Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay

KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC  
LIÊN KẾT GIỮA CƠ SỞ ĐÀO TẠO VÀ DOANH NGHIỆP  
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY  
PGS. TS. Trần Mai Ước  
Chánh Văn phòng, Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM  
TÓM TẮT  
Nhìn từ góc độ tổng thể thì mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp là một  
loại quan hệ hỗ tương, cộng sinh. Tuy nhiên, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp là hai thể chế  
khác biệt, có những mục tiêu khác nhau, cho nên không thể nào có sự hài lòng đạt được  
một cách dễ dàng và đơn giản. Bài viết đi vào phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản  
liên quan đến góc độ lý luận và thực tiễn của việc liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh  
nghiệp trong giai đoạn hiện nay.  
Từ khóa: Cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, nhu cầu xã hội, phối hợp, đào tạo.  
1. Bối cảnh hiện nay, khi mà thế giới đang dần “phẳng” hơn thì nguồn nhân lực có  
chất lượng cao là yếu tố cực kỳ quan trọng để đạt năng lực cạnh tranh cao đối với các doanh  
nghiệp (DN). Có thể nói rằng, nguồn nhân lực là một yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng tới  
hiệu quả hoạt động sinh sản xuất kinh doanh của DN, chi phối đến “thế” và “lực” của DN,  
và một khi nguồn nhân lực đã được khẳng định là chìa khóa thắng lợi trong cạnh tranh kinh  
tế thì hậu quả của khủng hoảng, tụt hậu trong giáo dục - đào tạo mà trực tiếp là đào tạo đại  
học đối với phát triển kinh tế nói chung là vô cùng nặng nề. Do vậy, chủ trương liên kết  
giữa cơ sở đào tạo với các DN theo hướng đáp ứng nhu cầu của xã hội mà trước hết là nhu  
cầu của DN, đối tượng có nhu cầu lớn nhất về nhân lực đã qua đào tạo, hay nói một cách  
nôm na là chuyển từ “đào tạo cái mình có” sang “đào tạo cái mà xã hội (cụ thể ở đây là  
DN) cần” theo hướng “chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc  
tế”33 và việc vận dụng các nguyên tắc của thị trường trong đào tạo và sử dụng là cần thiết.  
Nó không những giải quyết nhanh chóng vấn đề nguồn nhân lực có chất lượng cho DN,  
mà còn trở thành một động lực to lớn góp phần nâng cao chất lượng đào tạo tại các cơ sở  
đào tạo, nhất là trong bối cảnh hội nhập toàn cầu và trước xu thế của cuộc cách mạng công  
nghiệp 4.0 hiện nay.  
Vấn đề đào tạo theo nhu cầu xã hội thực sự trở thành một vấn đề cấp thiết với Việt  
Nam không chỉ trong hiện tại mà cả trong tương lai. Khái niệm đào tạo theo nhu cầu xã hội  
33  
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 - 2020, Nxb. Chính trị Quốc gia,  
Hà Nội, trang 48.  
335  
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…  
còn nhiều tranh luận và chưa đi đến thống nhất, chúng tôi cho rằng, đào tạo theo nhu cầu  
xã hội là phương thức đào tạo mà ở đó với ba trục chính cần phải trả lời là:  
Đào tạo cái gì34;  
Đào tạo như thế nào35;  
Đào tạo bao nhiêu36, được định hướng bởi nhu cầu đào tạo xã hội.  
Và, để tìm được câu trả lời chuẩn xác những câu hỏi trên phải căn cứ vào nhu cầu xã  
hội, hay nói chính xác nhu cầu của xã hội sẽ là cái mốc để giáo dục - đào tạo dõi theo và  
điều chỉnh phương thức hoạt động của mình cho phù hợp.  
Về cơ bản, hiện nay, trên thị trường, đang tồn tại 2 loại hình đào tạo theo nhu cầu của  
xã hội. Một là, đào tạo theo nhu cầu hiện tại của thị trường: tức là căn cứ vào nhu cầu hiện  
tại của thị trường đang thiếu lao động trong những ngành nghề gì thì đào tạo những ngành  
nghề đó và việc đào tạo này thường được tổ chức thành các lớp đào tạo ngắn hạn. Ưu điểm  
của loại hình đạo tạo này là đáp ừng ngay được nhu cầu lao động của thị trường, tuy nhiên  
nó có nhược điểm lớn là những lao động được đào tạo ra thường có tay nghề không cao  
nên sau một thời gian làm việc nếu không có sự bổ sung kiến thức thì dễ bị đào thải do  
không còn đáp ứng được yêu cầu cao hơn của công việc. Hai là, đào tạo đáp ứng nhu cầu  
tương lai của thị trường: theo hình thức này thì căn cứ vào tình hình phát triển hiện tại của  
nền kinh tế trong nước và xu thế phát triển của thế giới để đưa ra những dự đoán về những  
ngành nghề sẽ phát triển trong tương lai. Việc đào tạo này thường được tổ chức thành các  
lớp đào tạo dài hạn, những lao động được tạo ra từ đây thường có trình độ cao; khả năng  
học hỏi, tiếp cận những thành tựu của khoa học công nghệ, thích ứng với sự thay đổi là  
nhanh. Tuy nhiên nó cũng có nhược điểm là do thời gian đào tạo là dài nên đòi hỏi việc dự  
báo phải có tính chính xác cao để tránh sự lãng phí nguồn lực và gia tăng tỷ lệ thất nghiệp.  
Cả thực tiễn và lý luận đều chứng minh rằng, đào tạo theo nhu cầu xã hội có một vai  
trò rất quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia, dân tộc. Đây không phải là một phương  
thức đào tạo mới trên thế giới hiện nay, song đối với Việt Nam thì đây còn là một bài toàn  
khó cần phải giải quyết kịp thời để nhanh chóng tạo ra nguồn nhân lực tốt đáp ứng nhu cầu  
đòi hỏi trước mắt và lâu dài của xã hội. Để có thể thực hiện tốt công tác đào tạo theo nhu  
cầu xã hội, chúng tôi cho rằng, việc phối hợp trong đào tạo, nghiên cứu khoa học giữa các  
cơ sở đào tạo và các doanh nghiệp là một trong những “cú hích”, nhất là trong bối cảnh hội  
nhập toàn cầu đang là xu thế phổ biến như hiện nay.  
2. Xu thế vận động, phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang là tất yếu  
34 Nhằm xác định cụ thể xã hội cần những con người trong những lĩnh vực hoạt động gì, ở trình độ, kỹ năng ra sao.  
Để tránh gây lãnh phí thời gian và tiền bạc thì việc điều tra, nghiên cứu, nắm bắt được nhu cầu xã hội trong tương lai  
gần và xa  
35 Hướng đến tìm ra được để đào tạo có hiệu quả cao thì phải có một cách thức, phương thức đào tạo như thế nào cho đúng.  
36  
Để xác định cụ thể số lượng đào tạo trong mỗi ngành nghề có ý nghĩa rất quan trọng, tránh được tình trạng thất  
nghiệp do thừa nhân lực ở khu vực này và thiếu nhân lực ở khu vực khác do không dự báo được hết nhu cầu xã hội.  
336  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC  
khách quan, trước xu thế cạnh tranh khốc liệt trong cơ chế thị trường và hội nhập, các DN  
rất cần đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao, được đào tạo bài bản, chuyên sâu, thích  
ứng nhanh với yêu cầu sản xuất, kinh doanh, vì vậy DN thực sự kỳ vọng ở các cơ sở đào  
tạo. Với tư cách là đơn vị cung cấp nguồn nhân lực, cơ sở đào tạo cũng luôn phải cạnh  
tranh về chất lượng sản phẩm đào tạo. Sự hợp tác giữa cơ sở đào tạo với DN bởi vậy là tất  
yếu khách quan, nó diễn ra theo quy luật cung - cầu. Trong thực tế, mối quan hệ hợp tác  
này có thể diễn ra rất đa dạng, phong phú trên nhiều mặt, chúng tôi cho rằng, về cơ bản  
được thể hiện qua một số nét chính như sau:  
Sự hợp tác giữa cơ sở đào tạo với DN trong việc triển khai xây dựng mục tiêu và  
nội dung đào tạo theo quy chế của Bộ GD & ĐT và theo nhu cầu của xã hội. Mặt khác, khi  
xây dựng mục tiêu, nội dung đào tạo phải xét đến tính đặc thù của DN là nơi sẽ tiếp nhận  
sinh viên sau khi tốt nghiệp.  
DN đóng góp nguồn lực cho quá trình đào tạo như: Kinh phí, tài liệu, máy móc  
thiết bị, các chuyên gia, thợ bậc cao, tạo điều kiện cho sinh viên đến thực tập… Bên cạnh  
đó, DN cũng hợp tác trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo và sử dụng lao động qua việc  
hoạch định chiến lược phát triển của cơ sở đào tạo với DN, để từ đó xác định nhu cầu đào  
tạo: số lượng, kỹ năng, thái độ nghề nghiệp, chuyên ngành đào tạo, môn học, hình thức  
đào tạo…  
Ngoài ra, để mối quan hệ hợp tác giữa trường đại học với DN được tốt, cần đảm bảo  
một số nguyên tắc sau:  
Sự hợp tác phải đảm bảo mục tiêu đào tạo đề ra, không làm ảnh hưởng đến quy  
trình đào tạo của cơ sở đào tạo cũng như tiến độ sản xuất, kinh doanh của DN, mà trái lại  
nó góp phần vào sự phát triển của hai đơn vị, có lợi cho cả hai đơn vị;  
Sự hợp tác phải đảm bảo tính giáo dục, nhằm hình thành, phát triển phẩm chất và  
năng lực cho người học, không quá thiên về lợi ích kinh tế mà quên đi tính giáo dục.  
Sự hợp tác phải đảm bảo yếu tố vừa sức với giảng viên và sinh viên trong quá  
trình đào tạo  
Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và xã hội trong bối cảnh hiện nay, chúng tôi cho  
rằng, chủ yếu được thể hiện trên bốn nhóm hoạt động chủ yếu sau:  
Kết hợp nghiên cứu (Engaged research): tổ chức hợp tác nghiên cứu và chuyển  
giao công nghệ giữa nhà trường và xã hội  
Chia sẻ kiến thức (Knowledge sharing): tổ chức cung cấp, trao đổi thông tin hay  
quan điểm giữa nhà trường và xã hội.  
Dịch vụ (Service): tổ chức tư vấn, cung cấp các dịch vụ chuyên môn cho xã hội;  
tạo điều kiện để xã hội tiếp cận các nguồn tài nguyên của nhà trường (ví dụ thư  
viện, bảo tàng, sân bãi phục vụ thể thao,…); tham gia các chương trình, dự án phát  
337  
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…  
triển cộng đồng, …  
Giảng dạy (Teaching): tổ chức giảng dạy, đào tạo theo nhiều hình thức và bậc học  
nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của xã hội về trang bị kiến thức, kỹ năng, nhu cầu  
học tập suốt đời.  
Hình 1. Mô hình kết hợp sinh viên đồng thời là người lao động  
Chúng ta đều biết rằng, yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao đã và đang trở  
thành những đòi hỏi cấp bách đối với ngành giáo dục Việt Nam, trong đó có sứ mệnh của  
cơ sở đào tạo. Sự gắn kết hoạt động đào tạo của nhà trường và DN, là một quá trình tương  
tác không thể tách rời. Điều này tạo ra cơ hội và thách thức mới về đánh giá và hỗ trợ học  
tập tại nơi làm việc, về cơ hội tiếp cận và nội dung của chương trình học, vai trò của người  
dạy và quan hệ của họ với người lao động và người sử dụng lao động, cũng như về vai trò  
của DN trong việc cung cấp các cơ hội và mô hình học tập trong quá trình học tập suốt  
đời... Sự hợp tác giữa cơ sở đào tạo và DN sẽ mang lại các lợi ích cho tất cả các bên  
liên quan.  
Về phía DN, việc tham gia vào quá trình đào tạo như một hình thức đầu tư phát triển,  
sẽ giúp DN có thêm quyền và cơ hội lựa chọn các “sản phẩm” lao động chất lượng cao,  
đáp ứng được yêu cầu, giảm bớt thời gian và chi phí đào tạo lại. Bên cạnh đó, DN cũng có  
thêm cơ hội quảng bá hình ảnh của mình với xã hội...  
Về phía cơ sở đào tạo, sự hợp tác sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, tạo “đầu  
ra” cho sinh viên và nhất là góp phần phát triển và trọng dụng nhân tài cho đất nước. Điều  
này cũng sẽ giúp nhà trường tăng tính tự chủ hơn về tài chính và sử dụng hiệu quả vốn  
đầu tư...  
Về phía sinh viên, sự hợp tác sẽ cho phép họ tự “ngộ” ra chính bản thân mình, tự  
điều chỉnh nhận thức, nâng cao động lực học tập và kiến thức, kỹ năng chuyên môn và thực  
tiễn cuộc sống, tăng cơ hội tìm việc làm. Ngoài ra, hiệu quả đầu tư xã hội trong giáo dục  
nói riêng, trong đầu tư phát triển nói chung cũng sẽ tăng lên, giảm bớt tình trạng thất nghiệp,  
338  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC  
nâng cao sức cạnh tranh và đẩy mạnh phát triển theo hướng kinh tế tri thức và bền vững.  
Hình 2. Mô hình kết hợp giữa giảng viên và người sử dụng lao động  
Về phía xã hội, sự kết hợp này chắc chắn sẽ tránh được tình trạng đào tạo tràn lan  
dẫn đến “vênh” nhu cầu của thị trường lao động. Khi sinh viên được thực hành tại DN cũng  
đồng nghĩa với việc các em được rèn luyện và tiếp cận với môi trường sản xuất kinh doanh  
thực tiễn, qua đó có thể lựa chọn việc làm phù hợp hơn. Ngoài ra, việc gắn kết DN còn tạo  
động lực để các cơ sở đào tạo phải luôn nâng cao chất lượng đào tạo nghề nhằm cạnh tranh  
lẫn nhau, từ đó tạo ra sự năng động, linh hoạt cho các cơ sở đào tạo, tăng thu nhập tài chính  
cho chính bản thân cơ sở đào tạo. Đối với DN, điều này sẽ đảm bảo nguồn nhân lực phục  
vụ cho sản xuất kinh doanh, đặc biệt là khi có các đơn hàng gia tăng. DN cũng có thể cắt  
giảm các chi phí đào tạo lại cho người lao động, từ đó làm tăng lợi ích tài chính.  
Trong quá trình đó, những thách thức mà các cơ sở đào tạo gặp phải trong quá trình  
gắn kết với DN sẽ là:  
.Vượt lên cái tôi của mỗi cơ sở đào tạo, nhà trường cần mạnh dạn chỉ ra những yếu  
kém trong quá trình đào tạo của mình, với phương châm: không né tránh, hướng đến mục  
đích giúp cho sinh viên tốt hơn khi tốt nghiệp ra trường có thể bắt tay vào công việc ngay.  
.Cần tính đến yếu tố quản trị rủi ro, bởi vì nền kinh tế luôn biến động và DN có thể  
thay đổi quy mô sản xuất. Do đó, rõ ràng cơ sở đào tạo luôn phải có điểm tựa mới là các DN  
khác chứ không thể trông chờ vào một DN. Do vậy, vấn đề đặt ra đối với các cơ sở đào tạo  
hiện nay là cần phải chủ động thay đổi, phải đi tìm các DN chứ không thể thụ động chờ  
DN như trước kia.  
339  
LIÊN KẾT GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ DOANH NGHIỆP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO SINH VIÊN…  
Trong giai đoạn hiện nay, liên kết đào tạo giữa cơ sở đào tạo và DN là nhu cầu khách  
quan và xu thế không tránh khỏi, xuất phát từ lợi ích của cả hai phía. Việc “bắt tay” giữa  
cơ sở đào tạo và DN vừa mang tính tất yếu, biện chứng và có tính khả thi cao trong việc  
đáp ứng nguồn nhân lực cho DN, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của cơ sở đào tạo.  
Thời gian tới, để tăng cường phối hợp, liên kết giữa trường đại học với DN, theo chúng tôi  
cần tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:  
Một là, gắn chặt giữa cơ sở đào tạo với nhà tuyển dụng và DN từ việc xây dựng  
chương trình, nội dung đào tạo, tham gia đào tạo, hướng dẫn thực hành, thực tập đến việc  
hỗ trợ cơ sở thực hành, thực tập thông qua các hợp đồng, các hoạt động nghiên cứu... Ngoài  
ra, tăng cường nguồn lực đảm bảo các điều kiện cho việc nâng cao chất lượng đào tạo, đổi  
mới phương pháp giảng dạy, cách thức đào tạo, đầu tư thêm các trang thiết bị, dụng cụ dạy  
nghề hiện đại, bồi dưỡng trình độ giảng viên theo chuẩn quốc tế. Gắn chặt giữa học đi đôi  
hành, giữa rèn luyện kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp với kỹ năng sống cho học sinh đáp  
ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường lao động và cuộc sống hiện đại.  
Hai là, xây dựng hệ thống dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động  
nhất thiết phải có sự phối hợp với các ngành ở địa phương và tham gia của các trường đại  
học và DN để đảm bảo gắn chặt giữa đào tạo với sử dụng. Xác định và cân đối chỉ tiêu đào  
tạo tổng thể và chỉ tiêu đào đạo của từng trường gắn kết với nhu cầu thực tế của xã hội theo  
ngành nghề và cấp trình độ đào tạo. Cần xác định được khung chương trình đào tạo phù  
hợp, có chất lượng phù hợp với nhu cầu công việc xã hội và các doanh nghiệp. Hạn chế  
việc đào tạo tự phát không đảm bảo chất lượng gây tình trạng thừa thiếu lao động và gia  
tăng thất nghiệp.  
Ba là, chủ động liên hệ với DN nhằm nắm bắt nhu cầu cũng như tiếp cận những công  
nghệ mới, từ đó có sự điều chỉnh trong chương trình cũng như phương pháp giảng dạy để  
đào tạo tốt hơn, đồng thời chủ động đầu ra cho sinh viên. Song song với đó cần chú trọng  
mời các DN tham gia vào quá trình biên soạn chương trình đào tạo, tham dự các  
hội thảo khoa học, các buổi đối thoại, hoạt động seminar, chuyên đề thỉnh giảng, chương  
trình tham quan thực tế doanh nghiệp, thực tập rèn nghề, phối hợp hướng dẫn khóa luận  
tốt nghiệp… Đây là con đường cơ bản nhất để các trường đại học địa phương kịp thời điều  
chỉnh chương trình, nội dung, phương pháp đào tạo, từng bước chuyển đổi hình thức đào  
tạo nhân lực theo hướng ngày càng gắn với nhu cầu của DN, và điều này cũng giúp cho  
sinh viên có thêm kiến thức thực tế bám sát với ngành nghề mà học đang theo học.  
Bốn là, cần xác định rằng, việc hợp tác giữa cơ sở đào tạo và DN là mối quan hệ hợp  
tác cùng tồn tại và phát triển. Do vậy, phối hợp, liên kết giữa cơ sở đào tạo và DN là một  
quá trình lâu dài, điều kiện tiên quyết quyết định mối quan hệ bền vững này đó là cơ sở  
đào tạo phải tạo được niềm tin đối với DN, phải gắn chặt với DN, cùng làm và cùng  
phát triển.  
340  
KỶ YẾU HỘI THẢO KHOA HỌC  
Năm là, đề nghị các bộ, ngành cùng UBND các tỉnh, thành phố nghiên cứu chính  
sách miễn, giảm thuế cho DN có đóng góp và tham gia đào tạo, đồng thời DN cung cấp  
thông tin nhu cầu sử dụng lao động cho cơ sở giáo dục.  
Sáu là, đẩy mạnh việc hợp tác ba bên Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp trong  
giáo dục đào tạo. Trong đó, đa dạng hóa các hình thức hợp tác về xây dựng chuẩn đầu ra,  
chương trình đào tạo; tổ chức ký kết đào tạo theo đơn đặt hàng của DN…  
3. Chúng tôi cho rằng, nhìn từ góc độ tổng thể thì mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo và  
DN là một loại quan hệ hỗ tương, cộng sinh. Tuy nhiên, cơ sở đào tạo và DN là 2 thể chế  
khác biệt, có những mục tiêu khác nhau, cho nên không thể nào có sự hài lòng đạt được  
một cách dễ dàng và đơn giản. Tin tưởng và hy vọng rằng, khi đã thật sự quan tâm đến  
nhau, đến chất lượng đào tạo, đến nhu cầu, mục đích sử dụng… thì chính các cơ sở đào tạo  
và DN sẽ tìm ra lời giải thấu đáo.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020,  
Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
2. Trần Mai Ước (2013), Đào tạo theo nhu cầu xã hội theo cách tiếp cận CDIO, Báo  
cáo Khoa học Nâng cao chất lượng đào tạo các ngành kinh tế đáp ứng nhu cầu xã  
hội, trường ĐH Vinh, ISBN 978-604-923-039-4.  
3. Trần Mai Ước (2013), Một số giải pháp đẩy mạnh E-learning hướng đến nâng cao  
chất lượng đào tạo các ngành kinh tế đáp ứng nhu cầu xã hội, HTKH Quốc tế “Giáo  
dục Đài Loan và Việt Nam”.  
4. A Review of Business–University Collaboration, https://www.gov.uk/.../12-610-  
5. How to foster a culture of collaboration between universities and industry,  
s.edu/talloiresnetwork/downloads  
341  
pdf 7 trang Thùy Anh 17320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp trong giai đoạn hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_van_de_ly_luan_va_thuc_tien_cua_viec_lien_ket_giua_co.pdf