Hoạt động marketing xanh tại các hệ thống bán lẻ hiện đại

HOẠT ĐỘNG MARKETING XANH  
TẠI CÁC HỆ THỐNG BÁN L  HIỆN ĐẠI  
TS. Nguyễn Hoài Long  
ThS. Lê Phạm Khánh Hòa  
ThS. Đinh Vân Oanh  
Khoa Marketing - Trường Đại học  inh tế  uốc d n  
T M TẮT  
Các cửa hàng bán lẻ hiện đại, một trong những địa điểm ảnh hưởng lớn đến quyết định của  
người tiêu dùng, đang ngày càng phát triển trong bối cảnh Việt Nam, cũng là một trong những loại  
hình kinh doanh quan tâm nhiều đến marketing xanh. Dựa trên những gợi ý từ tổng hợp các nghiên  
cứu trước đây về marketing xanh, nhóm tác giả tiến hành nghiên cứu định tính với 15 nhân viên và  
05 lãnh đạo một số chuỗi cửa hàng bán lẻ ở TP. Hà Nội. Kết quả nghiên cứu chỉ ra thực trạng hoạt  
động marketing xanh tại các hệ thống bán lẻ, việc áp dụng marketing xanh trong chuỗi bán lẻ chưa  
thật sự triệt để và hiệu quả. Nghiên cứu cũng chỉ ra thực trạng nhận thức về marketing xanh tại các  
hệ thống bán lẻ; những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động marketing xanh tại các hệ thống bán  
lẻ hiện đại. Kết quả nghiên cứu cho thấy, để nâng cao hiệu quả hoạt động marketing xanh trong việc  
thúc đẩy hành vi mua và tiêu dùng xanh, cần có sự phối hợp của nhiều bên bao gồm cả các cơ quan  
quản lý nhà nước, các cơ quan truyền thông và chính các doanh nghiệp bán lẻ.  
Từ khóa: marketing xanh, tiêu dùng xanh, hệ thống bán l  hiện đại  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Marketing được hiểu một cách đơn giản là những hoạt động nhằm tạo ra và cung ứng những  
giá trị cho khách hàng một cách hiệu quả nhất. Mục tiêu của marketing là nhằm thỏa mãn nhu cầu  
và ước muốn của khách hàng. Người làm marketing coi việc thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của  
khách hàng vừa là mục tiêu vừa là phương tiện để đạt được mục đích kinh doanh.  
Tuy nhiên, sự phát triển của xã hội cho thấy nếu doanh nghiệp chỉ tập trung vào thỏa mãn nhu  
cầu, mong muốn của khách hàng và đạt mục tiêu của doanh nghiệp thì chưa đủ, vì điều này có thể làm  
phương hại đến lợi ích đến sự phát triển bền vững của xã hội loài người. Chính vì vậy, quan điểm  
marketing đạo đức - xã hội đã chỉ ra rằng khi ra các quyết định marketing, các doanh nghiệp không  
chỉ chú ý đến việc thỏa mãn nhu cầu, mong muốn của khách hàng và đạt mục tiêu của doanh nghiệp  
mà còn phải chú ý đến lợi ích và sự phát triển bền vững của xã hội. Chính vì lẽ đó, ngày nay, cách tiếp  
cận marketing xanh được nhiều doanh nghiệp ứng dụng trong hoạt động kinh doanh. Mục đích của  
marketing xanh nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm thân thiện môi trường hạn chế  
những tác động tiêu cực đến môi trường và xã hội. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, marketing  
xanh nhằm hướng tới: (1) quy trình sản xuất sử dụng nguyên, nhiên vật liệu, năng lượng thân thiện  
môi trường; (2) tạo ra sản phẩm thân thiện môi trường và thực hiện marketing cho các sản phẩm đó.  
Các doanh nghiệp thương mại không không sản xuất và cũng không tạo ra sản phẩm họ chỉ thực hiện  
việc bán sản phẩm cho người tiêu dùng, vậy họ ứng dụng marketing xanh như thế nào?  
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng ứng dụng marketing xanh và các  
yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng marketing xanh tại các hệ thống bán lẻ hiện đại (được hiểu là  
375  
các hệ thống các siêu thị, cửa hàng tiện ích bán hàng theo giá niêm yết và ứng dụng công nghệ  
thông tin trong quản lý bán hàng và thanh toán). Nghiên cứu này tập trung vào hệ thống bán lẻ hiện  
đại do: (1) các điểm bán lẻ tiếp xúc trực tiếp với người tiêu dùng do đó có ảnh hưởng trực tiếp đến  
hành vi lựa chọn và mua các sản phẩm thân thiện môi trường; (2) các hệ thống bán lẻ hiện đại đang  
được phát triển mạnh mẽ và dần thay thế cho các mô hình bán lẻ truyền thống; (3) các hệ thống bán  
lẻ hiện đại rất quan tâm đến marketing xanh và là những doanh nghiệp tiên phong trong phong trào  
áp dụng marketing xanh theo kêu gọi của Thủ tướng Chính phủ. Nếu marketing xanh tại các hệ  
thống bán lẻ hiện đại được thực hiện một cách triệt để và hiệu quả thì không chỉ có ảnh hưởng tốt  
đến hành vi tiêu dùng xanh của khách hàng tại các hệ thống này mà còn có thể tác động đến tất các  
các cơ sở kinh doanh bán lẻ khác và do đó góp phần tạo hiệu ứng tiêu dùng xanh trên toàn xã hội.  
Chính vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng hoạt động marketing xanh  
tại các hệ thống bán lẻ hiện đại, nhận thức về marketing xanh và các yếu tố ảnh hưởng đến việc ứng  
dụng marketing xanh tại các hệ thống bán lẻ hiện đại từ đó đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy ứng  
dụng marketing xanh tại các hệ thống này.  
2. CƠ SỞ L  LUẬN VỀ MARKETING XANH  
Marketing xanh, chủ đề nghiên cứu được quan tâm từ năm 1970 tới nay với những tên gọi  
marketing xanh (green marketing), marketing môi trường (environmental marketing), marketing  
sinh thái (eco-marketing). Trong giai đoạn nghiên cứu đầu tiên về chủ đề này, marketing sinh thái  
(ecological marketing) được dùng để chỉ marketing xanh với tất cả các hoạt động hỗ trợ, khắc phục  
các vấn đề môi trường. Định nghĩa của Henion và Kinnear về marketing xanh là việc thực hiện các  
chương trình marketing hướng đến các đoạn thị trường quan tâm tới môi trường. Giai đoạn tiếp  
theo, marketing môi trường được sử dụng để mô tả marketing xanh với trọng tâm công nghệ sạch  
liên quan đến thiết kế và đổi mới sản phẩm nhằm giảm thiểu vấn đề ô nhiễm môi trường. Gần đây,  
marketing xanh được nghiên cứu chú trọng nhiều hơn tới phát triển bền vững.  
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về marketing xanh, trong phạm vi nghiên cứu này  
chúng tôi quan tâm tới các định nghĩa theo quan điểm quản trị sử dụng các công cụ marketing nhằm  
thỏa mãn nhu cầu khách hàng, đạt được mục đích của doanh nghiệp trong sự cân bằng với các giá  
trị môi trường cho dù các giá trị môi trường là mục đích tự thân mang tính đạo đức hay một cơ hội  
từ xu hướng của người tiêu dùng đem lại. Tiêu biểu là định nghĩa của Fuller (1999) cho rằng  
marketing xanh là quá trình lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và kiểm soát, định giá, xúc tiến, phân  
phối các sản phẩm thỏa mãn ba tiêu chuẩn: (1) đáp ứng nhu cầu khách hàng, (2) đạt được mục tiêu  
tổ chức, và (3) tương thích với hệ sinh thái.  
Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến việc thực hiện marketing xanh trong tổ chức  
(Polonsky, 1994). Thứ nhất, áp dụng marketing xanh là cơ hội đạt mục tiêu của tổ chức. Do nhu cầu  
của người tiêu dùng thay đổi theo hướng quan tâm tới môi trường, thị trường các sản phẩm thân  
thiện với môi trường được mở rộng đem lại cơ hội cho các doanh nghiệp. Yếu tố thân thiện với môi  
trường trở thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trong điều kiện chất lượng, giá bán, hiệu suất,  
tính sẵn có của sản phẩm tương đương với đối thủ cạnh tranh. Thứ hai, trách nhiệm xã hội của  
doanh nghiệp, với tư cách là giá trị doanh nghiệp theo đuổi hoặc nghĩa vụ của doanh nghiệp như  
một thực thể trong cộng đồng. Cho dù với cách tiếp cận nào thì doanh nghiệp cũng đã lồng ghép  
nhận thức này vào văn hóa, chiến lược và chính sách marketing của họ. Thứ ba, áp lực từ chính phủ  
các quốc gia. Khi môi trường trở thành vấn đề quan tâm của không chỉ một quốc gia, của không chỉ  
376  
người tiêu dùng, chính phủ cũng nhận thức được vai trò của mình về vấn đề này thông qua nhiều  
hoạt động tuyên truyền, các chính sách về môi trường, các chính sách đối với doanh nghiệp và nền  
kinh tế. Thứ tư, áp lực từ đối thủ cạnh tranh. Đặc biệt là trong các lĩnh vực có nhiều cơ hội cho các  
doanh nghiệp mới, các doanh nghiệp có khả năng áp dụng những tiến bộ công nghệ, kỹ thuật, có  
thông tin về thị trường và nhạy bén với xu hướng tiêu dùng. Thứ năm, áp lực từ chi phí xử lý môi  
trường với các nguyên liệu trong quá trình sản xuất sản phẩm. Thay đổi các công nghệ thân thiện  
với môi trường có thể gây ảnh hưởng về chi phí trong ngắn hạn nhưng có thể giúp cắt giảm chi phí  
trong dài hạn, bảo vệ hình ảnh, uy tín của doanh nghiệp, tăng niềm tin với người tiêu dùng.  
Bên cạnh các yếu tố thúc đẩy, cũng có những rào cản nhất định với marketing xanh. Đầu tiên,  
không thể không nói đến khoảng cách giữa thái độ với hành vi mua sản phẩm xanh của người tiêu dùng.  
Mặc dù người tiêu dùng thể hiện quan điểm mạnh mẽ với việc ủng hộ các sản phẩm thân thiện với môi  
trường nhưng họ không thật sự sẵn sàng mua các sản phẩm này. Thậm chí, họ sẵn sàng đánh đổi tính  
xanh của sản phẩm lấy những lợi ích về sự thuận tiện, chi phí, cảm giác thoải mái, thích thú. Trong xu  
thế bùng nổ truyền thông, người tiêu dùng vẫn ngần ngại với các sản phẩm xanh do thiếu thông tin về  
sản phẩm (Fletcher và Downing, 2011), thiếu niềm tin với hoạt động truyền thông. Về phía các doanh  
nghiệp, họ cũng không có đủ nguồn lực, họ phải cân nhắc về quy mô thị trường cho việc áp dụng các  
tiêu chuẩn xanh, họ phải cân nhắc vị thế của mình trong chuỗi giá trị, thậm chí bản thân lãnh đạo doanh  
nghiệp cũng có nhận thức chưa thật sự ủng hộ các hoạt động marketing xanh.  
Khi có khả năng thực hiện các hoạt động marketing xanh, doanh nghiệp và người làm  
marketing có thể xem xét một số hoạt động.  
Thứ nhất, đổi mới sản phẩm. Cách tiếp cận của marketing xanh quan tâm không chỉ tới sản phẩm  
cuối cùng mà còn cả quy trình sản xuất bao gồm nguyên vật liệu. Theo đó, cách tiếp cận marketing xanh  
với sản phẩm chú trọng tới từng yếu tố như sản phẩm, sản xuất và bao gói. Có tác giả cho rằng sản  
phẩm cần được thiết kế theo cách có khả năng tái chế và sử dụng, chất thải của sản phẩm không gây ảnh  
hưởng đến môi trường và xã hội và sử dụng đa mục đích. Prakash (2002) cho rằng sản phẩm sẽ trở nên  
thân thiện với môi trường hơn nếu được chế tạo để có thể kéo dài tuổi thọ, bảo dưỡng để kéo dài tuổi  
thọ, sử dụng để chế tạo sản phẩm mới, tái sử dụng, tái chế, giảm nguyên nhiên liệu sử dụng. Một số nhà  
nghiên cứu cũng gợi ý các doanh nghiệp có thể làm cho bao gói sản phẩm thân thiện với môi trường  
hơn bằng cách sử dụng các loại bao gói có kích cỡ phù hợp, được chế tạo từ vật liệu không gây hại với  
môi trường để tái sử dụng, tái chế. Thậm chí, người tiêu dùng đã không chỉ còn chú ý đến sản phẩm  
xanh mà cả dịch vụ xanh, đặc biệt là các dịch vụ lưu trú (Chan, 2014). Để hoàn thiện chính sách “sản  
phẩm xanh”, Peattie (1992) chỉ ra rằng, doanh nghiệp nên gia tăng hỗ trợ sau bán hàng vì khách hàng có  
xu hướng xem các dịch vụ hậu mãi này là tiêu chí đánh giá độ bền sản phẩm.  
Thứ hai, cần nghiên cứu kỹ về mức giá bán của sản phẩm xanh mà người tiêu dùng có khả năng  
chấp nhận (Prakash, 2002) dựa trên khả năng sản sàng chi trả của người tiêu dùng. Giá xanh là các mức  
giá được đặt ra cho các sản phẩm xanh có thể bù được sự nhạy cảm về giá của người tiêu dùng, khiến  
họ sẵn lòng chi trả nhiều hơn cho các thuộc tính xanh của sản phẩm. Peattie và Crane (2005) nhận thấy  
việc sản xuất các sản phẩm xanh phải sử dụng nguyên liệu và phương thức sản xuất có chi phí cao hơn  
sản phẩm truyền thống. Do giá bán sản phẩm xanh thường cao hơn giá sản phẩm thông thường trong  
khi không đem lại lợi ích vượt trội nên không tránh khỏi sự ngần ngại của người tiêu dùng.  
Thứ ba, hoạt động phân phối sản phẩm cần được tổ chức tại các địa điểm thuận tiện cho người  
tiêu dùng nhằm khuyến khích hành vi tiêu dùng xanh và hỗ trợ hoạt động tuyên truyền. Thực tế, có  
377  
rất ít người tiêu dùng nỗ lực tìm kiếm một sản phẩm vì mục tiêu môi trường, do đó, việc làm thế  
nào và ở đâu để sản phẩm xanh sẵn có với người tiêu dùng là chìa khóa tồn tại của doanh nghiệp.  
Người tiêu dùng cần liên tục được tiếp xúc với các sản phẩm xanh trên toàn khu vực thị trường  
trong đó, vai trò của Internet là vô cùng quan trọng. Mô hình logistic thu hồi có thể là công cụ đắc  
lực giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, thời gian, tăng doanh thu, giảm lưu kho (Lee và Lam,  
2012). Do các sản phẩm xanh có những đặc tính riêng khác so với các sản phẩm truyền thống, nhà  
sản xuất cũng cần lưu ý đến việc quản lý quá trình sản xuất từ nơi sản xuất đến điểm bán hàng cuối  
cùng, thậm chí đến tay khách hàng vì quá trình vận chuyển hàng hóa cũng có những tác động tiêu  
cực đến môi trường.  
Thứ tư, truyền thông marketing hỗn hợp cho sản phẩm xanh là công cụ marketing hiệu quả  
nhất trong việc khuyến khích người tiêu dùng nói chung sử dụng sản phẩm xanh. Quảng cáo các sản  
phẩm xanh nhấn mạnh vào sự hài lòng về đạo đức của người tiêu dùng hoặc lợi ích các nhân có thể  
khuyến khích hành động thân thiện với môi trường (Grimmer và Woolley, 2014) đóng vai trò quan  
trọng trong việc thúc đẩy tiêu dùng xanh nói chung. Bên cạnh đó, quảng cáo xanh đóng vai trò  
không nhỏ trong việc truyền đạt hình ảnh thân thiện với môi trường của tổ chức (Grillo và cộng sự,  
2008). Để đạt hiệu quả, chính sách truyền thông marketing xanh của doanh nghiệp cần đáp ứng  
được một hoặc nhiều hơn các tiêu chí: (1) trực tiếp hoặc ngầm đề cập/nâng cao mối quan hệ giữa  
các sản phẩm với môi trường sinh thái; (2) tán thành lối sống xanh thông qua đề cập dịch vụ/sản  
phẩm nổi bật; (3) tăng cường duy trì hình ảnh doanh nghiệp gắn với trách nhiệm môi trường. Tuy  
nhiên, truyền thông marketing cho sản phẩm xanh cần tăng sự tin tưởng của người tiêu dùng vào  
tính hợp pháp của sản phẩm, tính trung thực của tuyên bố, quảng cáo sản phẩm, tránh lạm dụng  
cách truyền thông đánh bóng tên tuổi (Ottman, 2008).  
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Để thực hiện nghiên cứu này, hai phương pháp nghiên cứu tại bàn và nghiên cứu định tính  
được sử dụng. Phương pháp nghiên cứu tại bàn được thực hiện nhằm: (1) tổng quan các lý thuyết về  
marketing xanh; (2) tổng quan các tài liệu, báo cáo của các doanh nghiệp về tình hình ứng dụng  
marketing xanh tại các hệ thống bán lẻ hiện đại. Phương pháp nghiên cứu định tính sử dụng với  
việc thu thập thông tin thông qua phỏng vấn sâu 05 lãnh đạo và 15 nhân viên nhân viên bán hàng  
của các hệ thống siêu thị thuộc các hệ thống của BRG, Vinmart và Coopmart. Nội dung của phỏng  
vấn sâu nhằm: (1) đánh giá thực trạng hoạt động marketing xanh của các hệ thống bán lẻ; (2) đánh  
giá nhận thức của quản lý và nhân viên đối với marketing xanh và ứng dụng marketing tại hệ thống  
bán lẻ; (3) phát hiện những thuận lợi, khó khăn trong ứng dụng marketing xanh tại các điểm bán lẻ.  
Phương pháp quan sát được thực hiện tại 6 điểm bán thuộc hệ thống bán lẻ của BRG, Vinmart và  
Coopmart nhằm đánh giá thực trạng về môi trường dịch vụ, quy trình dịch vụ, hoạt động truyền  
thông và trưnng bày tại điểm bán, hoạt động tương tác, bán hàng của nhân viên tại các điểm bán của  
các hệ thống siêu thị nhằm tác động đến hành vi mua xanh của khách hàng.  
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
4.1. Thực trạng hoạt động marketing xanh tại các hệ thống bán lẻ  
Để giảm thiểu rác thải, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, hoạt động sản xuất và tiêu  
dùng phải tập trung vào ba định hướng hành động: giảm thiểu lượng tài nguyên sử dụng (reduce),  
tăng cường tái sử dụng (reuse) và tăng cường tái chế (recycle). Để thực hiện định hướng này, mục  
tiêu của marketing xanh nhằm thúc đẩy sản xuất và tiêu thụ những sản phẩm thân thiện môi trường  
378  
hay hạn chế sản xuất và tiêu dùng những sản phẩm không/ít thân thiện môi trường. Với đặc trưng  
hoạt động của mình, mục tiêu marketing xanh của các hệ thống bán lẻ tập thúc đẩy tiêu thụ các sản  
phẩm thân thiện môi trường và hạn chế tiêu thụ những sản phẩm (bao gồm cả việc tiêu thụ của  
khách hàng và tiêu thụ phục vụ hoạt động của điểm bán). Tại các hệ thống bán lẻ, mục tiêu  
marketing xanh được thể hiện và cụ thể hóa khác nhau. Các hệ thống bán lẻ lớn của Việt Nam như  
Vinmart, Coopmart và nhiều hệ thống khác không thể hiện yếu tố “xanh” trong tuyên bố về tầm  
nhìn và sứ mệnh của mình. Tại BRG, bản tuyên bố sứ mệnh của tập đoàn đã thể hiện rõ “cống hiến  
hết mình cho những giá trị phát triển bền vững với cộng đồng”. Để thực hiện mục tiêu đề ra của bản  
tuyên bố sứ mệnh, mục tiêu “xanh” luôn được đề cập trong các chương trình marketing của hệ  
thống bán lẻ BRG. Điều này được thể hiện thông qua các mục tiêu về số lượng tiêu thụ túi ni lông,  
số lượng chai nhựa sử dụng... Để đạt được các mục tiêu “xanh”, các giải pháp marketing xanh được  
các hệ thống bán lẻ xây dựng và thực hiện.  
Giải pháp sản phẩm xanh tại các hệ thống bán lẻ liên quan đến: quyết định về danh mục sản  
phẩm xanh được bán tại hệ thống và quyết định về sử dụng bao gói thân thiện môi trường. Tại các  
hệ thống bán lẻ của Việt Nam, việc lựa chọn ưu tiên phân phối các sản phẩm xanh chưa thực sự  
được chú trọng. Quyết định lựa chọn sản phẩm kinh doanh chủ yếu tùy thuộc vào nhu cầu của  
khách hàng và nguồn cung ứng. Các hệ thống bán lẻ mới chỉ tập trung chú ý vào việc lựa chọn sản  
phẩm chất lượng, yếu tố thân thiện môi trường của sản phẩm chưa thực sự được nằm trong tiêu chí  
quyết định chọn lựa sản phẩm kinh doanh hay ưu tiên thúc đẩy tiêu thụ. Vấn đề bao gói được các hệ  
thống bán lẻ rất chú ý. Hầu hết các hệ thống bán lẻ đã cố gắng giảm thiểu sử dụng túi ni lông thông  
qua các biện pháp như bán và khuyến khích khách hàng sử dụng túi sử dụng nhiều lần (ví dụ Big  
C), cung cấp cho khách hàng túi đựng thực phẩm là túi thân thiện môi trường, cung cấp cho khách  
hàng túi xác đồ là túi tự phân rã thay cho túi ni lông, sử dụng giấy và lá cây để gói đồ thay cho túi ni  
lông. Công ty bán lẻ BRG có chủ trương “hạn chế nhập và bán các sản phẩm có bao bì ni lông, bao  
bì không tái chế, có khả năng gây hại cho môi trường; không bán, sử dụng găng tay ni lông dùng  
một lần, túi đựng rác không tái chế, không tự phân hủy được”*. Tại hệ thống bán lẻ BRG, tất cả các  
túi xách đồ cung cấp cho khách hàng đều được sử dụng túi tự phân rã, các túi đựng thực phẩm được  
sử dụng là túi tự phân hủy hữu cơ. Công ty có định hướng sẽ thiết kế túi đi chợ sử dụng nhiều lần để  
cung cấp cho khách hàng và thay thế hoàn toàn việc sử dụng túi tự phân rã bằng túi tự phân hủy  
sinh học.  
Giải pháp giá xanh tại các hệ thống bán lẻ liên quan đến quyết định mức giá bán và ưu đãi về  
giá đối với những sản phẩm thân thiện môi trường. Tại các hệ thống bán lẻ của Việt Nam, quyết  
định về giá bán các sản phẩm thân thiện môi trường vẫn chủ yếu dựa vào định hướng về giá của nhà  
sản xuất. Sự chủ động trong quyết định phân biệt về giá theo mức độ thân thiện môi trường của sản  
phẩm được bán tại hệ thống chưa thực sự rõ rệt. Sự tác động của các hệ thống bán lẻ đến cảm nhận  
giá trị của người tiêu dùng từ yếu tố thân thiện môi trường cũng chưa thực sự rõ rệt. Đây cũng là  
một trong những điểm hạn chế trong chính sách giá đối với các sản phẩm thân thiện môi trường của  
các siêu thị. Điểm nổi bật trong các chính sách giá xanh chính là quyết định về giá đối với loại túi  
xách hàng. Hiện nay, tại các hệ thống bán lẻ của Việt Nam, các loại túi đựng thực phẩm được dùng  
là túi thân thiện môi trường và được phát miễn phí; các túi xách hàng sử dụng nhiều lần được bán  
với mức giá ưu đãi (thấp hơn giá trị thực); các túi xách sử dụng một lần (bao gồm cả túi ni lông và  
* Trích chương trình hành động “Chống rác thải nhựa năm 2019” của BRG  
379  
túi tự phân rã) được cung cấp miễn phí cho khách hàng. Tại BRG, Công ty có chương trình khuyến  
khích về giá đối với các loại túi vải, làn mây và các loại túi thân thiện môi trường để thúc đẩy khách  
hàng hạn chế sử dụng túi ni lông.  
Giải pháp phân phối xanh tại các hệ thống bán lẻ liên quan đến việc thúc đẩy bán và cung ứng  
sản phẩm bằng các hình thức ít tiêu hao năng lượng, nhiên liệu và thời gian của khách hàng. Để  
thực hiện hoạt động này, hầu hết các hệ thống bán lẻ hiện đại đều thúc đẩy bán hàng online và giứoi  
thiệu hàng hóa trên web để khách hàng có thể hạn chế di chuyển khi đi mua hàng nhằm tiết kiệm  
thời gian, công sức cũng như nguồn lực của khách hàng góp phần giảm thiểu năng lượng tiêu thụ  
cũng như ô nhiễm môi trường. Tại BRG, Công ty không chỉ thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động bán hàng  
online mà còn tìm kiếm các giải pháp giao hàng tối ưu nhằm giảm thiểu tiêu hao năng lượng, nhiên  
liệu phục vụ vận chuyển.  
Giải pháp truyền thông xanh tại các hệ thống bán lẻ hiện đại tập trung vào hai mục tiêu: (1)  
truyền thông về đặc tính “xanh” của hàng hóa; (2) thúc đẩy hành vi mua các sản phẩm thân thiện  
môi trường xanh của khách hàng và hạn chế hành vi mua và sử dụng sản phẩm không thân thiện  
môi trường. Thực tế tại các hệ thống bán lẻ của Việt Nam, việc giới thiệu các sản phẩm thân thiện  
môi trường chưa thực sự được chú trọng. Các hoạt động truyền thông nhằm thúc đẩy hành vi mua  
các sản phẩm thân thiện môi trường vẫn chưa được thực hiện thường xuyên, hầu như chưa có các  
hoạt động truyền thông nhằm hạn chế khách hàng tiêu dùng các sản phẩm không thân thiện môi  
trường. Phương thức truyền thông chủ yếu được thông qua phát tờ rơi giới thiệu sản phẩm của nhà  
sản xuất, giới thiệu hàng hóa trên hệ thống loa tại điểm bán, hoạt động trưng bày tại điểm bán và  
truyền thông qua Internet (website hoặc fanpage trên Facebook). Tại BRG, ngoài các hoạt động  
truyền thông phổ biến mà các hệ thống bán lẻ khác thường sử dụng, công ty chủ trương tăng cường  
khuyến mại cho các sản phẩm sử dụng bao bì thân thiện môi trường.  
Giải pháp về yếu tố con người tại các hệ thống bán lẻ hiện đại liên quan đến các hoạt động  
thúc đẩy nhân viên tăng cường giới thiệu về sản phẩm và bao gói thân thiện môi trường và khuyến  
khích khách hàng mua. Với đặc điểm của các hệ thống bán lẻ, nhân viên của điểm bán ít có thời  
gian tương tác giới thiệu khách hàng lựa chọn sản phẩm do đó cũng rất khó tác động thúc đẩy khách  
hàng lựa chọn sản phẩm thân thiện môi trường. Các hoạt động này chỉ được thực hiện trong trường  
hợp nhà sản xuất có nhân viên giới thiệu tại quầy hàng của điểm bán tuy nhiên việc này không phổ  
biến. Việc giới thiệu thuyết phục khách hàng sử dụng và bán các sản phẩm bao bì thân thiện môi  
trường, bao bì sử dụng nhiều lần chủ yếu do nhân viên thu ngân thực hiện. Có nhiều hệ thống bán lẻ  
có đào tạo nhân viên về việc này song nhận thức của nhân viên về hoạt động này không thực sự tốt.  
Hơn nữa, đặc thù công việc của thu ngân rất dồn dập vào giờ cao điểm nên sự giao tiếp với khách  
hàng cũng rất hạn chế. Chính vì vậy, ở hầu hết các hệ thống bán lẻ, hoạt động thúc đẩy khách hàng  
mua sản phẩm thân thiện môi trường chưa thực sự hiệu quả. Tại BRG, đã có các chương trình  
marketing nội bộ nhằm thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanh được thực hiện trên toàn tập đoàn. Nhân  
viên của các điểm bán đều được tập huấn về các hoạt động tuyên truyền thúc đẩy khách hàng lựa  
chọn các sản phẩm xanh và sử dụng bao gói thân thiện môi trường. Tuy nhiên, do đặc thù công việc  
nên kết quả của hoạt động thúc đẩy hành vi tiêu dùng xanh của khách hàng vẫn chưa thực sự mang  
lại kết quả như mong muốn.  
Môi trường dịch vụ xanh của hệ thống bán lẻ được thực hiện thông qua hoạt động thiết kế mặt  
bằng, bố trí sắp xếp, trưng bày hàng hóa nhằm: (1) hướng tới mục tiêu tiết kiệm năng lượng, tạo sự  
380  
thuận tiện cho khách hàng chọn mua sản phẩm xanh; (2) tạo cảm giác “xanh” trong gian hàng để  
thúc đẩy hành vi mua xanh. Kết quả khảo sát tại các hệ thống bán lẻ cho thấy động của việc tiết  
kiệm năng lượng tại các điểm bán lẻ xuất phát từ mục tiêu tiết kiệm chi phí của điểm bán hơn là  
mục tiêu phát phát triển bền vững. Các hoạt động trưng bày hàng hóa để thúc đẩy khách hàng mua  
sản phẩm xanh chưa thực sự được chú trọng, việc trưng bày hàng hóa tại các điểm bán được thực  
hiện theo mục tiêu thúc đẩy doanh thu và thúc đẩy tiêu thụ các mặt hàng theo mục tiêu kinh doanh  
hơn là thúc đẩy tiêu thụ các sản phẩm xanh. Do hạn chế về không gian và chạy theo mục tiêu trưng  
bày hàng hóa nên hầu hết các điểm bán chưa chú ý đến việc tạo cảm giác “xanh” tại điểm bán. Tại  
các quầy bán rau xanh được nhiều điểm bán chú ý trang trí để tạo cảm giác “xanh” nhưng mới đủ để  
tạo sự liên tưởng về khu vực bán thực phẩm tươi sống chứ chưa thực sự làm khách hàng liên tưởng  
đến một không gian thực sự “xanh”. Trong các hệ thống được nhóm nghiên cứu khảo sát duy nhất  
có Công ty bán lẻ BRG đang chuẩn bị cho ra mắt mô hình kinh doanh bán lẻ với ý tưởng “Fresh  
garden”, theo đó điểm bán lẻ được thiết kế theo mô hình của một khu vườn tạo một không gian thực  
sự “xanh” tại điểm bán nhằm tạo sự liên tưởng và ảnh hưởng tối đa đến hành vi mua và tiêu dùng  
xanh của khách hàng.  
Quy trình dịch vụ xanh của các hệ thống bán lẻ được thể hiện thông qua hoạt động sắp xếp bố  
trí quy trình phục vụ và các hoạt động hậu cần tại điểm bán nhằm tạo điều kiện thuận loại cho  
khách hàng mua các sản phẩm xanh. Với các đặc trưng bán hàng của các hệ thống bán lẻ hiện đại  
thì rất khó để cảm nhận được tác động của yếu tố quy trình dịch vụ đến hành vi mua xanh của  
khách hàng. Tại các hệ thống bán lẻ Việt Nam, quy trình dịch vụ được thiết kế nhằm tối ưu hóa dịch  
vụ khách hàng và mang lại hiệu quả cho doanh nghiệp. Yếu tố “xanh” chưa thực sự được tính đến  
trong thiết kế và thực hiện quy trình dịch vụ.  
4.2. Thực trạng nhận thức về marketing xanh tại các hệ thống bán lẻ  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhận thức về marketing xanh của các lãnh đạo doanh nghiệp  
thực sự tốt. Tất cả các lãnh đạo doanh nghiệp mà nhóm nghiên cứu phỏng vấn đều thể hiện rằng họ  
nhận thức rất rõ về marketing xanh và mong muốn áp dụng marketing xanh trong hệ thống của họ.  
Tuy nhiên, bản thân các lãnh đạo doanh nghiệp cũng chưa thể và chưa sẵn sàng trong việc chuyển  
đổi mạnh mẽ danh mục sản phẩm kinh doanh theo hướng loại bỏ các sản phẩm kém thân thiện môi  
trường và thúc đẩy các sản phẩm thân thiện môi trường. Tất các các lãnh đạo doanh nghiệp đều  
thống nhất trả lời là doanh nghiệp của họ đã, đang và sẽ tiếp tục song song cung ứng tất cả các loại  
sản phẩm, nếu có cơ hội hoặc sự hỗ trợ từ phía nhà sản xuất thì họ sẽ áp dụng và thúc đẩy các hoạt  
động marketing xanh cho nhóm sản phẩm thân thiện môi trường.  
Các cán bộ quản lý điểm bán và nhân viên tại điểm bán thì nhận thức về marketing xanh còn  
hạn chế. Kết quả phỏng vấn cho thấy hầu hết cán bộ quản lý và nhân viên tại điểm bán chỉ tập trung  
vào việc thúc đẩy doanh số, kinh doanh theo mục tiêu của cơ sở và thực hiện các chương trình bán  
hàng theo chỉ đạo mà ít chú tâm đến thúc đẩy tiêu thụ sản phẩm xanh. Thậm chí, tại nhiều điểm bán,  
bao bì tự phân rã được sử dụng thay cho túi ni lông song quản lý và nhân viên của siêu thị còn lầm  
tưởng bao bì tự phân rã là bao bì phân hủy hữu cơ. Khi phục vụ khách hàng, nhân viên thu ngân  
cũng không chú ý đến việc hạn chế số lượng bao bì sử dụng, họ dường như không “tiếc” cho khách  
hàng thêm bao bì nếu như khách hàng muốn mà không hề nghĩ đến hoạt động này vô hình chung  
tiếp tay cho hành vi sử dụng lãng phí bao gói. Mặc dù các hệ thống bán lẻ đã có những chương trình  
hành động và các hoạt động marketing nội bộ nhằm thúc đẩy ứng dụng marketing xanh nhưng  
381  
dường như những mức độ “ngấm” của nhân viên còn hạn chế, họ dường như chỉ thực hiện theo yêu  
cầu và mệnh lệnh của nhà quản lý mà không thực sự hành động xuất phát từ chính sự nhận thức của  
họ. Thực tế này cho thấy, các hệ thống bán lẻ cần thay đổi phương thức truyền thông nội bộ và đào  
tạo nhân viên nhằm thay đổi nhận thức của họ và có các cơ chế chính sách thúc đẩy họ tự giác hành  
động vì mục tiêu của marketing xanh và phát triển bền vững.  
4.3. Các y u tố thúc đẩy và cản trở hoạt động marketing xanh tại các hệ thống bán lẻ  
Trước hết, thực tế hoạt động của các hệ thống bán lẻ cho thấy có những yếu tố thúc đẩy ứng  
dụng marketing xanh và có những yếu tố kìm hãm ứng dụng marketing xanh. Trong các yếu tố thúc  
đẩy ứng dụng marketing xanh trước hết là sự thay đổi trong nhận thức và hành vi của người tiêu  
dùng. Trước sự tác động của các hoạt động truyền thông và giáo dụng cộng đồng, người tiêu dùng  
toàn cầu nói chung và người tiêu dùng Việt đã quan tâm đến môi trường và đặc tính xanh của sản  
phẩm trong các quyết định mua hàng. Với số đông người tiêu dùng, nếu hai sản phẩm tương đương  
nhau, sản phẩm nào thân thiện môi trường hơn sẽ được ưu tiên lựa chọn. Tỷ lệ người tiêu dùng sẵn  
sàng thay đổi thói quen mua sắm nhằm giúp bảo vệ môi trường hay giảm thiểu tác động xấu đến  
môi trường ngày càng tăng. Đối với rất nhiều khách hàng, điểm bán lẻ nào được người tiêu dùng  
đánh giá là “xanh” hơn sẽ ưu tiên chọn làm nơi mua hàng. Thứ hai, các doanh nghiệp kinh doanh  
bán lẻ đã tự nhận thức được trách nhiệm xã hội của họ. Ngày nay, trách nhiệm xã hội vừa là yêu cầu  
đối với hệ thống bán lẻ vừa là cách để các hệ thống bán lẻ xây dựng uy tín, thương hiệu. Về lâu dài,  
nhà bán lẻ nào được đánh giá là có trách nhiệm xã hội sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh. Chính điều  
này đã khiến nhiều doanh nghiệp bán lẻ nhận thức được cần phải vừa đảm bảo mục tiêu lợi nhuận  
vừa đảm bảo mục tiêu xanh. Thứ ba, các yêu cầu từ các cơ quan quản lý nhà nước buộc các hệ  
thống bán lẻ phải quan tâm đến việc ứng dụng marketing xanh. Các cơ quan quản lý nhà nước đã  
ban hành những quy định rất chặt chẽ về đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; phòng cháy, chữa  
cháy; tiết kiệm năng lượng... Hoạt động tuyên truyền và các chương trình khuyến khích tiêu dùng  
sản phẩm tiết kiệm điện, năng lượng tái tạo, hạn chế sử dụng bao gói khó phân hủy... được các cơ  
quan quản lý nhà nước và các cơ quan truyền thông thực hiện khá đồng bộ. Thứ tư, việc thực hiện  
các hoạt động marketing xanh của bản thân doanh nghiệp bán lẻ nói riêng và các doanh nghiệp  
thương mại nói chung tạo sức ép và động lực thúc đẩy các hệ thống bán lẻ buộc phải ứng dụng  
marketing xanh. Nhiều cơ sở bán lẻ đã áp dụng marketing xanh tại các điểm bán (ưu tiên chọn bán  
sản phẩm “xanh”, truyền thông về tính “xanh” của điểm bán, khuyến khích khách hàng mang đồ  
chứa khi đi mua hàng...) và các hoạt động này cũng được sự ủng hộ của khách hàng và công chúng.  
Hoạt động bán lẻ online (được người tiêu dùng đánh giá là ”xanh” hơn so với bán lẻ truyền thống)  
đang phát triển mạnh mẽ tạo sức ép cạnh tranh đối với các hệ thống bán lẻ truyền thống. Thứ năm,  
ứng dụng marketing xanh cũng giúp các hệ thống bán lẻ nhận được nhiều lợi ích hơn. Về phương  
diện tài chính, áp dụng marketing xanh có thể góp phần làm giảm chi phí của doanh nghiệp bán lẻ  
thông qua tăng hiệu quả của các hoạt động truyền thông thu hút khách hàng; tiết kiệm năng lượng;  
tiết kiệm chi phí quản lý vận hành... Về phương diện xây dựng thương hiệu, áp dụng marketing  
xanh giúp doanh nghiệp dễ dàng nhận được tình cảm của công chúng và người tiêu dùng từ đó góp  
phần tạo nên thành công cho các hoạt động xây dựng thương hiệu  
Bên cạnh những yếu tố thúc đẩy, các hệ thống bán lẻ cũng đối mặt với những rào cản ứng  
dụng marketing xanh. Thứ nhất là những rào cản từ phía khách hàng. Thực tế cho thấy, có khoảng  
cách đáng kể giữa thái độ đối với việc tiêu dùng xanh và hành vi mua xanh. Có một tỷ lệ đáng kể  
người tiêu dùng có thái độ ủng hộ tiêu dùng xanh nhưng khi mua và tiêu dùng thì họ lại “quên” mất  
382  
yếu tố “xanh” và không xem nó là một trong những yếu tố chi phối hành vi mua của họ. Không phải  
lúc nào người tiêu dùng cũng sẵn sàng đánh đổi giữa đặc tính xanh với các lợi ích khác. Người tiêu  
dùng nhạy cảm với giá do đó họ không sẵn sàng chi trả thêm cho yếu tố “xanh” của sản phẩm.  
Người tiêu dùng thiếu niềm tin với hoạt động truyền thông về yếu tố “xanh” do đó họ không yên  
tâm trả thêm chi phí để mua và tiêu dùng sản phẩm xanh thậm chí luôn nghi ngờ về đặc tính “xanh”  
của sản phẩm. Người tiêu dùng thiếu thông tin về các sản phẩm xanh do các nhà sản xuất sản phẩm  
xanh không có đủ nguồn lực để đầu tư thích đáng cho hoạt động truyền thông về tính “xanh” của  
sản phẩm. Thứ hai là rào cản từ chính các hệ thống bán lẻ. Rào cản lớn nhất trong việc ứng dụng  
marketing xanh tại các hệ thống bán lẻ chính là nhận thức của lực lượng nhân sự của chuỗi bán lẻ.  
Tư tưởng coi trọng lợi nhuận và hiệu quả bán hàng và xem thường các yếu tố xã hội vẫn còn khá  
phổ biến trong lực lượng nhân sự dẫn đến tình trạng marketing chỉ được ứng dụng nếu có cơ hội  
thuận lợi. Tại từng điểm bán, sự hạn chế về quy mô và nguồn lực cũng là yếu tố cản trở đến việc  
ứng dụng marketing xanh một cách triệt để.  
5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ  
Kết quả nghiên cứu cho thấy mặc dù các hệ thống bán lẻ hiện đại đã quan tâm đến việc ứng  
dụng marketing xanh nhưng mức độ quyết tâm chưa tương xứng với tầm quan trọng và ý nghĩa của  
nó. Mục tiêu “xanh” chưa thực sự được đặt ra với tất cả các hệ thống bán lẻ. Việc thực hiện các giải  
pháp marketing xanh chưa được đồng bộ. Việc ứng dụng marketing xanh đôi khi còn mang tính  
chất hưởng ứng phong trào của chính phủ hơn là xuất phát từ động lực nội bộ của các doanh nghiệp.  
Nhận thức về marketing xanh của lực lượng nhân sự trong các hệ thống bán lẻ hiện đại chưa đầy đủ  
và chưa đồng đều. Nhiều nhân viên của hệ thống bán lẻ coi marketing xanh chỉ là các hoạt động  
nhằm làm giảm thiểu sử dụng túi ni lông và ngay cả nhận thức của họ về các loại bao bì thân thiện  
môi trường cũng chưa chính xác. Điều này dẫn đến hiệu ứng của hoạt động truyền thông và giao  
tiếp với khách hàng nhằm thúc đẩy hành vi mua và tiêu dùng xanh còn hạn chế. Hoạt động  
marketing xanh còn gặp nhiều rào cản cả từ phía người tiêu dùng và từ nội bộ hệ thống bán lẻ.  
Để tăng cường ứng dụng marketing xanh và thúc đẩy hành vi mua xanh của người tiêu dùng  
tại các hệ thống bán lẻ hiện đại cần sự chung tay phối hợp của nhiều bên. Với vai trò, chức năng của  
mình mỗi chủ thể phải thực hiện các hoạt động thúc đẩy riêng song cần có sự phối hợp hành động  
theo những mục tiêu và định hướng chung nhằm mang lại hiệu quả các nhất.  
Đối với các cơ quan quản lý nhà nước cần ban hành các chính sách thuế theo đó, các sản  
phẩm thân thiện môi trường được ưu đãi về thuế và các sản phẩm không thân thiện môi trường sẽ bị  
áp thuế cao; đánh thuế môi trường đối với túi ni lông, các loại bao bì bằng nhựa và các vật liệu  
không tái chế được; các loại bao bì thân thiện môi trường (bao bì có khả năng phân hủy sinh học,  
bao bì có thể tái chế, tái sử dụng) được ưu đãi về thuế. Mục tiêu của hoạt động này nhằm thu hẹp sự  
chênh lệch về giá giữa các sản phẩm thân thiện môi trường và các sản phẩm không thân thiện môi  
trường nhằm một mặt thúc đẩy các doanh nghiệp chuyển sang sản xuất các sản phẩm thân thiện môi  
trường thay vì các sản phẩm ít thân thiện môi trường, đồng thời làm giảm chi phí nhận thức đối với  
người tiêu dùng khi mua các sản phẩm thân thiện môi trường.  
Các cơ quan quản lý nhà nước và các cơ quan truyền thông cần có những chương trình hành  
động nhằm nâng cao nhận thức và ý thức tiêu dùng xanh của người tiêu dùng. Các chương trình  
truyền thông này nên được thiết lập thiết lập theo các chiến dịch và phải phối hợp với các chương  
trình thúc đẩy bán sản phẩm thân thiện môi trường của các doanh nghiệp.  
383  
Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động thương mại, Bộ Công Thương cần đóng  
vai trò đầu mối phối hợp các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan truyền thông và doanh nghiệp bán  
lẻ thực hiện các chương trình nhằm thúc đẩy hành vi mua và tiêu dùng xanh của người tiêu dùng.  
Đối với các doanh nghiệp bán lẻ, để nâng cao hiệu quả và hiệu ứng của hoạt động marketing  
xanh, mục tiêu “xanh” cần được đặt ra trong các chiến lược, chiến lược, giải pháp và chương trình  
marketing. Các hoạt động marketing nội bộ của doanh nghiệp cần chú trọng nâng cao nhận thức của  
nhân sự đặc biệt là nhân viên tiếp xúc với khách hàng về marketing xanh; xây dựng kịch bản tiếp  
xúc với khách hàng cho các vị trí tiếp xúc với khách hàng để nâng cao hiệu ứng tác động đến hành  
vi mua và tiêu dùng xanh; xây dựng và thực hiện cơ chế thúc đẩy nhân viên tăng cường tương tác  
với khách hàng nhằm tạo sự ảnh hưởng tích cực đến hành vi mua và tiêu dùng xanh của họ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Ottman, J.A. (2008), The five Simple Rules of Green Marketing, Design management  
Review, 19: pp.65-69.  
2. Chan, E. C. (2014), Green marketing: Hotel customers' perspective, Journal of Travel and  
Tourism Marketing, 31 (8), pp.915-936.  
3. Donald A. Fuller (1999), Sustainable Marketing, Sage Publications.  
4. Fletcher, J. and Downing, P. (2011), Consumer understanding of green terms: A report to  
the Department for Environment, Food and Rural Affairs, Brook Lyndhurst and Icaro  
Consulting, for Defra, London.  
5. Fuller, D. (1999), Sustainable Marketing: Managerial - Ecological Issues, Sage: Thousand  
Oaks, CA.  
6. Grillo, N., Tokarczyk, J. and Hansen, E. (2008), Green advertising developments in the US  
forest sector: a follow up, Forest Products Journal, Vol. 58 No. 5, pp.40-6.  
7. Grimmer, M., Woolley, M. (2014), Green marketing messages and consumers' purchase  
intentions: Promoting personal versus environmental benefits, Journal of Marketing  
Communications, 20(4), pp.231-250.  
8. Henion, K. and Kinnear, T. (1976), Ecological Marketing, AMA, Columbus, OH.  
9. Lee, C. K. M., Lam, J. S. L. (2012), Managing reverse logistics to enhance sustainability of  
industrial marketing, Industrial Marketing Management, 41, pp.589-598.  
10. Peattie, K. (1992), Green marketing M and E Handbooks, Pitman Publishing, England  
11. Peattie, K., Crane, A. (2005), Green marketing: legend, myth, farce or prophesy?,  
Qualitative Market Research: An International Journal, 8 (4), pp.357-380.  
12. Polonsky, M.J. (1994), An introduction to green marketing, Electronic Green Journal 1(2):  
pp.1-9.  
13. Prakash, A. (2002), Green marketing, public policy and managerial strategies, Business  
Strategy and the Environment, 11(5): pp.285-297. 37  
384  
pdf 10 trang Thùy Anh 15820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoạt động marketing xanh tại các hệ thống bán lẻ hiện đại", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoat_dong_marketing_xanh_tai_cac_he_thong_ban_le_hien_dai.pdf