Bảo đảm quyền văn hóa của các dân tộc thiểu số: Thực tiễn một số tỉnh Tây Bắc

BẢO ĐẢM QUYỀN VĂN HÓA CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ:  
THỰC TIỄN MỘT SỐ TỈNH TÂY BẮC  
MA THỊ THANH HIẾU*  
Tại khu vực Tây Bắc Bộ Việt Nam với hơn 20 dân tộc cùng chung sống, bên cạnh nhiệm  
vụ đảm bảo sinh kế, xóa đói giảm nghèo cho các dân tộc thiểu số (DTTS) là nhiệm vụ bảo  
tồn, phát huy văn hóa các DTTS trước sự mai một văn hóa truyền thống. Điều này có ý  
nghĩa quan trọng trong bảo đảm quyền văn hóa cũng như thực hiện thành công chính sách  
dân tộc trong thời gian tới. Bài viết khái quát các quy định về bảo đảm quyền văn hóa của  
các DTTS ở nước ta cũng như đánh giá thực trạng bảo đảm quyền văn hóa tại một số tỉnh  
khu vực Tây Bắc Bộ.  
Từ khóa: Dân tộc thiểu số, quyền văn hóa, văn hóa dân tộc, Tây Bắc, văn hóa truyền  
thống.  
Ngày nhận bài: 12/4/2021; Biên tập xong: 16/4/2021; Duyệt đăng: 16/4/2021  
There are more than 20 ethnic groups living together in the Northwest of Vietnam.  
In addition to the task of eradicating poverty for ethnic minorities is preserving and  
promoting their culture due to the loss of traditional culture. This has been a vital  
implication in ensuring cultural rights as well as successfully implementing ethnic  
policies in upcoming time. The article generalizes the regulations on ensuring cultural  
rights of ethnic minorities in Vietnam and assesses the current situation of ensuring  
these rights in some Northwest provinces.  
Keywords: Ethnic minorities, cultural rights, ethnic culture, the Northwest, traditional  
culture.  
ể từ những năm 1980, chính sách dân người nhằm hướng tới cái đúng, cái tốt, cái  
tộc của nhà nước ta là xây dựng nền  
văn hóa thống nhất, đa dạng trong cộng  
đẹp trong quan hệ giữa các dân tộc với môi  
trường tự nhiên xã hội1.  
K
đồng 54 dân tộc anh em, trong đó đặc biệt  
quan tâm đến việc ưu tiên phát triển văn hóa  
các DTTS. Hàng trăm văn bản đã được cơ quan  
nhà nước có thẩm quyền ban hành tạo thành  
hệ thống chính sách đại đoàn kết dân tộc, bảo  
tồn và phát huy văn hóa các DTTS tại Việt  
Nam. Việc xây dựng và triển khai những chính  
sách này không chỉ đơn thuần là bảo tồn văn  
hóa các DTTS, giữ gìn bản sắc văn hóa mà còn  
nhằm đảm bảo quyền văn hóa của các DTTS  
nước ta.  
Quyền văn hóa cũng được nhiều nhà  
nghiên cứu đánh giá thuộc phạm trù quyền  
con người, đó là đảm bảo tất cả mọi người nhất  
là các DTTS không bị phân biệt đối xử, có thể  
tự do tiếp cận, tham gia, thụ hưởng và đóng  
góp cho đời sống văn hóa2. Quyền văn hóa là  
chế định, là sản phẩm trí tuệ của nhân loại gắn  
liền với sự tiếp cận, hưởng thụ nền văn hóa  
* Thạc sĩ, Khoa Luật, Trường Đại học Khoa học, Đại  
học Thái Nguyên  
1. Bảo đảm quyền văn hóa của các dân tộc  
thiểu số  
1.1. Khái niệm quyền văn hóa và bảo đảm  
quyền văn hóa của các dân tộc thiểu số  
Văn hóa nói chung và quyền văn hóa nói  
riêng được hiểu như một định hướng về lối  
sống, đạo đức, suy nghĩ, hành động của con cứu Lập pháp số 20 (396), tháng 10/2019.  
1ꢀ Phạm Tuấn Khải (2010), Quyền văn hóa – Chế định  
pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt  
Nam, Cổng thông tin điện tử Chính phủ.  
2ꢀ Nguyễn Thị Hồng Yến, Mạc Thị Hoài Thương  
(2019), Bảo đảm quyền văn hóa của người DTTS tại  
Việt Nam – thực trạng và kiến nghị, Tạp chí Nghiên  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 89  
BẢO ĐẢM QUYỀN VĂN HÓA CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ:...  
tiên tiến, hiện đại và đa dạng văn hóa3.  
người bản địa, quyền giữ gìn bản sắc và hầu  
hết các quyền con người khác không thể được  
thực hiện đầy đủ nếu không tôn trọng quan  
điểm thế giới quan và tài nguyên văn hóa của  
họ chống lại những ý định đồng hóa. Đây cũng  
là mối quan tâm, trách nhiệm của cộng đồng  
quốc tế trong bảo đảm công nhận quyền văn  
hóa của các DTTS trên toàn thế giới.  
Như vậy, có thể hiểu: Bảo đảm quyền văn  
hóa của các DTTS là các chính sách, quy định,  
hành động của Nhà nước nhằm tạo điều kiện,  
thúc đẩy các DTTS bảo tồn, phát huy, sử dụng,  
phát triển văn hóa đặc trưng của dân tộc mình  
trong đời sống cũng như tiếp cận, giao lưu và  
thụ hưởng các giá trị văn hóa tiến bộ chung.  
Về các khía cạnh của quyền văn hóa, Công  
ướcvềcácQuyềnkinhtế, vănhóavàxãhộinăm  
1966 (International Covenant on Economic,  
Social and Cultural Rights - ICESCR) đã khẳng  
định mọi dân tộc đều có quyền tự quyết, trong  
đó có quyền tự do phát triển văn hóa. Trong  
bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được phép  
tước đi những phương tiện sinh tồn của một  
dân tộc, trong đó có bản sắc văn hóa, bởi chính  
những yếu tố ngôn ngữ, tiếng nói, trang phục,  
lễ hội, kiến trúc… của mỗi dân tộc thể hiện sự  
tồn tại của dân tộc đó trong cộng đồng. Theo  
đó, các quyền văn hóa được Công ước cụ thể  
hóa tại Điều 13, 14 và 15 như sau: (i) Quyền của  
mỗi cá nhân được tham gia vào đời sống văn  
hoá; (ii) Quyền của mỗi cá nhân được hưởng  
các lợi ích của tiến bộ khoa học và các ứng  
dụng của nó; (iii) Quyền được hưởng việc bảo  
vệ quyền lợi đạo đức và vật chất bắt nguồn từ  
các sản phẩm nghệ thuật, văn học, khoa học  
mà người hưởng thụ là tác giả; được tôn trọng  
và thừa nhận các phong tục, tập quán, lịch sử,  
hay những sự khác biệt về văn hoá; (iv) Quyền  
tự do không thể tước bỏ khỏi hoạt động sáng  
tạo nghiên cứu khoa học.  
Riêng đối với người DTTS, Điều 2 Tuyên  
bố về Quyền của những người thuộc các nhóm  
thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và  
ngôn ngữ năm 1992 quy định: Những người  
thuộc các nhóm thiểu số về dân tộc, chủng tộc,  
tôn giáo và ngôn ngữ (dưới đây gọi là những  
người thuộc các nhóm thiểu số) có quyền:  
- Hưởng nền văn hóa (…) dưới hình thức  
riêng rẽ hoặc trong tập thể, một cách tự do  
và không bị can thiệp hay bị bất kỳ hình thức  
phân biệt đối xử nào;  
1.2. Quyền văn hóa của dân tộc thiểu số  
trong các Công ước quốc tế  
Quyền văn hóa và bảo đảm quyền văn hóa  
của DTTS là nội dung được pháp luật quốc tế  
ghi nhận trong khá nhiều Công ước quốc tế.  
Điều 27 Tuyên ngôn thế giới về Quyền  
con người (Universal Declaration of Human  
Rights - UDHR) ghi nhận “Mọi người đều có  
quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa  
của cộng đồng, được thưởng thức nghệ thuật  
và chia sẻ những thành tựu và lợi ích của tiến  
bộ khoa học…”. Đây là văn bản quốc tế đầu  
tiên phổ quát đến hầu hết những quyền con  
người được các quốc gia thừa nhận, trong đó  
khẳng định quyền được tham gia vào đời sống  
văn hóa của mỗi cá nhân, bao gồm cả các DTTS.  
Điều 27 Công ước quốc tế về quyền dân sự  
và chính trị (International Covenant on Civil  
and Political Rights - ICCPR) cũng ghi rõ: Ở  
những quốc gia có nhiều nhóm thiểu số về  
sắc tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, những cá nhân  
thuộc các nhóm thiểu số đó, cùng với những  
thành viên khác của cộng đồng mình, không  
bị khước từ quyền có đời sống văn hoá riêng,  
quyền được theo và thực hành tôn giáo riêng,  
hoặc quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng của  
họ. Đây là các quyền tập thể của các DTTS  
được bảo đảm các quyền để phát triển, thụ  
hưởng các giá trị văn hóa trong cộng đồng.  
Tuyên ngôn của Đại hội đồng Liên hợp  
quốc năm 2007 về quyền của các dân tộc bản  
địa khẳng định: Tất cả các dân tộc đóng góp  
vào sự đa dạng và giàu có của những nền văn  
minh và văn hóa, tạo nên di sản chung của loài  
người (Phần mở đầu). Tính phổ quát của quyền  
văn hoá có tầm quan trọng rất lớn đối với các  
dân tộc bản địa trong cuộc đấu tranh giữ gìn  
nền văn hóa và truyền thống của họ tồn tại,  
chống lại sự đồng hóa và tái thiết các nền văn  
hóa cộng đồng ở các trung tâm đô thị. Đối với  
- Tham gia một cách tích cực vào đời sống  
văn hóa tôn giáo, xã hội, kinh tế và đời sống  
cộng đồng;  
- Tham gia một cách có hiệu quả vào những  
quyết định ở cấp quốc gia và trong những  
trường hợp thích hợp là ở cấp khu vực khi liên  
quan đến nhóm thiểu số mà họ là thành viên  
hoặc liên quan đến những vùng mà họ sống ở  
đó, theo một phương thức không trái với pháp  
luật quốc gia.  
3ꢀ Nguyễn Đăng Dung (2015), Quyền con người và việc  
bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền con người theo Hiến pháp  
năm 2013, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 11(291),  
tháng 6/2015  
90 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
MA THỊ THANH HIẾU  
Ủy ban về các Quyền kinh tế, văn hóa và xã quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc,  
là những vấn đề căn cốt để khẳng định quyền  
bình đẳng của các DTTS trong cộng đồng các  
dân tộc Việt Nam. Các văn bản luật khác trong  
hệ thống pháp luật cũng thể hiện nội dung  
nguyên tắc này xuyên suốt trong các quy định  
như Bộ luật dân sự (tập quán dân sự), Bộ luật  
tố tụng dân sự, Bộ luật tố tụng hình sự (quyền  
sử dụng tiếng nói, chữ viết của DTTS), Luật Di  
sản văn hóa… cũng như nhiều văn bản quy  
phạm pháp luật khác.  
Như vậy, thông qua các văn bản trên, có  
thể thấy những nội dung cơ bản trong bảo  
đảm quyền văn hóa của người DTTS nước ta  
rất tiệm cận với các quyền văn hóa được quy  
định trong công ước quốc tế4, cụ thể là:  
- Bảo đảm quyền được tham gia vào các  
hoạt động văn hóa, bảo tồn và giữ gìn, phát  
huy bản sắc văn hóa riêng;  
- Quyền dùng tiếng nói, chữ viết của dân  
tộc mình;  
- Quyền được học tập, nghiên cứu khoa  
học, sáng tạo nghệ thuật;  
- Quyền tiếp cận và thụ hưởng các giá trị  
văn hóa.  
hội trong Nhận định chung 21 cũng đã khẳng  
định: DTTS, cũng như những người thuộc  
DTTS, không chỉ có quyền có bản sắc riêng của  
họ mà còn có quyền phát triển trong mọi lĩnh  
vực của đời sống văn hóa. Bất kỳ chương trình  
nào hướng tới thúc đẩy sự hội nhập mang tính  
xây dựng của các dân tộc thiểu số và những  
người thuộc dân tộc thiểu số vào xã hội chung  
của một quốc gia thành viên cần dựa trên sự  
hòa nhập, tham gia và không phân biệt đối xử,  
nhằm bảo tồn bản sắc đặc trưng của các văn  
hóa thiểu số.  
Như vậy, các quy định bảo đảm quyền văn  
hóa của các DTTS trong các Công ước quốc tế  
đã thể hiện được sự quan tâm đến việc thúc  
đẩy thực hiện quyền con người của người  
DTTS, đồng thời cũng chú ý đến những đặc  
điểm riêng của DTTS từng quốc gia để khuyến  
nghị các quốc gia xây dựng chính sách phù  
hợp để đảm bảo quyền văn hóa DTTS quốc gia  
mình.  
1.3. Quyền văn hóa của dân tộc thiểu số  
trong pháp luật Việt Nam  
Việc coi trọng, bảo vệ, phát huy các giá  
trị văn hóa các DTTS gồm nền văn học, nghệ  
thuật, tiếng nói, chữ viết, trang phục, lễ hội  
truyền thống... được Đảng Cộng sản Việt Nam  
khẳng định tại Cương lĩnh Xây dựng đất nước  
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung,  
phát triển năm 2011). Sau đó là Nghị quyết  
Trung ương 5 khóa VIII của Đảng khẳng định:  
“Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng  
đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ  
sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu  
văn hóa”. Mục tiêu: “Xây dựng nền văn hóa  
và con người Việt Nam phát triển toàn diện,  
hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh  
thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”  
và “Xây dựng văn hoá trong chính trị và kinh  
tế... vì sự phát triển bền vững của đất nước,  
góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” được  
Đại hội XII của Đảng đề ra, tiếp tục thể hiện  
quan điểm của Đảng về xây dựng văn hóa, con  
người Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập.  
Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân  
tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” đến nay  
đã được Chính phủ triển khai sâu rộng, trong  
đó tập trung ưu tiên phát triển văn hóa các dân  
tộc thiểu số rất ít người, các dân tộc không có  
điều kiện tự bảo vệ và phát huy di sản văn hóa  
của dân tộc mình. Các Đề án triển khai theo  
từng mảng quản lý được Bộ Văn hóa, Thể thao  
và Du lịch, Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện  
để gìn giữ, phát huy nhiều truyền thống văn  
hóa tốt đẹp, nhiều nghi lễ đặc sắc, nhiều lễ hội,  
dân ca, dân vũ, trang phục truyền thống, nhiều  
trò chơi dân gian của các DTTS, hỗ trợ tiếp cận  
với các phương tiện phát thanh, truyền hình  
để từng bước cải thiện, nâng cao đời sống văn  
hóa tinh thần. Các chương trình phát thanh,  
truyền hình bằng cả tiếng Việt và 26 thứ tiếng  
dân tộc được phát sóng mở rộng tới các bản  
làng xa xôi. Công tác giáo dục và đào tạo, nâng  
cao dân trí ở vùng có đông người DTTS sinh  
sống cũng được quan tâm đẩy mạnh và đạt  
được nhiều thành tựu quan trọng. Hệ thống  
các trường trung học chuyên nghiệp, cao  
đẳng, trường dạy nghề; các loại hình trường  
nội trú, bán trú, dự bị đại học dân tộc tại vùng  
có đông DTTS đều được đầu tư xây dựng. Từ  
Điều 42 Hiến pháp năm 2013 cũng quy  
định: “Công dân có quyền xác định dân tộc  
của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn  
ngôn ngữ giao tiếp”. Trước đó, Điều 7 Luật  
Giáo dục năm 2005 ghi rõ: “Nhà nước tạo điều  
kiện để người dân tộc thiểu số được học tiếng  
nói, chữ viết của dân tộc mình”. Các quy định năm 2012, 100% xã đã đạt chuẩn phổ cập tiểu  
này bảo đảm cho các DTTS có quyền tự do  
quyết định vị thế xuất thân cũng như thể hiện 4ꢀ Nguyễn Đăng Dung (2015), tlđd  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 91  
BẢO ĐẢM QUYỀN VĂN HÓA CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ:...  
học, nhiều nơi đã đạt chuẩn phổ cập trung học  
Tuy nhiên, trong sự thay đổi nhanh chóng  
cơ sở, 95% trẻ em DTTS được đến trường5. Từ của đời sống kinh tế, hội nhập quốc tế, các yếu  
năm 2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã hợp tác tố văn hóa đặc trưng của các DTTS ở vùng này  
đang có những biến chuyển mạnh mẽ. Thực  
trạng đáng báo động của văn hóa các dân tộc  
Tây Bắc đó là nguy cơ bị hòa tan, hòa nhập văn  
hóa các dân tộc với nhau, nhất là các dân tộc  
rất ít người hiện đang có nguy cơ suy giảm  
dân số. Cùng với đó, lớp thanh niên trẻ cũng  
đang được tiếp cận với đời sống hiện đại với  
rất nhiều giá trị văn hóa khác biệt.  
với UNICEF thí điểm thực hiện giáo dục song  
ngữ trên cơ sở tiếng mẹ đẻ nhằm bảo tồn, phát  
huy ngôn ngữ DTTS.  
Đây là những kết quả quan trọng khẳng  
định quyền bảo tồn văn hóa riêng về phong  
tục, tập quán, trang phục, tín ngưỡng, ngôn  
ngữ… cũng như hưởng thụ các giá trị văn hóa  
chung của các DTTS ở nước ta. Đặc biệt, từ  
năm 2009, Thủ tướng Chính phủ quyết định  
lấy ngày 19/4 là ngày Văn hóa các dân tộc Việt  
Nam nhằm tôn vinh, giữ gìn bản sắc văn hóa  
các dân tộc Việt Nam. Thành tựu trong việc  
đảm bảo quyền phát triển và phát huy văn hóa  
các DTTS là những minh chứng rõ ràng, cụ thể  
nhất về thúc đẩy quyền tộc người nói riêng và  
quyền con người nói chung tại Việt Nam.  
2.2. Thực tiễn bảo đảm quyền văn hóa của  
các dân tộc thiểu số tại một số tỉnh Tây Bắc  
Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng về  
bảo tồn, phát huy di sản văn hóa các tộc người,  
thực hiện Chiến lược phát triển văn hóa giai  
đoạn 2020 và giai đoạn 2021-2025, các tỉnh Tây  
Bắc đã đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ bảo đảm  
quyền văn hóa của các DTTS, cụ thể như sau:  
2. Bảo đảm quyền văn hóa của các dân tộc  
thiểu số tại một số các tỉnh khu vực Tây Bắc  
Bộ  
2.1. Khái quát văn hóa các dân tộc thiểu số  
khu vực Tây Bắc  
Tây Bắc Bộ là một trong những khu vực  
đông người DTTS sinh sống nhất của nước  
ta, với hơn 20 dân tộc cùng sinh sống, trong  
đó có những DTTS rất ít người. Chính vì vậy,  
văn hóa các DTTS ở vùng này rất đa dạng và  
phong phú.  
Một là, điều tra toàn diện, nghiên cứu, sưu  
tầm, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử  
- văn hóa và văn hóa phi vật thể; các loại hình  
nghệ thuật cổ truyền đặc sắc, văn hóa dân gian  
của từng địa phương, từng vùng văn hóa, từng  
vùng dân tộc; nghề thủ công truyền thống, lễ  
hội tiêu biểu, kho tàng Hán Nôm. Đến năm  
2015, Tây Bắc đã có 7 di sản văn hóa phi vật  
thể quốc gia8. Bên cạnh đó, nhiều đề tài nghiên  
cứu khoa học các cấp đã được triển khai để bảo  
tồn, phát triển văn hóa các DTTS.  
Việc sưu tầm, phát huy các sản phẩm văn  
hóa truyền thống của các DTTS được kết hợp  
hài hòa với phát triển kinh tế, du lịch bền vững  
tại Tây Bắc. Mô hình du lịch sinh thái, du lịch  
văn hóa được mở rộng với các sản phẩm du  
lịch độc đáo, đặc trưng, các hoạt động du lịch  
mạo hiểm, chương trình du lịch liên kết giữa  
các tỉnh Tây Bắc… đều được đánh giá cao.  
Các tỉnh trong vùng cũng đã và đang tạo nên  
thương hiệu cho nhiều địa danh của miền núi  
phía Bắc.  
Theo nhiều nghiên cứu trong và ngoài  
nước, ở khu vực Đông Nam Á, văn hóa đặc  
trưng của nhiều dân tộc đã bị hòa quyện với  
các tôn giáo, các học thuyết chính trị - xã hội,  
trong khi đó văn hóa các DTTS Tây Bắc ở nước  
ta vẫn giàu tính chất riêng, tính đặc trưng chưa  
bị ảnh hưởng của những yếu tố này6. Đặc trưng  
của văn hóa các DTTS Tây Bắc là văn hóa dân  
gian, văn hóa của người lao động sáng tạo gắn  
liền với các hoạt động sản xuất, đời sống xã hội  
của người dân. Nhiều yếu tố văn hóa xuất phát  
từ thời xa xưa nên trong phương thức thể hiện  
còn có những biểu hiện mê tín, chưa tiến bộ,  
dễ che mất đi giá trị của những yếu tố văn hóa  
tươi đẹp riêng có7.  
Hai là, tổ chức điều tra, sưu tầm, xây dựng  
8ꢀ Sơn La có 2 di sản: Lễ Hết Chá của người Thái, xã  
Đông Sang, huyện Mộc Châu và Nghệ thuật Xòe  
Thái tỉnh Sơn La; Điện Biên có 3 di sản: Lễ Kin pang  
5ꢀ Nguyễn Thị Song Hà (2016), Đảm bảo quyền cơ bản then của người Thái trắng (thị xã Mường Lay), Tết  
của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nào pê chầu của người Mông đen (xã Mường Đăng,  
Khoa học xã hội Việt Nam số 4 (101), 2016.  
huyện Mường Ẳng), Lễ hội Đền Hoàng Công Chất  
6ꢀ Tô Ngọc Thanh (2008), Giữ gìn và phát triển di sản (xã Noong Hẹt, huyện Điện Biên); Lai Châu có 1 di  
văn hóa của các dân tộc Tây Bắc, Báo Nhân dân điện tử sản: Nghệ thuật Xòe Thái (tỉnh Lai Châu); Yên Bái  
số 9/2008.  
có 1 di sản: Nghệ thuật Xòe Thái (Mường Lò, thị xã  
Nghĩa Lộ).  
7ꢀ Nguyễn Thị Song Hà (2016), tlđd  
92 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
MA THỊ THANH HIẾU  
ngân hàng dữ liệu về văn hóa vật thể và văn tộc ở vùng ven đô thị, ven đường giao thông  
hóa phi vật thể tiêu biểu như lễ hội, nghi lễ, lại có nguy cơ “Kinh hóa”. Người Hà Nhì ở Y  
tập quán, luật tục. Hoạt động này đã đạt được Tý (Lào Cai), Mường Tè (Lai Châu) bỏ trang  
nhiều kết quả như: Tỉnh Lai Châu đã sưu tầm phục truyền thống của dân tộc mình và mặc  
trang phục của người Hà Nhì - Trung Quốc sản  
xuất bằng vải công nghiệp. Tương tự như vậy,  
người Mông ở khu vực Tây Bắc cũng bỏ trang  
phục sản xuất thủ công để mua trang phục mà  
nguyên liệu được sản xuất bằng phương pháp  
công nghiệp của Trung Quốc. Sự mai một về  
bản sắc văn hóa tộc người còn phản ánh ở số  
nghệ nhân giỏi về âm nhạc truyền thống đã  
mất đi, lớp trẻ rất ít biết sử dụng nhạc cụ của  
cha ông để lại, nhiều thanh niên không thuộc  
một bài, một làn điệu dân ca9.  
Nguyên nhân đầu tiên của sự mai một văn  
hóa truyền thống trong các tộc người là tác  
động của xu hướng toàn cầu hóa, giao lưu văn  
hóa diễn ra mạnh mẽ. Mặt khác, một bộ phận  
giới trẻ còn thiếu tự tin, thiếu tự hào về bản sắc  
văn hóa dân tộc mình. Họ quan niệm mình nói  
tiếng DTTS, mặc trang phục truyền thống của  
dân tộc mình là lạc hậu. Thậm chí, có người  
còn muốn “Kinh hóa”, chỉ đến khi muốn nhận  
các chế độ ưu đãi về học tập, việc làm thì mới  
tự nhận mình là dân tộc thiểu số10.  
Hai là, một số chính sách, chủ trương bảo  
tồn, phát huy văn hóa các DTTS chưa được  
tiến hành đồng bộ, triệt để, chưa nhận được  
sự quan tâm đúng mức của lãnh đạo các địa  
phương. Tuy các cấp ủy, chính quyền đã có  
nhận thức đúng đắn về vai trò của việc bảo  
tồn, phát triển văn hóa truyền thống các dân  
tộc nhưng một bộ phận nhân dân và các cấp  
ủy, chính quyền còn chưa có nhận thức đầy  
đủ, dẫn đến tình trạng mức độ quan tâm còn  
thấp, hiệu quả chưa cao. Trong đó, công tác  
tuyên truyền trong nhân dân, đặc biệt là đối  
với đồng bào DTTS về bảo tồn di sản văn hóa  
chưa được chú trọng. Một số nội dung cần bảo  
tồn gấp như ngôn ngữ, tri thức bản địa, luật  
tục của các dân tộc chưa được quan tâm toàn  
diện, dẫn đến hiệu quả bảo tồn còn thấp. Khảo  
sát của một số nhà nghiên cứu tại các vùng  
người Lào, người Khơ Mú ở Pa Thơm, Mường  
Lói, Phu Luông (huyện Điện Biên, tỉnh Điện  
Biên), vùng người Mông (Phình Sáng, Tuần  
Giáo, Điện Biên); vùng người Thái ở Chiềng  
Mai (Mai Sơn, Sơn La) hay vùng người Giáy  
ở xã San Thàng (thành phố Lai Châu, tỉnh Lai  
trên 31 nghìn hiện vật, trong đó có gần 1.900  
hiện vật văn hóa dân tộc; kiểm kê lập danh  
mục di sản văn hóa phi vật thể 13 dân tộc cư  
trú thành cộng đồng; phối hợp tổ chức mở  
được 13 lớp truyền dạy văn hóa phi vật thể các  
dân tộc. Sưu tầm, bảo tồn tri thức dân gian của  
hai dân tộc Dao và Hà Nhì; 6 làn điệu dân ca,  
dân vũ của các dân tộc: Thái, Si La, Lự, Mông,  
Hà Nhì, Dao; phục dựng 16 lễ hội của các dân  
tộc, đồng thời hằng năm duy trì tổ chức 40 lễ,  
lễ hội. 05 lễ hội vùng Tây Bắc được phục dựng,  
bảo tồn cấp quốc gia.  
Luật tục truyền thống của các DTTS Thái,  
Mường, Mông, Dao… được sưu tầm, nghiên  
cứu rộng rãi, nhiều quy định luật tục tiến bộ  
được chuyển hóa vào Quy ước bảo vệ rừng,  
Quy chế dân chủ cơ sở, hoạt động hòa giải  
thôn bản, góp phần tích cực vào hoạt động bảo  
vệ tài nguyên thiên nhiên, môi trường, quản lý  
cộng đồng và giữ an ninh thôn bản vùng biên  
giới.  
Các chương trình biểu diễn nghệ thuật, các  
hội thi, hội diễn, liên hoan nghệ thuật quần  
chúng được tổ chức thường xuyên, hiệu quả.  
Hầu hết các địa phương trong tỉnh duy trì tốt  
việc tổ chức ngày hội văn hóa - thể thao các dân  
tộc trong các dịp lễ, tết. Ở Điện Biên, các sắc  
màu văn hóa tộc người cũng được chú trọng  
khai thác và phát triển trong các chương trình  
biểu diễn nghệ thuật quần chúng và đỉnh cao  
là Lễ hội Hoa ban, bắt đầu tổ chức thường niên  
từ tháng 3/2016 tại thành phố Điện Biên Phủ.  
2.3. Một số hạn chế và nguyên nhân trong  
bảo đảm quyền văn hóa của các dân tộc thiểu  
số khu vực Tây Bắc  
Bên cạnh những kết quả đáng khích lệ  
nêu trên, việc bảo đảm quyền văn hóa của các  
DTTS khu vực Tây Bắc cũng còn tồn tại nhiều  
hạn chế, bất cập. Có thể kể đến là:  
Một là, việc bảo tồn, phát huy văn hóa các  
DTTS không được tiến hành đồng đều giữa  
các dân tộc, giữa các tỉnh trong khu vực. Các  
giá trị văn hóa đang bị mai một, đồng hóa  
nghiêm trọng trong nhiều cộng đồng DTTS,  
nhất là nhóm dân tộc ít người và rất ít người.  
Ví dụ: Các dân tộc ít người nhóm ngôn ngữ  
Môn - Khơ me như: Kháng, Mảng, Khơ Mú…  
đang có nguy cơ bị “Thái hóa”. Các dân tộc ở  
vùng biên giới với Trung Quốc lại có nguy cơ  
9ꢀ Nguyễn Thị Thu Hoài, (2020), tlđd.  
10ꢀ Trần Hữu Sơn (2014), Bảo tồn văn hóa truyền thống  
vùng Tây Bắc: Tôn trọng tính đa dạng văn hóa, Tạp chí  
bị “Hán hóa”, “Choang hóa”… Còn các dân Văn hóa số 7/2014.  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
Khoa học Kiểm sát 93  
BẢO ĐẢM QUYỀN VĂN HÓA CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ:...  
Châu) cho thấy chính người dân cũng không tỉnh vùng Tây Bắc, tác giả nhận thấy việc  
nắm được lịch sử tộc người, thực hành được bảo đảm quyền văn hóa của các DTTS đã có  
văn hóa tộc người truyền thống như trước11.  
những kết quả đáng ghi nhận. Thông qua việc  
bảo tồn, xây dựng lại nhiều lễ hội văn hóa,  
sưu tầm và nghiên cứu luật tục; nghiên cứu  
vận dụng các phong tục, tập quán, luật tục  
tiến bộ vào đời sống, phát huy vản sắc văn  
hóa lồng ghép với du lịch góp phần phát triển  
kinh tế các địa phương đã làm thay đổi được  
phần nào đời sống, xã hội của người dân –  
những chủ thể văn hóa. Tuy nhiên, cũng còn  
không ít những hạn chế, bất cập trong việc  
bảo đảm quyền văn hóa của người DTTS dẫn  
tới quyền văn hóa của nhiều DTTS chưa được  
bình đẳng, chưa phát triển hài hòa và thực sự  
mang lại sức mạnh nội sinh cho sự phát triển  
của địa phương. Trong chiến lược phát triển  
vùng Tây Bắc cũng như các địa phương trong  
thời gian tới, rất cần giải quyết hài hòa mối  
quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, bảo  
tồn và phát huy văn hóa truyền thống của các  
DTTS vùng Tây Bắc./.  
Ba là, người dân chưa thực sự được hưởng  
lợi từ các quyền văn hóa của dân tộc mình,  
thiếu sự hỗ trợ từ nhiều phía cũng như sự nỗ  
lực của bản thân cộng đồng.  
Một số dự án phát triển kinh tế - xã hội  
vùng Tây Bắc còn đang rất thiệt thòi do chưa  
có sự tham gia, hỗ trợ từ các nhà quản lý, các  
chuyên gia, các chủ dự án và cộng đồng. Bản  
thân người dân chưa nhìn thấy những lợi ích  
từ việc sử dụng văn hóa như một công cụ phát  
triển, nên thường thiệt thòi trong các dự án,  
khiến bản sắc văn hóa ngày càng mai một.  
Những nhận thức của người DTTS, nhất là lớp  
trẻ về văn hóa của dân tộc mình, giá trị của văn  
hóa tộc người trong phát triển kinh tế - xã hội  
chưa toàn diện.  
2.4. Một số giải pháp  
Những thực trạng nêu trên đặt ra yêu cầu  
về những giải pháp mang tính đồng bộ, đó là:  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
- Cộng đồng các DTTS cần giáo dục tiếng  
nói, chữ viết của dân tộc mình cho các thế hệ  
sau. Đưa tiếng dân tộc thiểu số vào chương  
trình giáo dục của nhiều địa phương có đông  
người DTTS sinh sống.  
- Chấp nhận đa dạng văn hóa nhưng cần có  
phương thức bảo tồn ngôn ngữ, văn hóa của  
dân tộc mình trong dòng chảy chung của sự  
phát triển, giao lưu văn hóa thế giới.  
- Bảo vệ môi trường văn hóa của các DTTS  
vùng Tây Bắc: Người Tây Bắc có câu: “Thái  
ăn theo nước, Xá ăn theo lửa và Mông ăn theo  
sương mù”, câu nói này đã thể hiện nguồn  
1. Nguyễn Thị Song Hà (2016), Đảm bảo quyền cơ  
bản của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay, Tạp  
chí Khoa học xã hội Việt Nam số 4 (101), 2016.  
2. Phạm Tuấn Khải (2010), Quyền văn hóa –  
Chế định pháp lý quan trọng trong hệ thống pháp  
luật Việt Nam, Cổng thông tin điện tử Chính phủ.  
3. Nguyễn Đăng Dung (2015), Quyền con người  
và việc bảo vệ, bảo đảm thực hiện quyền con người theo  
Hiến pháp năm 2013, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp  
số 11(291), tháng 6/2015  
4. Nguyễn Thị Hồng Yến, Mạc Thị Hoài Thương  
(2019), Bảo đảm quyền văn hóa của người dân tộc thiểu  
số tại Việt Nam – thực trạng và kiến nghị, Tạp chí Ng-  
gốc nảy sinh văn hóa tộc người từ chính môi hiên cứu Lập pháp số 20 (396), tháng 10/2019.  
trường tự nhiên mà họ sinh sống. Để lưu giữ  
các giá trị văn hóa truyền thống, rất cần có một  
không gian sinh thái tương đồng cho người  
dân sinh hoạt, thực hành tri thức bản địa.  
5. Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính  
trị (ICCPR).  
6. Công ước về các Quyền kinh tế, văn hóa và  
xã hội năm 1966 (ICESCR).  
7. Tuyên ngôn thế giới về Quyền con người năm  
- Kết hợp mô hình bảo tồn, phát huy văn  
hóa truyền thống với các mô hình phát triển  
kinh tế - xã hội bền vững ở vùng DTTS Tây  
Bắc, cùng với sự liên kết các tỉnh khu vực Tây  
Bắc trong một khối phát triển chung.  
- Lãnh đạo các địa phương cũng cần học hỏi  
kinh nghiệm lẫn nhau, xây dựng các chương  
trình văn hóa tránh sự trùng lặp, tạo thành bản  
sắc riêng của từng vùng, từng dân tộc.  
1948 (UDHR).  
8. Tuyên ngôn của Đại hội đồng Liên hợp quốc  
năm 2007 về quyền của các dân tộc bản địa.  
9. Tô Ngọc Thanh (2008), Giữ gìn và phát triển  
di sản văn hóa của các dân tộc Tây Bắc, Báo Nhân dân  
điện tử số 9/2008.  
10. Trần Hữu Sơn (2014), Bảo tồn văn hóa truyền  
thống vùng Tây Bắc: Tôn trọng tính đa dạng văn hóa,  
Tạp chí Văn hóa số 7/2014.  
11. Nguyễn Thị Thu Hoài, (2020), Bảo tồn và phát  
huy di sản văn hóa tộc người thiểu số vùng Tây Bắc hiện  
nay, Tạp chí Lý luận chính trị số 4/2020.  
Tóm lại, qua nghiên cứu thực tế một số  
11ꢀ Nguyễn Thị Thu Hoài, (2020), tlđd  
94 Khoa học Kiểm sát  
Số Chuyên đề 01 - 2021  
pdf 6 trang Thùy Anh 13520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bảo đảm quyền văn hóa của các dân tộc thiểu số: Thực tiễn một số tỉnh Tây Bắc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_dam_quyen_van_hoa_cua_cac_dan_toc_thieu_so_thuc_tien_mot.pdf