Hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế trong nền kinh tế số
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ THUẾ
TRONG NỀN KINH TẾ SỐ
Nguyễn Thị Triển
Hà Văn Khoa; Âu Thị Nguyệt Liên
Tóm tắt
Sự phát triển của thương mại điện tử và nền kinh tế số là xu hướng phát triển
tất yếu trong cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0. Nhiều mô thức kinh doanh và giao
dịch thương mại mới được sáng tạo ra là thách thức lớn đối với việc quản lý thuế ở
Việt Nam. Pháp luật Việt Nam đã quy định vấn đề này trong nhiều văn bản pháp luật,
tuy nhiên một số quy định chưa cụ thể và còn nhiều hạn chế, bất cập dẫn đến hiệu
quả thực thi chưa cao. Do vậy, cần có những giải pháp hoàn thiện pháp luật về quản
lý thuế trong nền kinh tế số nhằm tăng cường chống thất thu ngân sách Nhà nước,
bảo đảm công bằng thuế đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Kinh tế số, quản lý thuế, pháp luật
1. Đặt vấn đề
Kinh tế số là một nền kinh tế vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số, đặc biệt
là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua internet. Kinh tế số bao gồm tất cả các
lĩnh vực và nền kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; sản xuất, phân phối, lưu
thông hàng hóa, giao thông vận tải, tài chính, ngân hàng…) mà công nghệ số được
áp dụng33. Trong lĩnh vực thuế, nhà nước áp dụng quá trình chuyển đổi số qua việc
quản lý thuế trên trang thông tin điện tử. Có thể thấy, ngày nay quản lý thuế trong
nền kinh tế số là một khâu tổ chức, xác lập mối quan hệ giữa các bộ phận trong thực
thi chính sách thuế có hiệu quả thông qua giao dịch điện tử. Đồng thời, giúp việc quản
lý thu thuế đầy đủ, thực hiện đúng quy định và công bằng với tất cả các tổ chức, cá
nhân có hoạt động kinh doanh. Các quy định của pháp luật về quản lý thuế trong nền
kinh tế số bước đầu đã tạo một hành lang pháp lý để ngành thuế và các ngành liên
Thạc sĩ, Cục Thuế tỉnh Thừa Thiên Huế
33https://tuyengiao.vn/dua-nghi-quyet-cua-dang-vao-cuoc-song/phat-trien-kinh-te-so-o-viet-nam-134586
(truy cập ngày 14/8/2021)
47
quan triển khai nhiều biện pháp quản lý thu thuế, đặc biệt là quản lý thuế đối với hoạt
động kinh doanh thương mại điện tử. Bên canh, những kết quả đạt được thì hoạt động
quản lý thuế có một số hạn chế, tồn tại như: Quy định về cách thức quản lý thu nhập
còn gặp hạn chế; Không phân biệt rõ ràng loại thu nhập làm cơ sở tính thuế; Việc khó
xác định đúng bản chất giao dịch để đánh thuế đối với giao dịch kinh doanh trên nền
tảng số; Khó kiểm soát giao dịch kinh doanh để đánh thuế đối với hoạt động kinh
doanh tron nền kinh tế chia sẻ; Quy định về trách nhiệm của ngân hàng, tổ chức trung
gian thanh toán.
2. Quy định của pháp luật về quản lý thuế trong nền kinh tế số
Có thể thấy, ở Việt Nam chưa có một quy định cụ thể nào về khái niệm “Pháp
luật về quản lý thuế trong nền kinh tế số”. Vì vậy, nhóm tác giả nghiên cứu nội hàm
“Kinh tế số”, “Quản lý thuế”. Về khái niệm “Kinh tế số”, kinh tế số được định nghĩa
được tạo ra từ việc áp dụng công nghệ số và dữ liệu số. Nền kinh tế số gắn với các
đặc trưng sau: (i) Thương mại điện tử; (ii) Các kho ứng dụng kỹ thuật số trên nền
tảng internet; (iii) Quảng cáo trực tuyến; (iv) Điện toán đám mây; (v) Giao dịch tốc
độ cao; (vi) Tương tác của người dùng trên nền tảng mạng internet; (vii) Dịch vụ
thanh toán trực tuyến.34. “Quản lý thuế” được hiểu theo nghĩa rộng là tất cả các hoạt
động của nhà nước liên quan đến quản lý thuế. Theo nghĩa hẹp, quản lý thuế là quản
lý hành chính về thuế, bao gồm việc tổ chức, quản lý, điều hành quá trình thu nộp
thuế của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với tổ chức, cá nhân là đối tượng
nộp thuế đã được quy định trong các luật thuế35. Từ đó có thể hiểu khái niệm “ Pháp
luật về quản lý thuế trong nền kinh tế số” là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà
nước ban hành điều chỉnh hành vi của tổ chức, cá nhân liên quan đến quản lý thuế
dựa trên nền tảng số, dữ liệu số.”
Pháp luật Việt Nam đã có quy định về quản lý thuế trong nền kinh tế số trong
các văn bản pháp luật, cụ thể như: Luật Công nghệ thông tin năm 2006 (sữa đổi, bổ
34Thùy Dương “Hiểu đúng về nền kinh tế số ở Việt Nam” https://doanhnhanvn.vn/kinh-te-so-la-gi-kinh-te-so-
o-viet-nam-phat-trien-the-nao-22049.html
35 Vũ văn Cương (2013) “ Pháp luật về quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam - Những vấn đề
lý luận và thực tiễn”
48
sung năm 2017), Luật Giao dịch điện tử, Luật An ninh mạng, Luật Quản lý thuế 2019,
Nghị định 129/2020 hướng dẫn luật Quản lý thuế 2019, Thông tư 40/2021/TT-BTC
về thuế Giá trị gia tăng, thuế Thu nhập cá nhân với hộ kinh doanh... Như vậy, nhìn
chung pháp luật Việt Nam đã tạo được một khung pháp lý tương đối cơ bản điều
chỉnh về quản lý thuê trong nền kinh tế số.
Nội dung các quy định pháp luật về quản lý thuế trong nền kinh tế số:
Thứ nhất, chủ thể trong quản lý thuế: Chủ thể có hai loại, một là chủ thể có trách
nhiệm quản lý thuế thuộc về nhà nước (hệ thống quản lý trực tiếp là cơ quan Thuế,
Cơ quan hải quan và các cơ quan tổ chức, cá nhân trong xã hội có trách nhiệm tham
gia) và đối tượng chịu sự quản lý thuế của nhà nước là đối tượng nộp thuế được xác
định trrong luật thuế và chủ thể phải nộp cá khoản thu do cơ quan quản lý thuế quản
lý36 (các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm khấu trừ thuế; tổ chức làm thủ tục thuế thay
người nộp thuế và tổ chức cá nhân khác có liên quan đến quản lý thuế)
Thứ hai, nội dung quản lý thuế và mục tiêu quản lý thuế: Nội dung quản lý thuế
trong nền kinh tế số phải đảm bảo theo quy định của pháp luật37. Mục tiêu quản lý
thuế nhằm đảm bảo tập trung huy động đầy đủ và kịp thời các nguồn thu ngân sách
nhà nước; phát huy tốt vai trò công cụ thuế trong nền kinh tế; tăng cường sự tuân thủ
thuế của người nộp thuế một cách tự nguyện, kịp thời và đảm bảo quyền, lợi ích của
nhà nước, người nộp thuế.
Thứ ba, cơ chế quản lý thuế: Cơ chế tự khai, tự nộp thuế là cơ cơ chế quản lý
thuế hiện đại đang được nhiều nước áp dụng, làm thay đổi phương thức vận hành
trong quá trình thu nộp thuế. Người nộp thuế được tự thực hiện các quyền và nghĩa
vụ nộp thuế mà pháp luật quy định và các cơ quan quản lý thuế, các thiết chế có liên
quan được thực hiện các biện pháp quản lý thuế phù hợp với nguyên tắc đó.
36 Luật quản lý Thuế năm 2019, điều 2
37 Luật quản lý Thuế năm 2019, điều 4
49
3. Một số hạn chế, bất cập của quy định pháp luật về quản lý thuế trong
nền kinh tế số
Pháp luật về quản lý thuế trong nền kinh tế số có một số bất cập như sau:
Thứ nhất, cách thức quản lý thu nhập trong nền kinh tế số chưa đáp ứng thực
tiễn. Theo nguyên tắc đánh thuế quốc tế hiện hành cho phép quốc gia nơi phát sinh
nguồn thu nhập đánh thuế đối với lợi nhuận kinh doanh của đối tượng không cư trú
chỉ khi cá nhân đó có cơ sở thường trú tại quốc gia phát sinh thu nhập thông qua sự
hiện diện vật chất đáng kể hoặc cơ sở phụ thuộc. Tuy nhiên, trong nền kinh tế số, các
hoạt động kinh doanh có thể được thực hiện thông qua website hiện diện ở một khu
vực thị trường nào đó mà không cần sự hiện diện vật chất tại đó. Điển hình nhất cho
hoạt động này là quảng cáo trực tuyến và các hoạt độngkinh doanh tương tác thông
qua nền tảng các mạng xã hội. Trong khi, hoạt động kinh doanh truyền thống đòi hỏi
sự hiện diện vật chất, kể cả hoạt động chuẩn bị kinh doanh và phụ trợ cho hoạt động
kinh doanh, tại quốc gia nơi tiến hành kinh doanh. Mặc dù các quy định mới tại Luật
Quản lý thuế số 38/2019 cũng như Nghị định 126/2020/NĐ-CP là khung pháp lý quan
trọng cho cơ chế thuế đối với hoạt động TMĐT, kinh tế số tại Việt Nam, Thông tư
40/2021/TT-BTC quy định các sàn thương mại điện tử sẽ phải khai thay, nộp thuế
thay cho người bán trên sàn. Tuy nhiên, về bản chất sàn thương mại điện tử là nơi
cung cấp hạ tầng công nghệ để kết nối người bán và người mua, giúp họ thực hiện
giao dịch, chứ không phải là đối tượng có nghĩa vụ kê khai thuế, khấu trừ thuế thu
nhập của người bán theo quy định. Hơn nữa, nghị định 52 ngày 16/05/2013 của Chính
phủ về thương mại điện tử, không đề cập đến trách nhiệm các sàn phải kê khai thay,
nộp thuế thay cho người bán. Khoản 7, Điều 27 Nghị định 52 cũng nêu rõ người bán
trên sàn giao dịch thương mại điện tử có trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế
theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, Luật thuế thu nhập cá nhân quy định các tổ
chức, cá nhân có trách nhiệm tự kê khai, khấu trừ, nộp thuế.
Thứ hai, khó phân biệt rõ loại thu nhập làm cơ sở đánh thuế. Trong nền kinh tế
số, rất khó phân biệt một số loại thu nhập, đặc biệt là bản quyền, phí dịch vụ và lợi
nhuận kinh doanh. Một ví dụ điển hình là hoạt động in 3D, rất khó có thể trả lời số
tiền chi trả là cho tiền bản quyền, phí dịch vụ hay lợi nhuận kinh doanh nếu người
50
mua được cấp quyền sử dụng thiết kế đó và in ở quốc gia của mình. Nếu người sản
xuất là đối tượng không cư trú của nước mà người mua sử dụng thiết kế đó thì không
thể đánh thuế nhà sản xuất, vì nguyên tắc đánh thuế quốc tế hiện hành không cho
phép quốc gia nơi phát sinh thu nhập đánh thuế đối với lợi nhuận kinh doanh của đối
tượng không có cơ sở thường trú ở quốc gia đó.Mặt khác, các khoản chi trả cho dịch
vụ điện toán đám mây, thuê đám mây và các dịch vụ kỹ thuật khác. Vấn đề này không
chỉ gây khó khăn trong quản lý thuế thu nhập, mà còn gây khó khăn cho quản lý thuế
giá trị gia tăng. Trong quản lý thuế giá trị gia tăng, việc xác định thuế suất cũng dựa
trên phân loại hàng hóa, dịch vụ và thu nhập. Nền kinh tế kỹ thuật số cũng tạo ra
những thách thức đối với các thông lệ đánh thuế truyền thống, điển hình là doanh thu
bán phần mềm, sách điện tử và in 3D.
Thứ ba, việc xác định đúng bản chất giao dịch để đánh thuế đối với giao dịch
kinh doanh trên nền tảng số rất lung túng. Ở Việt Nam, thời gian qua, hoạt động kinh
doanh theo mô hình kinh tế số cũng gây nhiều tranh cãi trong xác định ngành nghề,
lĩnh vực kinh doanh làm căn cứ xác định doanh thu tính thuế giá trị gia tăng. Điển
hình như: Việc xác định nghĩa vụ kê khai, nộp thuế giá trị gia tăng của Grab.Trong
một thời gian rất dài, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và cơ quan thuế lúng túng
trong việc xác định Grab kinh doanh vận chuyển khách hay kinh doanh dịch vụ kết
nối giữa khách hàng và tài xế taxi để xác định nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng của Grab.
Gần đây, cơ quan thuế đã xác định Grab kinh doanh vận chuyển khách do Grab toàn
quyền quyết định phương thức kinh doanh và giá cả vận chuyển khách. Tuy vậy, Grab
vẫn kiến nghị rằng, Công ty này không kinh doanh dịch vụ vận chuyển khách mà chỉ
kinh doanh dịch vụ kết nối khách hàng và lái xe taxi.
Thứ tư, khó kiểm soát giao dịch kinh doanh để đánh thuế đối với hoạt động kinh
doanh thương mại điện tử. Với các hình thức kinh doanh thương mại điện tử, các chủ
thể kinh doanh không cần cửa hàng, cửa hiệu truyền thống, các giao dịch hoàn toàn
thực hiện bằng các phương thức điện tử, máy chủ có thể đặt ở nước ngoài thì việc
kiểm soát giao dịch làm căn cứ xác định giao dịch phát sinh là rất khó khăn.Thêm
vào đó, việc kiểm soát và yêu cầu người nộp thuế thực hiện nghĩa vụ nộp thuế cũng
rất khó khăn do những phương thức thanh toán không dùng tiền mặt rất đa dạng và
51
phong phú của nền kinh tế số. Theo đó, việc thanh toán có thể thực hiện qua ngân
hàng hoặc không thực hiện qua ngân hàng mà qua các tổ chức thanh toán trung gian
khác. Ở Việt Nam, vấn đề kiểm soát giao dịch kinh doanh thương mại điện tử càng
trở nên khó khăn hơn khi mà hệ thống thương mại điện tử thanh toán theo hình thức
COD (Trả tiền mặt khi giao hàng) được áp dụng phổ biến hơn các hình thức thương
mại điện tử thanh toán không dùng tiền mặt.
Thứ năm, quy định về trách nhiệm của ngân hàng thương mại và trung gian
thanh toán trong khấu trừ thuế chưa cụ thể. Theo Nghị định 126/2020/NĐ-CP hướng
dẫn luật Quản lý thuế năm 2019 thì ngân hàng thương mại và tổ chức cung ứng dịch
vụ trung gian thanh toán có trách nhiệm khấu trừ, nộp thay nghĩa vụ thuế phải nộp
của nhà cung cấp ở nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam có hoạt động
kinh doanh TMĐT, kinh doanh dựa trên nền tảng số với tổ chức, cá nhân ở Việt Nam.
Quy định trên đã đặt ra một số vấn đề về trách nhiệm của ngân hàng và trung gian
thanh toán trong việc tính toán không đúng số thuế phải khấu trừ và nộp thay cho nhà
cung cấp ở nước ngoài chưa thực hiện đăng ký thuế tại Việt Nam. Bởi, việc xác định
từng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ mà nhà cung cấp nước ngoài cung cấp để áp dụng
đúng tỷ lệ % để tính thuế nhà thầu có thể là một thách thức lớn về mặt thực tiễn đối
với các ngân hàng thương mại và trung gian thanh toán. Bởi lẽ, ngân hàng không có
chức năng, thẩm quyền để tham gia vào việc tính toán, phân tích các giao dịch, không
thể giải quyết những khiếu nại, kiện cáo của khách hàng về thừa, thiếu, sai, đúng từ
việc khấu trừ tiền để nộp thuế. Ngoài ra khi tính thuế, ngân hàng phải quy đổi số ngoại
tệ ra tiền đồng theo tỉ giá hay có thể tính theo ngoại tệ?
4. Kinh nghiệm quốc tế về quản lý thuế trong nền kinh tế số và một số gợi
mở cho Việt Nam
Singapore38: Luật thuế và công nghệ được Singapore cho rằng có mối quan hệ
mật thiết lẫn nhau trong quá trình quản lý thuế. Singapore là quốc gia khuyến khích và
hiểu về áp dụng công nghệ trong hoạt động quản lý nhà nước và sản xuất kinh doanh.
Quản lý thuế trong nền kinh tế số đối với Singapore được đề cập liên quan đến 03 vấn
38
Ooi, V. (2021). Tax Law and the Digital Economy in Singapore. SMU Centre for AI & Data Governance
Research Paper (2021/02).
52
đề chính là (1) thuế quốc tế, (2) luật thuế nội địa và (3) thuế là các quy định. Thuế quốc
tế đặt ra vấn đề cần phải có những bước cải cách lớn liên quan đến Chống xói mòn cơ
sở thuế và chuyển lợi nhuận của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) -
Model Convention and the implementation of the Base Erosion and Profits Shifting
(BEPS), trong lúc đó luật thuế nội địa đối với nền kinh tế số lại liên quan đến thị trường
nội địa nhỏ hơn. Trước đây, thuế nội địa ở Singapore chưa được thiết kế dựa trên nền
tảng của thuế quốc tế và từ khi nền kinh tế số bắt đầu phát triển đã có những tác động
ảnh hưởng đến chính sách thuế nội địa của nước này. Singapore cung cấp hướng dẫn về
cách các nguyên tắc thuế hiện hành đối với hoạt động kinh doanh của nền kinh tế kỹ
thuật số hơn là ban hành luật cụ thể để đối phó với những trường hợp như vậy. Về thuế
GTGT, nước này coi các sản phẩm kỹ thuật số được phân phối thông qua phương tiện
điện tử là dịch vụ chứ không phải hàng hóa. Từ 01/01/2020, Singapore sửa đổi chính
sách thuế GTGT theo hai cách: (1) B2C - các nhà cung cấp ở nước ngoài cung cấp
dịch vụ kỹ thuật số cho người tiêu dùng ở Singapore phải đăng ký thuế GTGT nếu
đáp ứng các điều kiện nhất định và phải kê khai nộp thuế GTGT từ khách hàng của
họ ở Singapore. Trước đây, các nhà cung cấp ở nước ngoài cung cấp cùng một dịch
vụ cho người tiêu dùng Singapore sẽ không phải tính thuế GTGT đối với các nguồn
cung cấp đó, trong khi các đối tác có trụ sở tại Singapore của họ sẽ phải làm như vậy;
(2) B2B – yêu cầu người mua phải kê khai nộp thuế GTGT cho cơ quan thuế. Cơ chế
này áp dụng cho các dịch vụ được các doanh nghiệp ở Singapore nhập khẩu từ nước
ngoài. Điều này dẫn đến gánh nặng hành chính về kế toán thuế GTGT và bình đẳng
giữa các nhà cung cấp dịch vụ trong nước và nước ngoài bằng cách đảm bảo rằng người
mua sẽ phải trả cùng một mức thuế GTGT bất kể nhà cung cấp của họ có trụ sở ở đâu.
Các nước Châu Phi: Nhóm các nước Châu Phi đưa ra bài học kinh nghiệm trong
việc ban hành chính sách về thuế đối với nền kinh tế số là không được cản trở sự tăng
trưởng của nền kinh tế kỹ thuật số toàn cầu và thuế không nên tạo gánh nặng quá mức
cho các doanh nghiệp trong nước cũng như công ty đa quốc gia. 39 Trong lúc đó, Nam
Phi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thiết kế các quy tắc cho phép thu thuế đối với
39
Rukundo, S. (2020). Addressing the Challenges of Taxation of the Digital Economy: Lessons for African
Countries.
53
nền kinh tế kỹ thuật số và cho phép quốc gia có chủ quyền nơi hoạt động kinh tế diễn
ra thực hiện thu thuế.40
Thổ Nhĩ Kỳ: Thuế giá trị gia tăng (GTGT) ở Thổ Nhĩ Kỳ phụ thuộc vào vị trí địa
lý của người nộp thuế có thực hiện các hoạt động kinh doanh. Có nghĩa là nơi nào tổ
chức dịch vụ là thì việc đánh thuế thực hiện ở nơi đó. Hệ thống thuế Thổ Nhĩ Kỳ áp
dụng nguyên tắc điểm đến thương mại quốc tế đối với thương mại hàng hóa và dịch vụ.
Hàng hóa và dịch vụ bị đánh thuế tại nơi chúng được tiêu thụ. Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện
ứng dụng đánh thuế trong các hoạt động điện toán đám mây trong hệ thống GTGT ở
Thổ Nhĩ Kỳ. Luật Thuế GTGT quy định tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu
vào Thổ Nhĩ Kỳ đều phải chịu thuế GTGT. Các hoạt động thương mại điện tử thực hiện
tính thuế GTGT trên các sản phẩm, thu thập vị trí của khách hàng và xác thực vị trí của
khách hàng bằng địa chỉ IP. Nếu có trường hợp địa chỉ IP của khách hàng không khớp
với địa chỉ thanh toán cần nhập để thanh toán, thực hiện liên hệ với khách hàng và yêu
cầu họ điều chỉnh sự khác biệt giữa hai nguồn thông tin.41
Một số gợi mở cho Việt Nam: Nền kinh tế số tạo ra những thách thức không nhỏ trong quản
lý thuế toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng. BEPS cần được Việt Nam nhanh
chóng nghiên cứu triển khai để đáp ứng xu hướng quản lý thuế theo thông lệ quốc tế.
Việc giành quyền thu thuế của từng nước đảm bảo quyền lợi của quốc gia qua hoạt động
kinh tế diễn ra ở nước đó. Luật thuế cần được ban hành cụ thể hơn đối với nền kinh tế
số để đảm bảo việc quản lý thuế được thuận lợi và không tạo gánh nặng cho doanh
nghiệp và người nộp thuế.
5. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý thuế trong nền kinh tế số
Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý về thuế, quản lý thuế và các lĩnh vực có
liên quan phù hợp với điều kiện kinh tế số. Xác định lại tiêu chí phân biệt lĩnh vực
kinh doanh, ngành nghề kinh doanh và phân loại các sản phẩm, dịch vụ gắn với kinh
tế số, đặc biệt là một số lĩnh vực liên quan đến các dịch vụ kỹ thuật số gắn với internet
và kinh tế chia sẻ. Hoàn thiện quy định pháp luật về vấn đề này cho phép xác định rõ
40
Peters, A. (2019). Taxation and the Digital Economy: An Investigation into Action 1 of the BEPS Action
Plan and Outcomes for South Africa. University of Johannesburg (South Africa).
41 Gerger, G. Ç. (2016). THE IMPORTANCE OF E-TAXATION ON E-COMMERCE AND EVALUATION
OF VALUE ADDED TAX APPLICATIONS ON E-COMMERCE IN TURKEY.
54
loại hàng hóa, dịch vụ và lĩnh vực kinh doanh làm căn cứ xác định nghĩa vụ thuế
trong điều kiện kinh tế số. Sửa đổi, bổ sung toàn diện các quy định pháp luật có liên
quan đến hoạt động kiểm soát và quản lý hoạt động kinh doanh thương mại điện tử
nói chung và quản lý thuế đối với hoạt động kinh doanh thương mại điện tử nói riêng,
để đảm bảo quyền kiểm soát và tiếp cận thông tin bằng công nghệ hiện đại của cơ
quan nhà nước với các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế số.
Thứ hai, ứng dụng các giải pháp công nghệ hiện đại trong kiểm soát và thanh
tra, kiểm tra thuế. Cần xây dựng hệ thống dò tìm tự động trên mạng internet cho phép
người dùng tìm được tên và địa chỉ URL của các trang điện tử dựa trên các từ khóa
tìm kiếm cụ thể và thu thập hình ảnh, đường dẫn và thông tin khác trên trang điện tử
một cách tự động nhằm nhận diện những người nộp thuế không rõ ràng. Hệ thống
này giúp nâng cao hiệu quả và giảm nguồn lực thu thập thông tin thông qua việc thực
hiện các thao tác thủ công như sử dụng Yahoo, Google và các trang tìm kiếm khác.
Theo đó, cơ quan thuế kiểm tra việc khai sai doanh thu khi thanh toán bằng tài khoản
ngân hàng bằng cách kiểm tra số tài khoản được công bố trên trang điện tử hoặc thực
hiện một đơn đặt hàng giả và sau đó tiến hành xác minh giao dịch tài chính, cơ quan
thuế có thể xác định được liệu doanh thu có kê khai sai hay không; sử dụng dữ liệu
trên máy chủ…
Thứ ba, phối hợp với cơ quan thuế nước ngoài tăng cường quản lý thuế đối với
hoạt động kinh doanh thương mại điện tử xuyên quốc gia. Bên cạnh đó, cần có bộ
phận chuyên trách “Tổ chuyên trách về thương mại điện tử” quản lý thuế đối với hoạt
động kinh doanh thương mại điện tử và đàm phán với cơ quan thuế nước ngoài để
sửa đổi, bổ sung các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa trốn lậu thuế
giữa Việt Nam với các nước. Cần nghiên cứu tham gia ký kết Hiệp định thuế đa
phương theo khuyến nghị của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế trong Chương
trình hành động chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận. Trong đó, đặc biệt
chú ý sửa đổi điều khoản về cơ sở thường trú phù hợp với điều kiện kinh tế số.
Thứ tư, cần quy định cách thức thực hiện thông nhất khi Cơ quan thuế có thẩm
quyền yêu cầu, Ngân hàng sẽ có trách nhiệm cung cấp thông tin về giao dịch tài khoản
có liên quan; Trên cơ sở đó, Cơ quan thuế tiến hành các thủ tục tính toán, thu thuế
55
theo quy định và chức năng của cơ quan thuế. Ngân hàng có trách nhiệm thực hiện
trích tiền từ tài khoản khách hàng theo các quyết định khấu trừ, cưỡng chế… của Cơ
quan thuế.
6. Kết luận
Quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý thuế trong nền kinh tế số được
quan tâm và trong quá trình thực thi đã đạt được những kết quả đáng kể. Tuy nhiên,
trong thời kì công nghệ 4.0 thì pháp luật hiện nay cần có một số nội dung cần hoàn
thiện đáp ứng nhu cầu chuyển đổi số. Bài viết chỉ ra và phân tích một số hạn chế, bất
cập của quy định pháp luật về quản lý thuế trong nền kinh tế số, từ đó đưa ra một số
giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế trong nền kinh tế số hướng đến
minh bạch thông tin, đảm bảo công bằng thuế và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững
ở Việt Nam.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Quốc Hội (2019), luật quản lý thuế năm 2019 sửa đổi, bổ sung luật quản lý
thuế 2006, 2012
3.Thùy Dương “Hiểu đúng về nền kinh tế số ở Việt Nam”
22049.html
4. Vũ văn Cương (2013) “ Pháp luật về quản lý thuế trong nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn”
5. Ooi, V. (2021). Tax Law and the Digital Economy in Singapore. SMU Centre
for AI & Data Governance Research Paper(2021/02).
6. Rukundo, S. (2020). Addressing the Challenges of Taxation of the Digital
Economy: Lessons for African Countries.
7. Peters, A. (2019). Taxation and the Digital Economy: An Investigation into
Action 1 of the BEPS Action Plan and Outcomes for South Africa. University of
Johannesburg (South Africa).
8. Gerger, G. Ç. (2016). THE IMPORTANCE OF E-TAXATION ON E-
COMMERCE AND EVALUATION OF VALUE ADDED TAX APPLICATIONS
ON E-COMMERCE IN TURKEY.
56
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện pháp luật về quản lý thuế trong nền kinh tế số", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoan_thien_phap_luat_ve_quan_ly_thue_trong_nen_kinh_te_so.pdf

