Giáo trình Quản trị doanh nghiệp

MỤC LỤC  
i
 
ii  
iii  
iv  
v
vi  
vii  
viii  
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP  
1.1. KHÁI LƢỢC  
1.1.1. Khái niệm quản trị doanh nghiệp  
Nói chung, quản trị là một hình thức phức tạp mà các nhà quản trị kinh doanh  
phải quản trị từ khâu đầu đến khâu cuối của một chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh  
nghiệp. Thực chất của quản trị kinh doanh là quản trị các yếu tố đầu vào, quá trình sản  
xuất kinh doanh các yếu tố đầu ra theo quá trình hoạt động.  
- Theo quá trình quản trị kinh doanh: công tác quản trị trong doanh nghiệp là quá  
trình lập kế hoạch, tổ chức phối hợp và điều chỉnh các hoạt động của các thành viên ,  
các bộ phận và các chức năng trong doanh nghiệp nhằm huy động tối đa mọi nguồn  
lực để đạt đƣợc các mục tiêu đã đặt ra của tổ chức.  
- Theo quan điểm hệ thống quản trị: quản trị còn là việc thực hành những hoạt  
động trong mỗi tổ chức một cách có ý thức và liên tục. Quản trị trong một doanh  
nghiệp tồn tại trong một hệ thống bao gồm các khâu, các phần, các bộ phận có mối  
liên hệ khăng khít với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và thúc đẩy nhau phát triển.  
Tóm lại, quản trị doanh nghiệp là một quá trình tác động liên tục, có tổ chức, có  
hƣớng đích của chủ doanh nghiệp lên tập thể những ngƣời lao động trong doanh  
nghiệp, sử dụng một cách tốt nhất những tiềm năng và cơ hội để tiến hành hoạt động  
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt đƣợc mục tiêu đề ra theo đúng luật  
định và thông lệ xã hội.  
1.1.2. Bản chất của quản trị doanh nghiệp  
Xét về mặt tổ chức và kỹ thuật của hoạt động quản trị thì quản trị doanh nghiệp  
chính là sự kết hợp mọi nỗ lực của con ngƣời trong doanh nghiệp để đạt đƣợc mục tiêu  
chung của doanh nghiệp và mục tiêu riêng của mỗi ngƣời một cách hợp lý và có hiệu  
quả nhất. Đó là quá trình hợp tác và phối hợp công việc giữa các quản trị viên trong bộ  
máy quản trị với công nhân trong quá trình làm việc và thông qua họ để thực hiện mục  
tiêu của các doanh nghiệp trong môi trƣờng luôn luôn biến động. Có thể nói thực chất  
của quản trị doanh nghiệp là quản trị con ngƣời trong quá trình sản xuất kinh doanh.  
Nói đến quản trị doanh nghiệp thƣờng bao gồm:  
- Chủ thể quản trị: là chủ doanh nghiệp và đội ngũ quản trị viên trong bộ máy  
quản trị doanh nghiệp.  
- Đối tƣợng bị quản trị: gồm những ngƣời lao động với phƣơng hƣớng tác động  
quản trị thông qua các chức năng về lĩnh vực quản trị, hệ thống thông tin và quyết định  
của quản trị.  
- Mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp: Xét về mặt kinh tế - xã hội thì lý do tồn  
tại của doanh nghiệp, mục đích hoạt động của doanh nghiệp là do chủ doanh nghiệp đề  
1
       
ra. Hoạt động quản trị doanh nghiệp là nhằm thực hiện mục tiêu lợi ích của doanh  
nghiệp, đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại phát triển lâu dài, bảo toàn và phát triển vốn  
để đáp ứng đƣợc mong muốn của chủ sở hữu và mọi thành viên trong doanh nghiệp.  
Quản trị doanh nghiệp chính là nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động sản xuất kinh  
doanh cao hơn.  
1.2. CÁC TRƢỜNG PHÁI QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP  
Học thuyết hay còn gọi là lý thuyết là những khái quát lý luận về một lĩnh vực  
nào đó, thông qua nghiên cứu và khảo nghiệm thực tế, từ đó vận dụng vào các hoạt  
động thực tiễn trong mỗi lĩnh vực.  
Học thuyết về quản trị kinh doanh là những khái quát lý luận về quản trị các hoạt  
động kinh doanh. Các học thuyết về quản trị là cơ sở, là nền tảng dẫn đƣờng cho hoạt  
động sản xuất kinh doanh một cách khoa học, có hệ thống.  
Từ những năm 1800 khi nền công nghiệp và các hoạt động sản xuất phát triển  
mạnh, thực tiễn đã tổng kết và rút ra thành những lý thuyết với nhiều trƣờng phái hay  
các nhóm lý thuyết khác nhau.  
1.2.1. Trƣờng phái quản trị khoa học cổ điển  
Trƣờng phái cổ điển bao gồm một số tác giả với những nghiên cứu về quản trị,  
dƣới đây là một số tác giả điển hình và những tƣ tƣởng chủ yếu của họ.  
- Frederich Taylor (1856 - 1915): Taylor xuất thân là một công nhân và trở  
thành kỹ sƣ trải qua quá trình ban ngày đi làm, ban đêm đi học hàm thụ đại học. Trong  
quá trình làm việc trong nhà máy luyện cán thép, Taylor đã có nhiều cơ hội quan sát và  
thực hành quản trị trong nhà máy. Ông là tác giả với những nghiên cứu và lý thuyết  
khá nổi tiếng về quản trị trong thời gian từ 1890 đến 1930.  
Những nguyên tắc cơ bản trong lý thuyết của Taylor là:  
+ Xây dựng các phƣơng pháp khoa học để thực hiện công việc, nhiệm vụ của  
từng công nhân.  
+ Lựa chọn công nhân một cách khoa học và huấn luyện họ phƣơng pháp khoa  
học để thực hiện công việc  
+ Tổ chức giáo dục và giám sát công nhân để đảm bảo họ thực hiện theo đúng  
phƣơng pháp  
+ Xây dựng và củng cố quan hệ giữa ngƣời lao động và nhà quản trị  
Để thực hiện những nguyên tắc của mình, Taylor đã tiến hành:  
+ Nghiên cứu các loại thời gian làm việc của công nhân theo từng công việc.  
+ Phân chia công việc của từng công nhân thành những công việc bộ phận nhỏ để  
cải tiến và tối ƣu hóa.  
+ Xây dựng hệ thống khuyến khích ngƣời lao động làm việc, thực hiện trả công  
theo lao động.  
2
   
Những kết quả qua áp dụng lý thuyết của Taylor là năng suất lao động tăng lên  
rất nhanh và khối lƣợng sản phẩm tăng nhiều. Tuy nhiên, lý thuyết của Taylor nghiêng  
về "kỹ thuật hóa, máy móc hóa" con ngƣời, sức lao động bị khai thác kiệt quệ làm cho  
công nhân đấu tranh chống lại các chính sách về quản trị.  
- Herny L. Gantt: Là kỹ sƣ chuyên về hệ thống kiểm soát trong nhà máy. Trên cơ  
sở các lý thuyết của Taylor, Gantt đã phát triển và đƣa ra lý thuyết của mình, trong đó  
chủ yếu tập trung vào mở rộng hệ thống khuyến khích vật chất cho ngƣời lao động với  
các biện pháp nhƣ :  
+ Khuyến khích công nhân sau một ngày làm việc nếu họ làm việc tốt.  
+ Khuyến khích cho đốc công, quản đốc dựa vào kết quả làm việc của công nhân  
dƣới sự giám sát trực tiếp của họ nhằm động viên họ trong công việc quản trị.  
Biện pháp này đã khuyến khích các đốc công quản trị tốt hơn. Cũng trên cơ sở  
này, các phƣơng pháp quản trị tiến độ thực hiện mới đƣợc đƣa vào trong quản trị nhƣ  
phƣơng pháp đƣờng găng (CPM -Critical Path Method) và phƣơng pháp sơ đồ mạng  
lƣới (PERT - Program Evaluation and Revie Technique). Trong lý thuyết này, khía  
cạnh lợi ích đƣợc chú ý nhiều hơn.  
- Frank B (1868 - 1924) và Liliant M. Gibreth (1878 -1972)  
Hai tác giả này đã nghiên cứu rất chi tiết quá trình thực hiện và quan hệ giữa các  
thao tác, động tác và cử động với một mức độ căng thẳng và mệt mỏi nhất định của  
công nhân trong quá trình làm việc, từ đó đƣa ra phƣơng pháp thực hành tối ƣu nhằm  
tăng năng suất lao động, giảm sự mệt mỏi của công nhân.  
Các phƣơng pháp thuộc trƣờng phái này đã có những đóng góp có giá trị cho sự  
phát triển của tƣ tƣởng quản trị, phát triển kỹ năng quản trị qua phân công, chuyên  
môn hóa quá trình lao động, đồng thời là những ngƣời đầu tiên nêu lên tầm quan trọng  
của việc tuyển chọn và huấn luyện nhân viên, dùng đãi ngộ để tăng năng suất lao  
động. Tuy nhiên, các tác giả đã phát triển một phƣơng pháp quản trị mang tính khoa  
học hóa một cách thuần túy nhƣ "máy móc hóa con ngƣời", gắn chặt con ngƣời vào  
một dây chuyền công nghệ để quản trị và tăng năng suất lao động.  
1.2.2. Trƣờng phái lý thuyết quản trị hành chính  
Trƣờng phái quản trị hành chính đã phát triển những nguyên tắc quản trị chung  
cho cả tổ chức, tiêu biểu cho trƣờng phái này có các tác giả với các công trình nghiên  
cứu và lý thuyết nhƣ sau:  
- Henry Fayol (1841 - 1925): Quan điểm của Fayol là tập trung vào xây dựng  
một tổ chức tổng thể để quản trị quá trình làm việc. Ông cho rằng, năng suất lao động  
của con ngƣời làm việc chung trong một tập thể tùy thuộc vào sự sắp xếp, tổ chức của  
nhà quản trị. Để có thể làm tốt việc sắp xếp, tổ chức doanh nghiệp, Fayol đã đƣa ra và  
yêu cầu các nhà quản trị nên áp dụng 14 nguyên tắc trong quản trị:  
3
 
+ Phân công lao động trong quá trình làm việc một cách chặt chẽ  
+ Phải xác định rõ mối quan hệ quyền hành và trách nhiệm.  
+ Phải xây dựng, áp dụng chế độ kỷ luật nghiêm ngặt trong quá trình làm việc.  
+ Thống nhất trong các mệnh lệnh điều khiển, chỉ huy  
+ Lãnh đạo tập trung  
+ Lợi ích cá nhân phải gắn liền và phục vụ cho lợi ích tập thể, lợi ích chung.  
+ Xây dựng chế độ trả công một cách xứng đáng theo kết quả lao động  
+ Quản trị thống nhất  
+ Phân quyền và định rõ cơ cấu quản trị trong tổ chức  
+ Trật tự  
+ Công bằng: tạo quan hệ bình đẳng trong công việc  
+ Công việc của mỗi ngƣời phải đƣợc ổn định trong tổ chức  
+ Khuyến khích sự sáng tạo trong quá trình làm việc  
+ Khuyến khích phát triển các giá trị chung trong quá trình làm việc của tổ chứ  
- Max Weber (1864 - 1920): là nhà xã hội học ngƣời Đức, tác giả đã phát triển  
một tổ chức quan liêu bàn giấy. Khái niệm quan liêu bàn giấy đƣợc định nghĩa: là hệ  
thống chức vụ và nhiệm vụ đƣợc xác định rõ ràng, phân công phân nhiệm chính xác,  
hệ thống quyền hành có tôn ti trật tự.  
Theo Weber, hệ thống tổ chức kinh doanh phải đƣợc:  
+ Xây dựng một cơ cấu tổ chức chặt chẽ.  
+ Định rõ các quy định, các luật lệ, chính sách trong hoạt động quản trị.  
+ Định rõ quyền lực và thừa hành trong quản trị.  
- Chester Barnard (1886 - 1961): Tác giả cho rằng một tổ chức là một hệ thống  
hợp pháp của nhiều ngƣời với ba yếu tố cơ bản:  
+ Sự sẵn sàng hợp tác.  
+ Có mục tiêu chung.  
+ Có sự thông đạt.  
Nếu thiếu một trong ba yếu tố đó tổ chức sẽ tan vỡ. Cũng nhƣ Weber, ông nhấn  
mạnh yếu tố quyền hành trong tổ chức, nhƣng ông cho rằng nguồn gốc quyền hành  
không xuất phát từ ngƣời ra lệnh mà xuất phát từ sự chấp nhận của cấp dƣới. Điều đó  
chỉ có đƣợc với bốn điều kiện nhƣ sau:  
+ Cấp dƣới hiểu rõ mệnh lệnh  
+ Nội dung ra lệnh phải phù hợp với mục tiêu của tổ chức  
+ Nội dung ra lệnh phải phù hợp với lợi ích cá nhân của cấp dƣới  
+ Cấp dƣới có khả năng thực hiện mệnh lệnh đó.  
Trƣờng phái quản trị hành chính chủ trƣơng rằng năng suất lao động sẽ đạt mức  
cao trong một tổ chức đƣợc sắp đặt hợp lý. Đóng góp của trƣờng phái này trong lý  
4
luận cũng nhƣ trong thực hành quản trị: những nguyên tắc quản trị, các hình thức tổ  
chức, quyền lực và sự ủy quyền....  
1.2.3. Trƣờng phái tâm lý xã hội  
Nhóm lý thuyết này nhấn mạnh vai trò con ngƣời trong tổ chức, quan điểm của  
nhóm này cho rằng năng suất lao động không chỉ do yếu tố vật chất quyết định mà còn  
do nhu cầu tâm lý xã hội của con ngƣời. "Vấn đề tổ chức là vấn đề con ngƣời" và họ  
chỉ ra rằng trong trƣờng phái cổ điển có nhiều hạn chế vì đã bỏ qua yếu tố con ngƣời  
trong quá trình làm việc.  
- Tác giả của “lý thuyết các quan hệ con người trong tổ chức” là Mary Parker Pollet  
(1868 - 1933). Nữ tác giả này cho rằng, trong quá trình làm việc, ngƣời lao động có các  
mối quan hệ giữa họ với nhau và giữa họ với một thể chế tổ chức nhất định bao gồm:  
+ Quan hệ giữa công nhân với công nhân  
+ Quan hệ giữa công nhân với các nhà quản trị  
Đồng thời tác giả cũng nhấn mạnh, hiệu quả của quản trị phụ thuộc vào việc giải  
quyết các mối quan hệ này.  
- Những quan điểm về hành vi con người: các tác giả trong trƣờng phái này cho  
rằng hoạt động của con ngƣời phụ thuộc nhiều vào các yếu tố tâm lý xã hội. Chính các  
yếu tố này tạo nên các quan hệ tốt đẹp trong quá trình lao động, từ đó mà có thể đạt  
hiệu quả cao trong quá trình làm việc.  
Điển hình trong quan điểm này là các nghiên cứu về các tác động tâm lý vào quá  
trình lao động tại Western Electric's Hawthorne Plant. Công trình nghiên cứu này gọi  
là những nghiên cứu Hawthorne. Trong nghiên cứu đó, các tác giả đã sử dụng các biện  
pháp tạo cho công nhân cảm giác tâm lý là họ đang đƣợc các nhà quản trị chú ý đến ví  
dụ nhƣ:  
+ Thay đổi chế độ sáng (tăng và giảm độ sáng).  
+ Thay đổi về tiền lƣơng.  
+ Thay đổi thời gian làm việc.  
Sự thay đổi này đã dẫn đến các tác động tâm lý làm tăng năng suất lao động.  
Tiếp cận các động cơ về hành vi của con ngƣời: các tác giả đã tập trung nghiên  
cứu vào các yếu tố tác động vào hành vi của con ngƣời trong quá trình làm việc với tƣ  
cách là động cơ làm việc của họ.  
- Abraham Maslow (1908 - 1970): là nhà tâm lý học ngƣời Mỹ. Tác giả đã xây  
dựng lý thuyết về nhu cầu của con ngƣời, bao gồm 5 cấp độ đƣợc xếp từ cấp thấp đến  
cấp cao. Lý thuyết này đƣợc vận dụng trên nguyên tắc: một nhu cầu đã tƣơng đối đƣợc  
thỏa mãn thì nó không còn là xung động mạnh để thôi thúc nữa; một nhu cầu đã tƣơng  
đối đƣợc thỏa mãn, tác phong con ngƣời sẽ bị chi phối bởi nhu cầu khác cao hơn. Nhƣ  
vậy, muốn quản trị hữu hiệu phải chú ý đáp ứng nhu cầu của con ngƣời.  
5
 
- Doughlas Mc Gregor (1906 - 1964) đã phát triển lý thuyết tác phong trong quản  
trị. Ông cho rằng các nhà quản trị trƣớc đây đã tiến hành cách thức quản trị trên những  
giả thuyết sai lầm về tác phong con ngƣời. Những giả thuyết đó cho rằng phần đông  
mọi ngƣời đều không thích làm việc, thích đƣợc chỉ huy hơn là tự chịu trách nhiệm và  
hầu hết làm việc vì lợi ích vật chất. Vì vậy các nhà quản trị đã xây dựng những bộ máy  
tổ chức với quyền hành tập trung đặt ra nhiều quy tắc thủ tục, đồng thời với hệ thống  
kiểm tra giám sát chặt chẽ. Gregor gọi những giả thuyết đó là X và đề nghị một loạt  
giả thuyết khác mà ông gọi là giả thuyết Y. Thuyết Y cho rằng con ngƣời sẽ thích thú  
với công việc nếu có đƣợc những thuận lợi và họ có thể đóng góp nhiều hơn cho tổ  
chức. Mc Gregor cho rằng, thay vì nhấn mạnh đến cơ chế kiểm tra thì nhà quản trị nên  
quan tâm nhiều hơn đến sự phối hợp hoạt động.  
- Thuyết hai yếu tố của Herzberg chỉ ra rằng những yếu tố tạo ra sự thỏa mãn  
trong công việc không mâu thuẫn trực tiếp với những yếu tố tạo ra sự bất mãn đối với  
công việc. Những yếu tố tạo động lực làm việc theo quan điểm của Herzberg là cảm  
nhận của con ngƣời về bản thân công việc: sự hoàn thành công việc, sự công nhận, bản  
chất công việc, trách nhiệm, cơ hội phát triển. Những yếu tố duy trì liên quan đến môi  
trƣờng làm việc: điều kiện làm việc, sự quản lý và chính sách của doanh nghiệp, sự  
giám sát, các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân , lƣơng, địa vị, công việc ổn định.  
Những điều Herzberg khám phá rất có ý nghĩa đối với các nhà quản trị. Chúng hƣớng  
sự chú ý vào một thực tế là nội dung công việc có ảnh hƣởng lớn đến hành vi của con  
ngƣời tại nơi làm việc và bản thân những yếu tố nhƣ lƣơng bổng và điều kiện làm việc  
không hẳn là động lực làm việc.  
- Chris Argyris: nghiên cứu tƣ cách con ngƣời và các yếu tố đời sống tổ chức đã  
cho rằng, một sự nhấn mạnh thái quá của nhà quản trị đối với việc kiểm soát nhân viên  
sẽ dẫn tới nhân viên có thái độ thụ động, lệ thuộc và né tránh trách nhiệm. Trong trạng  
thái tâm lý đó họ sẽ cảm thấy bất bình và có thái độ tiêu cực đối với việc hoàn thành  
mục tiêu chung. Argyris cho rằng bản chất con ngƣời luôn muốn độc lập trong hành  
động, sự đa dạng trong mối quan tâm và khả năng tự chủ. Nhà quản trị hữu hiệu là  
ngƣời biết tạo điều kiện cho nhân viên ứng xử nhƣ những ngƣời trƣởng thànhvà điều  
đó chỉ có lợi cho tổ chức.  
Tƣ tƣởng của trƣờng phái tác phong nhấn mạnh nhu cầu xã hội, đƣợc quý trọng  
và tự thể hiện mình của ngƣời lao động. Lý thuyết này bổ sung cho lý thuyết quản trị  
cổ điển khi cho rằng năng suất không chỉ thuần túy là vấn đề kỹ thuật. Nó cũng giúp  
cải tiến cách thức và tác phong quản trị trong tổ chức, xác nhận mối liên hệ giữa năng  
suất và tác phong hoạt động.  
6
Lý thuyết tác phong có sự đóng góp lớn trong lý thuyết và thực hành quản trị,  
giúp các nhà quản trị hiểu rõ hơn về sự động viên con ngƣời, về ảnh hƣởng của tập thể  
đối với tác phong cũng nhƣ các vấn đề tâm lý quản trị.  
1.2.4. Trƣờng phái hệ thống trong quản trị doanh nghiệp  
Trƣờng phái lý thuyết này quan niệm rằng một tổ chức đƣợc coi nhƣ một hệ  
thống trực tiếp thống nhất của các bộ phận có quan hệ hữu cơ với nhau. Các khái niệm  
dƣới đây đƣợc sử dụng để mô tả các quan hệ của tổ chức trong hoạt động quản trị:  
Yếu tố bên ngoài  
Yếu tố đầu vào  
Quá trình sử dụng  
Phản hồi  
Kết quả tạo ra  
Hình 1.1: Hệ thống doanh nghiệp trong môi trƣờng kinh doanh  
- Phân hệ trong quản trị: là những bộ phận trong tổ chức liên kết với nhau trong  
một hệ thống tổ chức thống nhất.  
- Cộng lực hay phát huy lợi thế của hiệp đồng tập thể: là trạng thái trong đó cái  
chung đƣợc coi lớn hơn cái riêng. Trong một hệ thống tổ chức, cộng lực có nghĩa là  
các bộ phận tác động qua lại lẫn nhau trong hoạt động sẽ tạo ra sức mạnh chung đƣợc  
tăng lên gấp bội và mang lại hiệu quả cao hơn nhiều so với trong trƣờng hợp các bộ  
phận hoạt động độc lập.  
- Hệ mở là hệ có quan hệ tƣơng tác với nhiều nhân tố thuộc môi trƣờng bên trong  
và bên ngoài.  
- Hệ đóng là hệ không có (có rất ít) quan hệ tƣơng tác với các nhân tố thuộc môi  
trƣờng bên ngoài.  
1.2.5. Trƣờng phái quản trị Nhật Bản  
1.2.5.1. Nội dung của Lý thuyết Z của Gouchi  
Thuyết Z còn đƣợc biết đến dƣới cái tên "Quản lý kiểu Nhật" và đƣợc phổ biến  
khắp thế giới vào thời kỳ bùng nổ kinh tế của các nƣớc châu Á thập niên 1980. Khác  
với Thuyết X (có cái nhìn tiêu cực vào ngƣời lao động) và Thuyết Y (quá lạc quan về  
ngƣời lao động), Thuyết Z chú trọng vào việc gia tăng sự trung thành của ngƣời lao  
động với công ty bằng cách tạo ra sự an tâm và mãn nguyện cho ngƣời lao động cả  
trong và ngoài khi làm việc.  
7
     
Cốt lõi của thuyết này là làm thỏa mãn và gia tăng tinh thần cho ngƣời lao động  
Các lý thuyết của Thuyết Z này dựa trên nền tảng lý luận và thực tiễn đã đƣợc  
Tiến sĩ W. Edwards C Deming đúc kết và phát kiến trƣớc đó.  
Thuyết Z đƣợc đánh giá là một lý thuyết quan trọng về quản trị nhân sự hiện đại,  
bên cạnh Thuyết X và Thuyết Y. Thuyết Z đƣa đến thành công của nhiều công ty nên  
các công ty này đƣợc phân loại là các Công ty Z (Z companies).  
Nội dung chính của thuyết Z:  
- Chế độ làm việc suốt đời  
- Trách nhiệm tập thể  
- Đo đếm, đánh giá chi li, rõ ràng song biện pháp kiểm soát tế nhị, mềm dẻo, giữ  
thể diện cho ngƣời lao động.  
- Ra quyết định tập thể.  
- Đánh giá và đề bạt một cách thận trọng.  
- Quan tâm đến tất cả các vấn đề của ngƣời lao động, kể cả gia đình họ.  
1.2.5.2. Nội dung của Lý thuyết Kaizen của Massakiimai  
Massakiimai sau quá trình nghiên cứu các công ty Nhật và Mỹ đã thấy rõ sự khác  
nhau to lớn giữa cung cách quản lý Nhật và cung cách quản lý phƣơng Tây. Ông nhận  
thấy rằng ở Mỹ sự thay đổi diễn ra một cách mạnh mẽ, một nhà máy cũ đƣợc thay thế  
hoàn toàn bằng một nhà máy mới, đƣợc xây dựng rất tốn kém. Ông đã nghiên cứu thực  
chất của sự thành công trong cung cách quản lý Nhật và xây dựng khái niệm Kaizen.  
Kaizen đƣợc ghép từ hai từ tiếng Nhật: Kai - "Thay đổi” và Zen - "Tốt hơn",  
nghĩa là "Thay đổi để tốt hơn" hoặc "Cải tiến liên tục". Xuất phát từ suy nghĩ rằng  
"trục trặc" có thể nảy sinh liên tục ở bất kỳ thời điểm nào, bộ phận nào của doanh  
nghiệp trong quá trình hoạt động, ngƣời Nhật đề ra triết lý quản lý Kaizen với nội  
dung 5S (năm nguyên tắc bắt đầu bằng chữ S trong tiếng Nhật) để khắc phục các "trục  
trặc" này:  
- Seiri - Sàng lọc (Sort - tiếng Anh): Nhằm loại bỏ tất cả mọi thứ không cần thiết,  
không có giá trị ra khỏi công việc, nhà xƣởng, tổ chức...  
- Seiton - Sắp xếp (Simply - tiếng Anh): Phân loại, hệ thống hoá để bất cứ thứ gì  
cũng có thể "dễ tìm, dễ thấy, dễ lấy, dễ kiểm tra, dễ trả lại".  
- Seiso - Sạch sẽ (Shine - tiếng Anh): Thực chất là lau chùi, quét dọn, vệ sinh,  
kiểm tra xem mọi thứ có đƣợc sắp xếp đúng nơi quy định.  
- Seiketsu - Săn sóc (Standardize - tiếng Anh): Nhằm "Tiêu chuẩn hoá", "quy  
trình hoá" những gì đã đạt dƣợc với ba nguyên tắc nêu trên để mọi thành viên của  
doanh nghiệp tuân theo một cách bài bản, hệ thống.  
8
 
- Shitsuke - Sẵn sàng (Sustain - tiếng Anh): Giáo dục, duy trì và cải tiến bốn  
nguyên tắc nêu trên trong bất kỳ mọi hoàn cảnh nào và trong suốt quá trình hoạt động  
của doanh nghiệp.  
Sự khác biệt giữa Kaizen và đổi mới đƣợc thể hiện trong bảng sau:  
Bảng 1.1: Sự khác biệt giữa Kaizen và đổi mới  
Tiêu chí  
Kaizen  
Đổi mới  
Dài hạn, không gây ấn tƣợng  
Tính hiệu quả  
Ngắn hạn, gây ấn tƣợng  
hàng ngày  
Nhịp độ  
Các bƣớc nhỏ  
Liên tục, tăng dần  
Dần dần  
Bƣớc lớn  
Khung thời gian  
Mức độ thay đổi  
Cách tiếp cận  
Phạm vi liên quan  
Mục đích  
Cách quãng  
Đột ngột  
Nỗ lực tập thể  
Mọi ngƣời  
Nỗ lực cá nhân  
Một vài ngƣời  
Đột phá, xây dựng  
Đột phá kỹ thuật  
Lớn, tức thời  
Duy trì, cải tiến  
Truyền thống  
Ít, dần dần  
Phƣơng pháp  
Đầu tƣ  
Định hƣớng  
Đánh giá  
Con ngƣời  
Công nghệ, kỹ thuật  
Kết quả, lợi nhuận  
Quá trình, sự nỗ lực  
1.3. PHÂN LOẠI DOANH NGHIỆP  
1.3.1. Khái niệm doanh nghiệp  
Có thể khái niệm doanh nghiệp từ định nghĩa tổ chức. Tổ chức là một nhóm  
ngƣời có tối thiểu hai ngƣời, cùng hoạt động với nhau một cách có quy củ theo những  
nguyên tắc, thể chế và các tiêu chuẩn (văn hoá) nhất định, nhằm đặt ra và thực hiện  
các mục tiêu chung.  
Một tổ chức có ba đặc trƣng cơ bản là: một nhóm ngƣời cùng hoạt động với  
nhau, có mục tiêu chung và cùng hoạt động theo các thể chế, nguyên tắc nhất định. Từ  
đó có thể hiểu doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế hoạt động trong cơ chế thị trƣờng.  
Hạn chế của khái niệm này là định nghĩa doanh nghiệp dựa trên cơ sở định nghĩa tổ  
chức là nhóm tối thiểu hai ngƣời trong khi không nhất thiết doanh nghiệp cần điều  
kiện có tối thiểu hai ngƣời.  
9
   
Khái niệm doanh nghiệp cũng thƣờng đƣợc làm rõ thông qua phạm trù xí nghiệp.  
Ngƣời ta hiểu xí nghiệp là một đơn vị kinh tế đƣợc tổ chức một cách có kế hoạch  
nhằm sản xuất và tiêu thụ sản phẩm (dịch vụ). Với quan niệm này, xí nghiệp đƣợc coi  
là một hệ thống có các đặc trƣng cơ bản là vừa phụ thuộc, lại vừa không phụ thuộc vào  
cơ chế kinh tế.  
Với tƣ cách là hệ thống không phụ thuộc vào cơ chế kinh tế cụ thể thì xí nghiệp  
mang ba đặc trƣng cơ bản: sự kết hợp các yếu tố sản xuất để tạo ra sản phẩm, nguyên  
tắc cân bằng tài chính và nguyên tắc hiệu quả.  
Với tƣ cách hệ thống phụ thuộc vào cơ chế kinh tế cụ thể sẽ có định nghĩa doanh  
nghiệp là một xí nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trƣờng. Mỗi doanh nghiệp đều là  
một xí nghiệp nhƣng không phải mọi xí nghiệp đều là doanh nghiệp.  
Cho đến nay ở nƣớc ta vẫn còn nhiều cách khái niệm khác nhau về doanh nghiệp.  
Trong Luật doanh nghiệp nƣớc ta có giải thích:” Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có  
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký kinh doanh theo quy  
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Cần chú ý  
rằng khái niệm trên giác độ luật sẽ mang ý nghĩa luật pháp là chủ yếu trong khi chúng  
ta nghiên cứu doanh nghiệp ở nhiều giác độ khác nhau chứ không chỉ nghiên cứu ở  
góc độ luật pháp.  
1.3.2. Phân loại doanh nghiệp  
Tính phổ biến của hoạt động kinh doanh và trên cơ sở đó là tính phổ biến của  
hoạt động quản trị trƣớc hết phụ thuộc vào từng loại hình doanh nghiệp.Vì vậy, tùy  
theo từng giác độ nghiên cứu ngƣời ta tìm cách phân loại doanh nghiệp theo các tiêu  
thức khác nhau.  
1.3.2.1. Căn cứ vào hình thức pháp lý  
Doanh nghiệp không tồn tại chung chung mà luôn tồn tại dƣới hình thức pháp lý  
cụ thể nhất định. Ở mỗi giai đoạn phát triển, mỗi nƣớc đều xác định các hình thức  
pháp lý của doanh nghiệp. Nƣớc ta hiện nay bao gồm doanh nghiệp nhà nƣớc, công ty  
cổ phần, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn (một thành viên và nhiều  
thành viên), doanh nghiệp tƣ nhân, hợp tác xã, doanh nghiệp liên doanh và doanh  
nghiệp 100% vốn nƣớc ngoài. Mỗi loại hình pháp lý có vị trí, vai trò nhất định trong  
nền kinh tế và đặc biệt là mang đặc điểm riêng đƣợc pháp luật quy định trong hoạt  
động cũng nhƣ tổ chức quản trị.  
- Doanh nghiệp tƣ nhân: là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự  
chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.  
Đặc điểm của doanh nghiệp tƣ nhân:  
10  
   
+ Doanh nghiệp tƣ nhân là một đơn vị kinh doanh do một cá nhân làm chủ, tài  
sản của doanh nghiệp thuộc về một chủ duy nhất và trong đó không có sự hùn vốn,  
liên kết các thành viên. Các tổ chức không có quyền thành lập doanh nghiệp tƣ nhân.  
+ Chủ doanh nghiệp tƣ nhân tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình  
về mọi hoạt động của doanh nghiệp, chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ của  
doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp có thể trực tiếp quản lý hoặc thuê ngƣời khác quản lý  
điều hành hoạt động kinh doanh.  
+ Doanh nghiệp tƣ nhân không đƣợc phép phát hành chứng khoán.  
Những lợi thế của doanh nghiệp tƣ nhân:  
+ Thành lập dễ dàng: doanh nghiệp tƣ nhân đƣợc thành lập tƣơng đối dễ dàng.  
Bất cứ cá nhân nào có đủ năng lực hành vi, có đủ số vốn theo quy định của luật pháp  
đều có thể thành lập doanh nghiệp tƣ nhân để hoạt động kinh doanh. Khi việc xin phép  
thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh đƣợc các cơ quan quản lý nhà nƣớc có  
thẩm quyền chấp thuận, chủ doanh nghiệp có thể tiến hành kinh doanh.  
+ Dễ kiểm soát các hoạt động kinh doanh: có lẽ thuận lợi quan trọng nhất của  
doanh nghiệp tƣ nhân là cảm giác tâm lý đƣợc làm ông chủ doanh nghiệp của chính  
mình. Ngƣời chủ doanh nghiệp tự quyết định sẽ làm việc nhƣ thế nào và thực hiện  
công việc vào thời điểm nào. Ông ta có toàn quyền kiểm soát hoạt động của doanh  
nghiệp và các ý tƣởng, các quyết định của ông ta có thể đƣợc thực hiện với ấn tƣợng  
sâu sắc.  
+ Linh hoạt và có thể thích nghi nhanh với mọi thay đổi: chủ doanh nghiệp có thể  
nhanh chóng đƣa ra những quyết định nhằm đáp ứng kịp thời những biến động của  
môi trƣờng kinh doanh.  
+ Sự tƣởng thƣởng trực tiếp: chủ doanh nghiệp tƣ nhân đƣợc tƣởng thƣởng một  
cách trực tiếp từ những nỗ lực của chính bản thân họ. Chủ doanh nghiệp tìm thấy sự  
thoả mãn rất riêng tƣ thông qua công việc của chính mình và nếu doanh nghiệp thành  
công ông ta sẽ có danh vọng, uy tín và tiền bạc.  
+ Có thể tiết kiệm về thuế : doanh nghiệp tƣ nhân không nộp thuế lợi tức nhƣ  
một tổ chức kinh doanh lớn mà chủ doanh nghiệp phải nộp thuế thu nhập cá nhân về  
khoản lợi nhuận ròng của doanh nghiệp nhƣ là nộp thuế thu nhập trên số tiền lƣơng mà  
ông ta trả cho chính bản thân.  
+ Giữ đƣợc bí mật kinh doanh: Trong khi chủ doanh nghiệp đang tiến hành hoạt  
động kinh doanh cho chính mình thì ông ta không phải chia sẻ thông tin với bất cứ  
ngƣời nào khác. Điều này có ý nghĩa rất to lớn nhất là khi sự thành công của doanh  
nghiệp tuỳ thuộc vào một công thức mang tính bí quyết hay những kỹ thuật đặc biệt  
mà chỉ mình ông ta biết.  
11  
+ Giải thể dễ dàng: Một khi chủ doanh nghiệp tƣ nhân quyết định giải thể doanh  
nghiệp thì tất cả những gì ông ta cần thực hiện là bán đi hàng hoá, nguyên vật liệu, vật  
tƣ tồn kho, trả các khoản nợ và xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh.  
Bên cạnh những thuận lợi thì doanh nghiệp tƣ nhân cũng tồn tại những bất lợi  
nhất định:  
+ Trách nhiệm vô hạn về mặt pháp lý: chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm  
cá nhân vô hạn về mặt pháp lý đối với các khoản nợ của doanh nghiệp mà ông ta làm  
chủ, bởi không có sự phân biệt giữa tài sản kinh doanh với tài sản của cá nhân ông ta.  
+ Giới hạn sinh tồn của doanh nghiệp bị hạn chế: không thể phân biệt một cách  
rạch ròi về mặt pháp lý giữa chủ tƣ nhân với doanh nghiệp của ông ta, do đó khi ông ta  
bị chết, mất trí hay bị bỏ tù, doanh nghiệp của ông ta sẽ mặc nhiên chấm dứt hoạt  
động. Nếu những ngƣời thừa kế cố gắng duy trì doanh nghiệp đó sau khi ông ta chết  
thì điều đó có nghĩa là một doanh nghiệp mới đã đƣợc tạo lập về mặt pháp lý.  
+ Sự hạn chế về vốn kinh doanh: Một chủ doanh nghiệp tƣ nhân sẽ gặp rất nhiều  
khó khăn khi muốn tăng vốn kinh doanh để đáp ứng một cơ hội kinh doanh hay mở  
rộng doanh nghiệp của ông ta. Bởi số tiền tiết kiệm của cá nhân và tất cả những gì ông  
ta có thể vay mƣợn đƣợc từ những ngƣời thân thuộc đều có hạn. Các ngân hàng và các  
định chế tài chính khác thƣờng rất ngần ngại khi gia tăng các khoản cho vay dài hạn vì  
giới hạn tuổi thọ của doanh nghiệp loại này rất mong manh.  
+ Sự yếu kém về kỹ năng quản trị chuyên biệt: trong quá trình quản lý chủ doanh  
nghiệp phải hoàn toàn dựa vào những kỹ năng và óc suy xét của chính ông ta. Với vai  
trò là giám đốc duy nhất, ông ta cần phải có kiến thức về tất cả các mặt: marketing, sản  
xuất, nhân sự, tài chính…mà khả năng của một cá nhân thì không thể tinh thông trong  
tất cả mọi lĩnh vực. Mặt khác chủ các doanh nghiệp tƣ nhân cũng không có đủ nguồn  
tài chính để thuê các giám đốc chuyên nghiệp, ông ta bị hạn chế bởi chính khả năng có  
hạn của bản thân.  
- Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên: là doanh nghiệp do một  
tổ chức hay cá nhân làm chủ sở hữu, chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các  
khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của  
công ty.  
Công ty TNHH hai thành viên trở lên là doanh nghiệp trong đó:  
+ Thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của  
doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp.  
+ Phần vốn góp của tất cả các thành viên dƣới bất cứ hình thức nào đều phải  
đóng góp đầy đủ ngay từ khi thành lập.  
12  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 211 trang Thùy Anh 15160 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Quản trị doanh nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_quan_tri_doanh_nghiep.pdf