Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 19 (2021)
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ĐÁP ỨNG
NHU CẦU CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH VĨNH PHÚC
Nguyễn Việt Phương1, Phạm Thị Thanh Mai2
Tóm tắt
Trong nền kinh tế tri thức thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0, nguồn nhân lực chất lượng cao đang trở
thành một tài sản quý giá đối với mỗi một địa phương. Đây là nguồn lực quan trọng nhất để tạo ra giá trị
đem lại sự phát triển kinh tế-xã hội cho địa phương. Có nhiều nghiên cứu viết về phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao. Tuy nhiên, đối với một địa phương như tỉnh Vĩnh Phúc thì chưa có nghiên cứu nào
được công bố nghiên cứu về giải pháp phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp
trên địa bàn của tỉnh. Nghiên cứu này phân tích, đánh giá thực trạng đào tạo nguồn nhân lực của tỉnh
Vĩnh Phúc thời gian qua thông qua dữ liệu thu thập từ năm 2016-2020 về nguồn nhân lực, về giáo dục
nghề nghiệp. Đồng thời căn cứ trên dự báo nhu cầu lao động chất lượng cao của các doanh nghiệp để từ
đó đưa ra các giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, góp phần phát triển kinh tế của tỉnh trong giai đoạn 2021-2025 và tầm nhìn
đến năm 2030.
Từ khóa: Phát triển; Nguồn nhân lực; Chất lượng cao; Doanh nghiệp; Vĩnh Phúc.
SOLUTIONS FOR DEVELOPING HIGH QUALITY HUMAN RESOURCES TO MEET
THE NEED OF BUSINESSES IN VINH PHUC PROVINCE
Abstract
In the knowledge economy of the industrial revolution 4.0, high-quality human resources are becoming a
valuable asset for each locality. This is the most important resource to create values for local socio-
economic development. There are many studies on the development of high-quality human resources;
however, for a locality like Vinh Phuc province, there has been no published research on human resource
development solutions to meet the needs of businesses in the province. This study analyzes and evaluates
the current situation of human resource training in Vinh Phuc province over the past time. The data
collected from 2016 to 2020 focus on human resources and on vocational education. Based on the forecast
of high-quality labor demand of enterprises, the research comes up with solutions to develop high-quality
human resources to meet the needs of businesses in Vinh Phuc province, contributing to economic
development of the province in the period of 2021-2025 and a vision to 2030.
Keywords: Develop; Human Resources; High Quality; Enterprises; Vinh Phuc.
JEL classification:M; M2; M12; M54.
hiện nay. Hiện nay có một số nghiên cứu đề cập tới
vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tác giả Trần Văn Hùng (2012) cho rằng điều kiện
để tạo được lợi thế cạnh tranh trong thời đại ngày
nay là đầu tư phát triển nguồn nhân lực có chất
lượng cao đi đôi với cấu trúc lại nền kinh tế. Tuy
nhiên, để có được như vậy vấn đề cơ bản là phải có
đầu tư xứng đáng vào giáo dục đào tạo, tức là đầu
tư vào nguồn tài nguyên con người, đào tạo nguồn
nhân lực có năng lực trí tuệ và tay nghề cao, có khả
năng tiếp nhận và sáng tạo tri thức và công nghệ
mới [5]. Tác giả Nguyễn Trung (2012) nhận định
chất lượng của công tác giảng dạy ở nước ta được
đánh giá thông qua chương trình giảng dạy, người
dạy, chất lượng nhà trường. Lê Thị Hồng Điệp
(2010), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam.
Nghiên cứu đã góp phần làm phong phú thêm
những lý luận mới về phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao để hình thành nền kinh tế tri thức
thông qua những phân tích nội dung, tiêu chí và
những yếu tố tác động tới quá trình phát triển lực
lượng này [4]. Những công trình nghiên cứu trên
1. Đặt vấn đề
Trong thời đại công nghiệp hóa - hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay việc
đầu tư phát triển nguồn nhân lực nói chung, nhất
là nguồn nhân lực chất lượng cao được xem là một
trong ba khâu đột phá quan trọng của chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội, là nền tảng để phát triển
bền vững và phát huy tối đa lợi thế cạnh tranh của
một quốc gia nói chung và của một địa phương
nói riêng. Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất
là nguồn nhân lực chất lượng cao gắn kết với phát
triển và ứng dụng khoa học, công nghệ là một lợi
thế cạnh tranh. Lợi thế về nguồn nhân lực giá rẻ
đang dần mất đi đặt ra yêu cầu về việc thay đổi mô
hình phát triển, từ chủ yếu dựa vào tăng vốn đầu
tư, khai thác các tài nguyên thiên nhiên, nguồn
nhân lực rẻ nhưng chất lượng thấp sang sự phát
triển dựa vào các nhân tố năng suất tổng hợp bao
gồm khả năng áp dụng các thành tựu mới nhất của
khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực
và kỹ năng quản lý hiện đại.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đang
là một hướng đi phù hợp với nhiều các địa phương
47
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 19 (2021)
đã hệ thống hóa những vấn đề về mặt lý luận và
thực tiễn có liên quan đến đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên,
đến nay chưa có nghiên cứu nào đề cập đến việc
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho tỉnh
Vĩnh Phúc. Nghiên cứu này đi sâu phân tích thực
trạng chất lượng nguồn nhân lực tỉnh Vĩnh Phúc và
từ đó đề xuất các giải pháp nhằm phát triển nguồn
nhân lực chất lượng cao cho tỉnh giai đoạn 2021-
2025 và tầm nhìn đến năm 2030.
học đáp ứng yêu cầu; phẩm chất đạo đức tốt;
năng động, sáng tạo và khả năng thích ứng nhanh
với những thay đổi của khoa học công nghệ, lao
động với năng suất, chất lượng cao, đóng góp
hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội của địa
phương và đất nước.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp khảo
sát bằng bảng hỏi để thu thập số liệu. Nghiên
cứu bảng hỏi có khả năng tìm hiểu vấn đề trong
điều kiện thực tế hơn là việc nghiên cứu bị giới
hạn trong phòng thí nghiệm hoặc trong các điều
kiện giả định.
2. Cơ sở lý luận
Hiện nay có nhiều quan niệm về nguồn nhân
lực chất lượng cao. Các quan niệm này có các cách
xác định nguồn nhân lực chất lượng cao khác nhau.
Theo tinh thần Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI,
nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận ưu tú
nhất của nguồn nhân lực đất nước, bao gồm những
người tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức và
lối sống; có trình độ học vấn, chuyên môn cao; có
sức khỏe tốt (theo độ tuổi); luôn đi đầu trong lao
động, sáng tạo khoa học, đóng góp tích cực, hiệu
quả vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc (1996) cho
rằng: Nguồn nhân lực chất lượng cao là đội ngũ
nhân lực có trình độ và năng lực cao, là lực lượng
xung kích tiếp nhận chuyển giao công nghệ tiên
tiến, sử dụng có hiệu quả việc ứng dụng vào điều
kiện nước ta là hạt nhân đưa lĩnh vực của mình đi
vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa được mở rộng
theo kiểu "vết dầu loang" bằng cách dẫn dắt những
bộ phận có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên
với tốc độ nhanh. Theo Hoàng Văn Châu (2009)
cho rằng, nguồn nhân lực chất lượng cao là "Khái
niệm chỉ lực lượng lao động có học vấn, có trình
độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng thích
ứng nhanh với những thay đổi nhanh chóng của
công nghệ sản xuất". Trong nghiên cứu của mình,
tác giả Phạm Thị Khanh (2007), cho rằng, "Nguồn
nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực có khả
năng (hay năng lực) tạo ra những sản phẩm hàng
hóa có giá trị gia tăng cao, sức cạnh tranh tốt, đảm
bảo cho nền kinh tế hội nhập sâu rộng và hiệu quả
vào nền kinh tế thế giới". Theo tác giả Lê Văn Kỳ
(2018) "Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận
nhân lực có đủ sức khỏe; có trình độ học vấn, trình
độ chuyên môn kỹ thuật cao, trình độ ngoại ngữ,
tin học đáp ứng yêu cầu; phẩm chất đạo đức tốt;
năng động, sáng tạo và khả năng thích ứng nhanh
với những thay đổi của khoa học công nghệ, lao
động với năng suất, chất lượng cao, đóng góp hiệu
quả cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
và đất nước".
3.1. Mẫu nghiên cứu
Nghiên cứu tiến hành điều tra, khảo sát các đối
tượng: (1) Cán bộ quản lý, công chức, viên chức
thuộc UBND tỉnh, các Sở trên địa bàn thành phố,
các huyện; các xã; (2) các chuyên gia/ cán bộ có
chuyên môn trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân
lực; (3) Đại diện các doanh nghiệp, hợp tác xã đang
hoạt động trên địa bàn tỉnh; (4) các cán bộ tại các
cơ sở đào tạo và (5) người dân tại các địa phương.
Về phương pháp chọn mẫu, mẫu được lựa chọn dựa
trên tiêu chí điều tra trong bảng hỏi và mức độ tin
cậy của các chỉ tiêu đánh giá. Theo Hair và các cộng
sự (2019), số lượng điều tra sẽ được tính như sau:
n=5*k+50 (n là số phiếu điều tra, k là số chỉ tiêu
trong bảng hỏi) và như vậy số phiếu điều tra tối
thiểu là n=5*43+50=275, tuy nhiên để đảm bảo tính
tin cậy của các chỉ tiêu định tính một số nhóm đối
tượng sẽ điều tra tối thiểu từ 70 quan sát, còn lại
40 quan sát cho nhóm số 2 và 30 quan sát cho
nhóm số 3. Tổng số mẫu điều tra của nghiên cứu
là 280 quan sát.
3.2. Chỉ tiêu nghiên cứu
Các chỉ tiêu định lượng sử dụng trong nghiên
cứu bao gồm: cơ cấu nhân lực theo trình độ, cơ cấu
nhu cầu lao động. Các chỉ tiêu nghiên cứu sử dụng
trong bảng hỏi bao gồm: Nhận thức về nguồn nhân
lực chất lượng cao trong phát triển kinh tế-xã hội;
Đánh giá về lợi thế và bất lợi của tỉnh Vĩnh Phúc
trong phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao;
Các giải pháp cần thiết để phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao; Khảo sát về hệ thống cơ chế,
chính sách và định hướng của tỉnh Vĩnh Phúc hiện
nay; Khảo sát về giải pháp phát triển nguồn nhân
lực chất lượng cao của tỉnh hiện nay.
3.3. Quy trình thu thập số liệu
Đối với số liệu thứ cấp được thu thập, tổng
hợp từ các báo cáo của các sở, ban, ngành của tỉnh
Vĩnh Phúc. Sau đó các dữ liệu này được sử dụng
để tính toán các chỉ tiêu phân tích đánh giá. Các
thông tin về cơ chế, chính sách của tỉnh cũng được
tập hợp để phân tích các giải pháp về cơ chế trong
mối tương quan với các địa phương khác. Về số
Trong phạm vi của bài viết này, nguồn nhân
lực chất lượng cao được hiểu là bộ phận nhân lực
có đủ sức khỏe; có trình độ học vấn, trình độ
chuyên môn kỹ thuật cao, trình độ ngoại ngữ, tin
48
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 19 (2021)
liệu sơ cấp, phiếu điều tra được khảo sát trực tiếp
các đối tượng bởi các cán bộ bởi nhóm cán bộ
khảo sát. Người trả lời được mô tả lý do tiến hành
nghiên cứu này và sau đó được mô tả về nội dung
phiếu điều tra. Phiếu điều tra sau khi được thu thập
sẽ được mã hóa và nhập vào
cơ sở GDNN gồm 07 trường cao đẳng, 03 trường
trung cấp, 13 trung tâm GDNN. Quy mô tuyển
sinh GDNN: Tổng quy mô tuyển sinh hàng năm
được cơ quan có thẩm quyền cấp cho các cơ sở
GDNN trên địa bàn tỉnh là 47.175 người, trong đó:
trình độ cao đẳng có 45 nghề với 4.700 người, tỷ
lệ 9,9 %; trình độ trung cấp có 72 nghề với 8.335
người, tỷ lệ 17,7%; trình độ sơ cấp 139 nghề với
34.140 người, tỷ lệ 72,4% [9].
3.4. Quy trình phân tích số liệu
Số liệu sau khi điều tra sẽ được kiểm tra, mã
hóa và nhập vào phần mềm. Quá trình kiểm tra lỗi
của dữ liệu sẽ được thực hiện để loại bỏ các phần
lỗi nhập liệu do kỹ thuật. Phương pháp thống kê
mô tả được sử dụng. Các số liệu được phân tích và
tính các giá trị như trung bình, độ lệch chuẩn để
đưa các kết luận.
4. Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao
của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2020
4.1. Về giáo dục nghề nghiệp
- Kết quả tuyển sinh đào tạo:
+ Đào tạo đại trà: Giai đoạn 2016-2020,
tuyển sinh được tổng cộng 142.226 người; trung
bình hàng năm, các cơ sở GDNN trên địa bàn tỉnh
tuyển sinh được khoảng 28.445 người chiếm
60,3% so với kế hoạch. Trong đó: Trình độ cao
đẳng chiếm tỷ lệ 4,05%; trình độ trung cấp chiếm
18,89 %; trình độ sơ cấp chiếm 77,06 % [9].
Mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp
(GDNN) trên địa bàn tỉnh: Trên địa bàn tỉnh có 36
Bảng 1. Kết quả tuyển sinh GDNN của tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016 - 2020
Trình độ
đào tạo
Năm
2016
Năm
2017
Năm
2018
Năm
2019
Năm
2020
Giai đoạn
2016-2020
TT
1
2
3
Cao đẳng
Trung cấp
Sơ cấp
744
1.203
4.869
999
1.337
5.852
1.481
5.998
5.764
26.878
109.584
142.226
4.833
9.296
24.873
5.326
24.823
31.148
19.597
25.669
23.631
30.820
22.237
29.716
Tổng
Nguồn: Báo cáo công tác GDNN và nhu cầu lao động đào tạo nghề tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2020
+ Đào tạo thí điểm theo chương trình của Úc
tỉnh Vĩnh Phúc đã có 04 trường cao đẳng nghề
được kiểm định đánh giá đạt cấp độ 03. Giai đoạn
2016-2020, Vĩnh Phúc đầu tư cho các cơ sở
GDNN thuộc tỉnh 176.451 triệu đồng. Trong đó
ngân sách trung ương 44.000 triệu đồng và ngân
sách tỉnh trên 132.451 triệu đồng. Công tác hợp
tác quốc tế trong lĩnh vực GDNN cũng bắt đầu
được triển khai từ năm 2016 trong đào tạo thí điểm
theo chuẩn quốc tế trình độ cao đẳng do Úc, Pháp
và Đức [9].
và Đức chuyển giao: Vĩnh Phúc tham gia đào tạo
ở 05 nghề: Điện tử Công nghiệp; Công nghệ ô tô;
cắt gọt kim loại; Điện công nghiệp, Hàn. 100%
sinh viên tốt nghiệp có việc làm.
+ Đào tạo chương trình chất lượng cao: đào
tạo được 02 khóa đào tạo cho 236 sinh viên. Đầu
tư đồng bộ đến năm 2025 có 1 Trường cao đẳng
của Tỉnh nằm trong 70 trường được đánh giá,
công nhận chất lượng cao, tiếp cận trình độ các
nước ASEAN-4.
Tỉnh Vĩnh Phúc cũng đã có các chính sách hỗ
trợ người học giáo dục nghề nghiệp. Cụ thể, giai
đoạn 2016-2020 đã hỗ trợ đào tạo cho 5.498 lao
động nông thôn, kinh phí trên 20.941 triệu đồng.
Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo
và cán bộ quản lý cũng được quan tâm. Tổng số
các cơ sở GDNN trên địa bàn tỉnh năm 2020 có
1.966 giáo viên GDNN, trong đó trình độ trên Đại
học 672 người, chiếm 34,2%; Trình độ đại học
716 người, chiếm 36,4%. Đến nay, trên địa bàn
4.2. Dự báo nhu cầu lao động chất lượng cao
của các doanh nghiệp đến năm 2025
Theođịnh hướngphânluồng củatỉnh, hàng năm
dự báo có khoảng 2.000 học trung cấp, cao đẳng và
khoảng 6.000 học sinh theo học chương trình GDTX
cấp THPT + trung cấp ba năm (phân luồng học sinh
sau THCS đến năm 2025 đạt trên 40%).
Theo Sở Lao động-TB&XH dự báo nhu cầu
đào tạo lao động chất lượng cao trình độ trung cấp,
cao đẳng cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh
Vĩnh Phúc đến năm 2025 như sau:
49
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 19 (2021)
Bảng 2. Tổng hợp nhu cầu đào tạo lao động chất lượng cao trình độ trung cấp, cao đẳng
TT
Nghề đào tạo/Năm học
Trình độ
2021-2022 2022-2023 2023-2024 2024-2025 2025-2026 Tổng cộng
CĐ
16
0
TC CĐ TC CĐ TC CĐ TC CĐ TC CĐ
TC
48
32
0
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Điện công nghiệp
Điện tử công nghiệp
Công nghệ Ô tô
16
16
0
50
36
70
52
32
32
34
32
34
16
16
0
0
0
34
20
36
52
32
32
52
32
16
0
32
16
0
18
20
70
32
32
16
34
32
32
16
16
16
0
0
50
32
70
48
32
32
52
32
34
16
16
16
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
0
168
108
316
200
160
112
208
160
132
64
70
16
32
0
0
0
Cắt gọt kim loại
16
0
0
16
16
0
0
32
16
16
18
0
Hàn
0
0
Quản trị mạng máy tính
KT sửa chữa, LR máy tính
Cơ điện tử
0
0
16
0
36
32
16
16
0
0
18
0
0
0
0
0
KT máy lạnh và ĐH KK
0
0
16
0
0
16
0
10 Công nghệ KT cơ khí
11 Công nghệ KT điện, đtử
0
0
0
0
0
16
16
0
0
64
0
12 Công nghệ thông tin
Công nghệ KT điều khiển
13 và tự động hóa
16
16
16
0
0
64
32
15
16
0
0
15
16
16
0
0
0
15
16
16
0
0
0
15
16
16
0
0
0
15
16
16
0
0
0
0
75
80
80
0
0
0
14 Chăn nuôi thú y
15 Quản trị khách sạn
Tổng cộng
16
0
297
64
451 34 385 96 381 16 477
1991 210
Nguồn: Báo cáo công tác GDNN và nhu cầu lao động đào tạo nghề tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2020
2021: 8.580 người, giai đoạn 2022-2025: 34.320
người (bình quân 8.580 người/năm) [8].
4.3. Nhu cầu tuyển dụng lao động trong và ngoài
khu công nghiệp
Nhu cầu tuyển dụng lao động trong khu công
nghiệp năm 2021 và giai đoạn 2022-2025 của các
doanh nghiệp là 43.208 người. Cụ thể: Lao động
qua đào tạo có chuyên môn, kỹ thuật, tay nghề cao
năm 2021: 1.220 người, giai đoạn 2021-2025:
4.880 người (bình quân 976 người/năm). Lao
động phổ thông năm 2021: 12.776 người, giai
đoạn 2021-2025: 38.328 người (bình quân 7.666
người/năm). Nhu cầu này tập trung chủ yếu vào
các nhóm ngành/nghề Kỹ thuật điện, điện tử; Kỹ
thuật cơ khí; Máy tính và công nghệ thống tin
(chiếm hơn 60%) [9].
Nhu cầu tuyển dụng lao động ngoài khu công
nghiệp năm 2021 và giai đoạn 2022-2025 là
54.700 người. Trong đó năm 2021: 10.940 lao
động, giai đoạn 2022-2025: 43.760 người. Chia
theo trình độ: Lao động qua đào tạo có chuyên
môn, kỹ thuật, tay nghề cao năm 2021 2.360
người, giai đoạn 2022-2025: 9.440 người (bình
quân 2.360 người/năm). Lao động phổ thông năm
4.4. Kết quả khảo sát các về chủ trương, chính
sách phát triển
Các kết quả khảo sát chỉ ra người trả lời
phiếu điều tra thể hiện việc thực hiện chủ trương
về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở
mức khá cao. Về công tác quy hoạch và kế
hoạch, các ý kiến nhất trí khi tỉnh có chủ trương
kế hoạch về phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao mới mức đồng ý (4,02). Về công tác
thu hút, tuyển dụng nhân lực chất lượng cao
cũng thể hiện mức đồng ý cao (4,34), chính sách
đãi ngộ của tỉnh khá tốt (4.13). Tuy nhiên, kinh
phí đầu tư cho đào tạo thể hiện mức đồng ý thấp,
nguồn đầu tư cho đào tạo lao động chưa thật sự
tương xứng với mục tiêu đề ra (3,97).
4.5. Bàn luận kết quả đạt được, hạn chế và
nguyên nhân
4.5.1. Những kết quả đạt được
Trong nhiều năm qua, nhiều giải pháp phát
triển nguồn nhân lực đã được triển khai đồng bộ,
50
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 19 (2021)
tạo bước đột phá đáng kể về chất lượng nguồn
nhân lực của tỉnh, đặc biệt là nguồn nhân lực chất
lượng cao như:
Cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở
GDNN thuộc tỉnh chưa đáp ứng nhu cầu thực
hành, thực tập tay nghề của người học; đội ngũ
cán bộ, giáo viên các trung tâm GDNN-GDTX
của tỉnh hiện nay còn thiếu, kỹ năng nghề thấp; sự
gắn kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp và doanh
nghiệp trên địa bàn tỉnh chưa chặt chẽ, nhiều
doanh nghiệp chủ yếu tuyển dụng lao động phổ
thông và đào tạo theo yêu cầu vị trí công việc.
Chất lượng nguồn nhân lực trong các doanh
nghiệp còn ở mức thấp, số lao động có trình độ
trung cấp và cao đẳng nghề còn ít; số lượng lao
động qua đào tạo còn hạn chế, thiếu một số kỹ
năng theo yêu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp,
tác phong công nghiệp chưa cao. Trình độ ngoại
ngữ của lao động trên địa bàn tỉnh chưa cao nên
gặp nhiều khó khăn trong quá trình chuyển giao
công nghệ và sản xuất đặc biệt là trong các doanh
nghiệp có vốn nước ngoài.
Các mục tiêu cơ bản của giáo dục phổ thông
luôn đạt ở mức cao: Mục tiêu nâng cao dân trí,
chất lượng giáo dục toàn diện, giáo dục đại trà có
chuyển biến tích cực; số lượng, chất lượng học
sinh giỏi ổn định ở mức cao so với các tỉnh, thành
phố trong cả nước; học sinh Vĩnh Phúc có mặt ở
tất cả các sân chơi trí tuệ cấp quốc gia, khu vực
quốc tế và luôn đạt thứ hạng cao, nhiều học sinh
đạt huy chương trong các kỳ thi Olympic khu vực
và quốc tế.
Chất lượng GDNN dần được nâng cao. Mạng
lưới các cơ sở GDNN trên địa bàn tỉnh tương đối đa
dạng về loại hình, trình độ, ngành nghề đào tạo.
Công tác tuyển sinh, đào tạo sơ cấp, trung cấp, cao
đẳng thực hiện linh hoạt với nhiều hình thức phong
phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu học nghề của người
lao động . Đội ngũ nhà giáo phát triển cả về số lượng
và chất lượng từng bước được chuẩn hóa. Cơ sở vật
chất, thiết bị đào tạo từng bước được quan tâm đầu
tư đầu tư tương đối đồng bộ. Qua 5 năm (2016-
2020) số lao động trong doanh nghiệp qua đào tạo
được cấp bằng, chứng chỉ sơ cấp tăng rõ rệt.
4.5.3. Nguyên nhân của tồn tại, hạn chế
Thứ nhất, công tác quy hoạch và dự báo nhu
cầu nhân lực chất lượng cao vẫn còn chưa sát với
nhu cầu thực tế. Trong đó cần thiết có các khảo sát
chính thức hàng năm để đưa ra các dự báo chính
xác về nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tiếp đó, công tác quy hoạch các cơ sở đào tạo
nghề chất lượng cao vẫn chưa xác định rõ để có
phương hướng đầu tư nguồn lực dài hạn và đồng
bộ để nâng cấp cả về cơ sở vật chất, về nhân lực.
Thứ hai, nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất phục
vụ đào tạo tại các cơ sở đào tạo chất lượng cao
bước đầu đã được cải thiện, tuy nhiên, các nguồn
lực đầu tư cần phải có trọng điểm và đồng bộ hoàn
chỉnh cho các cơ sở đào tạo nghề trình độ cao. Do
chưa có chiến lược đầu tư đồng bộ để tạo ra các
cơ sở đào tạo chất lượng cao ngang tầm cả nước
và khu khu vực nên chưa có bước chuyển mạnh
mẽ cả về chương trình đào tạo, về trình độ giáo
viên và cơ sở vật chất để đáp ứng được yêu cầu
của nhân lực trình độ cao nhất là trong bối cảnh
công nghiệp 4.0 hiện nay.
Các Trung tâm dịch vụ việc làm được quan
tâm đầu tư, nâng cao năng lực và thực hiện có hiệu
quả trong công tác tư vấn, giới thiệu việc làm,
cung cấp thông tin thị trường lao động; thực hiện
các chương trình, dự án việc làm và tổ chức thực
hiện tốt chính sách bảo hiểm thất nghiệp.
4.5.2. Những tồn tại, hạn chế
Tỉ lệ lao động của tỉnh Vĩnh Phúc hiện đang
thấp hơn tỷ lệ trung bình của cả nước (khoảng
56% so với 65% cả nước) và có xu hướng giảm
dần qua các năm; Số lượng học sinh sau khi tốt
nghiệp THPT không học tiếp lên trình độ cao hơn
trong giai đoạn 2016-2020 còn chiếm tỷ lệ thấp và
trung bình chỉ có 10,59%; Các cơ sở GDNN chưa
phân bố hợp lý giữa các địa phương, hiện tập trung
chủ yếu tại thành phố Vĩnh Yên, thành phố Phúc
Yên, một số huyện chưa có hoặc có ít cơ sở
GDNN không thuận lợi cho việc học nghề của
người dân. Trung tâm GDNN - GDTX cấp huyện
được giao nhiệm vụ đào tạo nghề trình độ sơ cấp
và dưới 3 tháng tuy nhiên hoạt động chưa hiệu
quả. Hoạt động tuyển sinh của các cơ sở GDNN
cũng còn hạn chế, với tỷ lệ tuyển sinh đạt mức
60,3% so với quy mô có thể đào tạo.
Thứ ba, để phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao đáp ứng các yêu cầu của doanh nghiệp
thì cần có thêm các chính sách phù hợp hơn.
Thứ tư, hoạt động của các trung tâm giới
thiệu việc làm chưa phát huy được hết vai trò
trong việc kết nối giữa cơ sở đào tạo và các doanh
nghiệp, cung cấp thông tin về nhu cầu nhân lực để
từ đó có làm cơ sở cho công tác quy hoạch và dự
51
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 19 (2021)
báo sát với thực tế. Hoạt động khảo sát các doanh
nghiệp về nhu cầu nhân lực chất lượng cao cũng
đã được thực hiện nhưng kết quả chưa thật sự sát
với thực tế.
địa bàn tỉnh và chính sách giải quyết việc làm cho
người đào tạo chất lượng cao là người tỉnh Vĩnh
Phúc; các chính sách thu hút nguồn nhân lực chất
lượng cao từ các tỉnh khác đến với Vĩnh Phúc, đặc
biệt là nguồn nhân lực trình độ cao cho các cơ sở
dạy nghề trọng điểm đã được quy hoạch.
Thứ năm, việc kiểm định, đánh giá chất
lượng dịch vụ cung cấp nguồn nhân lực cũng như
quy chuẩn đánh giá nhân lực chất lượng cao chưa
thực sự thống nhất và hiệu quả chưa cao, các tiêu
chuẩn đánh giá chất lượng chưa có quy định
chuẩn, nặng về số lượng, thiếu quan tâm đến chất
lượng nguồn nhân lực. Việc đánh giá chất lượng
vẫn mang tính nội bộ, thiếu các tổ chức kiểm định
độc lập có sự đánh giá hiệu quả chất lượng nguồn
nhân lực để từ đó có các giải pháp cải tiến nâng
cao chất lượng nguồn lực. Hoạt động này cũng
chưa có sự đối sánh với các địa phương khác để
từ đó đưa ra các giải pháp mang tính đột phá cho
tỉnh Vĩnh Phúc.
5.2. Về tuyên truyền định hướng về đào tạo và
tuyển dụng lao động
Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao
nhận thức của cán bộ, đảng viên, công chức, viên
chức và nhân dân trên địa bàn tỉnh về vai trò, tầm
quan trọng của phát triển nguồn nhân lực chất lượng
caotrong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tuyên
truyền về chủ trương của tỉnh về định hướng phân
luồng theo kế hoạch của Thủ tướng Chính phủ và
của tỉnh tới học sinh THCS, THPT và người lao
động, về chính sách của trung ương và của tỉnh về
đào tạo, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao;
tuyên truyền ngành nghề, lĩnh vực, vị trí có nhu cầu
tuyển dụng lao động, lao động chất lượng cao và
xuất khẩu lao động, các tiêu chuẩn tuyển dụng, các
chế độ đãi ngộ và công khai điều kiện để có được
các cơ hội đào tạo, thăng tiến. Tăng cường giới thiệu
các thành tựu phát triển kinh tế-xã hội, văn hóa địa
phương, triển vọng phát triển trong tương lai của
doanh nghiệp, của địa phương, mở rộng quảng bá
hình ảnh về môi trường sống tốt và điều kiện làm
việc thuận lợi; về những đối tượng thu hút đã thành
công và có đóng góp thiết thực vào sự nghiệp phát
triển của tỉnh.
5. Một số giải pháp phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2021-
2025, định hướng đến năm 2030
5.1. Về chủ trương, chính sách về đào tạo
nguồn nhân lực chất lượng cao
Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực
chất lượng cao. Trên cơ sở những mục tiêu cơ bản
của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm
2025 và định hướng đến năm 2030 của tỉnh Vĩnh
Phúc [8], cần xây dựng chiến lược về nguồn nhân
lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu với từng giai
đoạn về những tiêu chí cơ bản: số lượng nguồn nhân
lực chất lượng cao cần có, cơ cấu lao động chất
lượng cao giữa các ngành nghề, trong đó chất lượng
nguồn nhân lực được đào tạo là yêu cầu quan trọng
nhất. Đẩy mạnh hoạt động quảng bá thông tin trên
thị trường lao động, đồng thời dự báo được nhu cầu
nhân lực cho nền kinh tế của tỉnh. Khi có định hướng
chiến lược sẽ tập trung nguồn lực đầu tư, tránh việc
đầu tư dàn trải kém hiệu quả và không có sự chuyển
biến thật sự về chất.
Xây dựng hệ thống chính sách phát triển
nguồn nhân lực chất lượng cao. Rà soát, sửa đổi,
bổ sung các cơ chế chính sách mà tỉnh đã ban
hành, đồng thời tập trung xây dựng một số chính
sách mới, tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích
phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Tham
mưu, trình Tỉnh ủy, HĐND tỉnh ban hành chính
sách đặc thù (Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng giáo viên,
đầu tư thiết bị đào tạo…) trong đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao cho các cơ sở GDNN trên
5.3. Về công tác đào tạo
Thực hiện quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo
dục nghề nghiệp, ngành nghề đào tạo theo quy
hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp do
Chính phủ ban hành và định hướng phát triển kinh
tế xã hội theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần
thứ XVII nhiệm kỳ 2020-2025; Quy hoạch mạng
lưới các cơ sở đào tạo nhân lực chất lượng cao đạt
chuẩn đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp.
Trong giai đoạn 2021-2025, tập trung đầu tư hoàn
chỉnh cho 1-2 cơ sở trọng điểm đạt chuẩn chất
lượng cao. Trong giai đoạn 2025-2030, tiếp tục
lựa chọn từ 1-2 cơ sở đào tạo các nhóm ngành
khác để tập trung nâng cấp cơ sở vật chất, chương
trình đào tạo và nhân lực để nâng cao chất lượng.
Các đơn vị được quy hoạch sẽ được đầu tư để đổi
mới nội dung, chương trình đào tạo; đầu tư cơ sở
vật chất giai đoạn 2021-2025; đầu tư kinh phí bồi
dưỡng nâng cao năng lực của cán bộ giáo viên, thu
52
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 19 (2021)
hút các cán bộ giảng dạy có trình độ cao thuộc các
lĩnh vực trọng điểm về công tác tại các đơn vị
được quy hoạch bằng các chính sách thu hút nhân
tài của tỉnh.
tin, doanh nghiệp trên địa bàn, kết nối trực tuyến
với sàn giao dịch việc làm vào các ngày tổ chức
Sàn tại trụ sở chính.
5.5. Về nguồn lực đầu tư
Trong giai đoạn 2021-2025, có chính sách hỗ
trợ người học như cấp học bổng cho những học
sinh khá, giỏi vào học tại các cơ sở đào tạo nghề
được quy hoạch để thu hút nhóm học sinh phổ
thông có học lực khá, giỏi vào học theo nội dung
và chương trình đào tạo mới được nâng cấp. Sau
khi tốt nghiệp những học sinh này sẽ được hỗ trợ
tìm kiếm việc làm thông qua các trung tâm giới
thiệu việc làm của tỉnh.
Về kiểm định chất lượng các cơ sở đào tạo
chất lượng cao, bên cạnh việc đầu tư cơ sở vật chất
thì cần có sự kiểm soát chất lượng đầu ra. Tốt nhất
nên mời các đơn vị kiểm định độc lập để đánh giá
về mức độ đạt chuẩn của lao động tại các cơ sở
đào tạo nghề chất lượng cao để đảm bảo tính
khách quan và nâng dần vị thế của các cơ sở này
trong vấn đề tuyển sinh.
Ưu tiên nguồn lực đầu tư và dành nguồn lực
ngân sách đáng kể cho các cơ sở đào tạo chất
lượng cao đạt chuẩn đã được quy hoạch, đầu tư
đồng bộ để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
theo yêu cầu. Huy động nguồn lực từ ngân sách
nhà nước, nguồn xã hội hóa, để đầu tư phát triển
Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh có đủ năng lực
hoạt động, tạo cơ hội cho người lao động, cơ sở
giáo dục nghề nghiệp và doanh nghiệp được tiếp
cận thông tin thị trường lao động. Huy động và thu
hút mọi nguồn lực trong và ngoài tỉnh vào việc
đào tạo đội ngũ những người lao động có tay nghề
cao; huy động các nguồn lực tài trợ của tổ chức
quốc tế, các doanh nghiệp hỗ trợ đào tạo, bồi
dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật và
tay nghề nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp trên
địa bàn tỉnh.
5.4. Về tư vấn, dịch vụ và giải quyết việc làm
Tiếp tục ban hành chính sách của tỉnh về hỗ
trợ chi phí, hỗ trợ vay vốn trong giải quyết việc làm,
từ đó khuyến khích, tạo điều kiện, giúp cho người
lao động giảm được áp lực về kinh tế, có điều kiện
đi làm việc ở nước ngoài hoặc tự tạo việc làm tại
chỗ, nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống. Đẩy
mạnh hoạt động tư vấn, giới thiệu việc làm của các
trung tâm dịch vụ việc làm, doanh nghiệp có chức
năng giới thiệu việc làm. Đẩy mạnh các hoạt động
dịch vụ việc làm, cung cấp các dịch vụ việc làm có
chất lượng cao theo nhu cầu, nhằm thu hút thêm
các nguồn vốn từ doanh nghiệp, người sử dụng lao
động và người lao động; phát triển thị trường lao
động nội địa. Phát huy vai trò của các trung tâm
dịch vụ giới thiệu việc làm trong việc kết nối với
các doanh nghiệp từ việc dự báo nhu cầu và yêu
cầu đào tạo nhân lực cũng như việc kết nối khuyến
khích các doanh nghiệp tham gia vào quá trình đào
tạo tại các trường nghề chất lượng cao của tỉnh
thông qua các chương trình như tài trợ đầu tư cơ sở
vật chất, thiết bị thực hành thí nghiệm, cấp học
bổng cho sinh viên, tham gia một số khâu của quá
trình đào tạo. Mở các điểm Văn phòng đại diện tại
các huyện, thành phố, khu công nghiệp lớn trên địa
bàn tỉnh, làm đầu mối để thực hiện công táctư vấn
giới thiệu việc làm và học nghề, tiếp nhận giải
quyết chế độ bảo hiểm thất nghiệp, thu thập thông
6. Kết luận
Để đảm bảo nguồn nhân lực chất lượng cao
cho các doanh nghiệp trên địa bàn, thời gian vừa
qua tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai nhiều biện pháp
trong đó tập trung vào công tác đào tạo và thu
được những kết quả đáng khích lệ. Từ những
đánh giá về thực trạng công tác đào tạo nguồn
nhân lực chất lượng cao trong giáo dục nghề
nghiệp đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2020,
nghiên cứu đã đề xuất các nhóm giải pháp về chủ
trương, chính sách cho đào tạo nguồn nhân lực
chất lượng cao; nhóm giải pháp về tuyên truyền
định hướng đào tạo và tuyển dụng lao động;
nhóm giải pháp về đào tạo; nhóm giải pháp về tư
vấn, dịch vụ và giải quyết việc làm và nhóm giải
pháp về nguồn lực nhằm hoàn thiện công tác này
trong thời gian tới. Cộng đồng cùng các cấp
chính quyền địa phương cần cùng nhau thực hiện
các nhóm giải pháp này nhằm xây dựng nguồn
nhân lực chất lượng cao đảm bảo đủ về số lượng;
có cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn phù
hợp; có năng lực, kỹ năng nghề nghiệp, trình độ
ngoại ngữ, tin học, đáp ứng yêu cầu của các
doanh nghiệp trong phục vụ phát triển kinh tế -
xã hội của địa phương trong bối cảnh cuộc cách
mạng 4.0 và hội nhập quốc tế.
53
Chuyên mục: Quản trị - Quản lý - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 19 (2021)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. BCH Đảng Bộ tỉnh Vĩnh Phúc. (2019). Nghị quyết số 10 – NQ/TU ngày 20 tháng 11 năm 2019 của
ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về xây dựng đội ngũ trí thức và trọng dụng nhân tài tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn
2020-2025.
[2]. Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội. (2018). Thông tư số 21/2018/TT-LĐTBXH Quy định tiêu chí
xác định chương trình chất lượng cao trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng.
[3]. Lê Thị Hồng Điệp. [2010]. Phát triển NNL CLC để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam. Luận
án tiến sĩ Kinh tế.
[4]. Hoàng Văn Châu. [2009]. Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho hội nhập kinh tế - vấn đề
[5]. Phạm Minh Hạc. (1996). Vấn đề con người trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội.
[6]. Phạm Thị Khanh. (2007). Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh
tế quốc tế, Nxb Lao động và xã hội, Hà Nội.
[7]. Lê Văn Kỳ. (2018). Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ngành công nghiệp tỉnh Thanh Hóa.
Luận án tiến sỹ. Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh7
[8]. Sở Giáo dục Vĩnh Phúc. (2016-2020). Báo cáo công tác giáo dục phổ thông năm học 2016-2017 đến
năm học 2020-2021 tỉnh Vĩnh Phúc.
[9]. Hair J., F., Babin, B. J. và Anderson R. E. (2019). Multivariate Data Analysis, Cengage publisher
(2019).
[10]. Sở Lao động-Thương binh và Xã hội Vĩnh Phúc. (2016-2020). Báo cáo công tác GDNN và nhu cầu
lao động đào tạo nghề tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2016-2020.
[11]. Nguyễn Trung. (2012). Suy nghĩ về phát triển nguồn nhân lực ở nước ta. Truy cập: http://www.viet-
studies.info/NguyenTrung/NTrung_GiaoDuc.htm
[12]. Văn phòngTrung ương Đảng. (2011). Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia.
[13]. Văn phòng Trung ương Đảng. (2021). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng,
NXB Chính trị quốc gia.
Ngày nhận bài: 14/9/2021
Thông tin tác giả:
Ngày nhận bản sửa: 17/12/2021
1. Nguyễn Việt Phương
- Đơn vị công tác: Sở Khoa học và Công nghệ Vĩnh Phúc – Tỉnh Vĩnh Phúc Ngày duyệt đăng: 30/12/2021
2. Phạm Thị Thanh Mai
- Đơn vị công tác: Trường Đại học Kinh tế & QTKD
54
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giai_phap_phat_trien_nguon_nhan_luc_chat_luong_cao_dap_ung_n.pdf

