Lệch pha trong thị trường vốn vay dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ và sự bất hợp lý của các chương trình bảo lãnh tín dụng của nhà nước
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
LỆCH PHA TRONG THỊ TRƢỜNG VỐN VAY DÀNH CHO DOANH NGHIỆP
VỪA VÀ NHỎ VÀ SỰ BẤT HỢP LÝ CỦA CÁC CHƢƠNG TRÌNH BẢO LÃNH
TÍN DỤNG CỦA NHÀ NƢỚC
MARKET GAP IN THE DEBT MARKET FOR SMES AND IRRELEVANCE OF
GOVERNMENT‟S CREDIT GUARANTEE PROGRAM
ThS. Đoàn Thị Liên Hương - Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng
Kỹ sư Lê Trường Kỹ - Dinco Corp.
TÓM TẮT
Tầm quan trọng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) đối với nền kinh tế và những khó khăn về vốn
mà loại hình này gặp phải đ đặt ra yêu cầu phải có hỗ trợ của nhà nước để giúp các doanh nghiệp này tiếp cận
với các nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn vay. Tuy nhiên sự can thiệp của nhà nước chỉ có ý nghĩa khi có minh
chứng về sự tồn tại của lệch pha giữa cung và cầu trong thị trường vốn. ệch pha là một thất bại của thị trường
mà chỉ có sự can thiệp của nhà nước mới có thể giải quyết. Qua ph n tích tổng hợp từ lý thuyết và số liêu thực
tế,bài báo đề xuất luận cứ rằng mặc d theo các lý thuyết, có thể tồn tại một lệch pha trong thị trường vốn của
DNVVN tại Việt Nam do bất đối xứng về thông tin, song không có nhiều dữ liệu thực tế để minh chứng lập luận
này. Bài báo c ng đặt ra c u hỏi về tính cấp thiết của các chương trình bảo l nh tín dụng cho DNVVN đang được
thực hiện, và đề xuất một số ý tưởng thay thế.
Từ khóa: Doanh nghiệp vừa và nhỏ, lệch pha thị trường, tiếp cận vốn, bảo l nh tín dụng, bất đối xứng thông
tin
ABSTRACT
The importance of SMEs to the economy and their financing difficulty especially in debt market imply the
government’s support to improve SMEs’ access to finance. However, the government intervention is required only
when it is proven that a market gap exists. From an analysis of theoretical and empirical literature of the problem
in Vietnam, this paper aims to show that although theories suggest a market gap in the debt market for SMEs
due to asymmetric information, there is not enough empirical studies to accept this hypothesis in the context of
Vietnam. This paper also raises issues about the relevance of the government’s credit guarantee program for
SMEs, and hence suggests alternatives.
Key Words: SMEs, market gap, access to finance, credit guarantee, asymmetric information
1. Đặt vấn đề
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là trọng tâm nghiên cứu của rất nhiều các nhà kinh tế
học cũng nhƣ những ngƣời làm chính sách. Loại doanh nghiệp này giữ vai trò quan trọng do chiếm
đông đảo về số lƣợng và là thành phần chủ lực tạo ra công ăn việc làm cho nền kinh tế. Theo Hiệp hội
Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam [1], có đến 96% doanh nghiệp đăng ký ở Việt Nam là DNVVN.
Khối này tạo ra đến 40% tổng sản phẩm quốc nội, tạo ra hơn 1 triệu việc làm mới mỗi năm, chủ yếu
mang lại lợi ích đặc biệt cho nguồn lao động chƣa qua đào tạo. DNVVN đƣợc coi là động cơ của sự
phát triển kinh tế [2] với tầm quan trọng đã đƣợc chứng minh trong nhiều nghiên cứu [3].
Tuy nhiên, các DNVVN phải đối mặt với nhiều khó khăn về nguồn vốn, họ không chỉ gặp nhiều
rào cản hơn so với các doanh nghiệp lớn mà đồng thời tác động của các rào cản này cũng sẽ nặng nề
hơn [4]. Do tầm quan trọng của các DNVVN và đồng thời những khó khăn đặc thù mà họ gặp phải
nên các chính phủ đều đặt ra mục tiêu đảm bảo cho các DNVVcó đƣợc nguồn vốn cần thiết để đầu tƣ
và tăng trƣởng. Cơ sở của sự can thiệp này là lập luận cho rằng có tồn tại một sự ―lệch pha‖ (gap)
trong thị trƣờng vốn dành cho DNVVN. Sự ―lệch pha‖ này chính là sự thiếu cân bằng một cách hệ
370
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
thống giữa cung và cầu nguồn vốn dành cho DNVVN –đặc biệt là nguồn vốn vay dẫn đến hiện tƣợng
một số các doanh nghiệp quy mô nhỏ sẽ bị từ chối cho vay bất chấp khả năng tồn tại và phát triển của
họ. Trong trƣờng hợp có một sự thất bại của thị trƣờng nhƣ vậy thì sự can thiệp của nhà nƣớc là vô
cùng cần thiết.
Tuy nhiên, một lập luận khác lại cho rằng các doanh nghiệp không thể có đƣợc vốn vì một số lý
do nhất định: có thể là do hoạt động kinh doanh quá rủi ro, hoặc họ đang tìm kiếm loại vốn không phù
hợp. Do đó, để chứng minh đƣợc tính cấp thiết của các chính sách hỗ trợ tiếp cận vốn cho các
DNVVN và cách thức vận hành sao cho các chính sách này thực sự có hiệu quả, trƣớc hết cần phải chỉ
ra đƣợc sự tồn tại của một thất bại thị trƣờng (market failure) hay còn gọi sự lệch pha thị trƣờng
(market gap) đối với thị trƣờng vốn dành cho DNVVN. Thất bại hay sự lệch pha tồn tại khi mà một
loại doanh nghiệp nào đó bị bất lợi một cách hệ thống (systematically disadvantaged) trong việc tiếp
cận nguồn vốn cho dù các doanh nghiệp này có sức tồn tại (viability) hay không.
Bài báo này nhằm mục tiêu đƣa ra một phân tích về các lệch pha trong thị trƣờng vốn vay dành
cho DNVVN tại Việt Nam dựa trên sự nghiên cứu các tài liệu lý thuyết cũng nhƣ các số liệu thực tế;
từ đó đƣa ra một số gợi ý cho các chƣơng trình hỗ trợ vốn cho DNVVN từ phía nhà nƣớc, đặc biệt là
chƣơng trình bảo lãnh tín dụng cho DNVVN đang đƣợc triển khai.
2. Định nghĩa về sự lệch pha của thị trƣờng (market gap)
Không có một định nghĩa chung cho thuật ngữ ―lệch pha thị trƣờng‖. Một cách hiểu thông dụng
của ―lệch pha thị trƣờng‖ là không tồn tại thị trƣờng của một loại hàng hóa hay dịch vụ nào đó. Một ý
nghĩa khác của ―lệch pha‖ hàm ý sự thiếu hụt: theo đó, cung một loại hàng hóa thấp hơn so với cầu
của loại hàng hóa đó nên cầu không thể đƣợc đáp ứng hoàn toàn. Theo kinh tế học, tình trạng thiếu hụt
(hay thặng dƣ) xảy ra khi mức giá của sản phẩm hay dịch vụ quá thấp (cao).
Trong bài báo này, tác giả sử dụng định nghĩa của EU, theo đó sự lệch pha trong thị trƣờng tài
chính của DNVVN là ―sự không tƣơng xứng giữa cung và cầu của các công cụ tài chính dành cho
DNVVN‖ 18. Sự lệch pha theo định nghĩa này đƣợc xem là ―sự bất hoàn hảo của thị trƣờng‖
(imperfection of market). Sự bất hoàn hảo xảy ra do các nguyên nhân nhƣ các rào cản về hành chính
nhƣ các luật, các quy định, mức phí giao dịch v.v. ngăn cản sự cân bằng giữa cung và cầu. Rào cản
cũng có thể là không có một địa điểm làm nơi gặp gỡ giữa những ngƣời cung cấp nguồn vốn và ngƣời
có nhu cầu vốn. Tuy nhiên, đối với thị trƣờng vốn dành cho DNVVN, nguyên nhân chính của lệch pha
là do bất đối xứng về thông tin [5], là hiện tƣợng khi ngƣời cung cấp vốn có ít thông tin hơn so với
những ngƣời chủ doanh nghiệp đang tìm kiếm nguồn vốn.
Nhƣ đã trình bày ở trên, các chính sách công phát huy hiệu quả tốt nhất chỉ khi đƣợc căn cứ trên
các dẫn chứng rõ ràng về các thất bại thị trƣờng, hoặc các bất hoàn hảo của thị trƣờng cản trở sự phát
triển của nền kinh tế. Tuy nhiên một số hiện tƣợng sau đây hay bị nhầm lẫn là lệch pha thị trƣờng. Thứ
nhất, một số doanh nghiệp không thể có đƣợc vốn vay do họ không thể hoặc/và không muốn chi trả ở
mức giá thị trƣờng. Thứ hai, một số DNVVN không thể vay đƣợc vốn do không đáp ứng đƣợc điều
kiện đảm bảo rằng món vay phải đƣợc hoàn trả. Nhƣ vậy nếu các công ty này bị từ chối cho vay do
một hoặc cả hai nguyên nhân nhƣ trên thì không phải là sự lệch pha19. Một ―lệch pha‖ thị trƣờng hay
18 European Court of Auditors, 2012, trang 6
19 Báo cáo thƣờng niên doanh nghiệp năm 2013 của VCCI cho thấy 40.5% doanh nghiệp không vay vốn nêu lý do vì lãi suất
vẫn rất cao.Tuy nhiên, nhƣ đã phân tích ở trên, đây không hẳn là dấu hiệu của hiện tƣợng ―lệch pha thị trƣờng‖.
371
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
một ―bất hoàn hảo‖ thị trƣờng chỉ tồn tại nếu một loại doanh nghiệp nào đó xứng đáng đƣợc vay vốn
thì lại không thể tiếp cận đƣợc vốn một cách hệ thống.
Từ phƣơng diện phƣơng pháp luận chung, một trong những cách để chỉ ra rằng có một sự lệch
pha trong thị trƣờng trong thực tế là chứng minh rằng một số các công ty không thể tiếp cận đƣợc
nguồn vốn mặc dù xứng đáng (tức đã đáp ứng đƣợc cả hai điều kiện ở trên). Hay nói cách khác, để
chứng minh đƣợc ―sự lệch pha‖, ta phải xác định đƣợc mức độ mà một biến số cụ thể nào đó ví dụ
nhƣ quy mô doanh nghiệp, hay định hƣớng về công nghệ v.v. chứ không phải thu nhập kỳ vọng của
món vay (giá) ảnh hƣởng đến khả năng tiếp cận vốn [6].
Phần tiếp theo của bài báo sẽ đề cập kỹ hơn đến câu hỏi có hay không tồn tại một sự lệch pha
trong thị trƣờng vốn vay dành cho DNVVN ở Việt Nam trên phƣơng diện lý thuyết cũng nhƣ là căn
cứ trên các số liệu thực tế.
3. Lệch pha trong thị trƣờng tín dụng từ góc nhìn học thuật
Trong phần này, tác giả sẽ tóm tắt lại các lý thuyết và mô hình kinh tế học chứng minh rằng
trong thị trƣờng vốn vay của các DNVVN, luôn luôn tồn tại một bất đối xứng về thông tin, đây chính
là một sự bất hoàn hảo của thị trƣờng làm cho cung và cầu luôn luôn không thể bằng nhau. Các bất đối
xứng thông tin này, nếu tồn tại, chính là cơ sở cho sự can thiệp của nhà nƣớc.
3.1. Bất đối xứng thông tin –nguyên nhân của lệch pha trong thị trường tín dụng
Các nghiên cứu học thuật trƣớc đây cũng chỉ ra rằng thƣờng tồn tại một sự lệch pha trong thị
trƣờng vốn vay dành cho DNVVN và nguyên nhân chủ yếu là do bất đối xứng về thông tin [7]. Bất
đối xứng về thông tin trong thị trƣờng vốn hàm ý rằng các doanh nghiệp có nhiều kiến thức và thông
tin về hoạt động kinh doanh của mình hơn so với các nhà đầu tƣ hoặc ngƣời cho vay. Do đó, các nhà
cấp vốn (ngƣời cho vay) thƣờng khó phân biệt giữa một công ty ―tốt‖ và công ty ―xấu‖.
Vấn đề bất đối xứng thông tin này trở nên đặc biệt trầm trọng đối với các doanh nghiệp nhỏ.
Thứ nhất, khi các doanh nghiệp đang còn ở giai đoạn khởi sự ban đầu, khi đang còn phải phát triển và
thử nghiệm các ý tƣởng về sản phẩm hay dịch vụ, tài sản của họ phần lớn còn nằm dƣới dạng vô hình
(ý tƣởng, tài sản trí tuệ), họ thƣờng không muốn khi chia sẻ các ý tƣởng này với ngƣời khác vì sợ bị
bắt chƣớc.
Thứ hai, khác với các doanh nghiệp lớn với hệ thống các báo cáo tài chính hoàn chỉnh cũng nhƣ
có đầy đủ các số liệu về các giao dịch với ngân hàng cũng nhƣ các đối tác quan trọng khác, các
DNVVN hoàn toàn thiếu các dữ liệu lịch sử để chứng minh về triển vọng của mình. Báo cáo tài chính
của DNVVN thƣờng thiếu sự nhất quán giữa các năm, thiếu độ tin cậy (không qua kiểm toán) và
không có các thông tin quan trọng liên quan tới các giao dịch của doanh nghiệp. Do đó, thông tin về
tình hình tài chính, lợi nhuận và triển vọng sinh lợi trong tƣơng lai có thể không đầy đủ hoặc không
chính xác.
Tình huống bất đối xứng về thông tin có thể dẫn tới tình trạng lựa chọn bất lợi (adverse
selection), khi mà khi ngân hàng từ chối cho vay đối với một doanh nghiệp tốt (lựa chọn bất lợi loại 1)
hoặc chấp nhận cho vay đối với một doanh nghiệp xấu (lựa chọn bất lợi loại 2). [8] chỉ ra rằng ngƣời
cho vay thƣờng tập trung tránh các sai lầm loại 2 hơn là các sai lầm loại 1.
Bên cạnh tình trạng ―lựa chọn bất lợi‖, cũng có thể xảy ra tình huống ―rủi ro đạo đức‖ (moral
harzard) khi mà các doanh nghiệp ra các quyết định mang lại lợi ích kinh tế cho họ, song có thể gây
372
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
tổn hại cho ngƣời cho vay, ví dụ nhƣ sử dụng vốn vay để đầu tƣ vào các dự án có rủi ro cao hơn so với
các dự án đã đƣợc ngƣời cho vay chấp thuận.
Nhƣ vậy, theo các lý thuyết trên, trong thị trƣờng tín dụng, để tránh cả tình trạng ―lựa chọn bất
lợi‖ cũng nhƣ ―rủi ro đạo đức‖, ngƣời cho vay thƣờng có xu hƣớng chặt chẽ hơn trong việc cho vay
đối với các DNVVN, thậm chí hạn chế cấp tín dụng cho đối tƣợng này bởi vì vấn đề bất đối xứng về
thông tin sẽ trầm trọng hơn so với các doanh nghiệp có quy mô lớn [9] [10]. Bên cạnh đó, để đối phó
với vấn đề thiếu thông tin, ngân hàng thƣờng có xu hƣớng đòi hỏi các tài sản thế chấp, cũng là một rào
cản mà DNVVN khó có thể đáp ứng. Nhƣ vậy, chính vấn đề bất đối xứng thông tin đã tạo nên nhiều
rào cản mang tính hệ thống khiến cho DNVVN khó có thể tiếp cận với nguồn vốn vay.
3.2. Bất đối xứng thông tin theo từng giai đoạn phát triển của doanh nghiệp
Mô hình của [11] minh họa rõ hơn quan điểm cho rằng sự bất đối xứng thông tin cản trở sự tiếp
cận vốn vay của doanh nghiệp ở những giai đoạn ban đầu khi quy mô còn nhỏ. Mô hình chỉ ra rằng
khả năng tiếp cận của DN đối với các nguồn vốn khác nhau sẽ thay đổi và phụ thuộc vào quy mô, tuổi
đời và mức độ minh bạch thông tin. Ba tiêu chí này thay đổi theo từng giai đoạn phát triển của doanh
nghiệp và do đó nó chi phối đến khả năng mà doanh nghiệp có thể tìm kiếm và tiếp cận đƣợc các
nguồn vốn phù hợp.
Theo mô hình này, doanh nghiệp càng phát triển về tuổi đời thì càng có thêm kinh nghiệm,
khác nhau cũng thay đổi. Ban đầu, khi doanh nghiệp mới khởi sự, họ cần vốn để biến các ý tƣởng kinh
doanh thành hiện thực. Nguồn vốn chủ yếu đến từ chủ doanh nghiệp và những ngƣời thân, tín dụng
thƣơng mại và những nhà đầu tƣ thiên thần (angel investor)20 [12]. Trên phƣơng diện lý thuyết, các
doanh nghiệp nhỏ này có độ mù mờ thông tin cao nhất do ở giai đoạn này, doanh nhân còn đang phải
phát triển các ý tƣởng về sản phẩm hay dịch vụ, nên họ ít muốn chia xẻ ý tƣởng. Bên cạnh đó, ở giai
đoạn phát triển ý tƣởng và thử nghiệm sản phẩm này, rủi ro cũng là lớn nhất nên DN gặp nhiều khó
khăn trong tìm kiếm các nguồn vốn vay qua trung gian bên ngoài nhƣ các tổ chức tín dụng, ngân hàng.
Nhìn chung, trong giai đoạn khởi sự này, các nhà đầu tƣ thiên thần thƣờng là nguồn cấp vốn kế tiếp
song doanh nghiệp phải có một bản kế hoạch kinh doanh tốt để thuyết phục họ đầu tƣ vốn.
Khi doanh nghiệp chuyển sang quy mô lớn hơn, sản phẩm đã đƣợc tung ra thị trƣờng thành
công, và doanh nghiệp bắt đầu triển khai các hoạt động marketing diện rộng, họ có thể tiếp cận với các
quỹ đầu tƣ mạo hiểm. Ở giai đoạn này, thông tin đã rõ ràng hơn về rủi ro cũng nhƣ cơ hội phát triển
của doanh nghiệp.Trong một số trƣờng hợp, các quỹ đầu tƣ mạo hiểm cũng có thể tham gia tài trợ ban
đầu đối với các ngành có chi phí phát triển sản phẩm tƣơng đối cao ví dụ nhƣ công nghệ sinh học.
Ở giai đoạn sau, khi doanh nghiệp đã có đƣợc một số các tài sản tích lũy, đồng thời lịch sử và
thông tin doanh nghiệp đã đƣợc ghi nhận, họ có thể tìm đến các ngân hàng, tổ chức tín dụng để đáp
ứng nguồn vốn lƣu động cho tồn kho, khoản phải thu cũng nhƣ là nguồn vốn vay dài và trung hạn để
đầu tƣ mở rộng nhà xƣởng, cơ sở vật chất. Khi doanh nghiệp sang giai đoạn trƣởng thành, hoạt động
20 Angel investor là thuật ngữ dùng để chỉ những cá nhân giàu có, có khả năng cấp vốn cho một doanh nghiệp thành lập, và
thông thƣờng để đổi lại, họ sẽ có quyền sở hữu một phần công ty. Các nhà đầu tƣ này thƣờng tiến hành đầu tƣ bằng chính
tiền của mình, khác với các nhà đầu tƣ mạo hiểm_những ngƣời quyên tiền hay kêu gọi ngƣời khác đóng góp để thành lập một
quỹ đầu tƣ, có sự quản lý chuyện nghiệp.Tuy nhiên, ngày càng có nhiều nhà đầu tƣ nhỏ kiểu angel tham gia vào mạng lƣới
các nhà đầu tƣ hoặc tập hợp thành các nhóm đầu tƣ dể chia sẻ kinh nghiệm, những nghiên cứu cũng nhƣ tiến hành các hoạt
động đầu tƣ có quy mô hơn.
373
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
đã ổn định thì hầu hết nguồn vốn cần trong giai đoạn này từ các ngân hàng thƣơng mại và các tổ chức
tín dụng hoặc thị trƣờng chứng khoán hoặc OTC.
Nhƣ vậy mô hình này cũng nhất quán chỉ ra rằng do vấn đề bất đối xứng về thông tin, các
DNVVN rất khó tiếp cận nguồn vốn vay, đặc biệt ở giai đoạn ban đầu. Khi càng phát triển về quy mô
và độ ổn định, tài sản đã tích lũy đáng kể đủ để dùng làm thế chấp, cũng nhƣ các thông tin đã đầy đủ,
doanh nghiệp càng dễ tiếp cận hơn với nguồn vốn của ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các quỹ đầu
tƣ mạo hiểm và thị trƣờng chứng khoán.
Quy mô DN
Tuổi đời DN
Minh bạch thông tin
DN khởi sự, quy mô nhỏ,
không có số liệu lịch sử và
tài sản thế chấp
DN đang tăng trƣởng, quy DN quy mô trung
DN quy mô lớn, có tài sản
thế chấp và đầy đủ thông
tin, sô sliệu
mô nhỏ, có thể tăng
trƣởng cao song ít số liệu
lịch sử
bình, có số liệu và tài
sản thế chấp nếu cần
Nhà nƣớc, các quỹ hỗ
trợ khởi sự
Nhà đầu tƣ bên trong
(chủ doanh nghiệp,
ngƣời thân v.v.)
Quỹ đầu tƣ
mạo hiểm
Thị trƣờng chứng khoán –vốn chủ
Tín dụng thƣơng mại
Ngân hàng –các tổ chức tín dụng
Thị trƣờng chứng
khoán nợ
Hình 1: Các nguồn vốn mà doanh nghiệp có thể tiếp cận tùy theo từng giai đoạn phát triển. Nguồn: [7]
Tóm lại, các lý thuyết cho thấy rằng sự bất đối xứng về thông tin giữa tổ chức tín dụng và doanh
nghiệp đi vay đã tạo nên sự lệch pha trong thị trƣờng vốn vay đối với DNVVN. Do tổ chức tín dụng
có ít thông tin hơn so với doanh nghiệp về hoạt động và triển vọng kinh doanh của họ nên rất khó cho
họ để phân biệt đƣợc doanh nghiệp tốt và doanh nghiệp xấu, hoặc có thể đánh giá đƣợc song với chi
phí rất cao. Để tránh các chi phí này, họ thƣờng yêu cầu ngƣời đi vay phải cung cấp các dữ liệu về tài
chính hoặc và phải cung cấp các tài sản thế chấp để đảm bảo cho món vay. Do đó, tồn tại một thất bại
thị trƣờng do quyết định cho vay dựa trên tài sản thế chấp và các dữ liệu chứ không dựa trên mức độ
sinh lợi, khả năng hoàn vốn v.v. hay sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp.
4. Lệch pha trong thị trƣờng vốn vay ngân hàng tại Việt Nam từ góc nhìn thực tiễn
Các lý thuyết trình bày ở phần trên đã cho thấy có sự lệch pha trong thị trƣờng vốn vay cho
DNVVN do tồn tại một thất bại của thị trƣờng về bất đối xứng thông tin. Ở phần này, tác giả sẽ tập
hợp các nghiên cứu sử dụng các số liệu thực tế để chứng minh về sự tồn tại của lệch pha thị trƣờng.
374
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
Lệch pha thị trƣờng tồn tại ở thị trƣờng vốn vay đối với DNVVN khi có hiện tƣợng khả năng tiếp cận
vốn của DNVVN bị quyết định bởi các biến số khác chứ không phải là thu nhập kỳ vọng của món vay
(là giá cả của hàng hóa theo lý thuyết kinh tế học) [6]. Hay nói cách khác, khi đó thu nhập kỳ vọng
không phải là biến số chính mà những nhà cấp vốn căn cứ vào để đánh giá và cân nhắc tín dụng cho
DNVVN.
4.1. Tình hình tín dụng ngân hàng cho DNVVN:
Nhìn chung, tình hình tín dụng cho các DNVVN đang dần suy giảm.Tính đến 31/12/2011, dƣ
nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng đối với các DNNVV đạt 881.340 tỷ đồng, trong đó dự nợ tín
dụng ngắn hạn đạt 569.073 tỷ đồng, trung hạn đạt 141.527 tỷ đồng, dài hạn đạt 170.740 tỷ đồng [13].
Tỷ trọng dƣ nợ tín dụng đối với các DNNVV chiếm khoảng 35% tổng dự nợ của toàn bộ hệ thống tổ
chức tín dụng đối với nền kinh tế. Trong 6 tháng đầu năm 2012, nhìn chung tăng trƣởng tín dụng thấp,
đạt 0,76% so với cuối năm 2011. Riêng tín dụng dành cho DNNVV giảm mạnh, giảm tới 13,69% (tính
đến 31/5/2012).
Tín dụng cho DNVVN suy giảm có thể là DNVVN có đủ sức mạnh để tài trợ bởi nguồn vốn
chủ hoặc nguồn vốn khác. Tuy nhiên các nhiều tài liệu và báo cáo cho thấy rằng, DNVVN ít sử dụng
vốn ngân hàng là do họ gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn vốn này. Báo cáo thƣờng niên doanh
nghiệp năm 2013 của VCCI [14], 65,2% doanh nghiệp trong diện điều tra có nhu cầu vay vốn ngân
hàng, trong khi tỷ lệ này năm 2012 là 57,3%. Nhƣ vậy, nhu cầu vay vốn ngân hàng của doanh nghiệp
có xu hƣớng tăng cao so với năm 2012. Có 34,8% doanh nghiệp không có nhu cầu vay vốn. Trong
doanh không đủ hiệu quả để trả lãi; 21,1% do thị trƣờng tiêu thụ sản phẩm bị thu hẹp; 18,6% do đã tìm
đƣợc kênh huy động vốn khác, 19,1% do nguyên nhân khác.
―Báo cáo đánh giá giữa kỳ tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển DNNVV giai đoạn 2011 –
2015‖ của Bộ kế hoạch đầu đƣợc công bố vào tháng 6-2014 cũng cho thấy rằng khó khăn nhất đối với
DN, đặc biệt là các DNNVV vẫn là thiếu vốn sản xuất kinh doanh [15]. Theo báo cáo này, các DN
khó tiếp cận nguồn vốn vay ngân hàng. Ngay cả khi tiếp cận đƣợc vốn vay, với lãi suất cao, thời gian
vay vốn ngắn khiến các DN khó quay vòng vốn để trả lãi ngân hàng, trả lƣơng cho ngƣời lao động.
Năm 2011 chỉ khoảng 30% DNNVV vay vốn đƣợc từ các ngân hàng, 70% số còn lại sử dụng vốn tự
có hoặc vay từ nguồn khác. Trong Quý I/2012, có trên 30% số DN vay vốn ngân hàng, trong đó có tới
76% phải vay ở mức lãi suất 18-19% trở lên.
4.2. Các nghiên cứu về biến số quyết định khả năng tiếp cận vốn vay của DNVVN Việt Nam
Các nghiên cứu số liệu thực tế trên thế giới đã chỉ ra rằng có một loạt các biến số khác ảnh
hƣởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của doanh nghiệp. Ví dụ nhiều nghiên cứu đã chỉ ra
rằng các ngƣời đi vay có thể dễ chấp nhận cho vay đối với các doanh nghiệp có tài sản thế chấp và đối
với các doanh nghiệp có mối quan hệ lâu dài với ngƣời cho vay [11]. Quy mô doanh nghiệp (hoặc
quy mô món vay) cũng có thể là một biến số gây ảnh hƣởng. Nghiên cứu của [16] chỉ ra rằng chính
sách cho vay sẽ bị tác động bởi một bộ phận chi phí cố định liên quan đến việc giám sát, theo dõi món
vay; do đó quy mô của món vay sẽ là một phần quan trọng quyết định đến khả năng tiếp cận vốn cũng
nhƣ các điều khoản của món vay. Tƣơng tự, [17] cũng tìm đƣợc các số liệu thực tế cho thấy rằng các
doanh nghiệp nhỏ thì phải đƣơng đầu với một số khó khăn liên quan đến điều khoản tín dụng và tiếp
cận với món vay ngân hàng. Nghiên cứu của [18], [19] sử dụng cơ sở dữ liệu của hơn 3,400 doanh
375
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
nghiệp tại Canada chỉ ra rằng doanh nghiệp có mối quan hệ lâu dài hơn thì sẽ trả lãi suất thấp hơn và
dƣờng nhƣ ít bị đòi hỏi tài sản thế chấp hơn.
Tuy nhiên, trong bối cảnh Việt Nam, chúng ta không có nhiều nghiên cứu tƣơng tự. Các nghiên
cứu về tiếp cận vốn của doanh nghiệp mới thực hiện ở phƣơng diện cầu (doanh nghiệp đi vay) chứ
chƣa nghiên cứu trên phƣơng diện nguồn cung vốn vay (ngân hàng và các tổ chức tín dụng). Ví dụ
nghiên cứu của [20] trên 629 doanh nghiệp cộng với 117 công ty có vốn nhà nƣớc từ 11 thành phố và
tỉnh thành của Việt Nam năm 2003 chỉ ra rằng quy mô công ty, tỷ suất lợi nhuận, và sự sở hữu quyền
sử dụng đất có mối quan hệ cùng chiều với các khoản vay ngân hàng. Nghiên cứu cho thấy rào cản
chính đối với các doanh nghiệp trong việc đi vay chính là việc không có đủ tài sản thế chấp. Đồng
thời, lãi suất cao và thời hạn vay ngắn cũng là các khó khăn lớn cho các doanh nghiệp này. Trong một
nghiên cứu khác vào năm 2009 trên 200 DNVVN tại Hà Nội, Thái Nguyên và Lào Cai bởi [21] thì
thiếu tài sản thế chấp vẫn đƣợc coi là trở ngại lớn nhất đối với DNVVN trong việc tiếp cận vốn vay.
Đồng thời, lãi suất cao và thời hạn vay ngắn là các rào cản đáng kể tiếp theo.
Các rào cản
Điểm/
3.94
3.03
3.14
2.54
2.30
2.37
2.89
3.40
3.65
2.72
3.24
3.27
2.18
Không đủ tài sản thế chấp
Không có chứng nhận sở hữu tài sản
Quy định của ngân hàng quá chặt chẽ
Ngân hàng yêu cầu các báo cáo tài chính có kiểm toán
Ngân hàng yêu cầu kế hoạch kinh doanh
Khó khăn trong việc thể hiện năng lực/kỹ năng quản lý
Khoản vay quá nhỏ
Thời hạn vay quá ngắn
Lãi suất quá cao
Nhân viên ngân hàng thiếu kỹ năng đánh giá
Ngân hàng ƣu tiên/thiên vị cho một số doanh nghiệp
Thủ tục và quá trình xin vốn mất thời gian
Nhân viên ngân hàng đòi tiền lót tay
Bảng 2: Các rào cản trong tiếp cận vốn vay của DNVVN. Nguồn: [21]
Nhƣ vậy, mặc dù có nhiều lý thuyết cho rằng có thể có sự tồn tại lệch pha thị trƣờng trong trong
bối cảnh DNVVN Việt Nam song chúng ta không có đủ nghiên cứu thực tế để chứng minh điều này.
Chƣa có một nghiên cứu trên diện rộng nào chỉ ra đƣợc các tiêu chí mà các tổ chức tín dụng sử dụng
để phân biệt các doanh nghiệp, trên các cơ sở nào mà họ chấp nhận hay từ chối các khoản vay. Hơn
nữa, ngay cả khi tồn tại một sự lệch pha thị trƣờng nhƣ vậy thì liệu biện pháp hỗ trợ DNVVN bằng
cách bảo lãnh tín dụng đã là phù hợp và hiệu quả hay chƣa? Đó là câu hỏi bài báo sẽ trả lời ở phần tiếp
theo.
376
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
5. Giải pháp cho vấn đề bất đối xứng thông tin
Theo [6], vấn đề bất đối xứng thông tin có thể đƣợc khắc phục theo ba cách, mỗi cách đều nhằm
giảm bớt tình trạng mù mờ thông tin, cung cấp thêm các thông tin ngầm cho nhà cấp vốn hoặc ngƣời
cho vay:
-Thông qua khả năng của doanh nghiệp thể hiện uy tín tín dụng của mình
-Bằng cách phát triển mối quan hệ chặt chẽ với ngƣời cho vay
-Thông qua sự khắt khe của ngƣời cho vay trong việc kiểm tra đánh giá phƣơng án kinh doanh
cũng nhƣ các yêu cầu khác về giấy tờ và thủ tục
Một số các nhà nghiên cứu cho rằng mức độ sẵn sàng (và sự sẵn lòng sử dụng) các tài sản thế
chấp là một cách để thể hiện uy tín tín dụng [16] [22], [23]. [24] đã chứng minh bằng số liệu rằng các
tài sản thế chấp là một công cụ hiệu quả để đối phó với vấn đề về rủi ro đạo đức. Nhƣ vậy, những
công ty dễ đƣợc vay vốn nhất là những công ty có khả năng thể hiện đƣợc uy tín tín dụng của doanh
nghiệp mình, những công ty có mối quan hệ tốt với ngƣời vay và những công ty có thể giảm đƣợc các
bất đối xứng thông tin thông qua các cách thức truyền bá thông tin hiệu quả. Bảng 3 trình bày rõ hơn
cách thức xếp loại này, theo đó những công ty gặp khó khăn lớn nhất khi vay vốn sẽ là các công ty
thiếu tài sản thế chấp và thiếu đội ngũ quản lý tốt.
- Bất đối xứng thông tin
Có thể thể hiện uy tín tín dụng thông qua tài sản thế chấp
Có mối quan hệ chặt chẽ với ngƣời cho vay
Đội ngũ quản lý có thể truyền thông uy tín tín dung của DN
Bảng 3: Mức độ của uy tín tín dụng theo lý thuyết về bất đối xứng thông tin
6. Vai trò của bão lãnh tín dụng và vấn đề bất đối xứng thông tin
Nhƣ phân tích ở trên, trong quá trình cho vay, ngân hàng yêu cầu tài sản thế chấp là một cách để
đối phó với vấn đề bất đối xứng thông tin. Tuy nhiên, đây lại chính là rào cản lớn nhất đối với các
doanh nghiệp nhỏ. Vì vậy, nhà nƣớc thƣờng can thiệp vào thị trƣờng tín dụng dƣới vai trò là những
ngƣời bảo lãnh cho các món vay dành cho DNVVN.
Tuy nhiên, [25] lại chỉ ra chƣa có một không phải là một cơ sở khoa học vững chắc về thất bại
của thị trƣờng/lệch pha của thị trƣờng để xây dựng các chƣơng trình bảo lãnh tín dụng. Tuy nhiên, tác
giả cũng chỉ ra rằng vai trò của các quỹ bảo lãnh tín dụng có thể phát huy trong hai tình huống sau
đây. Thứ nhất là khi chi phí cho các doanh nghiệp nhỏ vay là quá cao, không đem lại hiệu quả kinh tế
đối với các tổ chức tín dụng. Chi phí này có thể là do từ hai nguồn: phần thu nhập cho rủi ro tăng thêm
mà những ngƣời cho vay kỳ vọng và phần chi phí liên quan đến đánh giá và giám sát món vay. Tình
huống thứ hai là khi những ngƣời cho vay đặc biệt chú trọng đến tài sản thế chấp và các doanh nghiệp
nhỏ không có đủ các tài sản thế chấp với độ lớn và chất lƣợng nhƣ yêu cầu. Cả hai tình huống này đều
không phải là các thất bại của thị trƣờng mà chỉ là những điều kiện đơn thuần để thị trƣờng hoạt động,
tuy nhiên, có thể gây bất lợi cho các DNVVN trong việc tiếp cận vốn.
377
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Tóm lại các lý thuyết cũng chƣa nhất quán rằng rằng liệu có cần thiết hay không để nhà nƣớc
can thiệp vào thị trƣờng vốn vay dành cho DNVVN dƣới hình thức là các chƣơng trình bảo lãnh tín
dụng.
7. Bảo lãnh tín dụng ở Việt Nam
Nhìn chung, quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV tại các địa phƣơng cũng nhƣ hoạt động bảo
lãnh của Ngân hàng phát triển Việt Nam thực hiện đến nay vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập.
Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV vay vốn tại NHTM21: Hoạt động bảo lãnh tín dụng cho các
DNNVV vay vốn tại Ngân hàng thƣơng mại (NHTM) do Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT)
đảm nhiệm thực hiện vẫn còn rất ―khiêm tốn‖. NHPT có số vốn cam kết bảo lãnh cho các doanh
nghiệp là 10.694 tỷ đồng (bao gồm 176 chứng thƣ cho dự án và 1.360 chứng thƣ cho phƣơng án sản
xuất kinh doanh). Tính đến 31/12/2013, có 115 Chứng thƣ bảo lãnh đang còn hiệu lực với giá trị vốn
vay cam cam kết bảo lãnh gần 1.885 tỷ đồng và 25,6 triệu USD, dƣ nợ tại NHTM 1.058 hơn tỷ đồng
và gần 23 triệu USD [26].
Cũng theo [26], đến 31/12/2013, các NHTM đã cấp vốn vay cho các doanh nghiệp với tổng số
tiền gần 9.000 tỷ đồng. Tổng số tiền NHPT trả nợ thay cho DNNVV từ khi thực hiện nghiệp vụ bảo
lãnh theo quy định tại Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg đến ngày 29/2/2012 là 112 tỷ đồng. Đến hết
ngày 29/2/2012, các DNNVV đã hoàn trả NHPT là 4,7 tỷ đồng, trong đó nợ gốc là 4,5 tỷ đồng.
Về Quỹ bảo lãnh cho DNNVV tại các địa phương22: Báo cáo của [26] cho biết tính đến
12/2013, cả nƣớc có 10 địa phƣơng (Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh, Hà Giang, Yên Bái, Bắc Ninh, Vĩnh
Phúc, Ninh Thuận, Bình Thuận, Trà Vinh, Kiên Giang) thành lập Quỹ bảo lãnh tín dụng. Tuy nhiên,
chỉ một số Quỹ hoạt động bƣớc đầu hoạt động có hiệu quả nhất định nhƣ Tp. Hồ Chí Minh, Vĩnh
Phúc... Tổng số vốn điều lệ của các Quỹ: 575 tỷ đồng (cao nhất là Tp. Hồ Chí Minh: 194,5 tỷ đồng;
thấp nhất là Bắc Ninh: 21,9 tỷ đồng). Nhìn chung, cho đến hiện tại việc hỗ trợ giải quyết khó khăn về
tài chính cho DNNVV thông qua mô hình này hiệu quả chƣa cao, còn gặp nhiều khó khăn trong huy
động các nguồn vốn cho Quỹ, vƣớng mắc trong thành lập, tổ chức và điều hành Quỹ…
Về Quỹ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ: Quỹ Phát triển DNNVV đã đƣợc ra đời vào tháng
12/2011. Đây cũng là một quỹ bảo lãnh tín dụng DNVVN nhƣng không có không quy định về tài sản
thế chấp, nợ xấu. Hay nói cách khác, Quỹ yêu cầu các ngân hàng nhận ủy thác từ Quỹ này chịu trách
nhiệm rủi ro đối với dự án, phƣơng án sản xuất kinh doanh đã cho vay. Có lẽ, đây cũng chính là lý do
khiến Quỹ Phát triển DNNVV dù đã thành lập, song chƣa thể đi vào hoạt động.
Thực tế hoạt động của các quỹ bảo lãnh tín dụng cho thấy rằng một trong những nguyên nhân
chính khiến hoạt động bảo lãnh tín dụng chƣa đạt đƣợc kỳ vọng là do các tổ chức bảo lãnh đều quy
định rất chặt về điều kiện vay, nhƣ không có nợ xấu, phải có tài sản thế chấp, những điều kiện khác
khắt khe không kém ngân hàng. Các DNVVN nếu không đáp ứng đƣợc các điều kiện về thế chấp của
ngân hàng thì cũng khó lòng đƣợc sự hỗ trợ của các quỹ bảo lãnh này. Kết quả này là không tránh
khỏi, do sự vận hành của các quỹ bảo lãnh tín dụng nhƣ trình bày ở trên thì họ cũng không có thêm
nhiều thông tin về uy tín tín dụng của doanh nghiệp so với ngân hàng. Do đó, các quỹ sẽ dè dặt trong
công tác bảo lãnh đối với các doanh nghiệp chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu của ngân hàng. Nhƣ vậy, vấn
21 Theo quy định tại Quyết định số 03/2011/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế bảo lãnh cho DNNVV vay vốn
tại NHTM
22
Thành lập theo Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày 20/01/2001 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc ban hành
Quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV
378
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
đề bất đối xứng thông tin của thị trƣờng vẫn không đƣợc giải quyết và doanh nghiệp không đƣợc hỗ
trợ gì thêm trong vấn đề tiếp cận vốn.
8. Kết luận
Các phân tích ở trên cho thấy bất đối xứng thông tin là nguyên nhân chính cản trở các DNVVN
tiếp cận vốn, đặc biệt là vốn vay. Do đó, để các DNVVN tiếp cận đƣợc nguồn vốn này, các chƣơng
trình hỗ trợ của nhà nƣớc cũng nhƣ sự nỗ lực của các bên có liên quan phải thực sự hƣớng vào vấn đề
bất đối xứng về thông tin.
Về phía nhà nƣớc, cùng với chƣơng trình bảo lãnh tín dụng, các hỗ trợ của nhà nƣớc nên
hƣớng vào giải quyết vấn đề bất đối xứng về thông tin nhƣ sau:
- Thành lập trung tâm thông tin tín dụng: một cơ sở dữ liệu tài chính hợp nhất của các DNVVN
sẽ giảm chi phí thu thập thông tin, hỗ trợ cho các DNVVN gia tăng tính minh bạch, và từ đó gia tăng
khả năng tiếp cận vốn.
- Xây dựng các chƣơng trình nâng cao năng lực cho các DNVVN. Rất cần thiết phải có các
chƣơng trình đào tạo hỗ trợ chuyên môn do DNVVN ở những lĩnh vực nhƣ kế toán, công bố thông tin
doanh nghiệp, chính sách doanh nghiệp, hệ thống kiểm soát nội bộ, và về cách thức tiếp cận với các
nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn vay, để đáp ứng đƣợc các nhu cầu về thông tin mà ngƣời cho vay
đòi hỏi. Về mặt lâu dài, cần có các chƣơng trình đào tạo bộ phận quản lý doanh nghiệp chất lƣợng cao
nhƣ là một cách thức để truyền thông về uy tín tín dụng của doanh nghiệp.
- Tăng cƣờng sự trao đổi, chia sẻ thông tin tín dụng về DNVVN giữa các tổ chức của chính phủ,
trung tâm thông tin tín dụng và các tổ chức tín dụng.
- Tập hợp và phổ biến rộng rãi cho tất cả các nhóm quan tâm các thông tin về các nguồn vốn, xu
hƣớng tài trợ vốn, chi phí vốn và các vấn đề về vốn.
Về phía ngân hàng và các tổ chức tín dụng
-Gia tăng sự hiểu biết của nhân viên về DNVVN cũng nhƣ các kỹ năng đánh giá doanh nghiệp
vừa và nhỏ. Đặc biệt xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng là DNVVN nhƣ là một biện pháp
để giảm bất đối xứng về thông tin.
- Trong sự cân nhắc đối với chi phí phát sinh, ngân hàng có thể xây dựng một nhóm các chuyên
gia nhiều ngành nghề để hỗ trợ cho công tác đánh giá các phƣơng án kinh doanh của doanh nghiệp.
Các chuyên gia này có thể cung cấp thông tin đa chiều, giảm đi sự mù mờ thông tin khi ngân hàng
đánh giá các phƣơng án vay vốn.
- Đồng thời ngân hàng có thể áp dụng mô hình cho vay dựa trên đánh giá tín dụng thay vì mô
hình dựa trên báo cáo tài chính, hay tài sản đảm bảo. Mô hình đánh giá tín dụng đƣa ra các quyết định
cho vay dựa trên thông tin tín dụng của DNVVN và ngƣời chủ sở hữu. Thông tin về chủ sở hữu bao
gồm các thông tin tài chính cá nhân (thu nhập, nợ, tài sản tài chính, sở hữu bất động sản).v.v. Các
thông tin này thƣờng đƣợc lƣu trữ ở trung tâm thông tin tín dụng. Thông tin này đƣợc kết hợp với các
thông tin về doanh nghiệp và đƣợc đƣa vào mô hình tính toán để dự đoán rủi ro và đƣa ra quyết định
có cho vay hay không. [27] đã chỉ ra mô hình cho vay này là phù hợp nhất đối với các doanh nghiệp
vừa và nhỏ có độ mù mờ thông tin cao. Tuy nhiên tính ứng dụng của mô hình còn phụ thuộc nhiều vào
cơ sở pháp lý và nền tảng hạ tầng của ngành tài chính ngân hàng nhƣ đã phân tích ở các kiến nghị đối
với nhà nƣớc.
379
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Về phía doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp nên gia tăng năng lực của tổ chức, nhƣ đã nói ở trên, năng lực của đội ngũ quản
lý là một tiêu chí để ngân hàng đánh giá uy tín tín dụng của tổ chức. Bên cạnh đó, phát triển năng lực
của tổ chức về tài chính, kế toán, công bố thông tin doanh nghiệp, hệ thống kiểm soát nội bộ .v.v là
một định hƣớng lâu dài để cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải có
khả năng xây dựng các báo cáo tài chính và các kế hoạch kinh doanh hấp dẫn, đủ độ tin cậy để thuyết
phục các nhà cấp vốn. Các kế hoạch kinh doanh phải nêu bật đƣợc điểm mạnh của doanh nghiệp, tính
khả thi và mức độ sinh lợi của dự án.
- Doanh nghiệp nên dần tiếp cận và làm quen với các yêu cầu về minh bạch thông tin, nên xem
minh bạch thông tin là yêu cầu cơ bản trong hoạt động kinh doanh của mình. Minh bạch về thông tin
sẽ là con đƣờng giúp doanh nghiệp có thể tiếp cận đƣợc nguồn vốn vay và đồng thời làm quen với các
đòi hỏi cao hơn của những thị trƣờng vốn khác nhƣ các nhà đầu tƣ mạo hiểm, thị trƣờng chứng khoán
vốn chủ, thị trƣờng chứng khoán nợ v.v. Một trong những bƣớc đầu tiên của minh bạch thông tin là
xây dựng các báo cáo tài chính đƣợc kiểm toán độc lập. Đồng thời, doanh nghiệp cũng nên tuân thủ
đầy đủ các cam kết với ngân hàng trong việc sử dụng vốn, sử dụng vốn đúng mục đích đã cam kết,
tránh việc sử dụng các nguồn vốn ngắn hạn để đầu tƣ dài hạn. Tình trạng này sẽ dẫn đến rủi ro tài
chính trong việc trả nợ, đồng thời làm suy giảm nghiêm trọng uy tín tín dụng của doanh nghiệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] VINASME, ―Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam.‖ [Online]. Available:
[2] T. Beck and A. Demirguc-Kunt, ―Small and medium-size enterprises: Access to finance as a
growth constraint,‖ J. Bank. Financ., 2006.
[3] L. Klapper, L. Laeven, and R. Rajan, ―Entry regulation as a barrier to entrepreneurship,‖ J.
financ. econ., 2006.
[4] T. Beck, A. Demirgüç-Kunt, and V. Maksimovic, ―The influence of financial and legal
institutions on firm size,‖ J. Bank. Financ., 2006.
[5] J. Stiglitz and A. Weiss, ―Credit Rationing in Markets with Incomplete Information,‖ Am. Econ.
Rev., vol. 71, no. 3, pp. 393–410, 1981.
[6] Equinox Management Consultants Ltd., ―Gaps in SME Financingꢀ: An Analytical Framework .
Prepared for Small Business Policy Branch,‖ 2002.
[7] A. N. Berger and G. F. Udell, ―The economics of small business financeꢀ: The roles of private
equity and debt markets in the financial growth cycle,‖ J. Bank. Financ., vol. 22, pp. 613–673,
1998.
[8] D. Deakins and G. Hussain, ―Risk assessment with asymmetric information,‖ Int. J. Bank Mark.,
1994.
[9] S. Coleman, ―Access to capital and terms of credit: A comparison of men-and women-owned
small businesses,‖ J. Small Bus. Manag., 2000.
[10] R. Pettit and R. Singer, ―Small business finance: a research agenda,‖ Financ. Manag., 1985.
[11] A. N. Berger and G. F. Udell, ―Relationship lending and lines of credit in small firm finance,‖ J.
380
HỘI THẢO KHOA HỌC - QUẢN TRỊ VÀ KINH DOANH (COMB-2014)
Bank. Financ., vol. 22, 1995.
[12] W. Sahlman, ―The structure and governance of venture-capital organizations,‖ J. financ. econ.,
1990.
[13] Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam, ―Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam.‖ [Online]. Available:
[14] Phòng thƣơng mại và công nghiệp Việt Nam, ―Báo cáo thƣờng niên doanh nghiệp 2013,‖ 2013.
[15] Bộ kế hoạch đầu tƣ, ―Báo cáo đánh giá giữa kỳ tình hình thực hiện Kế hoạch phát triển DNNVV
giai đoạn 2011 – 2015,‖ 2014.
[16] O. Toivanen and R. Cressy, ―Lazy Entrepreneurs or Dominant Banks? An Empirical Analysis of
the Market for SME Loans in the UK, Proceedings, ,‖ in Entrepreneurial Finance Workshop,
2000, pp. 247–276.
[17] L. Wynant and J. Hatch, Banks and Small Business Borrowers. London, UK.: The Western
School of Business, 1991.
[18] A. Berger and G. Udell, ―Some evidence on the empirical significance of credit rationing,‖ J.
Polit. Econ., 1992.
[19] A. Berger and G. Udell, ―Small business credit availability and relationship lending: The
importance of bank organisational structure,‖ Econ. J., 2002.
[20] S. Tenev, A. Carlier, O. Chaudry, and Q.-T. Nguyen, ―Informality and the Playing Field in
Vietnam‘s Business Sector, ,‖ Washington, D.C, 2003.
[21] N. J. Freeman and LeThiBichNgoc, ―Assistance to Establish the National and Provincial SME
Support Infrastructure SME Finance in Vietnamꢀ: Reviewing Past Progress and Scoping Future
Developments Working Draft of Technical Report,‖ 2007.
[22] H. Bester, ―The role of collateral in credit markets with imperfect information,‖ Eur. Econ. Rev.,
1987.
[23] Y. Chan and G. Kanatas, ―Asymmetric valuations and the role of collateral in loan agreements,‖
J. Money, Credit Bank., 1985.
[24] A. Boot, A. Thakor, and G. Udell, ―Secured lending and default risk: equilibrium analysis, policy
implications and empirical results,‖ Econ. J., 1991.
[25] R. Vogel and D. Adams, ―Costs and benefits of loan guarantee programs,‖ Financ., vol. 4, no.
1&2, pp. 22–29, 1997.
[26] Ngân hàng phát triển Việt Nam, ―Một số vấn đề về cho vay vốn tín dụng của Nhà nƣớc đối với
các DNNVV thông qua NHPT,‖ Đặc san Tài trợ dự án- Ngân hàng phát triển Việt Nam, vol. 11,
no. 1, pp. 1–48, 2014.
[27] A. N. Berger and G. F. Udell, ―A more complete conceptual framework for SME finance,‖ J.
Bank. Financ., vol. 30, no. 11, pp. 2945–2966, Nov. 2006.
381
Bạn đang xem tài liệu "Lệch pha trong thị trường vốn vay dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ và sự bất hợp lý của các chương trình bảo lãnh tín dụng của nhà nước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
lech_pha_trong_thi_truong_von_vay_danh_cho_doanh_nghiep_vua.pdf

