꢁ dụng lao động nhưng tối thiểu
phải bằng thời gian do cơ sở khám bệnh, chữa
bệnh có thẩm quyền chỉ định tạm nghỉ. Trường
hợp không có chỉ định của cơ sở khám bệnh,
chữa bệnh có thẩm quyền về thời gian tạm
nghỉ thì hai bên thỏa thuận về thời gian tạm
hoꢀn thực hiện hợp đồng lao động”. So với Bộ
luật Lao động năm 2012, Bộ luật Lao động
năm 2019 quy định rõ hơn về thời gian tạm
hoãn hợp đồng lao động khi không có chỉ
định cụ thể của cơ sở khám chữa bệnh có
thẩm quyền. Quy định này của Bộ luật Lao
động năm 2019 đã tạo điều kiện để người
sử dụng lao động giải quyết việc tạm hoãn
hợp đồng đối với lao động nữ một cách
linh hoạt, đúng pháp luật, người lao động
nữ có điều kiện vừa làm việc vừa chăm sóc
sức khỏe tốt hơn trong thời gian mang thai.
Điều 142 Bộ luật Lao động năm 2019
quy định về nghề, công việc có ảnh hưởng
xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con:
“1. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và
Xꢀ hội ban hành danh mục nghề, công việc có
ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi
con. 2. Người sꢁ dụng lao động phải cung
cấp đầy đủ thông tin về tính chất nguy hiểm,
nguy cơ, yêu cầu của công việc để người lao
động lựa chọn và phải bảo đảm điều kiện an
toàn, vệ sinh lao động cho người lao động theo
quy định khi sꢁ dụng họ làm công việc thuộc
danh mục quy định tại khoản 1 Điều này”.
là phải cung cấp thông tin đầy đủ về mức
độ độc hại của nghề nghiệp đối với sức
khỏe sinh sản cho người lao động nam và
nữ. Người lao động có quyền quyết định
có làm công việc đó hay không. Người sử
dụng lao động phải đảm bảo các điều kiện
an toàn lao động theo quy định của pháp
luật. Như vậy, với quy định này, Bộ luật
Lao động năm 2019 đảm bảo quyền tự do
lao động, giải quyết các quan hệ lao động
theo quy luật kinh tế thị trường.
Tóm lại, lao động là quyền cơ bản và
quan trọng nhất đối với mỗi con người.
Bộ Luật Lao động năm 2019 với nhiều quy
định mới là sự cụ thể hóa Hiến pháp năm
2013 về quyền tự do và bình đẳng trong
quan hệ lao động. Những điểm mới của
Bộ luật Lao động năm 2019 tại chương X
đã tiếp tục thúc đẩy bình đẳng giới trong
quan hệ lao động, đảm bảo hài hòa lợi ích
giữa người lao động và người sử dụng
lao động; giải quyết các quan hệ lao động
theo quy luật của kinh tế thị trường, thích
ứng với các hiệp định tự do thương mại
mà Việt Nam đã và đang ký kết, tham gia,
phù hợp với xu thế đẩy mạnh hội nhập
quốc tế trong giai đoạn hiện nay./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quốc hội, Hiến pháp năm 2013
2. Quốc hội, Bộ luật lao động năm 2012 và 2019
3. Bộ luật lao động sửa đổi 2019 mới như thế
nào?, hꢀps://tuoitre.vn, ngày 22/11/2019
Điều 160 Bộ luật Lao động năm 2012
quy định những công việc không được sử
dụng lao động nữ do có ảnh hưởng xấu tới
chức năng sinh sản và nuôi con theo danh
mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã
hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.
4. Trần Huyền, Bộ luật lao động 2019 có gì mới?,
hꢀp://tapchitaichinh.vn, ngày 13/12/2019
5. Nguyễn Nam Phương, Bình đẳng giới trong
lao động và việc làm với tiến trình hội nhập ở Việt
Nam: Cơ hội và thử thách, NXB Lao động – Xã hội,
Hà Nội, 2006
Như vậy, Bộ luật Lao động năm 2019
có cách tiếp cận đầy đủ hơn về sức khỏe
sinh sản, coi sức khỏe sinh sản là vấn đề
của cả nam và nữ, quyền lao động là bình
6. Từ 1/1/2021, người lao động có thể mất việc
ngay nếu phạm các lỗi sau, hꢀp://vietnamnet.vn,
đẳng giữa lao động nam và lao động nữ. ngày 14/11/2020.
120 Khoa học Kiểm sát
Số chuyên đề 4 - 2020
Bạn đang xem tài liệu "Bộ luật lao động năm 2019 với yêu cầu về bình đẳng giới trong điều kiện hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bo_luat_lao_dong_nam_2019_voi_yeu_cau_ve_binh_dang_gioi_tron.pdf

