Bộ luật lao động năm 2019 với yêu cầu về bình đẳng giới trong điều kiện hiện nay

BỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 VỚI YÊU CẦU...  
VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG ĐIỀU KIỆN HIỆN NAY  
ĐẶNG THU HÀ*  
Trong bài báo này, tác giả nghiên cứu về một số quy định mới của Bộ luật Lao động năm  
2019 nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trong quan hệ lao động, góp phần đảm bảo quyền, nghĩa  
vụ và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia vào quan hệ lao động, phù hợp với Hiến pháp  
năm 2013 và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong giai đoạn hiện nay.  
Từ khóa: Bộ luật Lao động năm 2019, bình đẳng giới, người sử dụng lao động, người  
lao động, lao động nam, lao động nữ.  
Ngày nhận bài: 03/11/2020; Biên tập xong: 10/11/2020; Duyệt đăng: 20/11/2020  
The author studies some new provisions of the 2019 Labor Code to promote gender  
equality in labor relations, to contribute to ensuring the rights, obligations and interests  
of participants in labor relations that is in accordance with the 2013 Constitution and  
our current requirements of socio-economic development.  
Keywords: The 2019 Labor Code, gender equality, employer, employee, male employee,  
female employee.  
ộ luật Lao động năm 2019 có hiệu vấn đề bình đẳng giới, bảo vệ quyền lợi  
lực thi hành ngày 01/01/2021 là  
sự cụ thể hóa các quyền cơ bản  
chính đáng của phụ nữ là hết sức quan  
trọng. Điều 26 Hiến pháp năm 2013 quy  
định: “1. Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi  
mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền  
và cơ hội bình đẳng giới. 2. Nhà nước, xꢁ hội  
và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển  
toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xꢁ  
B
của công dân và quyền con người trong  
lĩnh vực lao động. Một điểm đáng chú ý  
là Bộ luật này đã thể hiện cách tiếp cận và  
tư duy mới về bình đẳng giới, phù hợp  
với yêu cầu, đặc điểm, trình độ của người  
lao động, yêu cầu của nền sản xuất trong  
điều kiện hiện nay. Bộ luật có nhiều quy  
định mới nhằm đảm bảo bình đẳng giới,  
tạo ra môi trường lao động thân thiện, lành  
mạnh, hỗ trợ cho người lao động (nam và  
nữ) cân bằng giữa công việc và cuộc sống.  
1
hội. 3. Nghiêm cấm phân biệt đối xꢀ về giới”.  
Lao động và việc làm là nguồn gốc của  
mọi của cải trong xã hội, là vấn đề thiết  
thân đối với đời sống của mỗi cá nhân và  
gia đình. Đảm bảo bình đẳng giới trong  
lao động không những là nguồn động viên  
to lớn đối với người lao động, mà còn là  
phương thức góp phần phát triển bền vững  
cơ quan, doanh nghiệp. Liên quan đến việc  
thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực lao  
động và việc làm Điều 35 Hiến pháp năm  
2013 quy định: “1. Công dân có quyền làm  
việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm  
việc. 2. Người làm công ăn lương được bảo  
đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn;  
được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi…”.  
1. Một số quy định về bình đẳng giới  
và quyền con người, quyền công dân về  
lao động trong Hiến pháp năm 2013  
Điều 16 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ:  
“1. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật.  
2. Không ai bị phân biệt đối xꢀ trong đời sống  
chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xꢁ hội”.  
Với quy định trên, khái niệm “bình đẳng”  
có nghĩa rất rộng, phải được thể hiện  
trong mọi mối quan hệ, mọi lĩnh vực của  
đời sống xã hội. Việt Nam là đất nước có  
truyền thống phong kiến lâu đời, do vậy, * Trường Đại học Kiến trúc  
Số chuyên đề 4 - 2020  
116 Khoa học Kiểm sát  
ĐẶNG THU HÀ  
Như vậy, Bộ luật Lao động năm 2019 nhiệm của người sử dụng lao động trong  
việc đảm bảo bình đẳng giới  
đã điều chỉnh tất cả các chủ thể gồm Nhà  
nước, lao động nữ, lao động nam và chủ  
sử dụng lao động trong việc đảm bảo bình  
đẳng giới trong quan hệ lao động. Đây là  
sự cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 về bình  
đẳng giới, đảm bảo quyền công dân và  
quyền con người trong lĩnh vực lao động,  
tạo hành lang pháp lý căn bản để khai thác  
tối ưu tiềm năng về nguồn nhân lực trong  
thời kỳ cơ cấu “dân số vàng”, góp phần  
quan trọng phát triển kinh tế - xã hội, bảo  
đảm an sinh xã hội và nâng cao đời sống  
nhân dân.  
Khoản 1 Điều 153 Bộ luật Lao động  
năm 2012 ghi rõ về chính sách của Nhà  
nước đối với lao động nữ: “Bảo đảm quyền  
làm việc bình đẳng của lao động nữ”. Khoản  
1 Điều 135 Bộ luật Lao động năm 2019  
cũng quy định: “Bảo đảm quyền bình đẳng  
của lao động nữ, lao động nam, thực hiện các  
biện pháp bảo đảm bình đẳng giới và phòng,  
chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc”.  
Điều luật này thể hiện một quan điểm rõ  
ràng coi bình đẳng giới là vấn đề của cả  
lao động nam và lao động nữ. Mặt khác,  
để xây dựng môi trường an toàn trong lao  
động theo quy định của Hiến pháp năm  
2013, còn cần phải phòng chống quấy rối  
tình dục tại nơi làm việc.  
Khoản 2 Điều 135 Bộ luật Lao động  
năm 2019 quy định Nhà nước “khuyến  
khích người sꢀ dụng lao động tạo điều kiện để  
lao động nữ, lao động nam có việc làm thường  
xuyên, áp dụng rộng rꢁi chế độ làm việc theo  
thời gian biểu linh hoạt, làm việc không trọn  
thời gian, giao việc làm tại nhà”. Cũng về  
vấn đề này, khoản 2 Điều 153 Bộ luật Lao  
động năm 2012 quy định: “Khuyến khích  
người sꢀ dụng lao động tạo điều kiện để lao  
động nữ có việc làm thường xuyên, áp dụng  
rộng rꢁi chế độ làm việc theo thời gian biểu  
linh hoạt, làm việc không trọn thời gian, giao  
việc làm tại nhà”. Như vậy, nếu như tại Bộ  
luật Lao động năm 2012, việc giao việc  
làm tại nhà sẽ được ưu tiên cho phụ nữ  
bởi quan niệm phụ nữ sẽ là người phải  
gánh vác công việc chăm sóc gia đình  
thì trong Bộ luật Lao động năm 2019, cả  
nam và nữ sẽ được bình đẳng về cơ hội  
có việc làm thường xuyên và cũng bình  
đẳng trong nghĩa vụ chăm sóc gia đình.  
Tùy từng điều kiện hoàn cảnh của mỗi  
người lao động mà chủ sử dụng lao động  
có thể vận dụng linh hoạt điều luật này  
để hỗ trợ người lao động trong việc cân  
bằng giữa công việc và gia đình, không  
2. Một số quy định mới của bộ luật  
Lao động năm 2019 đảm bảo bình đẳng  
giới trong quan hệ lao động  
Từ xưa đến nay, tồn tại phổ biến một  
quan niệm đồng nhất giữa khái niệm  
bình đẳng giới với các vấn đề của phụ  
nữ, pháp luật có những quy định bảo vệ  
phụ nữ cũng có nghĩa là đã góp phần đảm  
bảo bình đẳng giới. Bộ luật Lao động năm  
2012 chương X có tiêu đề “Những quy định  
riêng đối với lao động nữ” gồm các điều từ  
Điều 153 đến Điều 160. Với quan niệm  
mới về bình đẳng giới, Chương X Bộ luật  
Lao động năm 2019 có tiêu đề “Những quy  
định riêng đối với lao động nữ và đảm bảo  
bình đẳng giới” gồm 8 điều từ Điều 135 đến  
Điều 142. Các điều luật của Bộ luật Lao  
động năm 2019 có nhiều điểm khác biệt so  
với Bộ luật Lao động năm 2012, phù hợp  
hơn với thực tiễn, đồng thời đảm bảo hài  
hòa lợi ích của các bên tham gia vào quan  
hệ lao động. Trong đó, nữ giới vẫn được  
coi là đối tượng được quan tâm nhất.  
Sự tiến bộ của Bộ luật Lao động năm  
2019 trong đảm bảo bình đẳng giới thể  
hiện trong nội hàm, nội dung của các điều  
luật cũng như trong cách diễn đạt, làm rõ  
hơn vai trò của lao động nam trong việc  
tham gia thúc đẩy bình đẳng giới, đồng  
thời cũng là chủ thể thụ hưởng thành quả  
của bình đẳng giới. Cụ thể như sau:  
2.1. Chính sách của Nhà nước về bình phân biệt người đó là lao động nam hay  
đẳng giới trong quan hệ lao động và trách lao động nữ.  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 117  
bỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 VỚI YÊU CẦU...  
Khoản 5 Điều 135 Bộ luật Lao động động nữ quy định: “Người sꢀ dụng lao động  
năm 2019 quy định: Nhà nước có kế hoạch, không được sꢀ dụng lao động nữ làm việc ban  
biện pháp tổ chức nhà trẻ, lớp mẫu giáo ở đêm, làm thêm giờ và đi công tác xa trong các  
nơi có nhiều lao động; khoản 6, Điều 153,  
Bộ luật Lao động năm 2012 quy định “Nhà  
nước có kế hoạch, biện pháp tổ chức nhà trẻ,  
lớp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ”. So  
sánh hai điều khoản này của hai Bộ luật  
cho thấy cách tiếp cận đầy đủ hơn về bình  
đẳng giới trong chính sách hỗ trợ người  
lao động của Nhà nước. Trên thực tế,  
không chỉ có những nơi có nhiều lao động  
nữ như các khu công nghiệp dệt may, các  
vùng nông nghiệp sản xuất lớn… mà tất  
cả những khu công nghiệp nơi tập trung  
người lao động nam, nữ nói chung đều  
cần có sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc  
xây dựng trường lớp, cung cấp các tiện  
ích xã hội để người lao động thuận lợi hơn  
trong công việc chăm sóc con cái, có điều  
kiện để nâng cao năng suất và hiệu quả  
lao động. Bên cạnh đó, với quy định của  
khoản 4 Điều 136 Bộ luật Lao động năm  
2019 thì người sử dụng lao động cũng  
phải có trách nhiệm cùng với Nhà nước  
hỗ trợ, giúp đỡ xây dựng nhà trẻ, mẫu  
giáo hoặc một phần chi phí gửi trẻ, mẫu  
giáo cho người lao động nói chung (bao  
gồm lao động nam và nữ). Với Bộ luật Lao  
động năm 2012 thì chỉ có lao động nữ mới  
có thể nhận được khoản hỗ trợ này.  
2.2. Nghĩa vụ của người sử dụng lao  
động về đảm bảo bình đẳng giới trong sử  
dụng, sa thải và đơn phương chấm dứt  
hợp đồng lao động với người lao động  
Khoản 1 Điều 137 Bộ luật Lao động  
năm 2019 về bảo vệ thai sản quy định:  
“Người sꢀ dụng lao động không được sꢀ  
dụng người lao động làm việc ban đêm, làm  
thêm giờ và đi công tác xa trong trường hợp  
sau đây: a) Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ  
tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng  
sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; b) Đang nuôi  
con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường hợp được  
người lao động đồng ý”.  
trường hợp sau đây: a) Mang thai từ tháng  
thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở  
vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải  
đảo; b) Đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.  
Như vậy, quy định Bộ luật Lao động  
năm 2019 đã cho thấy một cách tiếp cận  
mới, coi vấn đề thai sản, chăm sóc con nhỏ  
không chỉ là vấn đề của phụ nữ, nam giới  
cũng có quyền, nghĩa vụ chăm sóc con  
nhỏ. Song, bên cạnh đó, để đảm bảo cơ  
hội bình đẳng trong lao động, hài hòa lợi  
ích giữa người sử dụng lao động và người  
lao động, Bộ luật Lao động năm 2019 cho  
phép người lao động (nam và nữ) có thể  
thỏa thuận với người sử dụng lao động  
trong các trường hợp nêu trên. Có thể nói,  
với sự linh hoạt đó, tùy từng hoàn cảnh  
gia đình, nhu cầu công việc mà người sử  
dụng lao động và người lao động (không  
phân biệt nam hay nữ) có thể thỏa thuận  
để có cách giải quyết hiệu quả nhất.  
Khoản 3 Điều 137 Bộ luật Lao động  
năm 2019 quy định: “Người sꢀ dụng lao  
động không được sa thải hoặc đơn phương  
chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao  
động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai  
sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi, trừ trường  
hợp người sꢀ dụng lao động là cá nhân chết,  
bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân  
sự, mất tích hoặc đꢁ chết hoặc người sꢀ dụng  
lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt  
động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký  
kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra  
thông báo không có người đại diện theo pháp  
luật, người được ủy quyền thực hiện quyền  
và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp  
luật”. Cũng về vấn đề này, Bộ luật Lao  
động năm 2012 quy định: “Người sꢀ dụng  
lao động không được sa thải hoặc đơn phương  
chấm dứt hợp đồng lao động đối với lao động  
nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản,  
nuôi con dưới 12 tháng tuổi,…”. Trong thực  
Khoản 1 Điều 155 Bộ luật Lao động tế, kết hôn là việc của cả nam và nữ; thai  
năm 2012 về bảo vệ thai sản đối với lao sản, nuôi con nhỏ cũng cần sự hỗ trợ của  
118 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
ĐẶNG THU HÀ  
nam giới. Vì vậy, quy định của Bộ luật Lao bảo hiểm xꢀ hội, nuôi con dưới 12 tháng tuổi,  
động năm 2019 thể hiện sự công bằng của lao động nữ không bị xꢁ lý kꢂ luật lao động”.  
pháp luật trong việc bảo vệ công ăn việc  
làm cho người lao động nói chung (không  
phân biệt nam hay nữ) trong thời gian kết  
hôn, thai sản và nuôi con nhỏ.  
2.3. Mở rộng đối tượng được hưởng chế  
độ thai sản; đối tượng được hưởng trợ cấp  
trong thời gian chăm sóc con ốm đau, thai  
sản và thực hiện các biện pháp tránh thai  
Bộ luật Lao động năm 2019 không còn quy  
định này. Đây cũng chính là điểm mới  
thể hiện bình đẳng giới trong quan hệ lao  
động, khắc phục tình trạng một bộ phận  
lao động nữ ỷ lại, chây lười, không làm  
hết trách nhiệm trong thời gian mang thai,  
nuôi con nhỏ, đảm bảo quyền và lợi ích  
hợp pháp của người sử dụng lao động và  
những người lao động khác có liên quan.  
Khoản 5 Điều 139 quy định: “Lao động  
nam khi vợ sinh con, người lao động nhận  
nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, lao động  
nữ mang thai hộ và người lao động là người  
mẹ nhờ mang thai hộ được nghỉ việc hưởng  
chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về  
bảo hiểm xꢀ hội”. Điều 140 quy định về bảo  
đảm việc làm cho tất cả các đối tượng là  
người lao động nghỉ thai sản (bao gồm cả  
lao động nam trong thời gian nghỉ khi vợ  
sinh con): “Lao động được bảo đảm việc làm  
cũ khi trở lại làm việc sau khi nghỉ hết thời  
gian theo quy định tại các khoản 1, 3 và 5 Điều  
139 của Bộ luật này mà không bị cắt giảm tiền  
lương và quyền, lợi ích so với trước khi nghỉ  
thai sản; trường hợp việc làm cũ không còn thì  
người sꢁ dụng lao động phải bố trí việc làm  
khác cho họ với mức lương không thấp hơn  
mức lương trước khi nghỉ thai sản”.  
Điều 141 quy định về trợ cấp trong  
thời gian chăm sóc con ốm đau, thai sản  
và thực hiện các biện pháp tránh thai:  
“Thời gian nghỉ việc khi chăm sóc con dưới  
07 tuổi ốm đau, khám thai, sẩy thai, nạo, hút  
thai, thai chết lưu, phá thai bệnh lý, thực hiện  
các biện pháp tránh thai, triệt sản, người lao  
động được hưởng trợ cấp theo quy định của  
pháp luật về bảo hiểm xꢀ hội”. Như vậy, theo  
quy định của điều luật này, không chỉ có  
lao động nữ, người lao động nam cũng  
có quyền được nghỉ để chăm sóc con ốm  
đau, thực hiện các biện pháp tránh thai…  
2.5. Bình đẳng giới trong các quy định  
về lao động nữ  
Hiện nay, lao động nữ chiếm gần 50%  
lực lượng lao động. So với nam giới, tỷ lệ  
thất nghiệp của lao động nữ khá cao do  
hạn chế về sức khỏe, những mâu thuẫn  
giữa sinh nở và làm việc, cơ hội tìm được  
việc làm phù hợp sau khi sinh thấp hơn.  
Vì vậy, lao động nữ luôn là đối tượng  
được ưu tiên trong việc thực hiện các mục  
tiêu về bình đẳng giới trong quan hệ lao  
động. Bộ luật Lao động năm 2019 kế thừa  
Bộ luật Lao động năm 2012 trong các quy  
định về chính sách của Nhà nước và trách  
nhiệm của người sử dụng lao động đối  
với lao động nữ, đảm bảo chế độ về nghỉ  
thai sản và quyền được làm việc trong  
thời gian nghỉ thai sản. Bên cạnh đó, Bộ  
luật Lao động năm 2019 có một số sửa  
đổi, bổ sung nhằm tăng tính linh hoạt của  
các điều luật, cho phép người sử dụng lao  
động nữ và bản thân lao động nữ có thể  
giải quyết các quan hệ lao động phù hợp  
với hoàn cảnh và yêu cầu của công việc.  
Điều 138 Bộ luật Lao động năm 2019  
quy định về quyền đơn phương chấm dứt,  
tạm hoãn hợp đồng lao động của lao động  
nữ mang thai: “1. Lao động nữ mang thai  
nếu có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa  
bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc  
sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi thì có quyền đơn  
phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc tạm  
hoꢀn thực hiện hợp đồng lao động. Trường  
hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động  
2.4. Bình đẳng giới trong xử lý kỷ luật  
lao động  
Bộ luật Lao động năm 2012 quy định:  
“Trong thời gian mang thai, nghỉ hưởng chế hoặc tạm hoꢀn thực hiện hợp đồng lao động thì  
độ khi sinh con theo quy định của pháp luật về phải thông báo cho người sꢁ dụng lao động  
Số chuyên đề 4 - 2020  
Khoa học Kiểm sát 119  
bỘ LUẬT LAO ĐỘNG NĂM 2019 VỚI YÊU CẦU...  
kèm theo xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa Trách nhiệm của người sử dụng lao động  
bệnh có thẩm quyền về việc tiếp tục làm việc  
sẽ ảnh hưởng xấu tới thai nhi. 2. Trường hợp  
tạm hoꢀn thực hiện hợp đồng lao động, thời  
gian tạm hoꢀn do người lao động thỏa thuận  
với người sꢁ dụng lao động nhưng tối thiểu  
phải bằng thời gian do cơ sở khám bệnh, chữa  
bệnh có thẩm quyền chỉ định tạm nghỉ. Trường  
hợp không có chỉ định của cơ sở khám bệnh,  
chữa bệnh có thẩm quyền về thời gian tạm  
nghỉ thì hai bên thỏa thuận về thời gian tạm  
hoꢀn thực hiện hợp đồng lao động”. So với Bộ  
luật Lao động năm 2012, Bộ luật Lao động  
năm 2019 quy định rõ hơn về thời gian tạm  
hoãn hợp đồng lao động khi không có chỉ  
định cụ thể của cơ sở khám chữa bệnh có  
thẩm quyền. Quy định này của Bộ luật Lao  
động năm 2019 đã tạo điều kiện để người  
sử dụng lao động giải quyết việc tạm hoãn  
hợp đồng đối với lao động nữ một cách  
linh hoạt, đúng pháp luật, người lao động  
nữ có điều kiện vừa làm việc vừa chăm sóc  
sức khỏe tốt hơn trong thời gian mang thai.  
Điều 142 Bộ luật Lao động năm 2019  
quy định về nghề, công việc có ảnh hưởng  
xấu tới chức năng sinh sản và nuôi con:  
“1. Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và  
Xꢀ hội ban hành danh mục nghề, công việc có  
ảnh hưởng xấu tới chức năng sinh sản và nuôi  
con. 2. Người sꢁ dụng lao động phải cung  
cấp đầy đủ thông tin về tính chất nguy hiểm,  
nguy cơ, yêu cầu của công việc để người lao  
động lựa chọn và phải bảo đảm điều kiện an  
toàn, vệ sinh lao động cho người lao động theo  
quy định khi sꢁ dụng họ làm công việc thuộc  
danh mục quy định tại khoản 1 Điều này”.  
là phải cung cấp thông tin đầy đủ về mức  
độ độc hại của nghề nghiệp đối với sức  
khỏe sinh sản cho người lao động nam và  
nữ. Người lao động có quyền quyết định  
có làm công việc đó hay không. Người sử  
dụng lao động phải đảm bảo các điều kiện  
an toàn lao động theo quy định của pháp  
luật. Như vậy, với quy định này, Bộ luật  
Lao động năm 2019 đảm bảo quyền tự do  
lao động, giải quyết các quan hệ lao động  
theo quy luật kinh tế thị trường.  
Tóm lại, lao động là quyền cơ bản và  
quan trọng nhất đối với mỗi con người.  
Bộ Luật Lao động năm 2019 với nhiều quy  
định mới là sự cụ thể hóa Hiến pháp năm  
2013 về quyền tự do và bình đẳng trong  
quan hệ lao động. Những điểm mới của  
Bộ luật Lao động năm 2019 tại chương X  
đã tiếp tục thúc đẩy bình đẳng giới trong  
quan hệ lao động, đảm bảo hài hòa lợi ích  
giữa người lao động và người sử dụng  
lao động; giải quyết các quan hệ lao động  
theo quy luật của kinh tế thị trường, thích  
ứng với các hiệp định tự do thương mại  
mà Việt Nam đã và đang ký kết, tham gia,  
phù hợp với xu thế đẩy mạnh hội nhập  
quốc tế trong giai đoạn hiện nay./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Quốc hội, Hiến pháp năm 2013  
2. Quốc hội, Bộ luật lao động năm 2012 và 2019  
3. Bộ luật lao động sửa đổi 2019 mới như thế  
nào?, hꢀps://tuoitre.vn, ngày 22/11/2019  
Điều 160 Bộ luật Lao động năm 2012  
quy định những công việc không được sử  
dụng lao động nữ do có ảnh hưởng xấu tới  
chức năng sinh sản và nuôi con theo danh  
mục do Bộ Lao động - Thương binh và Xã  
hội chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành.  
4. Trần Huyền, Bộ luật lao động 2019 có gì mới?,  
hꢀp://tapchitaichinh.vn, ngày 13/12/2019  
5. Nguyễn Nam Phương, Bình đẳng giới trong  
lao động và việc làm với tiến trình hội nhập ở Việt  
Nam: Cơ hội và thử thách, NXB Lao động – Xã hội,  
Hà Nội, 2006  
Như vậy, Bộ luật Lao động năm 2019  
có cách tiếp cận đầy đủ hơn về sức khỏe  
sinh sản, coi sức khỏe sinh sản là vấn đề  
của cả nam và nữ, quyền lao động là bình  
6. Từ 1/1/2021, người lao động có thể mất việc  
ngay nếu phạm các lỗi sau, hꢀp://vietnamnet.vn,  
đẳng giữa lao động nam và lao động nữ. ngày 14/11/2020.  
120 Khoa học Kiểm sát  
Số chuyên đề 4 - 2020  
pdf 5 trang Thùy Anh 11780 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bộ luật lao động năm 2019 với yêu cầu về bình đẳng giới trong điều kiện hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbo_luat_lao_dong_nam_2019_voi_yeu_cau_ve_binh_dang_gioi_tron.pdf