Marketing thông qua người ảnh hưởng: Vận dụng trong thực tiễn tại Việt Nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
MARKETING THÔNG QUA NGƢỜI ẢNH HƢỞNG: VẬN DỤNG TRONG  
THỰC TIỄN TẠI VIỆT NAM  
ThS. Nguyễn Vũ Châu Giang, Đại học Hải Phòng  
ThS. Lê Phạm Khánh Hoà, Đại học Kinh tế Quốc dân  
TÓM TẮT  
Marketing lan truyền, quảng cáo truyền miệng, marketing trên mạng xã hội là các chủ  
đề hiện đang được người làm thực tế quan tâm trong bối cảnh phát triển mới của phương tiện  
tiện truyền thông và Internet. Trong các hoạt động trên, Marketing thông qua Người ảnh  
hưởng (Influencer Marketing) là một trong số các chiến thuật được ưu tiên áp dụng. Mặc dù  
có nhiều hoạt động marketing trong thực tế nhưng lý thuyết về cơ chế tác động cũng như cách  
thức xác định Người ảnh hưởng còn chưa được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Nghiên cứu  
của chúng tôi đã tổng hợp các lý thuyết về truyền thông, marketing, hành vi người tiêu dùng  
trong bối cảnh cũ (trước khi xuất hiện mạng xã hội) và bối cảnh mới (sau khi xuất hiện và  
bủng nổ mạng xã hội) để chỉ ra các tiêu chí giúp xác định Người ảnh hưởng như: kiến thức,  
chuyên môn, tính định hướng quan điểm, mối quan hệ xã hội v.v... Chúng tôi cũng gợi ý một  
số giải pháp trong việc tiếp cận vấn đề Marketing thông qua Người ảnh hưởng cho người làm  
thực tế và các khoảng trống liên quan đến việc áp dụng công nghệ thông tin, toán học cho  
việc xây dựng khung lý thuyết hay tiêu chí xác định Người ảnh hưởng trong bối cảnh Việt  
Nam.  
Từ khoá: Ngƣời ảnh hƣởng, Marketing thông qua ngƣời ảnh hƣởng, Mạng xã  
hội, Truyền miệng, Ngƣời định hƣớng quan điểm  
Influencer marketing: practical usage in Vietnam  
In the era of rapid development of media and internet, viral marketing, word of mouth,  
social network marketing are the topics of interest among marketer. Influencer marketing is  
the priority marketing strategy used from above-mentioned activities. Practically used,  
however this strategy is lacked of theoretical backup and study of how to execute and to  
identify the influencer. Our research has synthesized the doctrine of media, marketing and  
consumer behaviour before and after the booming of social network in order to illustrate the  
criteria to identify influencer such as knowledge, expertise, viewpoint orientation, social  
relationship.. etc. we also suggest the solution to approach marketing problem via influencer  
practically and the gap between the implementation of information technology and  
mathematics in building theoretical structure and the identification criteria of influencer in  
Vietnam  
Key word: influencer, influencer marketing, social network, word of mouth,  
viewpoint orientation  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Phương tiện truyền thông đại chúng không còn xa lạ với người tiêu dùng Việt Nam  
như 30 năm trước đây. Chính sự bùng nổ của phương tiện truyền thông đại chúng và sự tăng  
lên nhanh chóng của thông tin, kiến thức mà ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông đại  
chúng truyền thống (truyền hình, radio, báo, tạp chí) không còn cao trong quyết định mua của  
người tiêu dùng. Người làm marketing đang tăng tỷ trọng ngân sách ngày càng nhiều cho các  
phương tiện truyền thông kỹ thuật số, mạng xã hội. Nhưng ngay trong việc tăng tỷ trọng cho  
phương tiện số, người làm marketing cũng khó có thể thành công với các thông điệp mang  
tính đại chúng nếu không có tính sáng tạo cao và thu hút được người tiêu dùng. Các thông  
điệp truyền thông và các kênh truyền thông để tiếp cận với người tiêu dùng ngày nay cần có  
tính cá nhân hoá và độ tin cậy ở mức độ nhất định. Nguồn thông tin từ những người có uy tín,  
có ảnh hưởng có khả năng tác động và thuyết phục cao hơn.  
Những người có ảnh hưởng, có uy tín trong xã hội luôn đóng vai trò quan trọng trong  
hoạt động thuyết phục cộng đồng của các chính quyền Việt Nam trong lịch sử. Bài học thành  
công từ các hoạt động dân vận trong chiến tranh của Đảng Cộng Sản Việt Nam (1945-1975)  
393  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
là minh chứng không thể thuyết phục hơn. Trong bối cảnh hiện đại, những người có uy tín, có  
ảnh hưởng vẫn được Chính phủ Việt Nam quan tâm, ưu đãi thậm chí có chính sách cụ thể  
(Quyết định 2561/QĐ-TTG – Tăng cường vai trò của người có uy tín trong vùng dân tộc thiểu  
số ký ngày 31 tháng 12 năm 2016). Tuy nhiên, trong bối cảnh mới với sự phát triển mạnh mẽ  
của khoa học kỹ thuật và phương tiện thông tin đại chúng, liệu cách tiếp cận về “người có uy  
tín” có hiệu quả và có thể áp dụng cho nhiều hoạt động truyền thông khác.  
Sự phát triển của Internet và mạng xã hội dẫn tới hình thành nhiều hình thức cũng như  
cách tiếp cận mới trong hoạt động truyền thông. Các doanh nghiệp luôn đi trước trong việc  
nắm bắt và sử dụng các xu hướng truyền thông marketing mới, một trong những xu hướng đó  
chính là marketing thông qua người ảnh hưởng (influence marketing). Tuy nhiên, trong cả lý  
thuyết lẫn thực tiễn cách hiểu khác nhau về người ảnh hưởng, người nổi tiếng hay KOL (viết  
tắt của Key Opinion Leader) vẫn chưa có sự thống nhất gây khó khăn cho việc hệ thống hoá  
cũng như nghiên cứu. Trên phương tiện truyền thông đại chúng, người ảnh hưởng được người  
làm marketing và các nhà báo sử dụng với từ “KOL”. Với người làm marketing hiện nay,  
KOL chủ yếu là các ca sỹ, diễn viên, những người hoạt động trong lĩnh vực nghệ thuật, giải  
trí. Nhóm những ca sỹ, diễn viên là đối tượng chính của các báo cáo, nghiên cứu trên mạng xã  
hội, họ được các chuyên gia marketing phân tích kỹ lưỡng trước khi lựa chọn làm người bảo  
chứng thương hiệu hay nguồn thông tin chính. Lý do chính là ngân sách chi trả cho những  
người nổi tiếng để họ tham gia các chiến dịch marketing thường khá cao. Những người viết  
blog trên mạng xã hội với nhiều người quan tâm theo dõi là nhóm thứ hai được quan tâm, tuy  
nhiên họ ít khi xuất hiện trong các chiến dịch hay hoạt động marketing với vai trò là nguồn  
phát thông tin. Các chuyên gia trong một số lĩnh vực nhất định là những người có ảnh hưởng  
khá lớn nhưng họ hiếm khi xuất hiện với tư cách hỗ trợ cho các chương trình, chiến dịch  
marketing. Họ chủ yếu xuất hiện trong các chương trình sự kiện hay đưa ra quan điểm về  
những vấn đề, lĩnh vực mà họ có kiến thức và chuyên môn tốt. Những người ảnh hưởng được  
phân loại theo cách tiếp cận này phù hợp với thực tế và diễn biến của các chương trình, hoạt  
động marketing đang diễn ra hiện nay.  
Trong khi những người làm thực tế phân loại người có ảnh hưởng theo mức độ ảnh  
hưởng, nghề nghiệp thì các nhà nghiên cứu lại chỉ quan tâm tới bản chất của thông tin hoặc  
kênh truyền tải các thông điệp của người ảnh hưởng. Các nghiên cứu liên quan đến marketing  
thông qua người ảnh hưởng chú trọng vào: (1) kiểu, mức độ ảnh hưởng dựa trên việc đánh giá  
độ tin cậy của người ảnh hưởng; (2) kênh thông tin tác động/ảnh hưởng, chủ yếu là kênh  
truyền miệng (word-of-mouth) trực tiếp hoặc trực tuyến, trong đó truyền miệng trực tuyến  
(eWOM) được quan tâm nghiên cứu nhiều hơn. Có thể nói, các nghiên cứu về chủ đề  
marketing thông qua người ảnh hưởng còn chưa phong phú, chưa hệ thống hoá được các cách  
tiếp cận lý thuyết và thực tế đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam. Đây là thách thức lớn cho  
các nghiên cứu tiếp theo về chủ đề này.  
2. CỞ SỞ LÝ THUYẾT  
Những người làm thực tế có xu hướng sử dụng cách tiếp cận của Malcolm Gladwell  
(tác giả cuốn sách Điểm bùng phát – The Tipping point) trong việc phân loại người ảnh  
hưởng (Brown & Hayes, 2008), theo đó người ảnh hưởng được chia thành 3 nhóm với những  
đặc điểm khác nhau. Đầu tiên là Người kết nối (connectors): người nói với những người xung  
quanh. Họ là những người kết nối mạng lưới và thích việc giới thiệu. Họ biết mọi người thông  
qua các vòng kết nối mang tính xã hội, văn hoá, kinh tế hay chuyên môn. Người kết nối là  
nhân vật thiết yếu cho việc phát tán một thông điệp qua kênh truyền miệng. Thứ hai là các  
Chuyên gia (Maven) họ là người có kiến thức, nhưng họ không chỉ tiêu thụ thông tin mà còn  
chia sẻ với người khác. Vì họ có kiến thức nên họ có thể xác định được các mô hình, xu  
hướng có ý nghĩa. Nhóm thứ ba là Người bán hàng (Salesmen) họ là những người thuyết phục  
rất cuốn hút với kỹ năng đàm phán tốt. Họ sử dụng sức mạnh mềm một cách hiệu quả. Nguồn  
ảnh hưởng của họ là các xu hướng của người khác, họ lặp lại một cách khéo léo để tăng sự  
thuyết phục. Malcolm Gladwell đã khái quát hoá các cách tiếp cận khác nhau với khái niệm  
394  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
người ảnh hưởng để diễn đạt một cách đơn giản và dễ hiểu cho nhiều người. Cách tiếp cận  
này phù hợp với người làm thực tế, tuy nhiên, để hiểu bản chất hơn với các khái niệm về  
người ảnh hưởng, chúng tôi tìm lại các nghiên cứu học thuật tổng hợp khái niệm này. Thông  
qua tìm hiểu khái niệm và phân loại người ảnh hưởng, chúng tôi cũng phân tích kỹ hơn về  
khái niệm này trong bối cảnh phát triển của mạng xã hội cùng với các đặc điểm, cách thức xác  
định và dấu hiệu nhận biết người ảnh hưởng.  
2.1. Khái niệm ngƣời ảnh hƣởng  
Như đã phân tích, có khá nhiều khái niệm khác nhau liên quan đến việc xác định và  
định nghĩa người ảnh hưởng. Chúng tôi cố gắng hệ thống lại các cách tiếp cận này sau khi  
phân tích lại các nghiên cứu trước đây (theo chiều kích thời gian) về khái niệm. Các bài báo  
được sử dụng để phân tích là các bài báo tìm kiếm được trên cơ sở dữ liệu mở với từ khoá  
“influencer”.  
Nếu coi quá trình truyền thông tin từ người ảnh hưởng tới các khách hàng tiềm năng  
khác là quá trình mang tính thuyết phục, lý thuyết truyền thông hai bước của Lazarfeld có lẽ  
là một trong những khung lý thuyết không thể bỏ qua. Cuốn sách nổi tiếng của ông, The  
People's choice [tạm dịch là Sự lựa chọn của mọi người] là cơ sở cho một số giả thuyết về  
truyền thông và mô hình truyền thông, sau này được (Katz, 1957) tổng hợp với tên gọi Mô  
hình truyền thông hai bước (The two-step Flow of Communication). Mô hình này đề cao vai  
trò của truyền thông liên cá nhân (internal communication) như một cơ chế bổ sung cho việc  
truyền tải các ý tưởng, suy nghĩ qua phương tiện truyền thông đại chúng (mass media). Theo  
đó, ý tưởng sau khi truyền tải trên các phương tiện truyền thông đại chúng sẽ tiếp cận với  
đông đảo đối tượng nhận tin thông qua vai trò trung gian của Người định hướng quan điểm  
(Opinion leader). Trên khía cạnh quy trình ra quyết định mua của người tiêu dùng, mô hình  
quá trình ra quyết định mua của người tiêu dùng do Engel, James, Blackwell (1968) đề xuất là  
một trong những cơ sở quan trọng cho thấy vai trò của người tham khảo trong giai đoạn tìm  
kiếm thông tin cũng như các giai đoạn khác của quá trình ra quyết định mua.  
Một trong những nghiên cưú đầu tiên và được trích dẫn nhiều nhất về người ảnh  
hưởng (chuyên gia thị trường - market maven) là nghiên cứu của (Price & Feick, 1984). Tác  
giả tiếp cận trên góc độ thông tin và tâm lý xã hội (ảnh hưởng xã hội - social influence) trong  
tiếp cận nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy: thứ nhất, rất nhiều người có xu  
hướng sử dụng các chuyên gia trong việc tìm kiếm thông tin về sản phẩm dịch vụ, cho dù có  
khả năng liên hệ với chuyên gia đó hay không. Trong quá trình tìm kiếm những thông tin gợi  
ý mang tính liên cá nhân, quá trình ảnh hưởng xã hội mang tính thông tin (informational) và  
chuẩn tắc (normative) đều xảy ra dựa trên việc tham khảo các thông tin có khả năng tiếp cận  
được (accessible) hay những người có khả năng liên hệ và không có khả năng tiếp cận được  
(inaccessible) những người không có khả năng liên hệ. Thứ hai, ảnh hưởng xã hội có khả  
năng áp dụng vào việc nghiên cứu lựa chọn sản phẩm trên góc độ chức năng với người tiêu  
dùng (sản phẩm điện tử hay ô tô). Thứ ba, vai trò của thông tin tham khảo rất khác nhau với  
người tiêu dùng. Có người sử dụng để tham khảo, có người sử dụng để xác nhận trong khi có  
người sử dụng thông tin người khác cung cấp để ra quyết định.  
Nghiên cứu của (Abratt, Nel, & Nezer, 1995) trong lĩnh vực bán lẻ ở Nam Phi đưa ra  
định nghĩa về người ảnh hưởng dựa trên tổng hợp của các công trình nghiên cứu trước của  
Feick và Price (1987). Theo tổng hợp lý thuyết của tác giả, chuyên gia thị trường (market  
maven) là những chuyên gia tiêu dùng ở xung quanh bạn hoặc một người biết nhiều thông tin  
về nhiều kiểu sản phẩm, địa điểm mua hàng hay những đặc tính của thị trường. Tác giả tiếp  
cận các định nghĩa về người ảnh hưởng dựa trên việc khai thác nhân tố sự tham gia vào quyết  
định mua (purchase involvement). Theo tác giả, người định hướng quan điểm, người tiên  
phong và chuyên gia thị trường là các khái niệm có liên quan. Chuyên gia thị trường không  
giống người định hướng quan điểm (opinion leader) hay người tiên phong (innovator) do ảnh  
hưởng của họ với các chủng loại sản phẩm và việc cam kết lớn hơn với ảnh hưởng. Hơn nữa,  
chuyên gia thị trường có xu hướng đi trước (tiên phong) trong nhiều sản phẩm tiêu dùng. Kết  
395  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
quả nghiên cứu của (Abratt, Nel, & Nezer, 1995) chỉ ra: chuyên gia thị trường là đối tượng tốt  
cho (1) các thông điệp chung về các phối thức marketing (marketing mix), (2) các thông điệp  
liên quan đến nhiều chủng loại sản phẩm và (3) các thông điệp liên quan đến việc giới thiệu  
sản phẩm mới. Các chuyên gia cũng là mục tiêu của các thông điệp liên quan đến những sản  
phẩm có mức độ tham gia thấp vào quá trình mua (low involvements products) hoặc những  
sản phẩm không có được sự quan tâm của người tiêu dùng hoặc thông tin không dựa trên sản  
phẩm.  
Nghiên cứu của (Engelland, Hopkins, & Larson, 2001) về các đánh giá với chất lượng  
dịch vụ có đưa ra một số phân tích về sự khác biệt giữa Chuyên gia thị trường và Người định  
hướng quan điểm. Tác giả tổng hợp một số lý thuyết chỉ ra sự khác biệt giữa hai nhóm như  
sau: Người định hướng quan điểm là các cá nhân có sự kết hợp giữa kiến thức và chuyên môn  
về một chủng loại sản phẩm và có khả năng ảnh hưởng đến người khác qua thông tin này.  
Trong khi chuyên gia thị trường cũng có khả năng ảnh hưởng đến người khác, tuy nhiên họ  
được cho là có sở hữu kiến thức chung về thị trường, biết nhiều chủng loại sản phẩm khác  
nhau, biết nhiều địa điểm mua sắm và các thông tin thị trường như giảm giá, giá hay chất  
lượng sản phẩm. Chuyên gia thị trường thường là nữ, những người tiên phong trong việc sử  
dụng sản phẩm (innovator), quan tâm tới quảng cáo, họ có khả năng lập kế hoạch mua sắm  
tốt, họ có nhiều thông tin về các sản phẩm không lâu bền (nondurables) như thực phẩm, dược  
phẩm. Họ là người lưu giữ nhiều thông tin về sản phẩm (cả trên khía cạnh có trợ giúp và  
không có trợ giúp) nhờ kiến thức và trải nghiệm mua sắm. Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự  
liên hệ giữa tính chuyên gia (mavenship) và tính lãnh đạo quan điểm (opinion leadership)  
cũng như với các đặc tính khác của Chuyên gia như Nhận thức (Consicousness), Tính tiên  
phong (Innovativeness).  
Thay vì cố gắng định nghĩa các khái niệm về Người định hướng quan điểm, Chuyên  
gia thị trường, chúng tôi nhận thấy có các yếu tố tâm lý bên trong những nhóm người này có  
liên quan đến nhau như nghiên cứu của (Engelland, Hopkins, & Larson, 2001) đã chỉ ra. Điều  
này cũng cho thấy có cơ sở để phân biệt các đối tượng ảnh hưởng này thông qua thang đo tâm  
lý. Chúng tôi tìm kiếm thêm các bằng chứng thông qua các nghiên cứu trước đây về các yếu  
tố hình thành, cấu tạo thang đo Tính chuyên gia thị trường (Market mavenship) và Tính lãnh  
đạo quan điểm (Opinion leadership).  
Trong khi nghiên cứu của (Chan & Misra, 1990) chỉ ra các đặc tính của Tính định  
hướng quan điểm gồm (1) Sự tham gia của cá nhân (Personal involvement); (2) Sự quen  
thuộc với sản phẩm (Product familarity), (3) Tính cá nhân hoá (Individuation) là các yếu tố  
quan trọng để nhận biết và phân biệt Người định hướng quan điểm so với Người không định  
hướng quan điểm thì nghiên cứu của (Ruvio & Shoham, 2007) trong bối cảnh Châu Á  
(Isarael) còn phân biệt được các đặc tính của Chuyên gia thị trường và Người định hướng  
quan điểm. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù có mối liên hệ nhưng tính chuyên gia  
(market mavenship) và tính định hướng quan điểm (opinion leadership) có mức độ khác biệt,  
tương tự, có sự khác biệt giữa hai nhóm người ảnh hưởng Chuyên gia thị trường và Người  
định hướng quan điểm. Thang đo tâm lý về Tính chuyên gia thị trường (market mavenship) có  
liên hệ chặt chẽ với Tính tiên phong của người tiêu dùng (Consumer innovativeness) và Hành  
vi khám phá (exploratory behavior). Tính tiên phong của người tiêu dùng được xác định theo  
cách tiếp cận của lý thuyết chấp nhận sự sáng tạo trên cơ sở chia nhóm người tiêu dùng thành  
các nhóm dựa trên mức độ chấp nhận cái mới (tiên phong, chấp nhận sớm, số đông sớm chấp  
nhận, số đông chấp nhận muộn và bảo thủ/lạc hậu). Trong khi Hành vi khám phá là một xu  
hướng nhằm thay đổi các kích thích của môi trường gồm các khía cạnh như: Hành vi chấp  
nhận nguy cơ lặp lại (repetitive behavior proness), Tiên phong (Innovativeness), Chấp nhận  
rủi ro (Risk-taking), Khám phá thông qua mua sắm (Exploration through shopping), Truyền  
thông liên cá nhân (Interpersonal communication), Thay đổi thương hiệu (Brand switching),  
Tìm kiếm thông tin (Information seeking).  
396  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Tóm lại, Người ảnh hưởng trong các nghiên cứu học thuật trước đây được xác định từ  
các lý thuyết truyền thông trong chính trị cũng như các lý thuyết về mô hình xử lý thông tin  
trong tâm lý học và marketing. Theo đó, các nghiên cứu này có xu hướng phân biệt hai nhóm  
người ảnh hưởng: Chuyên gia thị trường và Người định hướng quan điểm dựa trên các tiêu  
chí liên quan đến kiến thức, độ tín nhiệm hay mức độ ảnh hưởng. Trong bối cảnh nghiên cứu  
trước đây, việc xác định và phân biệt hai nhóm này có thể có nhiều hàm ý khác nhau cho các  
hoạt động truyền thông marketing với những mục tiêu cụ thể (như phát tán/giới thiệu thông  
tin sản phẩm mới, tăng cường nhận biết hay củng cố/thay đổi thái độ với sản phẩm/thương  
hiệu). Trong bối cảnh phát triển của mạng xã hội, sự tràn ứ thông tin trên Internet việc phân  
biệt các nhóm đôi khi không có ý nghĩa quan trọng bằng việc xác định được những người có  
ảnh hưởng nhằm phục vụ cho các chương trình marketing.  
2.2. Ngƣời ảnh hƣởng trong bối cảnh mạng xã hội và truyền thông trực tuyến  
Trong bối cảnh mới của mạng xã hội, một nền tảng hỗ trợ mạnh cho các hoạt động  
truyền thông truyền miệng (word-of-mouth) - cơ chế tác động của truyền thông liên cá nhân  
từ người ảnh hưởng tới các khách hàng tiềm năng, chúng tôi tìm kiếm thêm bằng chứng từ  
các kết quả nghiên cứu trong điều kiện mới này để làm rõ hơn bản chất của marketing thông  
qua người ảnh hưởng.  
Một trong những ứng dụng gần đây của những người làm marketing trực tuyến là  
marketing lan truyền (viral marketing) có sử dụng truyền thông truyền miệng (word-of-mouth  
communication) hay người ảnh hưởng. Kết quả nghiên cứu của (De Bruyn & Lilien, 2008)  
trên cơ sở kiểm tra tác động của truyền miệng trong hai mô hình truyền thông (một giai đoan  
và nhiều giai đoạn) với các biến độc lập: Sức mạnh gắn kết (Tie strength), Sự tương đồng về  
nhận thức (Perceptual affinity), Tính chuyên môn của nguồn thông tin (Source expertise), Sự  
tương đồng về đặc điểm nhân khẩu (Demographic similarity) chỉ ra nhiều điểm rất đáng quan  
tâm. Trong mô hình truyền thông nhiều giai đoạn của truyền miệng (từ Nhận biết tới Quyết  
định) sức mạnh gắn kết (Tie Strength) chỉ ảnh hưởng đến giai đoạn Nhận biết trong khi Sự  
không tương đồng về biến nhân khẩu lại khiến cho các thông tin truyền miệng truyền tải hiệu  
quả hơn. Trong mô hình truyền thông một giai đoạn chỉ có Sự tương đồng về biến nhân khẩu  
ảnh hưởng đến quá trình truyền thông. Kết quả nghiên cứu cho thấy vai trò của nguồn tin, có  
thể suy rộng hơn là vai trò của người ảnh hưởng không lớn trong các hoạt động marketing lan  
truyền hay truyền thông truyền miệng.  
Nghiên cứu của (Li & Du, 2011) về Người định hướng quan điểm trong marketing  
truyền miệng thông qua các trang nhật ký trực tuyến (online social blogs), viết tắt là blog gợi  
ý: marketing truyền miệng chỉ có thể thành công được nhờ xác định Người định hướng quan  
điểm qua bước trung gian là xác định những người viết blog được chú ý (hot blog). Họ được  
xác định thông qua mô hình (do tác giả xây dựng với tên gọi là BARR) bằng tiêu chí Ưa thích  
blog (Blog preference), Tính chuyên môn (Expertise).  
Nghiên cứu của (Sobkowicz, Kaschesky, & Bouchard, 2012) trong lĩnh vực thông tin  
chính trị mô tả một cách tương đối chi tiết và đầy đủ về cơ chế lan truyền thông tin hai bước  
thông qua những người định hướng quan điểm (còn được gọi là agent-based model). Việc sử  
dụng các chuyên gia, các nhóm chuyên gia, những người định hướng quan điểm như một đối  
tượng trung gian trong quá trình truyền thông về chính sách được coi như một nhu cầu thiết  
yếu trong quá trình hoạch định chính sách. Tác giả gợi ý sử dụng phân tích độ nhạy  
(sentiment analysis) như một công cụ phân tích quan điểm trên nền tảng trực tuyến (online  
opinion mining) giúp các nhà hoạch định chính sách (policymaker) đưa ra các quyết định phù  
hợp.  
Do sự phát triển mạnh mẽ của mạng xã hội, việc xác định Người ảnh hưởng theo các  
tiêu chí học thuật có thể gặp một số trở ngại liên quan đến việc đo lường và xác định. Theo  
Lu, Jerath, & Vir Sigh (2012), Người định hướng quan điểm trên các cộng đồng liên kết trực  
tuyến thiết lập mối quan hệ với những người khác thông qua Niềm tin (Trust). Trong khi  
mạng lười phát triển được thông qua Sự ưa thích gắn kết (Preferential attachment) và Trao đổi  
397  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
thông tin (Reciprocity). Phong cách viết (khách quan, dễ đọc, toàn diện) cũng là những động  
cơ có ý nghĩa lớn cho sự phát triển mạng lưới và thậm chí cả Tính định hướng quan điểm  
(Opinion leadership).  
Nghiên cứu của (Munger & Zhao, 2015) giải quyết vấn đề xác định những Người  
dùng có ảnh hưởng (Influential users) trên các diễn đàn thông qua phương pháp phân tích  
mạng xã hội (social network analysis) và chấm điểm tính chuyên môn của chủ đề (Topical  
expertise scoring). Theo đó, Tính chuyên môn của chủ đề là một trong những điểm mới tác  
giả đưa vào mô hình để xác định những người có ảnh hưởng, các tiêu chí gồm: nội dung, mức  
độ phản hồi của người ảnh hưởng, chất lượng bài viết, độ nhạy với chủ đề của người quan  
tâm. Các tiêu chí này có tiềm năng được áp dụng không chỉ trên các diễn đàn mà cả trên các  
mạng xã hội phổ biến hiện nay như Facebook và Twitter. Cũng trong một nghiên cứu với chủ  
đề tương tự (Bakshy, Hofman, Mason, & Watts, 2011) chỉ ra các tiêu chí để xác định những  
Người có ảnh hưởng trên Twitter thông qua các chỉ số rất cụ thể và đơn giản: Số người theo  
dõi (Followers), Số bạn bè (Friends), Số bài viết (Tweets), Thời gian bắt đầu sử dụng Twitter  
(date of joining) và Kinh nghiệm trong quá khứ của người chia sẻ thông tin. Cách tiếp cận  
tương tự được (Kim & Tran, 2013) áp dụng, ngoài việc sử dụng các tiêu chí đo lường để xác  
định Người định hướng quan điểm (Mức độ đầu vào, Mức độ đầu ra và Kết hợp), tác giả còn  
xây dựng các chỉ số đo lường mức độ Tin cậy (Điểm kiến thức - Knowledge score, Hệ số phù  
hợp - Matching cofficient, Hệ số Jaccard). Tác giả gợi ý sử dụng Hệ số phù hợp (Matching  
coefficient) cho việc xác định Người định hướng quan điểm trong đa số các trường hợp. Việc  
sử dụng các chỉ số đo mức độ đầu vào, đầu ra (in-degree, out-degree) không hiệu quả trong đa  
số các trường hợp.  
Làm rõ hơn cho các cách tiếp cận mang tính toán học với tư cách công cụ hỗ trợ cho  
việc xác định những người ảnh hưởng, phân tích quan điểm, nghiên cứu của (Rios, Aguilera,  
Nunez-Gonzalez, & Grana, 2017) gợi ý việc sử dụng phân tích khái niệm mờ (fuzzy concept  
analysis) và phân tích tiềm ẩn Dirichlet (LDA) thông qua ngữ nghĩa văn bản, cùng với phân  
tích mạng lưới theo sơ đồ (graph analysis of the network).  
Trong bối cảnh của marketing du lịch (Bokunewicz & Shulman, 2017) gợi ý cách xác  
định những người ảnh hưởng nhờ phương pháp phân tích mạng lưới (social network) bằng  
các công cụ phần mềm với các thông tin được chia sẻ trên mạng xã hội Twitter tại Mỹ nhằm  
thông qua người ảnh hưởng để xây dựng các chiến dịch marketing, quảng cáo.  
Bối cảnh nghiên cứu trên môi trường trực tuyến, mạng xã hội, diễn đàn trực tuyến cho  
thấy sự thay đổi trong cách tiếp cận nghiên cứu về người ảnh hưởng. Theo đó ranh giới giữa  
Người định hướng và Chuyên gia thị trường đã bị lu mờ bởi một trọng tâm cơ bản hơn là  
Người có ảnh hưởng. Không những thế, nghiên cứu trong bối cảnh mới còn tập trung vào xác  
định Người ảnh hưởng và tìm kiếm họ trong đông đảo người tiêu dùng. Trong bối cảnh này,  
Người ảnh hưởng nhiều hơn, dễ thấy hơn, dễ xác định và tiếp cận hơn thông qua các chỉ số  
định lượng tương đối dễ nhận biết. Các nghiên cứu trong bối cảnh mới có xu hướng sử dụng  
nhiều mô hình toán học phức tạp gắn với dữ liệu lớn bằng các phần mềm và hệ thống thu thập  
dữ liệu tiên tiến. Mặc dù các chỉ số được các mạng xã hội cung cấp là một tiêu chí đơn giản  
để xác định Người có ảnh hưởng nhưng một số nhà nghiên cứu cho rằng việc xây dựng các  
mô hình, chỉ số trong đó tập trung vào việc đánh giá sự phù hợp của Người ảnh hưởng với  
chủ đề hay nội dung có ý nghĩa hơn trong việc xác định Ngươi có ảnh hưởng.  
3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING THÔNG QUA NGƢỜI ẢNH  
HƢỞNG Ở VIỆT NAM  
Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, các công ty nghiên cứu thị trường trên mạng xã  
hội thông qua giải pháp Lắng nghe trên mạng xã hội (social listening) đang bắt đầu khai thác  
thị trường thông qua việc đánh giá và gợi ý người làm marketing tìm ra Người ảnh hưởng.  
BuzzMetrics là một trong những công ty hàng đầu trong dịch vụ này. BuzzMetrics hiện tại  
đang phân loại Người ảnh hưởng (KOLs) thành ba nhóm khác nhau trên ba tiêu chí Mức độ  
tiếp cận (Reach), Độ phù hợp (Relevance), Mức độ gợi nhớ (Resonance) gồm: (1) Người nổi  
398  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
tiếng/Người của công chúng (VIPs/Celebrities) - những người có Mức độ tiếp cận rộng nhất  
nhưng không phải lúc nào cũng có Độ phù hợp tốt; (2) Các chuyên gia (Professional  
influencer) - những người vừa có Mức độ tiếp cận cao và Mức độ phù hợp cao; (3) Công dân  
có ảnh hưởng (Citizen influencers) được xác định thông qua một số tiêu chí của mạng xã hội  
như Số bạn bè (Friends), Số người theo dõi (Followers), họ có Mức độ phù hợp cao song Mức  
độ tiếp cận thấp (Cao, 2016). Ngoài ra BuzzMetrics còn công bố bảng xếp hạng hàng tháng về  
các chiến dịch marketing, các thương hiệu được nhắc đến nhiều nhất trên mạng xã hội cũng  
như những người nổi tiếng trên mạng xã hội.  
Hình 1: Bảng xếp hạng ngƣời nổi tiếng trên mạng xã hội Facebok của  
BuzzMetrics38  
Ngoài các công ty nghiên cứu thị trường, các công ty cung cấp giải pháp phần mềm và  
nền tảng trên thiết bị số cũng tham gia thị trường này. Tiêu biểu trong số này là Hiip, một nền  
tảng cho phép kết nối Người ảnh hưởng với những người làm marketing hay người có nhu  
cầu. Ngoài những nền tảng này, các Công ty cung cấp giải pháp đánh giá hiệu quả hoạt động  
truyền thông trên mạng xã hội cũng góp phần không nhỏ trong việc thống kê, gợi ý các tiêu  
chí xác định Người ảnh hưởng, phổ biến nhất trong số này là Socialbaker, một công cụ thống  
kê và đành giá hiệu quả truyền thông trên Facebook.  
Chúng tôi chưa thực hiện một đánh giá chi tiết, đầy đủ về các hoạt động marketing  
thông qua người ảnh hưởng tại thị trường Việt Nam. Tuy nhiên, qua thống kê của  
BuzzMetrics và theo dõi trên mạng xã hôi, chúng tôi nhận thấy: thứ nhất, các hoạt động  
marketing thông qua người ảnh hưởng sử dụng đối tượng chính là những diễn viên, nghệ sỹ,  
người nổi tiếng trong lĩnh vực giải trí. Các kênh liên lạc của họ như Facebook, Youtube đóng  
vai trò như một kênh truyền thông với mức độ tiếp cận lớn tới các đối tượng công chúng nhận  
tin. Thứ hai, các hoạt động marketing thông qua Người ảnh hưởng theo hình thức này ít có sự  
gắn kết chặt chẽ giữa chiến lược thông điệp với kênh truyền thông. Người nổi tiếng thường  
chia sẻ các sản phẩm truyền thông trong đó họ đóng vai trò như một người bảo chứng hay một  
nguồn thông tin cung cấp cho công chúng nhận tin. Theo cách tiếp cận đang thực hiện, chúng  
tôi cho rằng các hoạt động này có khả năng thay đổi hình ảnh, tăng nhận biết hoặc hình thành  
thái độ với sản phẩm/thương hiệu trong khoảng thời gian ngắn và không tồn tại lâu dài. Các  
hoạt động như vậy thường hạn chế giá trị hỗ trợ, củng cố hình ảnh cho cả người nổi tiếng và  
399  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
sản phẩm/thương hiệu. Chi phí để sử dụng người nổi tiếng trong các chiến dịch này chắc chắn  
sẽ không nhỏ, trong khi không có khả năng đo lường thông qua các chỉ số liên quan trực tiếp  
đến tài chính hay doanh số như Lợi nhuận trên vốn đầu tư Marketing (ROI Marketing).  
4. MỘT SỐ GỢI Ý NHẰM TĂNG CƢỜNG HIỆU QUẢ MARKETING THÔNG  
QUA NGƢỜI ẢNH HƢỞNG  
Từ lý thuyết và thực tế hoạt động marketing thông qua người ảnh hưởng ở Việt Nam  
chúng tôi thừa nhận cách tiếp cận của (Brown & Hayes, 2008) như một cách định hướng  
chung. Theo đó cần có hai cách tiếp cận khác nhau với Marketing thông qua người ảnh  
hưởng.  
Thứ nhất, Marketing tới Người ảnh hưởng với mục đích coi họ như một phương tiện  
truyền đạt thông tin tới đông đảo người tiêu dùng. Trong cách tiếp cận này, người ảnh hưởng  
là đối tượng cuối cùng của hoạt động truyền thông, họ là người tiếp nhận thông điệp truyền  
thông. Mục tiêu của doanh nghiệp là tăng khả năng lan truyền thông điệp từ họ tới khách hàng  
tiềm năng (theo mô hình truyền thông hai bước). Có thể nói, nhiệm vụ quan trọng nhất với  
cách tiếp cận này là xác định người ảnh hưởng. Trong môi trường truyền thông trên internet  
và mạng xã hội, các chỉ số để xác định không khó nhưng ngưỡng (hay con số cụ thể) cần  
được nghiên cứu thêm. Đồng thời, cần phát triển các thang đo, chỉ số đánh giá mức độ phù  
hợp của người ảnh hưởng. Người làm marketing cũng cần chú trọng các thông điệp tới Người  
ảnh hưởng sao cho tính thuyết phục và khả năng tái sử dụng của Người ảnh hưởng là đơn giản  
nhất.  
Thứ hai, Marketing thông qua Người ảnh hưởng với mục đích coi Người ảnh hưởng là  
công cụ truyền tải thông điệp tới đông đảo công chúng hoặc khách hàng tiềm năng. Trong  
cách tiếp cận này, khách hàng tiềm năng/công chúng là đối tượng nhận tin cuối cùng. Mặc dù  
có thể gặp một số vấn đề đạo đức, tuy nhiên, người làm marketing hoàn toàn có thể khắc phục  
và giải quyết được nếu có những giải pháp mang tính chiến thuật phù hợp. Với cách tiếp cận  
này, tìm kiếm người nổi tiếng, người có chuyên môn có thể là giải pháp an toàn nhất. Song  
việc giảm mức độ đề phòng với thông điệp hay phải cân nhắc sử dụng thêm các phương tiện  
truyền thông đại chúng hỗ trợ sẽ là vấn đề lớn với người làm marketing. Nếu tìm kiếm những  
người ảnh hưởng thông thường, người làm marketing sẽ cần có chiến lược tuyển chọn, huấn  
luyện, truyền thông, đào tạo và phải đảm bảo được các vấn đề về tính pháp lý hay đạo đức với  
hoạt động của mình.  
5. KẾT LUẬN VÀ HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU  
Có thể nói, Người ảnh hưởng là một trong những cách tiếp cận marketing không quá  
mới mẻ. Tuy nhiên, những vấn đề của bối cảnh mới đang đặt ra nhiều thách thức cho việc sử  
dụng Người ảnh hưởng trong chiến thuật marketing của các doanh nghiệp. Nghiên cứu của  
chúng tôi mới phần nào hệ thống được lý thuyết về Người ảnh hưởng trong bối cảnh cũ  
(truyền thống), mới (hiện đại) và các tiêu chí xác định Người ảnh hưởng. Chúng tôi cho rằng  
không nhất thiết phải đặt ranh giới rõ ràng giữa các nhóm người ảnh hưởng trong việc sử  
dụng khái niệm Marketing thông qua Người ảnh hưởng nhưng chúng tôi cho rằng cần phải  
xác định rõ đối tượng cũng như tìm kiếm các tiêu chí phân loại và xác định người ảnh hưởng  
tuỳ thuộc vào mục đích sử dụng trong hoạt động marketing. Cùng với thông điệp truyền  
thông, đây là trọng tâm chính với hoạt động Marketing thông qua Người ảnh hưởng. Các  
nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam nên xem xét việc xây dựng, phát triển các tiêu chí xác  
định Người ảnh hưởng một cách chi tiết và cụ thể hơn.  
Nghiên cứu của chúng tôi còn gặp nhiều hạn chế trong việc thống kê các chiến dịch  
marketing thông qua người ảnh hưởng cũng như hệ thống hoá kết quả các nghiên cứu xác  
định người ảnh hưởng bằng các công cụ của máy tính, phần mềm và lý thuyết toán. Chúng tôi  
cho rằng, các nghiên cứu chuyên sâu bằng những công nghệ mới, cách tiếp cận mới nên được  
sử dụng nhiều hơn trong lý thuyết marketing thông qua người ảnh hưởng nhằm làm giàu có  
hơn cho lý thuyết và thực tế hoạt động này tại Việt Nam.  
400  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Abratt, R., Nel, D., & Nezer, C. (1995, Fall). Role of the market maven in retailing: a  
general marketplace influencer. Journal of Business and Psychology, 10(1), 31-55.  
Bakshy, E., Hofman, J., Mason, W., & Watts, D. (2011). Everyone's an Influencer:  
Quantifying Influence on Twitter. HongKong, China: WSDM‟11.  
Bokunewicz, J., & Shulman, J. (2017). Influencer identification in Twitter networks of  
destination marketing organizations. Journal of Hospitality and Tourism Technology.  
Brown, D., & Hayes, N. (2008). Influencer Marketing - Who really influences your  
customer? Hungary: Butterworth-Heinemann.  
Cao, H. (2016,  
3
20). Insight plus. Retrieved from BuzzMetrics:  
dich-marketing-tren-social-media/  
Chan, K., & Misra, S. (1990). Characteristics of the Opinion Leader: A New  
Dimension. Journal of Advertising, 19(3), 53-60.  
De Bruyn, A., & Lilien, G. (2008). A multi-stage model of word-of-mouth influence  
through viral marketing. International Journal of Research in Marketing, 25, 151-163.  
Engelland, B., Hopkins, C., & Larson, D. A. (2001, Fall). Market Mavenship as an  
Influencer of Service Quality Evaluation. Journal of Marketing Theory and Practice, 9(4), 15-  
26.  
Katz, E. (1957). The Two Step Flow of Communication: An Up-to-date Report on an  
Hypothesis. Political Opinion Quarterly, 21(1), 61-78.  
Kim, Y. S., & Tran, L. V. (2013). Assessing the ripple effects of online opinion  
leaders with trust and distrust metrics. Expert System with Applications, 40, 3500-3511.  
Li, F., & Du, T. (2011). Who is talking? An ontology-based opinion leader  
identification framework for word-of-mouth marketing in online social blogs. Decision  
Support Systems, 51, 190-197.  
Lu, Y., Jerath, K., & Vir Sigh, P. (2012). The Emergence of Opinion Leaders in a  
Networked Online Community: A Dyadic Model with Time Dynamics and a Heuristic for  
Fast Estimation. Management Sciecne Articles in Advances, 1-17.  
Munger, T., & Zhao, J. (2015). Identifying Influential Users in On-line Support  
Forums using Topical Expertise and Social Network Analysis. IEEE/ACM International  
Conference on Advances in Social Networks Analysis and Mining (pp. 721-728). Paris: 2015  
ACM.  
Price, L., & Feick, L. (1984). The Role of Interpersonal Sources in External Search: an  
Informational Pespective. (P. Thomas C. Kinnear, Ed.) Advances in Consumer Research, 11,  
250-255.  
Rios, S., Aguilera, F., Nunez-Gonzalez, D., & Grana, M. (2017). Semantically  
enhanced network analysis for influencer identification in online social networks.  
Neurocomputing, 000, 1-11.  
Ruvio, A., & Shoham, A. (2007, August). Innovativeness, Eploratory Behavior,  
Market Mavenship, and Opinion Leadership: An Empirical Examination in the Asian Context.  
Psychology and Marketing, 24(8), 703-722.  
Sobkowicz, P., Kaschesky, M., & Bouchard, G. (2012). Opinion mining in social  
media: Modeling, simulating, and forecasting political opinions in the web. Government  
Information Quaterly, 29, 470-479.  
401  
pdf 9 trang Thùy Anh 11720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Marketing thông qua người ảnh hưởng: Vận dụng trong thực tiễn tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmarketing_thong_qua_nguoi_anh_huong_van_dung_trong_thuc_tien.pdf