Liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa kinh nghiệm của Thái Lan và bài học cho Việt Nam

HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)  
LIÊN KẾT GIỮA DOANH NGHIỆP FDI VÀ DOANH NGHIỆP NỘI ĐỊA  
KINH NGHIỆM CỦA THÁI LAN VÀ BÀI HỌC CHO VIỆT NAM  
LINKAGES BETWEEN FDI COMPANIES AND DOMESTIC FIRMS - LESSONS  
FROM THAILAND FOR VIETNAM  
ThS. Hà Thị Cẩm Vân, ThS. Lê Mai Trang  
Khoa Kinh Tế-Luật – Trường Đại Học Thương Mại  
TÓM TẮT  
Trong quá trình toàn cầu hóa, các Công ty đa quốc gia (MNC) đóng vai trò quan trọng trong việc  
thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME). Khoảng cách về chất lượng sản phẩm  
và đổi mới công nghệ của FDI và các doanh nghiệp nội địa là khá lớn. Một mặt, doanh nghiệp FDI là  
nguồn cung ứng trí thức mới và công nghệ, có thể chuyển giao cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Mặt  
khác, có những thách thức từ phía FDI là loại các doanh nghiệp nội ra khỏi cuộc chơi. FDI không chỉ là  
dòng vốn, mà còn là chuyển giao các giá trị quan trọng như năng lực quản lý, điều hành doanh nghiệp,  
công nghệ, tính doanh nghiệp và khả năng tiếp cận thị trường. Do vậy, tăng cường liên kết các doanh  
nghiệp nội địa với tập đoàn đa quốc gia là một trong những hướng đi đúng đắn cho các doanh nghiệp  
Việt Nam hiện nay. Bài viết nghiên cứu kinh nghiệm phát triển liên kết FDI – doanh nghiệp nội địa của  
Thái Lan và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam.  
Từ khóa: FDI; công ty đa quốc gia; hợp tác  
ABSTRACT  
During globalization process, Multinational companies (MNC) holds a pivotal role in accelerating the  
growth of Small and Medium Enterprises (SME). There is a large distance between product quality and  
FDI technology innovation within local companies. FDI holds potential source of knowledge and  
technology, yet creates many obstacles discouraging newcomers to the field. Thus, strengthening the  
relationship between domestic firms and multinational corporations is a right directions for Vietnamese  
firms. The article aims to present results from a research of FDI collaboration in Thailand and its  
application to Vietnam.  
Keywords: FDI; Multinational companies; collaboration  
1. Cơ Sở Lý Thuyết Của Việc Liên Kết Giữa Doanh Nghiệp Fdi Và Doanh Nghiệp Nội  
Địa  
Quá trình toàn cầu hóa mạng lƣới sản xuất đang xảy ra rất nhanh và rộng khắp trong  
những năm gần đây, đặc biệt là sự tăng nhanh về thƣơng mại và đầu tƣ nƣớc ngoài. Trong quá  
trình này các doanh nghiệp FDI đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của  
các doanh nghiệp nội địa. Các quốc gia đang phát triển muốn gia tăng giá trị nội tại, tăng nội  
địa hóa cần tăng cƣờng liên kết với các tập đoàn đa quốc gia. Việc các doanh nghiệp trong  
nƣớc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu của các FDI thể hiện rõ nét nhất ở hai khía cạnh.  
Thứ nhất, sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động ngoại thƣơng: chuỗi giá trị toàn cầu cho phép  
sản xuất hàng trung gian và hàng tiêu dùng cuối cùng có thể đƣợc thuê ngoài, do đó dẫn tới sự  
gia tăng thƣơng mại thông qua hoạt động xuất nhập khẩu và sự gia tăng nhanh chóng lƣợng  
đầu vào trung gian trao đổi giữa các nƣớc. Thứ hai, sản xuất ngày càng dựa vào đầu vào của  
nƣớc ngoài, do kết quả của việc ngày càng gia tăng quan hệ thƣơng mại toàn cầu giữa các  
nƣớc, tỷ lệ giá trị sản xuất đƣợc tạo ra bởi một nƣớc nào đó có xu hƣớng ngày càng giảm  
xuống.Về cơ bản, có năm hình thức liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội  
địa:  
Liên kết ngược với nhà cung cấp. Phần lớn các doanh nghiệp FDI là các tập đoàn  
MNC (công ty đa quốc gia) cần có các sản phẩm nguyên liệu đầu vào chất lƣợng cao và đƣợc  
cung ứng đúng lúc. Các MNC không thể sản xuất tất cả các nguyên phụ liệu và thiết bị đầu  
5
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
vào, họ cần các nhà cung ứng bên ngoài hiệu quả. Thuê ngoài là xu hƣớng ngày càng phổ  
biến với quy mô ngày càng gia tăng.  
Liên kết xuôi với khách hàng. Các tập đoàn đa quốc gia có thể phát triển các mối liên  
kết xuôi với khách hàng. Mối liên kết quan trọng nhất là kết nối với mạng lƣới phân phối. Các  
tập đoàn đa quốc gia chính là khách hàng và mở ra thị trƣờng rộng lớn cho các doanh nghiệp  
nhỏ và vừa ở trong nƣớc. Đặc biệt, các MNC thuê hệ thống phân phối các thƣơng hiệu nổi  
tiếng thƣờng tập trung đầu tƣ cho mạng lƣới marketing nhƣ các đại lý bán xe, trạm xăng dầu,  
chuỗi cửa hàng. Một dạng liên kết xuôi chiều khác chính là liên kết với các khách hàng công  
nghiệp. Rất nhiều các nhà sản xuất máy móc thiết bị hoặc hàng hóa trung gian (công nghiệp  
hỗ trợ) cung cấp các dịch vụ hỗ trợ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa là khách hàng của họ,  
đặc biệt là ở các quốc gia đang phát triển.  
Liên kết với đối thủ cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực cơ bản cho sự đổi mới và học  
hỏi về công nghệ. Các tập đoàn đa quốc gia thâm nhập vào thị trƣờng các nƣớc đang phát  
triển làm phát sinh cạnh tranh, điều này thúc đẩy các doanh nghiệp điạ phƣơng cải tiến nhanh  
hơn. Các doanh nghiệp FDI có thể thiết lập tiêu chuẩn mới cho ngành và hình thành cạnh  
tranh lành mạnh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong ngành. Mặt khác, nếu các doanh nghiệp  
cạnh tranh địa phƣơng chậm trễ so với các tiêu chuẩn của các tập đoàn MNC họ sẽ bị loại  
khỏi ngành.  
Liên kết với đối tác công nghệ. Một số MNC thành lập các dự án liên doanh với các  
đối tác SME bản xứ. Các dự án này có thể là các liên kết công bằng hoặc không công bằng  
bao gồm cả doanh nghiệp liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh doanh hoặc liên minh chiến  
lƣợc. Một số quốc gia yêu cầu các MNC thu hút các doanh nghiệp nhỏ và vừa địa phƣơng vào  
các đối tác liên kết hoặc ký kết hợp đồng chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp địa  
phƣơng. Trong trƣờng hợp khác liên kết với đối tác công nghệ trên nguyên tắc tự nguyện, vì  
cả hai bên xác định hỗ trợ và chia sẻ lợi ích từ liên kết.  
Các tác động lan tỏa khác. Các MNC đôi khi chuyển giao công nghệ, tri thức cho các  
doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa, mà không phải là nhà cung cấp trực tiếp cho họ. Hai tác  
động gián tiếp (lan tỏa) quan trọng là: i) hiệu quả phô trương xuất hiện khi MNC giới thiệu  
cách thức thực hiện một công việc, điều này trƣng bày cách thức cho đổi mới sáng tạo. Bằng  
cách là học hỏi và sao chép các chiến lƣợc của MNC các doanh nghiệp địa phƣơng có thể bắt  
chƣớc đƣợc các sản phẩm và kỹ năng quản lý của MNC, phát triển các cách thức mới về phối  
hợp các bộ phận trong doanh nghiệp hay tiếp cận các thị trƣờng phi truyền thống; ii) Tác động  
lan tỏa về nguồn vốn con người xảy ra khi các MNC đào tạo lao động cho nhu cầu của họ. Vì  
các MNC có máy móc thiết bị, hệ thống sản xuất hiện đại, kỹ năng quản lý tiến tiến cũng nhƣ  
tiêu chuẩn kỹ thuật cao hơn so với các doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa, họ có nhu cầu cao về  
lực lƣợng lao động và đào tạo nhiều hơn. Một số MNC chính là ―cơ sở đào tạo ảo‖ để hình  
thành các kỹ năng cho lao động địa phƣơng.  
2. Liên Kết Giữa Fdi Và Doanh Nghiệp Nội Địa Ở Thái Lan  
2.1. Thu hút FDI ở Thái Lan  
Xuất khẩu và đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài (FDI) là động lực cho tăng trƣởng chính của  
Thái Lan, nhất là ngành công nghiệp. Tỷ trọng ngành công nghiệp chế tạo trong GDP đã tăng  
từ từ 26% năm 1987 lên 34,8 % trong năm 2006.Thái Lan hấp dẫn đối với FDI nhất là do mức  
lƣơng thấp, sự sẵn có của lực lƣợng lao động có tay nghề cao. FDI của Thái Lan tập trung vào  
lĩnh vực có hàm lƣợng vốn tƣơng đối nhƣ ô tô, điện và điện tử, máy móc, thiêt bị.  
6
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)  
Trong giai đoạn 1987 – 2010, Thái Lan vƣợt lên các nƣớc láng giềng trong khu vực trở  
thành điểm đến hấp dẫn đối với các khoản đầu tƣ nƣớc ngoài. Đây đƣợc xem là nguồn lực  
thúc đẩy tăng trƣởng tại nƣớc này. (Hình 1)  
Hình 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thái Lan  
Phần lớn FDI tại Thái Lan tập trung vào các ngành sản xuất, đặc biệt là sản xuất và lắp  
ráp các loại sản phẩm cao cấp thay vì tập trung vào các ngành sản xuất sử dụng nhiều lao  
động với chi phí thấp hay cấp thấp vốn rất phổ biến ở Trung Quốc hoặc ở ở một số nƣớc lân  
cận khác. Trong lĩnh vực sản xuất, phân ngành máy móc và thiết bị vận tải thu hút phần lớn  
lƣợng FDI và chiếm tới 59,4% trong tổng FDI năm 2012 tại nƣớc này. Sau máy móc và thiết  
bị vận tải, ngành thiết bị điện và điện tử lần lƣợt chiếm tỷ lệ 34,6% và 13,8% trong tổng FDI  
năm 2012.  
Các nƣớc đầu tƣ vào Thái Lan phần lớn là từ các nƣớc công nghiệp phát triển và NICs.  
Trƣớc đây, các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài đầu tƣ vào Thái Lan bởi chi phí lao động thấp và kết  
cấu cơ sở hạ tầng công cộng tốt. Diễn đàn kinh tế thế giới (2011) xếp hạng Thái Lan thứ 46  
trong số các nƣớc có cơ sở hạ tầng công cộng tốt nhất. Vai trò của các doanh nghiệp đa quốc  
gia (MNC) ngày càng đóng vai trò quan trọng. Năng suất và khả năng công nghệ của các công  
ty nƣớc ngoài vƣợt xa những công ty địa phƣơng.Do vậy, hoạt động có công nghệ phức tạp  
chủ yếu đƣợc thực hiện bởi các công ty nƣớc ngoài. Họ có nguồn tri thức và công nghệ, một  
số trong đó có thể đƣợc sao chép hoặc chuyển giao cho các nhà cung cấp trong nƣớc, qua đó  
nâng cao các tiêu chuẩn và năng suất của nhiều doanh nghiệp trong nƣớc, bao gồm cả doanh  
nghiệp nhỏ. Sự tồn tại của nhiều doanh nghiệp đa quốc gia sản xuất Thái Lan cũng là cơ hội  
để đánh giá lại mối liên kết MNC - SME và tác động đến sự phát triển củadoanh nghiệp nhỏ  
và vừa. Các SMEs ở Thái Lan tạo ra khoảng 34 % của GDP của ngành công nghiệp và 67 %  
lực lƣợng lao động sản xuất. Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ Thái Lan, cũng nhƣ ở các nƣớc  
đang phát triển khác chƣa đƣợc hiện đại hóa. Nhận thức đƣợc những thay đổi nhanh chóng  
trong toàn cầu hóa và cạnh tranh khốc liệt hơn từ các nƣớc chi phí lao động thấp hơn, tầm  
nhìn của chính phủ Thái Lan là tạo ra các SME năng động và dựa trên tri thức. Hoạt động để  
tăng cƣờng liên kết kinh doanh và mạng lƣới sản xuất, cũng nhƣ xây dựng năng lực, hiện  
đang đƣợc trải khai rất tích cực .  
2.2. Liên kết MNC và các doanh nghiệp nội địa ở Thái Lan  
Trong các ngành công nghiệp ngành ô tô, dệt may Thái Lan đã thiết lập đƣợc mạng  
lƣới kinh doanh giữa các doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp đa quốc và các hoạt động của  
chính phủ có liên quan. Ngành công nghiệp ô tô Thái Lan là rất phù hợp vì nó đã bị áp lực  
phải tăng cƣờng liên kết với các doanh nghiệp đa quốc gia, là cụm ngành công nghiệp lớn  
nhất sản xuất bộ phận và linh kiện cho sản xuất ô tô Nhật Bản trong ASEAN. Trong khi  
ngành ô tô là trƣờng hợp điển hình chuỗi giá trị theo nhà sản xuất (nhà sản xuất đóng vai trò  
chủ đạo), ngành may mặc là một ngành công nghiệp lý tƣởng cho việc phát triển chuỗi giá trị  
do ngƣời mua kiểm soát. Nhiều bằng chứng từ các nghiên cứu cho thấy rằng mối liên kết và  
7
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
lan tỏa giữa các doanh nghiệp đa quốc gia và các nhà cung cấp địa phƣơng trong ô tô và  
ngành công nghiệp phần mềm, dệt may đã đƣợc cải thiện đáng kể so với trƣớc đây. Mạng lƣới  
giữa các cấp thấp hơn các nhà cung cấp địa phƣơng trở nên quan trọng hơn trong mạng lƣới  
sản xuất toàn cầu hiện nay. Trong ngành công nghiệp quần áo, hợp đồng phụ với doanh  
nghiệp đa quốc gia tƣơng tự nhƣ giúp doanh nghiệp trong nƣớc tiếp cận tốt hơn với công  
nghệ, thông tin tiếp thị, và di chuyển lên bậc thang chất lƣợng cao hơn. Ngƣợc lại với các mối  
liên kết theo chiều dọc và kết nối mạng, liên kết theo chiều ngang giữa các doanh nghiệp nhỏ  
thấp tầng đƣợc tìm thấy là yếu kém trong cả ngành công nghiệp. Các nghiên cứu cho thấy,  
trong ngắn hạn, mạng lƣới và hợp đồng phụ với các doanh nghiệp lớn (MNC) có thể là con  
đƣờng ngắn nhất để tăng cƣờng khả năng cạnh tranh SME. Trên bức tranh toàn cảnh, thƣơng  
mại tự do và đầu tƣ, cũng nhƣ sự phát triển nhanh chóng của thông tin và công nghệ truyền  
thông (ICT) đã làm thay đổi môi trƣờng cạnh tranh toàn cầu, trong đó doanh nghiệp đa quốc  
gia hoạt động. Thầu phụ hiện nay bao gồm các hoạt động chế biến có giá trị cao và sản xuất,  
công nghệ phức tạp hơn. Những thay đổi này đã mở rộng khả năng và con đƣờng cho sự tham  
gia của SME. Liên kết với các doanh nghiệp đa quốc có thể là cách thức ngắn nhất cho doanh  
nghiệp nhỏ để vƣợt qua các rào cản và khó khăn. Lợi ích hợp đồng phụ cho các SME bao  
gồm nâng cao kỹ năng, tiêu chuẩn và công suất đƣợc cải thiện, tiếp cận với hỗ trợ kỹ thuật  
cho chất lƣợng sản phẩm và nâng cấp, hỗ trợ quản lý, hỗ trợ tài chính, cung cấp lớn, đơn đặt  
hàng ổn định. Ngoài ra, liên kết với các doanh nghiệp đa quốc và các doanh nghiệp lớn có thể  
là một tài sản có giá trị của công nghệ hiện đại cũng nhƣ tiếp cận thị trƣờng nƣớc ngoài, tiếp  
thị và thông tin kênh phân phối. Sự hiện diện gia tăng của doanh nghiệp đa quốc gia và tự do  
hóa thƣơng mại không phải lúc nào cũng mang lại lợi ích doanh nghiệp nhỏ. Các doanh  
nghiệp đa quốc hoặc các chi nhánh của nó có thể ra cạnh tranh với các công ty địa phƣơng và  
lấn át đầu tƣ. Họ không nhất thiết phải chọn nhà cung cấp địa phƣơng để cung cấp cho họ với  
các sản phẩm và dịch vụ. Các chi nhánh nƣớc ngoài có thể thuê ngoài từ cung ứng toàn cầu  
của riêng mình. Dây chuyền hay những nhà sản xuất nơi khác, chứ không phải là các nhà  
cung ứng trong nƣớc. SME cũng đang phải đối mặt với cạnh tranh khốc liệt hơn quốc tế.  
Trong nhiều lĩnh vực, cạnh tranh đã khiến nhiều doanh nghiệp nhỏ thất bại trong kinh doanh.  
Nói chung, các SME không đƣợc chuẩn bị tốt cho các điều kiện thị trƣờng mới và cạnh tranh  
mạnh mẽ hơn trong các thị trƣờng xuất khẩu. Do đó, chỉ có một vài trong số họ có thể đƣợc  
hƣởng lợi từ toàn cầu hóa.  
2.3. Chính sách liên kết giữa doanh nghiệp đa quốc (FDI) và SME ở Thái Lan:  
Các chính sách và biện pháp của chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng  
cƣờng các mối liên kết và tác động lan tỏa. Chính sách để hạn chế FDI và áp đặt nội dung địa  
phƣơng, cấp phép công nghệ, vốn chủ sở hữu yêu cầu đƣợc coi là phản tác dụng, nhƣ là  
trƣờng hợp của ngành công nghiệp ô tô Thái Lan. Tuy nhiên, chỉ đơn giản là tự do hóa chính  
sách đầu tƣ và cung cấp các ƣu đãi để thu hút FDI là không đủ để phát triển mạng sản xuất và  
liên kết với các doanh nghiệp đa quốc. Để nâng cao lợi ích của mối liên kết và lan tỏa giữa  
các doanh nghiệp đa quốc và doanh nghiệp nhỏ địa phƣơng, chính sách cụ thể nhằm thúc đẩy  
mối liên kết với doanh nghiệp đa quốc là rất cần thiết .  
Tại Thái Lan, cải thiện năng lực hoạt động của các SME trong sản xuất hoặc SME là  
một phần của chính sách thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ. Hai đơn vị chính quyền chính đóng vai  
trò quan trọng trong việc thúc đẩy liên kết kinh doanh và thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ  
trợ là Văn phòng Hỗ trợ phát triển công nghiệp (BSID ) thuộc Bộ Công nghiệp và Ủy ban đầu  
tƣ (BOI) .  
Bắt đầu từ năm 1994, Văn phòng Hỗ trợ phát triển công nghiệp (BSID ) thuộc Bộ Công  
nghiệp đã đƣợc hỗ trợ mạnh mẽ của chính phủ Nhật Bản để thúc đẩy các ngành công nghiệp  
8
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)  
hỗ trợ ở Thái Lan. Các ngành công nghiệp hỗ trợ bao gồm một loạt các hoạt động sản xuất  
cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho ngành công nghiệp khác. Thông thƣờng, nhiều công ty  
trong ngành công nghiệp hỗ trợ có kích thƣớc nhỏ và có hình thức thầu phụ với ngƣời mua,  
ngƣời chủ yếu là các công ty lớn hoặc doanh nghiệp đa quốc gia.  
Hoạt động chính của BSID tập trung vào: i) cung cấp hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo cho các  
ngành công nghiệp hỗ trợ;ii) thiết kế và phát triển sản phẩm nguyên mẫu, chẳng hạn nhƣ điện  
tử rời để xử lý nhiệt thép, và iii) thúc đẩy các hệ thống thầu phụ, chẳng hạn nhƣ tổ chức ngƣời  
mua hàng (Buyer‘s Village). Trong việc thúc đẩy các ngành công nghiệp hỗ trợ, BSID tập  
trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp phụ tùng ô tô và các ngành công nghiệp sản xuất  
các bộ phận cho các thiết bị và máy móc điện và điện tử, đặc biệt là khuôn, mẫu và các sản  
phẩm đúc. Để phát triển ngành công nghiệp khuôn mẫu, với sự hỗ trợ của chính phủ Nhật  
Bản, BSID đã tổ chức một "Dự án Phát triển Công nghệ Công cụ và Khuôn", mà tìm cách  
cung cấp hỗ trợ về dữ liệu, tiếp thị, công nghệ, xúc tiến đầu tƣ, và phối hợp. Một dự án nghiên  
cứu BSID là "Sản xuất khuôn mẫu cho ngành nhựa‖. Gần đây, Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật  
Bản đồng ý cung cấp thiết bị để sản xuất khuôn nhựa cho đào tạo và các dịch vụ của các  
chuyên gia Nhật Bản đến BSID. Khu vực tƣ nhân, vẫn chƣa thấy hiệu quả của chƣơng trình  
BSID, đặc biệt là những ngƣời liên quan đến các dịch vụ hƣớng dẫn, kiểm tra, thanh tra, Ban  
Đầu tƣ (BOI) là cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm quản lý ƣu đãi và khuyến khích đầu tƣ  
trong lĩnh vực ƣu tiên. BOI Phát triển Liên kết Công nghiệp (BUILD) là một dịch vụ định  
hƣớng thị trƣờng bắt đầu vào năm 1992. Đơn vị này đƣợc tạo ra để khuyến khích các công ty  
lớn mua nguồn phụ tùng địa phƣơng và các thành phần, cũng nhƣ để giúp các nhà cung cấp  
địa phƣơng nâng cao chất lƣợng, hiệu quả sản xuất và năng suất. Mối liên kết giữa bộ phận  
các nhà cung cấp địa phƣơng và các công ty lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia, cả ở Thái Lan  
và các nƣớc khác đƣợc triển khai. Các đề án BUILD cung cấp cho các nhà đầu tƣ không có ƣu  
đãi về thuế ƣu đãi, nhƣng chủ yếu là hƣớng dịch vụ. Trong giai đoạn đầu của việc thực hiện  
chƣơng trình, BOI tập hợp thông tin về các ngành công nghiệp hỗ trợ hiện tại ở Thái Lan. Sau  
đó phân tích đầu vào cần thiết để bắt đầu xây dựng nhà máy sản xuất ở Thái Lan, và giúp thiết  
lập các giao dịch giữa các bên liên quan trong quá trình này . Một trong những hoạt động  
thành công của BUILD là nhà cung cấp chƣơng trình Gặp gỡ khách hàng (VMC). Chƣơng  
trình VMC đã đƣợc tạo ra để kích thích thầu phụ nội địa đối với các bộ phận và linh kiện.  
Sau cuộc khủng hoảng năm 1997, BUILD tổ chức các cuộc thảo luận và tour thăm  
quan nhà máy sản xuất cho các nhà cung cấp và lắp ráp có đăng ký với BUILD, làm đầu mối  
cho các liên kết kinh tế về sau. Trong ngành công nghiệp ô tô, các nhà lắp ráp tham gia  
chƣơng trình vào chƣơng trình này là là General Motors (Thái Lan), Toyota Motor (Thái  
Lan), Auto Alliance (Thái Lan), và Mitsubishi Motor (Thái Lan). Trong ngành công nghiệp  
điện và điện tử bao gồm Fujitsu (Thái Lan) và Delta Electronics (Thái Lan). Số lƣợng nhà  
cung cấp tham gia trong mỗi cuộc tham quan khác nhau. Số lƣợng lớn nhất cho đến nay là  
91, tại cuộc thăm quan General Motors (Thái Lan) trong tháng Giêng năm 1998 . Từ năm  
1999, các nhà cung cấp địa phƣơng đã tham gia vào chƣơng trình này đã tổ chức một "Câu  
lạc bộ xúc tiến thầu phụ" (SPC). Các thành viên của nó bao gồm khoảng 40 nhà cung cấp đã  
đáng ký với BUILD, chủ yếu là các nhà cung cấp cấp 2 và 3 cho ngành công nghiệp điện và  
điện tử và ngành công nghiệp ô tô. Năm 2003, câu lạc bộ này đã trở thành Hiệp hội xúc tiến  
thầu phụ Thái Lan. Hiện nay, Hiệp hội có khoảng 250 thành viên từ bốn ngành công  
nghiệp: các bộ phận kim loại (đúc, dập và ép), nhựa, polymer và các sản phẩm cao su, bộ  
phận điện và điện tử, và đóng gói, hậu cần.  
Ngoài ra, BUILD chịu trách nhiệm cho việc phát triển và phổ biến cơ sở dữ liệu công  
nghiệp hỗ trợ ASEAN. Cơ sở dữ liệu này sẽ giúp thúc đẩy mối liên kết giữa các nƣớc thành viên  
ASEAN và các thị trƣờng toàn cầu. Năm 2007, số lƣợng các công ty đăng ký trong ASID là  
9
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
20.198 doanh nghiệp. Trong số các công ty này có 13.534 công ty là nhà cung cấp ở Thái Lan.  
ASID phân loại các công ty thành năm ngành công nghiệp chính là ô tô, điện và điện tử, khuôn và  
mẫu, hóa dầu và nhựa. Các ngành công nghiệp hỗ trợ của Thái Lan có khoảng 1.419 công ty cung  
cấp cho ngành công nghiệp ô tô, 1393 công ty cho các ngành công nghiệp điện và điện tử, 2141  
cho ngành công nghiệp hóa dầu, 616 cung cấp sản phẩm khuôn và mẫu, và 7965 công ty trong các  
ngành công nghiệp khác .  
Một biện pháp khác để thúc đẩy thành công các mối liên kết kinh doanh giữa nhà sản  
xuất sản phẩm cuối cùng trong khu vực và trên toàn thế giới và các nhà cung cấp địa phƣơng  
là tổ chức triển lãm lần đầu Nhà thầu phụ, gọi là SUBCON Thái Lan . Trong năm 2007, triển  
lãm tạo ra khoảng 1.000 giao dịch kinh doanh trị giá 1.200 triệu Bạt. Kể từ đó đã có một kế  
hoạch tổ chức SUBCON Thái Lan mỗi năm. BUILD cũng khuyến khích các nhà cung cấp địa  
phƣơng quảng bá sản phẩm của họ ở nƣớc ngoài bằng cách cung cấp hỗ trợ tài chính .  
Từ các hoạt động này, BUILD đã đạt đƣợc một danh tiếng tốt và đƣợc xem nhƣ là một  
tổ chức có hiệu quả của cả hai khu vực tƣ nhân và công cộng. Nó đóng một vai trò quan trọng  
nhƣ một trung gian, điều phối và cung cấp thông tin cho các mối liên kết phi chính thức giữa  
các doanh nghiệp. Cho dù đã thành công, nhƣng tác động của các chƣơng trình BUILD vẫn  
còn hạn chế vì kích thƣớc nhỏ của các đơn vị hoạt động và ngân sách hạn chế .  
Một số doanh nghiệp nhỏ đã quyết định thành lập Câu lạc bộ xúc tiến thầu phụ (SPC)  
với sự hỗ trợ ban đầu của BUILD . Sáng kiến khu vực tƣ nhân này tạo ra mạng lƣới các SME  
Thái Lan trong các ngành công nghiệp điện tử, nhựa, kim loại và polymer để tăng cƣờng khả  
năng của mình để phục vụ nhu cầu của các MNC. Hoạt động trong câu lạc bộ; là cơ hội để các  
doanh nghiệp chia sẻ thông tin, huy động nguồn lực, và cải tiến tiếp thị và phân phối.  
Cần lƣu ý rằng các chƣơng trình xúc tiến liên kết, nhƣ trong trƣờng hợp của Thái Lan,  
đã nêu bật vai trò của nhiều cơ quan tạo điều kiện nâng cấp tiềm năng của các nhà cung cấp  
địa phƣơng hoặc các ngành công nghiệp hỗ trợ. Để tạo ra một chƣơng trình phối hợp, một số  
tổ chức trung gian phải đƣợc giải quyết. Ở Thái Lan, Văn phòng Xúc tiến SME (OSMEP)  
tổng hợp các chức năng này và đã phối hợp tất cả các bên liên quan trong việc thúc đẩy phát  
triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.  
3. Kinh Nghiệm Cho Việt Nam  
3.1. Thực trạng liên kết FDI với doanh nghiệp nội địa ở Việt Nam  
Tình hình đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ở Việt Nam  
Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng về thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp  
nƣớc ngoài trong khu vực và trên thế giới trong những năm gần đây. Số vốn FDI đăng ký và  
thực hiện trong nhiều năm trở lại đây tăng lên mạnh mẽ, đặc biệt là giai đoạn 2006-2009.  
Bảng 1. Tổng số vốn FDI vào VN giai đoạn 2000-2013  
Đơn vị tính: Triệu USD  
Năm  
2001  
2002  
2003  
2004  
2005  
2006  
2007  
Tổng số dự án  
Số vốn ĐK  
3,142.8  
Vốn thực hiện  
2,450.5  
555  
808  
2,998.8  
2,591.0  
791  
3,191.2  
2,650.0  
811  
4,547.6  
2,852.5  
970  
6,839.8  
3,308.8  
987  
12,004.0  
21,347.8  
4,100.1  
1,544  
8,030.0  
10  
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)  
2008  
2009  
2010  
2011  
2012  
2013  
1,557  
1,208  
1,237  
1,186  
1,110  
1,275  
71,726.0  
23,107.3  
19,886.1  
15,598.1  
16,351.2  
21,600.0  
11,500.0  
10,000.0  
11,000.0  
11,000.0  
10,460.0  
11,500.0  
Nguồn: Tổng cục Thống kê, www.gso.gov.vn  
Trong thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài, từ chỗ chỉ chiếm gần 6% tổng FDI vào  
khu vực Đông Nam Á trong giai đoạn 1990-2000, đến giai đoạn 2005-2010, Việt Nam đã  
chiếm trên 10,29% tổng FDI vào khu vực. Giai đoạn trƣớc khi gia nhập WTO, FDI vào Việt  
Nam theo một xu hƣớng tăng rõ rệt, tuy nhiên ở mực độ vừa phải. Giai đoạn từ 2001 đến  
2006, tổng số vốn FDI đăng ký tăng từ 3.1 tỷ USD đến 12 tỷ USD, tăng lên gấp 4 lần trong 5  
năm, vốn thực hiện cũng tăng tƣơng ứng từ 2.4 tỷ đến 4.1 tỷ USD trong 5 năm này. Giai đoạn  
sau khi gia nhập WTO, do những cơ hội đầu tƣ sản xuất kinh doanh tại Việt Nam đƣợc mở  
rộng và triển vọng tốt của nền kinh tế cũng nhƣ tâm lý quá lạc quan của các nhà đầu tƣ trong  
và ngoài nƣớc, số vốn FDI đổ vào Việt Nam tăng ở các mức kỷ lục. Năm 2008, tổng số vốn  
FDI đăng ký đạt mức kỷ lục là hơn 71 tỷ USD, tuy nhiên số vốn thực hiện chỉ đạt khoảng  
11.5 tỷ, mặc dù đây cũng là con số kỷ lục trong nhiều năm qua, nhƣng chỉ chiếm trên 15%  
tổng số vốn đăng ký, điều đó cho thấy về tính chƣa ổn định của môi trƣờng đầu tƣ tại Việt  
Nam.  
Trong những năm sau đó, FDI đăng ký vào Việt Nam giảm mạnh, đặc biệt từ năm 2008  
đến năm 2009, vốn FDI đăng ký giảm từ 71 tỷ USD xuống còn trên 23 tỷ và xu hƣớng giảm  
này còn tiếp tục đến những năm sau đó, tƣơng ứng là 19.8 tỷ năm 2010 và 15.5 tỷ năm 2011.  
Sự suy giảm đáng kể này phần lớn là do tác động của khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu  
làm cho các nƣớc chủ đầu tƣ gặp khó khăn và cần cân nhắc các quyết định đầu tƣ của mình.  
Thêm vào đó, dƣới tác động của khủng hoảng, nền kinh tế Việt Nam cũng rơi vào suy thoái  
và làm giảm đi tính hấp dẫn của môi trƣờng đầu tƣ từ đó việc thu hút FDI trở nên khó khăn  
hơn. Năm 2013, tình hình có vẻ khả quan hơn từ những triển vọng tăng trƣởng trở lại của sản  
xuất trong nƣớc và dòng vốn FDI tăng nhẹ từ 10,4 tỷ USD năm 2012 lên 11,5 tỷ năm 2013  
cho thấy dấn hiệu khả quan của sản xuất nội địa nói chung.  
Liên kết giữa doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài với doanh nghiệp nội địa ở  
Việt Nam  
Mặc dù thu hút FDI vào Việt Nam và những đóng góp của khu vực này cho tăng trƣởng  
kinh tế đất nƣớc đƣợc coi nhƣ một điểm sáng trong bức tranh kinh tế của Việt Nam trong  
những năm gần đây, nhƣng việc liên kết giữa doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp nội địa  
lại đƣợc xem nhƣ một vấn đề chƣa đƣợc khai thác một cách xứng đáng. Sự kém phát triển của  
các ngành công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp phụ trợ đã làm cho mối liên kết giữa các  
doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp nội địa trở nên mờ nhạt. Các doanh nghiệp nội không  
những không tận dụng đƣợc những lợi thế mà FDI mang lại mà ngày càng tụt hậu xa hơn so  
với các doanh nghiệp FDI không chỉ trên thƣơng trƣờng quốc tế mà ngay cả ở thị trƣờng  
trong nƣớc.  
Theo điều tra của Tổ chức thúc đẩy thƣơng mại Nhật Bản (JETRO), tỷ lệ nội địa hóa  
của các doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam rất thấp. Năm 2012, tỷ lệ này là 27.9%, năm  
2013 đã tăng lên 32.2% nhƣng vẫn thấp hơn nhiều so với tỷ lệ trung bình chung và tỷ lệ này  
của các nƣớc trong khu vực.  
11  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Bảng 2. Tỷ lệ nội địa hóa của các doanh nghiệp Nhật Bản ở Việt Nam và các nước trong khu vực năm  
2013 Đơn vị tính: %  
Tên nước  
Tỷ lệ  
Trung Quốc  
Thái Lan  
Indonesia  
60.8  
52.9  
43.3  
32.2  
47.8  
Việt Nam  
Trung bình chung của khu vực  
Nguồn: JETRO Việt Nam  
Nhƣ vậy, tỷ lệ nội địa hóa của các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam thấp hơn mức  
trung bình chung của các nƣớc trong khu vực 15.6%, thấp hơn tỷ lệ này ở Trung Quốc là  
28.6%, thấp hơn Thái Lan là 20.7%, thấp hơn Indonesia là 11.1%. Điều này đƣợc lý giải bởi  
nguyên nhân xuất phát từ sự yếu kém của công nghiệp phụ trợ của Việt Nam, một trong  
những hạn chế của môi trƣờng đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài cần phải đƣợc cải thiện trong thời  
gian tới để có thể hấp dẫn các nhà đầu tƣ tiếp tục đầu tƣ vào Việt Nam.  
Tỷ lệ các nhà cung cấp nguyên phụ liệu cho các doanh FDI lớn ở việt Nam ở mức thấp,  
chỉ mới chiếm khoảng 30%, 70% linh phụ kiện còn lại là các doanh nghiệp FDI phải nhập  
khẩu từ nƣớc ngoài.  
Bảng 3. Tỷ lệ nhà cung cấp linh phụ kiện của một số doanh nghiệp FDI ở Việt Nam (%)  
Tên DN  
Toyota  
Samsung  
Toshiba  
Canon  
Tỷ lệ nhà cung cấp nội địa  
Tỷ lệ nhà cung cấp nước ngoài  
35  
30  
33  
30  
65  
70  
67  
70  
Nguồn:JETRO Việt Nam và tổng hợp của tác giả  
Các nhà cung cấp linh phụ kiện cho các doanh nghiệp FDI ở Việt Nam chủ yếu là các  
doanh nghiệp nhỏ và vừa với quy mô đầu tƣ nhỏ và hệ thống máy móc lạc hậu nên khó có thể  
đáp ứng đƣợc yêu cầu về độ chính xác và chất lƣợng cao mà các doanh nghiệp FDI yêu cầu.  
Đây cũng chính là lý do mà tính liên kết của các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa  
còn lỏng lẻo.Hiện nay, tại Việt Nam có hơn 50 doanh nghiệp lắp ráp ô tô (gồm cả doanh  
nghiệp trong nƣớc và có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài), trình độ sàn sàn nhƣ nhau, giá trị gia tăng  
thu đƣợc chủ yếu thông qua khâu sơn, hàn, lắp ráp… Trong khi đó, số doanh nghiệp trong  
nƣớc sản xuất phụ tùng, linh kiện phụ trợ mới có khoảng 60 đơn vị. Bình quân mỗi doanh  
nghiệp lắp ráp ô tô chƣa đến 2 nhà sản xuất linh kiện phụ trợ cho mình. Hơn 90% linh kiện,  
phụ tùng ô tô lắp ráp hiện nay vẫn do các công ty mẹ hoặc từ TNCs nƣớc ngoài cung cấp.  
Thực trạng phát triển thiếu tính ổn định, bền vững của ngành công nghiệp ô tô hiện nay một  
phần quan trọng là do công nghiệp phụ trợ chƣa phát triển mạnh.  
Ngành công nghiệp điện tử cũng không sáng sủa gì hơn. Trong số vài trăm doanh  
nghiệp đang hoạt động, chỉ có khoảng ¼ số đơn vị tham gia sản xuất phụ tùng, linh kiện,  
phần lớn trong số này là doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài, sản xuất phục vụ xuất  
khẩu là chủ yếu, tỷ lệ nội địa hóa của sản phẩm mới chỉ đạt 20%.  
Ở Việt Nam cho đến nay sản phẩm công nghiệp phụ trợ chủ yếu do các doanh nghiệp  
nhà nƣớc sản xuất, phần lớn cung cấp những sản phẩm có chật lƣợng kém và giá thành cao  
nên chỉ tiêu thụ đƣợc trong nội bộ khu vực kinh tế nhà nƣớc. Một bộ phận khác, phần lớn là  
những sản phẩm công nghiệp phụ trợ cấp thấp, do các hộ kinh doanh cá thể sản xuất cũng  
gặp khó khăn về vốn, công nghệ. Kết quả điều tra của Tổ chức Xúc tiến thƣơng mại Nhật  
Bản (JETRO) đầu năm 2006 cho thấy, ngay cả những địa bàn tập trung các doanh nghiệp  
12  
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)  
FDI của Nhật Bản với các dự án lớn của TNCs hàng đầu nhƣ Toyota, Honda, Suzuki,  
Canon, Fujitsu… do tình hình hoạt động kém hiệu quả của các doanh nghiệp nội địa, các  
doanh nghiệp FDI tuy muốn tăng tỷ lệ nội địa hóa để giảm giá thành sản phẩm nhƣng rất  
khó tìm đƣợc nguồn cung cấp công nghiệp phụ trợ đáng tin cậy.  
Hầu hết các doanh nghiệp của Việt Nam vẫn duy trì phong cách làm ăn ―tự cung tự  
cấp‖ và có xu hƣớng khép kín trong sản xuất. Theo ý kiến đánh giá của các chuyên gia kinh  
tế, các doanh nghiệp Việt Nam có thể ―một mình một ngựa‖ đƣợc là bởi vì còn ―dƣ địa  
hoang sơ‖. Song khi gia nhập WTO, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ không còn yếu tố đó mà  
sẽ phải xếp hàng trong một cuộc chơi toàn cầu với những trật tự riêng của nó.  
Công nghiệp phụ trợ của Việt Nam yếu vì xuất phát từ nhiều nguyên nhân: Khi tiến  
hành khảo sát các doanh nghiệp điện tử trong cả nƣớc phục vụ cho việc xây dựng quy hoạch  
tổng thể phát triển ngành công nghiệp điện tử Việt Nam của Hiệp Hội doanh nghiệp điện tử  
Việt Nam đầu năm 2006, kết quả cho thấy vô cùng ảm đạm. Công ty Fujitsu Việt Nam –  
một doanh nghiệp FDI lớn có kim ngạch xuất khẩu hàng năm trên dƣới nửa tỷ USD phải  
nhập khẩu 100% linh kiện phụ tùng và nguyên vật liệu từ nƣớc ngoài; Công ty Panasonic  
Việt Nam, Công ty Sanyo Việt Nam chỉ mua đƣợc thùng cactong, xốp chèn từ các doanh  
nghiệp Việt Nam. Công ty Canon, mặc dù đã đầu tƣ gần 300 triệu USD xây dựng các nhà  
máy sản xuất linh kiện Việt Nam ở Hà Nội, Bắc Ninh cũng không tìm đƣợc một nhà cung  
cấp linh kiện Việt Nam, hơn 30 nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng khác cho Canon là các  
doanh nghiệp FDI. Đích thân công ty Canon đã cử cán bộ đi khảo sát hơn 20 doanh nghiệp  
sản xuất ốc vít trong nƣớc, nhƣng không thể tìm đƣợc loại ốc vít đạt yêu cầu. Từ trƣờng hợp  
công ty Honda hoạt động ở tỉnh Vĩnh Phúc cho thấy, tỷ lệ nội địa hóa tăng khá nhanh, từ  
10% đến 60% trong năm năm (1988 – 2002). Kết quả này trƣớc hết bắt nguồn từ kế hoạch  
và dự báo về khả năng đẩy mạnh sản xuất của Honda ở Việt Nam. Tuy nhiên, trong việc gia  
tăng tỷ lệ nội hóa của Honda ở Việt Nam, vai trò của công nghiệp phụ trợ trong nƣớc là hết  
sức mờ nhạt. Phần lớn các bộ phận, linh kiện và nhiều sản phẩm công nghiệp phụ trợ khác  
đều do Honda tự sản xuất trong nội bộ nhà máy hoặc mua từ các doanh nghiệp FDI khác.  
Honda đã khảo sát hàng trăm doanh nghiệp trong nƣớc sản xuất công nghiệp phụ trợ trong  
ngành xe máy, nhƣng cho đến nay cũng chỉ mới chọn ra đƣợc 13 công ty có khả năng cung  
cấp công nghiệp phụ trợ đủ tiêu chuẩn về chất lƣợng.  
Hơn 10 năm qua, kể từ khi các tên tuổi hàng đầu trong ngành công nghiệp ô tô Nhật  
Bản có mặt trong các liên doanh với các đối tác Việt Nam, tỷ lệ nội hóa của các liên doanh  
này vẫn là đề tài đầy tranh cãi. Nếu tính tổng thể cả ngành, Việt Nam hiện có trên 200  
doanh nghiệp tham gia sản xuất, lắp ráp, sửa chữa và chế tạo phụ tùng ô tô, trong đó có 90  
cơ sở sản xuất, lắp ráp ô tô và chế tạo phụ tùng, song vẫn chƣa có nhà máy nào đầu tƣ vào  
chế tạo các bộ phận quan trọng của ô tô nhƣ: động cơ, hộp số, hệ thống chuyển động. Nếu  
so với Thái Lan, với 2.000 cơ sở chế tạo phụ tùng thì số lƣợng các nhà sản xuất phụ tùng,  
linh kiện ở Việt Nam hiện quá ít. Trong nhiều năm qua, công nghiệp ô tô trong nƣớc chủ  
yếu đƣợc phản ánh qua hoạt động của 11 liên doanh có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Nhƣng các  
doanh nghiệp này mới chỉ dừng lại ở việc lắp ráp ô tô dạng CKD là chính, trình độ công  
nghệ sản xuất, lắp ráp gần giống nhau, tỷ lệ trong nƣớc đạt thấp, chủ yếu là giá trị sơn, hàn,  
lắp ráp. Hơn 90% giá trị các bộ linh kiện, phụ tùng lắp ráp vào xe đƣợc cung cấp từ các  
công ty mẹ hoặc từ các công ty liên doanh của họ ở các nƣớc trong khu vực. Trong số các  
liên doanh này, đến nay mới chỉ có Toyota Việt Nam là nỗ lực trong việc nâng cao tỷ lệ nội  
hóa thông qua những nỗ lực kêu gọi các ―vệ tinh‖ cùng phát triển công nghiệp phụ trợ. Đây  
cũng là doanh nghiệp ô tô duy nhất trong cả nƣớc hiện có đủ 4 công đoạn cơ bản mà nhà  
sản xuất ô tô phải có là dập, hàn, sơn, lắp ráp. Cam kết nội địa hóa 30 – 40% sau hơn 10  
năm hoạt động của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp ô tô Việt Nam cho đến nay vẫn chƣa  
13  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
thể đạt đƣợc, trong khi giá thành sản phẩm lại quá cao mà nguyên nhân cơ bản là sự yếu  
kém của công nghiệp phụ trợ.  
Sự yếu kém của công nghiệp phụ trợ đã gây ra rất nhiều khó khăn cho các doanh  
nghiệp lắp ráp. Nhƣ đã biết, mỗi chiếc xe bất kỳ đều cần khoảng 20.000 đến 30.000 chi tiết  
với hàng nghìn linh kiện, trong khi đó số doanh nghiệp sản xuất linh kiện còn quá ít, chƣa  
kể các doanh nghiệp đó chỉ sản xuất đƣợc một số loại sản phẩm nhƣ săm, lốp, dây điện….  
Từ đó, các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp phải phụ thuộc vào nguồn linh kiện từ nƣớc  
ngoài.  
Về cơ bản, Việt Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh mẽ ngành công  
nghiệp phụ trợ nhƣ nguồn nguyên liệu, nhiên liệu, về trình độ nhân công cho những sản  
phẩm tinh xảo và đặc biệt là đang có hàng trăm các doanh nghiệp hoạt động trong ngành cơ  
khí – chế tạo máy, đó là chƣa kể đến lực lƣợng hùng hậu các xƣởng, cơ sở kim khí, làng  
nghề truyền thống trên khắp cả nƣớc.  
Tƣơng tự đối với ngành điện tử, trƣờng hợp của Công ty Fujitsu khi hơn 6 năm trƣớc  
đây, doanh nghiệp đã đi khắp cả 64 tỉnh, thành phố Việt Nam chỉ để tìm một chi tiết rất nhỏ  
là chiếc ốc vít - nhƣng kết quả cuối cùng là con số không. Sự thật hiển nhiên là sản xuất  
chiếc ốc vít không hề khó và có tới cả trăm cơ sở sản xuất. Vấn đề là ở chỗ, chiếc ốc vít  
phải đạt tiêu chuẩn, không chỉ về mẫu mã, mà cả chất lƣợng cũng phải đồng đều trăm cái  
nhƣ một.  
Khi gia nhập WTO, ngành công nghiệp ô tô, xe máy, công nghiệp điện, điện tử Việt  
Nam đang gặp khó khăn lớn. Công nghiệp phụ trợ mặc dù đƣợc coi là nền tảng cấu thành  
môi trƣờng thu hút đầu tƣ của TNCs Nhật Bản thì hiện vẫn đang ở vạch xuất phát. Các  
doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp lại phân tán, chia rẽ theo các hƣớng khác nhau. Hơn nữa,  
khoảng cách về tiêu chuẩn chất lƣợng giữa các doanh nghiệp trong nƣớc và nƣớc ngoài là  
quá lớn. Nhu cầu về các sản phẩm nhựa có độ tinh xảo cao nhƣ các loại bánh răng, trục,  
thanh gạt hay thậm chí là vỏ máy là rất lớn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp FDI cũng đối mặt  
không ít khó khăn ngay cả thị trƣờng trong nƣớc có tới gần 200 doanh nghiệp ép nhựa với  
trình độ công nghệ của phần lớn các doanh nghiệp này chỉ dừng lại ở mức sản xuất các sản  
phẩm tiêu dùng thông thƣờng.  
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới tình trạng liên kết lỏng lẻo giữa các doanh nghiệp FDI  
và các doanh nghiệp nội địa, nhƣng về cơ bản, có thể quy về hai nhóm nguyên nhân là  
nguyên nhân từ phía chính phủ và nguyên nhân từ phía doanh nghiệp  
Về phía chính phủ, việc hoạch định cơ chế, chính sách ở Việt Nam, mới chỉ thuộc  
phạm vi của Chính phủ, ít có sự tham gia của các của các nhà tài trợ, các chuyên gia, các nhà  
khoa học. Các định chế trung gian để hỗ trợ các doanh nghiệp trong phát triển sản phẩm công  
nghiệp hỗ trợ còn thiếu, đặc biệt là các chính sách hỗ trợ tài chính. Các quy định về quản lý  
hành chính còn rƣờm rà, đang là một trong những trở ngại thu hút đầu tƣ.  
Chúng ta chú trọng nhiều đến việc giảm bớt thủ tục để thuận lợi cho nhà đầu tƣ, mà  
chƣa chú ý đến khâu hậu kiểm xem họ làm gì, làm nhƣ thế nào, đúng với cam kết không.  
Điều này đã dẫn đến có những doanh nghiệp FDI cam kết đầu tƣ, đƣợc cấp hàng trăm héc-ta  
đất, nhƣng trên thực tế lƣợng vốn chuyển vào đầu tƣ chẳng đƣợc bao nhiêu hoặc có nhà đầu  
tƣ nƣớc ngoài đã giả danh vào Việt Nam đầu tƣ, rồi vay nợ làm ăn thua lỗ, bỏ nhà máy, bỏ dự  
án về nƣớc...  
Về phía doanh nghiệp là độ tin cậy của nhà cung cấp chƣa cao, về chất lƣợng, giá cả,  
lẫn sự phong phú chủng loại sản phẩm của Việt Nam. Điều này làm các doanh nghiệp khi đầu  
tƣ vào ngành công nghiệp hỗ trợ gặp không ít khó khăn vì phải đầu tƣ luôn một tập hợp các  
nhà cung cấp cho mình, do đó, họ chọn cách nhập khẩu. Hạ tầng cung ứng cho doanh nghiệp  
14  
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)  
khi tham gia vào công nghiệp hỗ trợ chƣa tốt, thiếu thốn và chi phí cao, điều này sẽ làm chi  
phí sản xuất tăng lên và nhiều doanh nghiệp không dám đầu tƣ.  
Số lƣợng, thiết bị máy công nghiệpcòn hạn chế, công nghệ cũ, lạc hậu; trình độ tự động  
hóa thấp… nên sản phẩm của các ngành hỗ trợ chất lƣợng kém, giá thành cao,chủ yếu tiêu thụ  
trong nội bộ các DNNN, còncác sản phẩm chất lƣợng cao phần lớn do các công ty nƣớc ngoài  
đảm nhiệm. Các doanh nghiệp trong nƣớc không đủ niềm tin và ý thức tích lũy kỹ năng, nhƣ  
yêu cầu tính năng, chất lƣợng, giá thành, thời gian giao hàng, dịch vụ,… Việc thiếu nguồn  
nhân lực công nghệ cao một phần do xã hội chƣa quan tâm đúng mức đối với các ngành  
CNHT, một phần do chất lƣợng đào tạo hiện nay còn thấp, sự chậm trễ trong chuyển giao  
công nghệ và bản thân đội ngũ lao động còn thiếu nhiệt tình, ngại học hỏi, tiếp thu kiến thức  
mới.  
Các kênh thông tin giữa các doanh nghiệp FDI/nhà lắp ráp; các công ty nội địa, các tập  
đoàn lớn bên ngoài đặc biệt là các tập đoàn của Nhật Bản còn thiếu. Chƣa có cơ sở dữ liệu  
quốc gia về lĩnh vực này. Chính nguyên nhân này khiến các nhà sản xuất gặp rất nhiều khó  
khăn trong việc tìm kiếm đơn vị cung cấp linh kiện, dịch vụ hỗ trợ và tìm kiếm đầu ra cho sản  
phẩm.  
Tính hợp tác - liên kết giữa các doanh nghiệp hỗ trợ với các doanh nghiệp sản xuất lắp  
ráp, giữa nhà lắp ráp với các nhà sản xuất hỗ trợ, giữa các nhà sản xuất hỗ trợ với nhau còn  
yếu. Đặc biệt, là khối doanh nghiệp trong nƣớc và khối doanh nghiệp FDI. Sự kém năng  
động, nhạy bén của các nhà cung cấp Việt Nam đã cản trở ―xây dựng quan hệ‖ trong kinh  
doanh.  
3.2. Kinh nghiệm rút ra từ bài học của Thái Lan  
Thứ nhất, các chính sách liên kết cần đƣợc hình thành dựa vào các trụ cột cơ bản dƣới  
đây: một là, cải thiện môi trƣờng đầu tƣ để thu hút FDI- Tập đoàn đa quốc gia. Hai là, Cần có  
chiến lƣợc thu hút FDI một cách bài bản và năng động. Ba là, cần đƣa ra các chính sách liên  
kết cụ thể phù hợp với từng quốc gia và từng ngành. Bốn là, nâng cao khả năng hấp thu của  
các doanh nghiệp SME, các nhà cung cấp nội địa. Bốn lĩnh vực chính sách quan trọng hỗ trợ  
lẫn nhau trong một khuôn khổ nhằm đáp ứng đầy đủ lợi ích chung của các công ty đa quốc  
gia, doanh nghiệp địa phƣơng và củng cố mục tiêu phát triển trong nƣớc  
Thứ hai, xây dựng mạng lƣới liên kết các doanh nghiệp.Để thúc đẩy phát triển các mối  
liên kết MNC với các doanh nghiệp địa phƣơng cần thiết lập một mạng lƣới liên kết bao gồm  
cả các tổ chức công trực thuộc chính phủ hoặc các Bộ nhƣ BUILD, BOI, VSID…cũng nhƣ  
các tổ chức tƣ nhân của các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhƣ SPC và các tổ chức hiệp hội.  
Thứ ba, nâng cao năng lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa. Để làm đƣợc điều  
này Chính phủ và các tổ chức hỗ trự phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa cần phải xây dựng  
đƣợc các chƣơng trình đào tạo, tƣ vấn, cung cấp thông tin cho các nhà cung cấp địa phƣơng.  
Các hỗ trợ chủa chính phủ nhƣ hỗ trợ phát triển công nghệ, hỗ trợ tài chính, đào tạo nguồn  
nhân lực là hết sức cần thiết. Bên cạnh đó các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần liên kết với nhau  
nhằm chia sẻ kinh nghiệm và huy động nguồn lực.  
Thứ tƣ, xây dựng cơ sở dự liệu về các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nhà cung cấp địa  
phƣơng. Xây dựng cơ sở dữ liệu về các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nhà cung cấp địa  
phƣơng có vai trò quan trọng để kết nối với các MNC. Cơ sở dữ liệu này cần đƣợc cập nhật  
thƣờng xuyên để các tập đoàn đa quốc gia dễ dàng tìm kiếm các thông tin về các nhà cung  
cấp, từ đó có các biện pháp để hỗ trợ các doanh nghiệp này tham gia vào các khóa đào tạo cho  
các nhà cung cấp để họ có thể thâm nhập vào mạng lƣới sản xuất toàn cầu.  
15  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Thứ năm, phát triển các cụm ngành công nghiệp. Phát triển cụm ngành công nghiệp là  
một trong những ƣu tiên hàng đầu trong Chính sách hỗ trợ SMEs và hỗ trợ phát triển các liên  
kết theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang theo ngành, cũng nhƣ liên kết các doanh nghiệp với các  
Viện nghiên cứu, các trƣờng đại học. Thái Lan đã rất thành công trong phát triển cụm ngành  
công nghiệp ô tô và phụ tùng ô tô. Việc áp dụng chính sách phát triển cụm ngành công nghiệp  
các các nƣớc công nghiệp phát triển, các nƣớc NICs và các nƣớc đang phát triển tăng trƣởng  
nhanh nhƣ Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil và Malaysia đã nâng cấp và phát triển nền  
tảng công nghiệp của họ một cách nhanh chóng, đặc biết là phát triển công nghiệp hỗ trợ, cho  
phép các nƣớc này huy động các nguồn lực, tăng cƣờng các mối liên kết mới về tổ chức lãnh  
thổ để nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.  
Thứ sáu, xây dựng và triển khai thành công các chƣơng trình thúc đẩy liên kết MNC  
với các doanh nghiệp địa phƣơng và kết nối kinh doanh hay thầu phụ. Thái Lan đã rất thành  
công trong triển khai xây dựng chƣơng trình OTOP, các chƣơng trình gặp gỡ khách hàng.  
Thứ bảy, phát triển thị trƣờng nội địa kết hợp xuất khẩu. Chính phủ Thái Lan, Malaysia  
luôn chú trọng tới các chính sách khuyến khích phát triển thị trƣờng trong nƣớc vừa đẩy mạnh  
xuất khẩu sang các nƣớc ASEAN và toàn cầu. Đặc biệt là các chính sách gắn kết giữa công  
nghiệp với thƣơng mại.  
Thứ tám, khuyến khích các doanh nghiệp (cả FDI và doanh nghiệp nội địa) mua hàng  
trong nƣớc bằng các biện pháp nhƣ giảm thuế cho máy móc và nguyên liệu thô và thiết lập  
các kênh trao đổi thông tin giữa các nhà lắp ráp nƣớc ngoài với các nhà cung cấp trong nƣớc  
để giảm khoảng cách về thông tin và hiểu biết lẫn nhau.  
Kinh nghiệm về phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Thái Lan nhƣ một gợi ý tốt cho Việt  
Nam vì hai nƣớc có độ tƣơng đồng nhất định về trình độ phát triển kinh tế. Sự thành công của  
Thái Lan trong việc chú trọng phát triển công nghiệp hỗ trợ để thu hút mới và giữ chân các  
nhà đầu tƣ nƣớc ngoài sẽ là kinh nghiệm mà nhiều quốc gia trong khu vực, trong đó có Việt  
Nam đáng học tập. Việc hoạch định các chính sách và bƣớc đi cụ thể để phát triển công  
nghiệp hỗ trợ là một tiền đề quan trọng để thu hút mới đồng thời giữ chân các nhà đầu tƣ  
nƣớc ngoài nhằm tạo độ liên kết lâu dài trong sản xuất kinh doanh giữa nhà đầu tƣ nƣớc ngoài  
và các doanh nghiệp trong nƣớc. Đây là việc làm vô cùng quan trọng và có ý nghĩa để thúc  
đẩy trình độ sản xuất trong nƣớc, tạo đà cho tăng trƣởng bền vững của Việt Nam trong dài  
hạn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Hà Thị Hƣơng Lan (2014), Công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp ở Việt  
Nam, Luận án tiến sỹ.  
[2] Ngọc Quỳnh (2007), Công nghiệp phụ trợ hƣớng thu hút đầu tƣ quan trọng, Báo Hà Nội  
mới (11/4/2007), tr.4.  
[3] Nguyễn Ngọc Sơn, Trần Thị Bích Ngọc (2014), Liên kết với doanh nghiệp nội địa: Từ lý  
luận và thực tiễn ở một số nƣớc ASEAN, Kỷ yếu hội thảo.  
[4] Trần Văn Thọ (2005), Biến động kinh tế Đông Á và con đƣờng công nghiệp hóa Việt  
Nam, NXB CTQG Hà Nội, Tr.178.  
[5] JETRO, The 21th comparatitive survey of Investment-related cost in 31 cities and  
regions in Asia and Oceania.  
16  
pdf 12 trang Thùy Anh 18560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa kinh nghiệm của Thái Lan và bài học cho Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflien_ket_giua_doanh_nghiep_fdi_va_doanh_nghiep_noi_dia_kinh.pdf