Văn hóa kinh doanh ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận chung

Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
26  
VĂN HÓA KINH DOANH Ở VIỆT NAM -  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG  
ThS. KIềU ANH Vũ  
Trưꢀng Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh  
TÓM TẮT  
Khi đặt vấn đề nghiên cứu về văn hóa kinh doanh ở Việt Nam, chúng tôi băn  
khoăn trước câu hỏi: Việt Nam vốn là nước có truyền thống nông nghiệp, đa phần  
dân số làm nghề nông, với nền kinh tế tự túc tự cấp, trong suốt một thời kỳ lịch sử  
lâu dài, người nông dân Việt Nam chỉ loanh quanh sau lũy tre làng, bản thân nghề  
kinh doanh không được coi trọng trong các xã hội phong kiến Việt Nam, vậy về mặt  
lý luận, văn hóa kinh doanh ở Việt Nam được hiểu như thế nào?  
Theo quan điểm của chúng tôi, văn hóa là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh  
điều kiện vật chất và sinh hoạt vật chất của xã hội. Vì vậy, văn hóa kinh doanh của  
một xã hội, về thực chất, là sự phản ánh thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh  
của xã hội đó. Trước hết, chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm văn hóa, kinh doanh  
và văn hóa kinh doanh, qua đó làm sáng tỏ bản chất, triết lý, vai trò, sự tương tác  
giữa văn hóa và văn hóa kinh doanh..  
Từ khóa: văn hóa, kinh doanh, văn hóa kinh doanh, bản chất, vai trò  
1. Nhận thức về văn hóa kinh doanh  
cũng như toàn bộ cộng đồng. Nội lực của một  
dân tộc trước hết là mọi nguồn lực tập hợp từ  
vốn văn hoá truyền thống đã tích luỹ trong  
lịch sử của chính dân tộc đó. Ví dụ, qua hàng  
ngàn năm dựng nước và giữ nước, gần nhất là  
qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế  
quốc trong thế kỷ vừa rồi, ai cũng thấy rõ về  
vai trò, vị trí của những nguồn lực vĩ đại như  
vậy của văn hoá Việt Nam.  
Về khái niệm văn hóa: Có thể nói chưa  
bao giờ khái niệm văn hoá được đề cập nhiều  
trong học thuật cũng như trong thực tế đời  
sống như hiện nay. Bởi vì, nói tới văn hoá là  
nói tới ý thức, cái gốc tạo nên “tính người”  
cùng những gì thuộc về bản chất nhất làm  
cho con người trở thành chủ thể năng động,  
sáng tạo trong cuộc sống, trong lao động sản  
xuất. Nói tới văn hoá còn là nói tới những  
nguồn nội lực để con người có thể “gieo  
trồng” (sáng tạo, xây dựng) và “điều chỉnh”  
(cải tạo) cuộc sống của mình theo định hướng  
vươn tới những giá trị chân, thiện, mỹ.  
Về khái niệm kinh doanh:Ngày nay, kinh  
doanh được hiểu là loại hình hoạt động kinh  
tế đặc thù trong quá trình sản xuất, khai thác,  
chế biến, buôn bán hàng hóa và dịch vụ với  
chức năng cơ bản là tìm kiếm những nhu cầu  
của xã hội chưa được đáp ứng và tập hợp  
những nguồn lực cần thiết để đáp ứng các  
nhu cầu đó. Luật Doanh nghiệp Việt Nam xác  
định: “Kinh doanh là việc thực hiện một, một  
số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu  
Được xem là cái “nền tảng”, “vừa là mục  
tiêu vừa là động lực” làm cho sự phát triển  
của con người và xã hội ngày càng thăng  
bằng và bền vững hơn, văn hoá có tác dụng  
tích cực đối với sự phát triển của mỗi cá nhân tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc  
tHs. kiều anH vũ  
27  
cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục liền với chân, thiện, mỹ. Theo nghĩa đó, một  
đích sinh lợi”1.  
hoạt động của con người được đánh giá là  
có hàm lượng văn hóa cao khi nó gắn bó với  
những giá trị chân, thiện, mỹ (tất nhiên những  
chuẩn mực của chân, thiện, mỹ có tính chủ  
quan, việc xem xét những giá trị đó phải căn  
cứ vào hoàn cảnh cụ thể; song, bao giờ nó  
cũng có những chuẩn mực chung nhất trong  
từng xã hội và chuẩn mực mang tính phổ quát  
đối với toàn nhân loại). Nói cách khác, những  
hoạt động nào càng hướng đến cái đúng, cái  
tốt, cái đẹp đem lại những giá trị tích cực cho  
cộng đồng thì hoạt động đó càng biểu hiện rõ  
tính nhân bản, tính văn hóa.  
Còn trong quan niệm truyền thống, kinh  
doanh được hiểu đơn giản là cách làm giàu  
của con người trên thương trường, là hành  
vi buôn bán để kiếm lợi . Tuy nhiên, dù hiểu  
khái niệm này theo nghĩa truyền thống hay  
hiện đại thì có một điều chắc chắn là trong  
mỗi hoạt động kinh doanh tối thiểu phải có  
hai nhân vật tham gia là chủ thể kinh doanh  
và khách hàng - đối tượng của chủ thể kinh  
doanh đó. Hai nhân vật này luôn ràng buộc,  
gắn bó và quy định lẫn nhau. Khách hàng cần  
hàng hóa, dịch vụ của chủ thể kinh doanh  
để thỏa mãn nhu cầu của mình. Còn chủ thể  
kinh doanh lại cần khách hàng mua hàng hóa  
hay dịch vụ của mình để có thể thu được lợi  
nhuận, nhờ đó có thể duy trì và phát triển  
công việc kinh doanh.  
Khi kết hợp những giá trị văn hóa vào trong  
hoạt động kinh doanh sẽ làm cho cái lợi gắn bó  
với cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Bản chất của hoạt  
động kinh doanh là để kiếm lợi. Tuy nhiên,  
kinh doanh như thế nào để cái lợi gắn liền với  
cái thiện, cái tốt, cái đẹp thì đó là vấn đề thuộc  
về văn hóa kinh doanh. Từ đó, có thể hiểu văn  
hóa kinh doanh là một bộ phận cấu thành nền  
văn hóa chung của một dân tộc, phản ánh hoạt  
động kinh doanh và mức độ gắn kết giữa cái  
lợi với những giá trị chân - thiện - mỹ của con  
ngưꢀi trong từng giai đoạn lịch sử.  
Về khái niệm văn hóa kinh doanh, đó là  
những giá trị văn hoá gắn liền với hoạt động  
kinh doanh (mua bán - khâu nối liền giữa sản  
xuất và tiêu dùng) một món hàng hoá (một  
thương phẩm / một dịch vụ) cụ thể trong toàn  
cảnh mọi mối quan hệ văn hoá - xã hội khác  
nhau của nó. Đó là hai mặt mâu thuẫn (văn  
hoá: giá trị >< kinh doanh: lợi nhuận) nhưng  
thống nhất: giá trị văn hoá thể hiện trong hình  
thức mẫu mã và chất lượng sản phẩm, trong  
thông tin quảng cáo về sản phẩm, trong cửa  
hàng bày bán sản phẩm, trong phong cách  
giao tiếp ứng xử của ngưꢀi bán đối với ngưꢀi  
mua, trong tâm lý và thị hiếu tiêu dùng, rộng  
ra là trong cả quá trình tổ chức sản xuất kinh  
doanh với toàn bộ các khâu, các điều kiện  
liên quan của nó... nhằm tạo ra những chất  
lượng - hiệu quả kinh doanh nhất định.  
Bản chất của văn hóa kinh doanh là sự gắn  
kết giữa cái lợi mà con người đạt được trong  
quá trình kinh doanh với cái chân - thiện - mỹ  
là những giá trị mang tính nhân bản cao quý  
của con người (tức là hành vi kiếm lợi dựa trên  
cơ sở của những giá trị mang tính nhân văn).  
Văn hóa kinh doanh của một cộng đồng, dân  
tộc phụ thuộc vào thực tiễn hoạt động kinh  
doanh và hoàn cảnh kinh tế, văn hóa - xã hội  
cụ thể. Vì vậy, mức độ đậm nhạt của văn hóa  
kinh doanh thể hiện khác nhau trong từng xã  
hội, tùy theo tính chất của các hoạt động kinh  
doanh và tâm lý xã hội của từng cộng đồng,  
dân tộc đối với hoạt động kinh doanh. Theo  
đó, có thể khẳng định, văn hóa kinh doanh Việt  
Nam đã được hình thành từ lâu đời và phát  
triển theo sự phát triển của xã hội, của thực  
tiễn hoạt động kinh doanh ở Việt Nam.  
2. Bản chất, vai trò và sự tương tác  
giữa văn hóa và văn hóa kinh doanh  
Văn hóa gắn liền với sự tồn tại của con  
người. Thước đo giá trị nhân bản của con  
người là văn hóa, là những hành động gắn  
1 Điều 4 - Luật Doanh nghiệp Việt Nam, năm 2005  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
28  
Kinh doanh không chỉ gói gọn trong khâu  
lưu thông, phân phối các chiến lược “thâm  
nhập thị trường” của các doanh nghiệp đối  
với các sản phẩm của mình mà nó còn phải  
bao quát các khâu có quan hệ hữu cơ nhau  
tính từ sản xuất cho tới cả tiêu dùng. Có nghĩa  
rằng, xây dựng nền văn hoá kinh doanh là  
một việc làm có tính thực tế mà mục tiêu cụ  
thể là nhằm làm cho toàn bộ quá trình sản  
xuất kinh doanh, tức yếu tố đóng vai trò rất  
quyết định đối với nền sản xuất của đất nước  
trở nên ngày càng mang tính văn hoá cao thể  
hiện trên cả ba mặt:  
Xây dựng nền văn hoá kinh doanh vì vậy  
về thực chất chính là việc thực hiện các điều  
kiện khách quan, chủ quan trên cơ sở phát  
huy các nhân tố tích cực, tự giác nhằm đẩy  
nhanh quá trình văn hoá hoá trong toàn bộ  
mọi yếu tố cấu thành nền sản xuất kinh doanh  
của đất nước, trước hết tập trung lấy phát triển  
văn hoá doanh nghiệp làm điểm tựa đầu tiên.  
Trong điều kiện thực tế hiện nay, theo cách  
thức đó chúng ta có thể tạo ra quá trình tích  
hợp và phát huy mạnh mẽ những giá trị vốn  
có trong nền văn hoá truyền thống của dân  
tộc (thí dụ những truyền thống yêu nước và  
thương người, đoàn kết cộng đồng và trong  
tín nghĩa, cần cù, năng động và linh hoạt  
v.v…) kết hợp với các thành tựu văn hoá thế  
giới (thí dụ về nếp tư duy, phong cách và trình  
độ khoa học kỹ thuật công nghệ, về phương  
pháp, năng lực tổ chức quản lý kinh tế - xã  
hội trong quá trình đô thị hoá, công nghiệp  
hoá - hiện đại hoá v.v…)… nhằm làm cho  
hoạt động sản xuất kinh doanh trong nền kinh  
tế thị trường ở nước ta sẽ ngày càng được trật  
tự, lành mạnh và đạt hiệu quả cao hơn, hướng  
đến những mục tiêu kinh tế - xã hội toàn diện,  
bền vững lâu dài của đất nước đồng thời vừa  
có thể đem lại những lợi ích thiết thực ngay  
trước mắt cho các doanh nghiệp. Cụ thể hơn,  
xây dựng văn hoá doanh nghiệp để góp phần  
vào chiến lược phát triển văn hoá kinh doanh  
Việt Nam hiện nay không thể khác đó là việc  
nâng cao bản lĩnh, trình độ đội ngũ doanh  
nhân theo hướng ngày càng “chuyên nghiệp  
hoá” nhiều hơn, trước hết ở cung cách, khả  
năng sử dụng tốt các phương tiện, các thành  
tựu khoa học kỹ thuật trong lao động, tổ chức  
sản xuất, năng lực cạnh tranh và hội nhập với  
thị trường (nội địa lẫn quốc tế), trong giao  
tiếp với khách hàng, tuyên truyền quảng bá  
thương hiệu, giới thiệu và bán sản phẩm…  
Bên cạnh đó việc nâng cao năng lực và điều  
kiện, biện pháp để chăm lo đội ngũ (cả về đời  
sống văn hoá cá nhân lẫn đời sống văn hoá  
tập thể), không ngừng tăng cường cơ sở vật  
chất - kỹ thuật cùng một nề nếp, kỷ cương  
1) Văn hoá doanh nhân: Văn hoá thể hiện  
hết ở đội ngũ những con người (gồm cả các  
cá nhân và các tập thể) tham gia sản xuất kinh  
doanh chủ yếu thể hiện ở trình độ khoa học  
kỹ thuật, công nghệ và vốn tri thức tổng hợp,  
ở kinh nghiệm thực tiễn và kỹ năng, phương  
pháp tác nghiệp, ở năng lực tổ chức sản xuất  
kinh doanh và sự nhạy bén với thị trường,  
ở đạo đức nghề nghiệp và phẩm hạnh làm  
người, ở ý thức công dân và sự giác ngộ về  
chính trị - xã hội v.v…  
2) Văn hoá thương trường: Văn hoá thể  
hiện trong cơ cấu tổ chức, hệ thống pháp  
chế, các chính sách chế độ, trong mọi hình  
thức hoạt động liên quan quá trình sản xuất  
kinh doanh, gồm cả sự cạnh tranh v.v… tất  
cả nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh  
thuận lợi tốt đẹp…  
3) Văn hoá doanh nghiệp: Văn hoá tập  
trung và tỏa sáng trong các thiết chế, các đơn  
vị tổ chức sản xuất kinh doanh thể hiện qua  
những biểu trưng (symbol) chung thuộc về  
hình thức (logo, đồng phục…) cùng các yếu  
tố tạo nên thương hiệu của doanh nghiệp, qua  
năng lực, phẩm chất, trình độ tổ chức sản  
xuất kinh doanh tạo ra chất lượng sản phẩm  
và những thành tích, truyền thống, qua phong  
cách giao tiếp, ứng xử thống nhất của toàn  
đơn vị (đối với nội bộ, đối với khách hàng)  
trong mọi quá trình sản xuất kinh doanh v.v...  
tHs. kiều anH vũ  
29  
hoạt động theo phong cách công nghiệp, hiện  
đại dựa trên nền tảng phát huy tốt những giá  
trị văn hoá truyền thống (đạo lý, nghĩa tình…)  
kết hợp xây dựng bản chất tiên tiến của giai  
cấp công nhân (kỹ thuật, khoa học…) cho  
mọi lực lượng lao động vì mục tiêu xây dựng  
hệ thống doanh nghiệp Việt Nam vững mạnh  
toàn diện cả về chuyên môn lẫn tư tưởng, tổ  
chức v.v… tất cả đều là những công việc có ý  
nghĩa rất chiến lược.  
toàn bộ vấn đề chính là nhằm tạo ra những  
“chất xúc tác” đồng thời vừa là “chất keo” để  
gắn kết mọi nguồn lực, mọi lực lượng trên cơ  
sở phát huy tính chủ thể (cơ chế tự quản, tự  
chủ) của từng cá nhân , đơn vị tham gia sản  
xuất kinh doanh trong quá trình thực hiện các  
quy chế, các biện pháp tổ chức, các luật lệ,  
chính sách của nhà nước để trước mắt (trực  
tiếp) là tạo mọi điều kiện thuận lợi cho việc  
phát huy năng lực, trình độ làm chủ thị trường  
của các doanh nghiệp chính là vì sự phát triển  
bền vững của hiệu quả kinh doanh thương  
phẩm /dịch vụ, gây dựng thương hiệu và góp  
phần xây dựng thương trường, xây dựng nền  
văn hoá kinh doanh Việt Nam nói chung.  
Toàn bộ nội dung nói trên không những  
nhằm mục đích tạo ra nguồn nội lực vững  
chắc cho việc liên tục nâng cao chất lượng  
sản phẩm hàng hoá, nâng cao khả năng cạnh  
tranh trên thương trường mà hơn nữa, đó  
là điều kiện quyết định để có thể huy động  
cao nhất các nhân tố chủ quan, khách quan  
khác nhau đối với việc tập trung xây dựng  
thương hiệu của bản thân từng sản phẩm,  
từng doanh nghiệp (cả dân doanh lẫn nhà  
nước), góp phần xây dựng hệ thống thương  
hiệu Việt Nam nói chung. Mục tiêu cuối cùng  
chính là vì một hiệu quả kinh doanh bền vững  
dựa trên cơ sở chất lượng sản phẩm và trình  
độ phục vụ vừa thoả mãn được nhu cầu, thị  
hiếu của khách hàng để “vui lòng khách đến  
vừa lòng khách đi” đồng thời vừa đáp ứng tốt  
các yêu cầu của xã hội (về kinh tế, văn hoá,  
chính trị, xã hội…) Cụ thể là, lợi nhuận thu  
được qua việc “làm ăn, mua bán” trong mọi  
quá trình sản xuất kinh doanh phải là những  
“đồng tiền sạch” với nghĩa là lãi suất đó phải  
đặt lợi ích con người và xã hội lên trên hết,  
không thể chấp nhận quan điểm “lợi nhuận  
bất cứ giá nào”, kể cả triệt để chống tình trạng  
hàng gian, hàng giả, hàng lậu, trốn thuế v.v..  
Nói cách khác, việc tiêu thụ được sản phẩm,  
tăng lợi nhuận, đảm bảo khả năng tái sản xuất  
mở rộng trong kinh doanh không những chỉ  
dựa trên cơ sở thiết lập mối quan hệ “Vốn -  
Thị trưꢀng - Khách hàng” mà còn phải là sự  
giải quyết hài hoà (không có mâu thuẫn) giữa  
các lợi ích (của doanh nghiệp, của người tiêu  
dùng, của toàn xã hội) cả trước mắt lẫn trong  
hướng lâu dài. Tác dụng tích cực nhất của  
Sản xuất kinh doanh nói riêng, xây dựng  
và phát triển kinh tế - xã hội nước ta nói chung  
đang ở bối cảnh cạnh tranh thị trường (trong  
nước, thế giới) ngày càng gay gắt và quá trình  
hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhưng  
cũng hết sứcphức tạp. Lộ trình hội nhập với  
AFTA chẳng hạn, đâu phải chỉ góp phần xây  
dựng khu vực mậu dịch tự do ASEAN mà  
thực chất còn là chúng ta đang và sẽ từng  
bước thực hiện quá trình “khu vực hoá” một  
khu vực văn hoá - lịch sử từng có mối quan  
hệ đặc biệt trong quá khứ và hứa hẹn nhiều  
triển vọng lớn lao trong tương lai trên nhiều  
mặt… Xây dựng nền văn hóa kinh doanh  
Việt Nam không dừng lại chỉ vì chúng ta cần  
một “triết lý” hoặc một “đạo lý” trong kinh  
doanh mà hơn nữa, đây là việc xây dựng một  
“trường phái kinh doanh Việt Nam”, việc làm  
cần thiết và có ý nghĩa chiến lược trong tiến  
trình hội nhập đặc biệt như vậy. Một thương  
trường luôn phát triển có trật tự, kỷ cương,  
có “ý thức tự giác” đầy đủ, cùng một đội ngũ  
đông đảo doanh nhân có trình độ, phẩm chất  
văn hoá tương ứng (với những yêu cầu như  
đã nêu ở trên, với kinh tế thị trường định  
hướng xã hội chủ nghĩa…) thông qua một hệ  
thống doanh nghiệp các loại luôn lấp lánh toả  
sáng những giá trị văn hoá dân tộc nhân loại-  
thời đại với chất lượng - hiệu quả cao trong  
mọi hoạt động. Đó chính là một trong những  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
30  
nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm thực  
hiện mục tiêu phát triển bền vững nền kinh tế  
đất nước gắn với các chiến lược xây dựng văn  
hoá - xã hội giai đoạn hiện nay. Công việc ấy  
hoàn toàn phù hợp với đất nước này, một đất  
nước từng có “ngàn năm văn hiến” đồng thời  
nó cũng hoàn toàn phù hợp với những yêu  
cầu của thời đại, với xã hội thông tin và nền  
kinh tế tri thức… đặc biệt là phù hợp với các  
mục tiêu, phương hướng chiến lược đã xác  
định của Đảng, Nhà nước ta hiện nay: “Xây  
dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam  
tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” trong quá  
trình tiếp tục thực hiện “đổi mới”, “mở cửa”,  
“đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất  
nước” và “phát triển kinh tế thị trưꢀng định  
hướng xã hội chủ nghĩa” tất cả nhằm mục  
tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công  
bằng, văn minh”.  
phong trào xây dựng văn hóa doanh nhân,  
văn hóa doanh nghiệp, với mục đích là dùng  
yếu tố văn hóa để gia tăng giá trị thẩm mỹ và  
đạo đức cho cộng đồng kinh doanh.  
Văn hóa kinh doanh cũng như văn hóa  
nói chung, là một tất yếu. Bởi vì kinh doanh  
là một hoạt động bản năng của con người,  
là quá trình diễn ra liên tục trong đời sống  
con người. Những gì lắng đọng lại sau các  
chuỗi hành vi liên tục ấy chính là văn hóa  
kinh doanh. Trong kinh doanh luôn có mặt  
yếu tố văn hóa, chúng luôn đan xen và có tác  
động qua lại lẫn nhau. Vấn đề là phải nhận  
biết được văn hóa kinh doanh mà chúng ta  
đang có như thế nào. Văn hóa kinh doanh ấy  
lạc hậu hay tiên tiến? Văn hóa ấy có khả năng  
thúc đẩy một cách tích cực sự phát triển của  
hoạt động kinh doanh hay sự phát triển của  
nền kinh tế không? Văn hóa kinh doanh ấy  
có khuyết tật gì làm cản trở sự phát triển của  
cộng đồng kinh doanh không?  
3. Tính tất yếu của văn hóa kinh doanh  
Văn hóa luôn là môi trường tinh thần của  
cuộc sống trong bất cứ cộng đồng xã hội nào.  
Văn hóa kinh doanh cũng vậy, càng ngày xã  
hội càng nhận thức được vai trò quan trọng  
của nó trong đời sống, đặc biệt là trong hoạt  
động kinh doanh. Tuy nhiên, khi nói đến văn  
hóa kinh doanh, người ta vẫn có nhiều cách  
hiểu rất khác nhau. Có quan điểm cho rằng:  
Nói đến kinh doanh là nói đến những hoạt  
động thu lợi nhuận mà để có lợi nhuận, con  
người thường có xu hướng xâm hại đến lợi ích  
của người khác. Còn nói đến văn hóa là nói  
đến cái tốt, cái đúng, nói đến đạo đức, thẩm  
mỹ và những gì tốt đẹp nhất. Cho nên cần  
phải làm thế nào đó để đưa nhân tố văn hóa  
vào kinh doanh để làm cho hoạt động kinh  
doanh lành mạnh hơn và ngược lại, đưa các  
nhân tố kinh doanh vào văn hóa mà không  
làm tổn hại đến văn hóa. Cách hiểu như vậy  
đưa đến một kết luận là muốn cho hoạt động  
kinh doanh lành mạnh thì phải đưa các yếu tố  
văn hóa vào đời sống kinh doanh. Điều đó có  
nghĩa là, phải xây dựng văn hóa kinh doanh.  
Chính vì thế mà trong xã hội đang xuất hiện  
Văn hóa, nhìn chung, hình thành từ sự  
tích lũy kinh nghiệm sống của một cộng  
đồng, một dân tộc, do đó văn hoá chính là  
cuộc sống. Quá trình hình thành văn hóa là  
một quá trình tự nhiên và khách quan. Văn  
hóa thể hiện sự chấp nhận lẫn nhau và chấp  
nhận sự bình đẳng giữa các thành tố cấu tạo  
ra cuộc sống, nói cách khác, nếu không có  
sự chấp nhận lẫn nhau và bình đẳng giữa các  
thành tố cấu tạo ra cuộc sống thì không có  
văn hoá lành mạnh. Trong quá trình đi đến sự  
chấp nhận đó chắc chắn không thể thiếu sự  
đấu tranh bình đẳng của các thành tố. Yếu tố  
đảm bảo sự hợp pháp của quá trình đấu tranh  
và hoà hợp giữa các yếu tố của cuộc sống  
không gì khác chính là tự do. Tự do đem lại  
cho con người sự phong phú về nhận thức và  
đến lượt mình, sự phong phú về nhận thức sẽ  
tạo ra sự đa dạng về khuynh hướng. Trong một  
môi trường có sự bình đẳng giữa các khuynh  
hướng, con người được tự do nhận thức và đi  
đến thoả thuận. Trạng thái tự do sẽ là động  
lực cho sự sáng tạo của con người và chính  
tHs. kiều anH vũ  
31  
những đóng góp đẹp đẽ đó của con người đã vấn đề: Văn hoá không song hành với tăng  
tạo ra nền văn hóa lành mạnh với tư cách là trưởng kinh tế, với kinh doanh, những bất cập  
sản phẩm của tự do. Ở đâu nền văn hóa có về văn hoá đang cản trở bước phát triển của  
tính đa dạng, ở đâu sự tồn tại của các khuynh đất nước.  
hướng của cuộc sống được tôn trọng thì ở đó  
có tự do và khi đó văn hóa là hệ quả của tự do.  
Văn hóa ấy hỗ trợ cuộc sống và chính là môi  
trường tinh thần của tất cả những gì còn lại  
4. Xây dựng bản sắc văn hoá trong  
kinh doanh  
Gần đây người ta thường nói đến bản sắc  
văn hoá trong kinh doanh. Từ xa xưa các quốc  
của cuộc sống. Ngược lại, nếu tác động vào  
gia ở các vùng lãnh thổ được phân định sẵn  
văn hóa theo xu hướng áp đặt bằng các công  
đã có sự mua bán, trao đổi. Từ địa phương  
cụ quyền lực sẽ phá vỡ qui luật hình thành tự  
này sang địa phương khác trong một đất nước  
nhiên của văn hóa. Sự can thiệp này đe dọa  
và rộng ra là từ quốc gia này sang quốc gia  
đến tính đa dạng tự nhiên của văn hóa, mà  
khác, người ta mang đến những thứ mà nơi  
xét về bản chất, chính là tiêu diệt tính đa dạng  
họ không có và mua về những thứ mà họ cần.  
của đời sống tinh thần của con người. Khi bị  
áp đặt về nhận thức thì con người phản ánh  
một cách đơn giản về cuộc sống. Sự phản ánh  
cuộc sống một cách đơn giản của con người  
bằng cả hành vi lẫn tư duy, đến lượt mình, tạo  
ra sự đơn giản của nền văn hóa hay tạo ra một  
nền văn hóa phi tự nhiên.  
Trải qua hàng nghìn năm như vậy, sự giao  
thương trở thành một vòng quay tuần hoàn  
nhưng không đơn điệu, luôn biến chuyển theo  
sự phát triển của xã hội loài người. Và mỗi  
địa phương, quốc gia, vùng lãnh thổ để có sản  
phẩm của riêng mình, để được coi như đó là  
có “tuyệt chiêu” thì phải thể hiện qua thương  
hiệu.  
Văn hóa kinh doanh cũng vậy, nếu được  
hình thành theo những qui luật tự nhiên của  
văn hóa, nó sẽ trở thành một môi trường tinh  
thần lý tưởng cho hoạt động kinh doanh.  
Ngược lại, nếu được hình thành từ những  
đòi hỏi phi tự nhiên, những kế hoạch phi tự  
nhiên trong việc quản lý đời sống kinh doanh  
chắc chắn sẽ trở thành một loại văn hóa phi  
tự nhiên, gây ra rất nhiều hậu quả nguy hiểm  
cho đời sống kinh doanh.  
Người tiêu dùng mỗi khi nhắc tới sản  
phẩm nào đó đều muốn biết rằng nó xuất xứ  
từ đâu, và biết rằng bản sắc văn hoá dân tộc  
đã mặc nhiên được thấm đẫm vào sản phẩm,  
tạo nên sản phẩm có hồn, có sắc. Lật lại vấn  
đề, ta mới lý giải được bản sắc văn hoá dân  
tộc không phải là thứ chúng ta áp đặt cho mọi  
người biết mà nó phải được sống, phải được  
thổi hồn vào để có sinh khí và được nhiều  
người quan tâm sử dụng.  
Quốc gia nào chỉ mang quá khứ hào hùng  
để che cái yếu kém của hiện tại và định hướng  
không xác thực cho tương lai..., sẽ dẫn đến  
nền kinh tế lạc hậu, đói nghèo và bản sắc văn  
hoá dân tộc cùng niềm tin cũng bị xói mòn.  
Trong thế giới ngày nay, khi mà mọi sự  
đều biến đổi từng giờ, từng ngày thì Việt Nam  
phải đi tắt đón đầu, để rút ngắn lộ trình. Do  
vậy, chúng ta phải tách bạch rõ hai vấn đề:  
Luôn ổn định an ninh chính trị và đẩy mạnh  
phát triển kinh tế. Để phát triển kinh tế vượt  
trội mà vẫn mang bản sắc văn hoá dân tộc là  
một dấu hỏi lớn cần phải có lời giải và thời  
gian để giải quyết.  
Chưa bao giờ vấn đề văn hoá kinh doanh  
lại nổi lên gay gắt như hiện nay. Quá nhấn  
mạnh tăng trưởng kinh tế đơn thuần chính là  
nguyên nhân khiến bản thân nền kinh tế đang  
đối mặt với khó khăn, lạm phát gia tăng, tăng  
trưởng chậm lại, và chắc chắn đây không chỉ  
là chuyện trước mắt mà là xu hướng lâu dài,  
Một năm qua, làn sóng đầu tư trực tiếp  
nếu chúng ta không tìm đến ngọn nguồn của từ nước ngoài đổ vào Việt Nam tới 16 tỉ USD  
Hội thảo Văn hóa kinh doanh trong điều kiện kinh tế thị trường  
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam  
32  
và còn hơn thế nữa cho những năm kế tiếp. tiêu thụ mạnh xét nét khi nhập khẩu? Vấn đề  
Nguồn vốn lớn thuận lợi lớn, nhưng thách là nguyên nhân từ đâu? Thứ nhất, phải nhìn  
thức của nó còn lớn hơn. Tầm, tâm và thế của nhận chính mình là yếu kém từ định hướng  
Việt Nam - bản sắc văn hoá dân tộc - được không chuyên nghiệp, áp dụng khoa học  
thể hiện bằng quyết sách chiến lược của Nhà kỹ thuật lạc hậu, tinh thần và ý thức phục  
nước như chúng ta cho phép đầu tư vào lĩnh vụ không cao. Thứ hai, vẫn còn các doanh  
vực nào, tại đâu, công nghệ, môi trường, an nghiệp làm ăn theo lối chụp giật, chỉ toan tính  
sinh xã hội… thế nào.  
cho riêng mình.  
Để minh chứng cho tâm và thế trong  
Từ những nhìn nhận trên chúng ta thấy rõ  
thương trường, điều tiên quyết là thành công vấn đề và tìm được chìa khoá để mở và tháo  
của sản phẩm. Sản phẩm đó phải hội đủ những gỡ. Người tháo gỡ phải là Chính phủ, là các  
điều kiện chất lượng, giá thành và số lượng. cơ quan chức năng tạo ra chính sách hỗ trợ  
Một sản phẩm được tung ra thị trường trong vốn, khoa học công nghệ, định hướng vùng  
nước và thế giới không chỉ đơn thuần mang miền, chế tài nghiêm khắc để mọi người, mọi  
đặc thù của quốc gia đó hoặc mang nét truyền doanh nghiệp làm theo và tuân thủ triệt để.  
thống dân tộc để khẳng định đó là bản sắc của  
Người tháo gỡ phải là các chủ doanh  
mình. Điều khẳng định phải được thương mại  
nghiệp. Bởi vì khi đi ra thế giới để làm kinh  
hoá bằng tổng doanh thu và lợi nhuận mỗi  
tế, ông chủ doanh nghiệp không chỉ còn là đại  
ngày một tăng lên và tồn tại với thời gian.  
diện, mang danh dự cho chính anh nữa, mà đó  
Việt Nam chúng ta có biết bao nhiêu là đại diện, là danh dự của quốc gia. Khi chủ  
sản phẩm của nông - ngư nghiệp mà nhiều doanh nghiệp xác định được điều hệ trọng đó  
nước trên thế giới không có, nếu có thì sản thì sản phẩm được khẳng định trên thị trường  
lượng rất thấp, nhưng tại sao có những sản nội địa cũng như thị trường quốc tế. Lúc đó  
phẩm của chúng ta khi ra thị trường thế giới sẽ thấy bản sắc văn hoá dân tộc trong kinh tế  
giá trị kinh tế lại rất thấp và luôn bị các nước bừng sáng./.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO:  
1. GS,TS. Nguyễn Trí Dĩnh - PGS,TS. Phạm Thị Quý (chủ biên): Giáo trình Lịch sử kinh tế. Nxb Thống kê,  
Hà Nội, 2004.  
2. Trần Đình Nghiêm, Trần Hoàn, Nguyễn Phúc Khánh (chủ biên): Phác thảo chân dung văn hóa Việt Nam.  
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000.  
3. PGS,TS. Nguyễn Bá Dương và TS. Đức Uy (chủ biên). Giáo trình Tâm lý học kinh doanh. Viện Đại học  
Mở, Hà Nội, 2007, tr.130.  
4. Lê Minh Quốc. Doanh nghiệp Việt Nam xưa và nay (tập 1+2). Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2004.  
pdf 7 trang Thùy Anh 19020 Free
Bạn đang xem tài liệu "Văn hóa kinh doanh ở Việt Nam - Một số vấn đề lý luận chung", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_hoa_kinh_doanh_o_viet_nam_mot_so_van_de_ly_luan_chung.pdf