Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng kinh doanh sản phẩm nông nghiệp hữu cơ của các nhà án trên địa bàn nội thành Hà Nội

MỘT SỐ NH N TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ S N SÀNG KINH DOANH  
SẢN PHẨM N NG NGHIỆP HỮU CƠ CỦA CÁC NHÀ  ÁN    
TR N ĐỊA  ÀN NỘI THÀNH HÀ NỘI  
PGS.TS. Tr  ng Đ nh Chi n  
Trường Đại học  inh tế  uốc d n  
T M TẮT  
Phát triển sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp hữu cơ (SPNNHC) là yêu cầu tất yếu  
của ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng. Để phát triển nông nghiệp hữu cơ,  
tất yếu cần phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm. Bán lẻ là khâu cuối cùng của chuỗi cung ứng tới  
khách hàng, hoạt động của các nhà bán lẻ trực tiếp thuyết phục họ mua và tiêu thụ sản phẩm. Vì  
vậy, cần có các giải pháp hiệu quả để thúc đẩy các nhà bán lẻ kinh doanh các SPNNHC. Bài viết  
này sử dụng kết quả khảo sát 127 nhà bán lẻ trên địa bàn Hà Nội nhằm mục đích: (1) đánh giá mức  
độ sẵn sàng chấp nhận kinh doanh SPNNHC của các nhà bán lẻ trên địa bàn nội thành Hà Nội; (2)  
đánh giá chiều hướng và mức độ tác động của một số các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận  
kinh doanh SPNNHC của các nhà bán lẻ; (3) đề xuất một số giải pháp thúc đẩy kinh doanh  
SPNNHC của các nhà bán lẻ trên thị trường nội thành Hà Nội.  
Từ khóa: cửa hàng bán l , sự s n sàng kinh doanh, nhận thức về kinh doanh SPNNHC,  
ngu n cung SPNNHC  
ABSTRACT  
Development of production and consumption of organic agricultural products is an  
indispensable requirement of the agricultural sector of Vietnam in general and Hanoi in particular.  
In order to develop organic agriculture, it is essential to develop markets for the products. Retail is  
the last stage of the supply chain to customers, and the retailers' activities directly persuade them to  
buy and sell products. Therefore, effective solutions are needed to motivate retailers to trade in  
organic agricultural products. This article uses the survey results of 127 retailers in Hanoi to: (1)  
evaluate the willingness to accept selling organic agricultural products of retailers in Hanoi city; (2)  
assess the trend and the impact level of factors affecting the behavior of accepting selling organic  
agricultural products of retailers; (3) proposing some solutions to promote selling organic  
agricultural products of retailers in Hanoi inner city market.  
1. GIỚI THIỆU VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
Để phát triển bền vững, nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang chuyển dịch sản xuất nông  
nghiệp sang nông nghiệp hữu cơ. Nông nghiệp hữu cơ là phương pháp sản xuất nhằm phát triển các  
hệ thống sản xuất bền vững về mặt môi trường và kinh tế với sự nhấn mạnh vào việc sử dụng các  
nguồn tài nguyên tái tạo tại địa phương và sử dụng tối thiểu đầu vào. Thực trạng ngành nông nghiệp  
nước ta trong thời gian dài vừa qua chủ yếu là sản xuất theo hướng vô cơ, lạm dụng phân hóa học,  
thuốc trừ sâu làm cho nhiều sản phẩm nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu vệ sinh an toàn thực phẩm  
và môi trường bị ô nhiễm. Vì vậy, phát triển sản xuất kinh doanh các SPNNHC đảm bảo cung cấp  
được các sản phẩm cho sức khỏe con người và bảo vệ môi trường là xu hướng phát triển bền vững  
19  
của ngành nông nghiệp Việt Nam nói chung và Hà Nội nói riêng. Việt Nam đã quan tâm đến phát  
triển sản xuất và tiêu thụ SPNNHC trong những năm qua nhưng kết quả đạt được còn rất khiêm tốn.  
Thủ đô Hà Nội là thành phố lớn với hơn 4 triệu dân sống trong nội thành và đang trong quá  
trình đô thị hóa mạnh mẽ, chắc chắn là thị trường tiêu thụ tiềm năng lớn cho các sản phẩm nông  
nghiệp có chất lượng cao, đặc biệt là các SPNNHC. Tuy nhiên, trên thực tế, số lượng SPNNHC tiêu  
thụ trên thị trường Hà Nội còn rất hạn chế. Vấn đề then chốt là người tiêu dùng chưa tin tưởng vào  
nguồn gốc và chất lượng của các sản phẩm nông nghiệp gắn nhãn mác hữu cơ. Trên địa bàn nội  
thành Hà Nội, đại đa số các cửa hàng kinh doanh nông sản thông thường, trong khi số lượng các  
cửa hàng kinh doanh SPNNHC còn tương đối ít và quy mô kinh doanh nhỏ. Các SPNNHC hiện  
mới được bán trong một số cửa hàng/siêu thị nông sản thực phẩm như: BigC, Coopmart và một số  
chuỗi cửa hàng như Vinmart+, Bác Tôm…  
Để thúc đẩy sản xuất SPNNHC cần có các chuỗi cung ứng SPNNHC được tổ chức tốt và hoạt  
động hiệu quả. Trong đó, thành viên quan trọng của chuỗi là các tổ chức bán lẻ hàng nông sản phải  
tích cực tham gia kinh doanh SPNNHC, họ là khâu cuối cùng của chuỗi cung ứng, hoạt động của họ  
trực tiếp thuyết phục người tiêu dùng mua và tiêu thụ các sản phẩm này. Rõ ràng là càng nhiều các  
nhà kinh doanh bán lẻ nông sản thực phẩm trên địa bàn Hà Nội chuyển đổi hoạt động kinh doanh từ  
các sản phẩm nông nghiệp thông thường sang kinh doanh SPNNHC, sẽ càng thúc đẩy người tiêu  
dùng nội thành Hà Nội tiêu thụ SPNNHC. Vì vậy, rất cần nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến sự  
sẵn sàng kinh doanh SPNNHC của các cửa hàng bán lẻ trên địa bàn Hà Nội, qua đó đề xuất các giải  
pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh SPNNHC của các nhà bán lẻ.  
2. CƠ SỞ L  THU ẾT VỀ CÁC NH N TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI CHẤP NHẬN  
KINH DOANH CÁC SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ  
Các nhà bán lẻ nông sản thực phẩm trên thị trường bao gồm: các siêu thị, các cửa hàng  
chuyên kinh doanh nông sản thực phẩm và các hộ kinh doanh bán lẻ tại các chợ. Hoạt động kinh  
doanh của các cửa hàng bán lẻ tác động đến hành vi mua và tiêu dùng SPNNHC của người tiêu  
dùng. Quyết định kinh doanh của nhà bán lẻ chịu tác động của nhiều nhân tố, bao gồm các nhân tố  
thuộc nội tại nhà kinh doanh và các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài (Gopal Das, 2014). Các  
nhân tố nội tại bao gồm nhận thức và quan điểm của người bán lẻ về hoạt động kinh doanh. Các  
nhân tố bên ngoài bao gồm môi trường xung quanh và điều kiện về nguồn cung ứng hàng hóa. Các  
nghiên cứu đã có cũng đã chỉ ra các nhân tố bên trong và bên ngoài đó cũng tác động đến quyết  
định của các nhà bán lẻ lựa chọn nhóm hàng hóa kinh doanh. Các nhà bán lẻ nông sản thực phẩm  
đang kinh doanh nhiều mặt hàng từ nhiều nguồn cung cấp khác nhau. Trong quá trình kinh doanh,  
nhà bán lẻ phải ra quyết định lựa chọn các nhóm hàng và các mô hình kinh doanh. Việc chấp nhận  
chuyển sang kinh doanh nhóm SPNNHC là sự chuyển đổi mô hình và mặt hàng kinh doanh căn  
bản. Quyết định này đòi hỏi sự cân nhắc cẩn thận của nhà bán lẻ trên nhiều khía cạnh khác nhau. Sự  
sẵn sàng kinh doanh các SPNNHC là trạng thái trong suy nghĩ của nhà bán lẻ thúc đẩy hành động  
chuyển đổi hoạt động kinh doanh của họ sang tập trung kinh doanh SPNNHC hoặc chuyển hẳn sang  
chỉ kinh doanh SPNNHC. Các nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra sự sẵn sàng kinh doanh SPNNHC của  
nhà bán lẻ, tương tự như hành vi của các nhà bán lẻ nói chung, tất nhiên, chịu tác động của nhiều  
nhân tố ảnh hưởng khác nhau, bao gồm cả các yếu tố như nhận thức của họ về SPNNHC và kinh  
doanh nhóm sản phẩm này và các yếu tố môi trường bên ngoài bao gồm ảnh hưởng của những  
người kinh doanh khác và nguồn cung sản phẩm.  
20  
Trên cơ sở hiểu biết các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến hành vi kinh doanh của các nhà bán lẻ  
nói chung và bán lẻ nông sản nói riêng đã được nhiều nghiên cứu đã có chỉ ra, để lựa chọn nghiên  
cứu các nhân tố tác động đến đến sự sẵn sàng kinh doanh SPNNHC của các nhà bán lẻ trên địa bàn  
Hà Nội, tác giả đã thực hiện nghiên cứu định tính bằng phỏng vấn sâu một số nhà bán lẻ thực phẩm  
trên địa bàn Hà Nội để thu nhận ý kiến, quan điểm của họ về các nhân tố này. Đã có năm nhà bán lẻ  
đang kinh doanh chuỗi cửa hàng bán lẻ nông sản sạch và SPNNHC như chuỗi Bác Tôm, Sói Biển,  
được phỏng vấn trực tiếp để tìm ra một số nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận kinh doanh  
SPNNHC hoặc chuyển đổi sang kinh doanh nhóm sản phẩm này của họ. Kết quả nghiên cứu định  
tính đã xác định cụ thể trong nghiên cứu này tập trung vào các nhân tố tác động tới sự sẵn sàng kinh  
doanh nông sản hữu cơ, bao gồm: nhận thức về nông sản hữu cơ, nhận thức về kinh doanh nông sản  
hữu cơ, trách nhiệm đối với người tiêu dùng, ảnh hưởng của môi trường xung quanh, ảnh hưởng  
của nguồn cung cấp nông sản hữu cơ.  
Nhận thức về SPNNHC của các nhà bán lẻ thể hiện ở các kiến thức và hiểu biết của họ về  
nhóm sản phẩm này bao gồm từ chất lượng sản phẩm, giá trị lợi ích mang lại cho người tiêu dùng,  
nguồn gốc sản phẩm, các quy định pháp lý về chứng nhận sản phẩm,… Các vấn đề nhận thức này  
tác động đến hành vi sẵn sàng kinh doanh nhóm sản phẩm này của nhà bán lẻ.  
Vì vậy, giả thuyết H1 là nhà bán lẻ càng có nhận thức đầy đủ về SPNNHC, họ càng sẵn sàng  
kinh doanh nhóm sản phẩm này.  
Nhận thức về kinh doanh SPNNHC bao gồm kiến thức của nhà bán lẻ về các điều kiện kinh  
doanh nhóm sản phẩm này, về phương thức kinh doanh, tiềm năng thị trường, những thuận lợi và  
khó khăn trong kinh doanh, kết quả kinh doanh có thể mang lại,… Nhận thức về kinh doanh  
SPNNHC có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi sẵn sàng kinh doanh nhóm sản phẩm này.  
Giả thuyết H2 là nhà bán lẻ càng nhận thức về kinh doanh SPNNHC càng cao, họ càng sẵn  
sàng kinh doanh nhóm sản phẩm này.  
Trách nhiệm của người kinh doanh đối với khách hàng thể hiện qua sự quan tâm của họ đối  
với sức khỏe, lợi ích của người tiêu dùng khi họ mua các sản phẩm do họ kinh doanh. Khi nhà bán  
lẻ quan tâm đến lợi ích của người tiêu dùng, họ sẽ chuyển sang kinh doanh các sản phẩm mang lại  
lợi ích thật sự cho khách hàng của họ.  
Giả thuyết H3 là nhà bán lẻ càng có trách nhiệm với lợi ích của người tiêu dùng, họ càng sẵn  
sàng kinh doanh các SPNNHC.  
Hoạt động kinh doanh của các cửa hàng bán lẻ nông sản thực phẩm tất nhiên luôn chịu tác  
động bởi các nhân tố môi trường bên ngoài. Các yếu tố môi trường xung quanh bao gồm hoạt động  
của các nhà bán lẻ khác, thái độ và ý kiến của các khách hàng, các thông tin trên các phương tiện  
truyền thông về các mặt hàng họ đang kinh doanh, các chính sách và hoạt động của các cơ quan  
quản lý nhà nước đối với nhóm hàng nông sản thực phẩm.  
Giả thuyết H4 là môi trường bên ngoài đối với hoạt động kinh doanh SPNNHC càng thuận  
lợi, nhà bán lẻ càng sẵn sàng kinh doanh nhóm sản phẩm này.  
Nguồn cung ứng các SPNNHC bao gồm sự sẵn có của nguồn hàng, chất lượng sản phẩm và  
uy tín của các nhà cung cấp, sự ổn định của nguồn cung,… tất nhiên là những nhân tố ảnh hưởng  
trực tiếp đến sự sẵn sàng kinh doanh nhóm SPNNHC. Vì vậy, giả thuyết H5 là nguồn cung cấp  
SPNNHC càng đảm bảo, nhà bán lẻ càng sẵn sàng kinh doanh nhóm sản phẩm này.  
21  
Nhận thức về nông sản  
Nhận thức về kinh doanh  
H1  
H2  
Sự sꢀn sꢁng  
kinh doanh  
nông sꢂn  
hữu cơ  
H3  
H4  
Trꢀch nhiꢁm đꢂi vꢃi  
ngưꢄi tiêu dꢅng  
ꢆnh hưꢇng cꢈa môi trưꢄng  
xung quanh  
H5  
ꢆnh hưꢇng cꢈa nguꢉn cung  
cấp nông sản hꢊu cơ  
H nh 1. Mô h nh nghiên cứu  
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Để đo lường tác động của các nhân tố tới sự sẵn sàng kinh doanh SPNNHC, nhóm nghiên cứu  
thực hiện khảo sát bảng hỏi một mẫu các nhà bán lẻ nông sản thực phẩm trên địa bàn Hà Nội. Mục  
đích của nghiên cứu định lượng nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng, tìm ra chiều hướng và mức  
độ ảnh hưởng tới sự sẵn sàng kinh doanh SPNNHC của các cửa hàng bán lẻ nông sản thực phẩm  
trên địa bàn Hà Nội. Bảng hỏi được hình thành dựa trên các thang đo các biến đã được tìm thấy qua  
thực hiện nghiên cứu định tính. Các thang đo từng nhân tố tác động được hình thành phỏng vấn trực  
tiếp một số nhà bán lẻ và qua thảo luận nhóm các nhà bán lẻ nông sản thực phẩm trên địa bàn nội  
thành Hà Nội. Bảng hỏi được kiểm tra qua ý kiến của các chuyên gia nghiên cứu marketing trước  
khi được sử dụng để khảo sát các cửa hàng bán lẻ.  
Nhóm nghiên cứu đã thực hiện khảo sát 200 cửa hàng bán lẻ trên địa bàn nội thành Hà Nội. Tổng  
số bảng hỏi thu được là 148, chiếm tỷ lệ 74%; số bảng hỏi đủ điều kiện phân tích là 127. Công tác kiểm  
soát bảng hỏi điều tra thu về được thực hiện trong suốt quá trình khảo sát các cửa hàng bán lẻ.  
Kết quả sàng lọc cho biết số lượng quan sát đủ điều kiện để tiến hành phân tích và kiểm định  
là 127 bảng hỏi. Theo Hair và cộng sự (1998), số lượng quan sát này đáp ứng điều kiện về cỡ mẫu  
tối thiểu để phân tích nhân tố khám phá và phân tích hồi quy bội, phân tích mô hình cấu trúc (SEM)  
trong đề tài. Trong 127 cơ sở bán lẻ được khảo sát có 113 cửa hàng bán lẻ chiếm 89%, 10 quầy bán  
lẻ ở chợ chiếm 7,9%, 4 siêu thị chiếm 3,1%.  
Dữ liệu nghiên cứu được thu thập sau đó được làm sạch và đưa vào phân tích bằng phần mềm  
SPSS. Đầu tiên, các thang đo được kiểm định độ phù hợp bằng kiểm định EF , sau đó kiểm định độ  
tin cậy bằng Cronbach  lpha. Cuối cùng mô hình được phân tích bằng phương pháp hồi quy bội để  
đánh giá tác động cũng như chiều hướng và mức độ các biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc.  
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
4.1. Thống kê mô tả các nhân tố tác động đ n sự sẵn sàng kinh doanh nông sản hữu c  của  
ng ời bán lẻ  
Theo Bảng 1, với số hộ khảo sát n = 127, giá trị trung bình của yếu tố nhận thức về nông  
nghiệp hữu cơ, nhận thức về kinh doanh nông nghiệp hữu cơ, trách nhiệm đối với người tiêu dùng,  
22  
ảnh hưởng của môi trường xung quanh, ảnh hưởng của nguồn cung cấp nông nghiệp hữu cơ, sự sẵn  
sàng kinh doanh nông nghiệp hữu cơ và những vấn đề trở ngại trong kinh doanh SPNNHC đều lớn  
hơn 3,19.  
Bảng 1. Các y u tố tác động đ n sự sẵn sàng kinh doanh nông sản hữu c  
của ng ời bán lẻ sản phẩm nông nghiệp  
Tên  
Số hộ  
Trung Độ lệch  
Mô tꢂ  
GTNN GTLN  
biến  
khꢂo sát  
bình  
chuẩn  
Nhận thức về nông sꢂn hữu cơ  
NS1 Tôi  i t r  về nông sản hꢊu cơ v  cꢀch thức sản xuất nông sản  
127  
127  
127  
1
2
2
5
5
5
3.56  
3.91  
4.12  
.861  
.702  
.697  
hꢊu cơ  
NS2  ông sản hꢊu cơ ch c ch n tꢂt cho sức  h e ngưꢄi dꢅng  
NS3  ông sản hꢊu cơ phải c  Chứng nhận hꢊu cơ cꢈa cơ quan c  
th m quyền  
NS4  ông sản hꢊu cơ phải truy xuất đư c nguꢉn gꢂc  
127  
127  
3
2
5
5
4.16  
3.61  
.623  
.703  
NS5 C  th  ph n  iꢁt đư c nông sản hꢊu cơ vꢃi nông sản thưꢄng  
Nhận thức về kinh doanh nông sꢂn hữu cơ  
KD1  ông sản hꢊu cơ c  giꢀ  ꢀn cao hơn nhiều so vꢃi nông sản  
127  
2
2
2
2
1
5
5
5
5
5
4.43  
4.03  
3.46  
4.08  
3.19  
.584  
.845  
.843  
.638  
.794  
thưꢄng  
KD2  ông sản hꢊu cơ  h   ảo quản hơn so vꢃi nông sản thưꢄng  
127  
127  
127  
127  
KD3  ꢃi ch  c  sꢂ  t ngưꢄi tiêu dꢅng t m mua nông sản hꢊu cơ  v  
vậy   ư ng h ng  ꢀn đư c  hông nhiều  
KD4  guꢉn cung cấp nông sản hꢊu cơ  hông d  t m v   hông  n đ nh  
KD5 Tôi ngh   inh doanh nông sản hꢊu cơ ch c ch n s  c  thu  
nhập   i  t hơn so vꢃi nông sản thưꢄng  
Trách nhiệm  ối với ngƣời ti u d ng  
TN1 Tôi rất quan t m đ n nông sản m  tôi  ꢀn c  h i cho sức  h e  
127  
2
5
4.29  
.656  
ngưꢄi tiêu dꢅng  hông  
TN2 Tôi quan t m đ n ảnh hưꢇng cꢈa nông sản tôi  ꢀn đ n môi  
127  
127  
2
3
5
5
4.13  
4.50  
.777  
.533  
trưꢄng sꢂng  
TN3 Tôi ngh   ꢀn nông sản đ c h i cho ngưꢄi tiêu dꢅng    h nh vi t i   i  
Ảnh hƣởng của môi trƣờng  ung quanh  
MT1  hꢊng ngưꢄi  inh doanh  hꢀc c  ảnh hưꢇng đ n   a ch n  inh  
127  
1
2
3
2
5
5
5
5
4.02  
3.83  
4.48  
3.91  
.908  
.898  
.589  
.855  
doanh nông sản hꢊu cơ  
MT2 Thông tin trên cꢀc phương tiꢁn truyền thông về nông sản hꢊu cơ  
127  
c  ảnh hưꢇng đ n   a ch n  inh doanh nông sản hꢊu cơ  
MT3    i n cꢈa  hꢀch h ng c  ảnh hưꢇng đ n   a ch n  inh doanh  
127  
nông sản hꢊu cơ  
MT4 Cꢀc ch nh sꢀch cꢈa nh  nưꢃc h  tr  ngưꢄi  inh doanh nông sản  
127  
hꢊu cơ c  ảnh hưꢇng  ꢃn đ n   t quả  inh doanh  
23  
Tên  
Số hộ  
Trung Độ lệch  
Mô tꢂ  
GTNN GTLN  
biến  
khꢂo sát  
bình  
chuẩn  
Ảnh hƣởng của nguồn cung c p nông sꢂn hữu cơ  
NC1  inh doanh nông sản hꢊu cơ ph  thu c nhiều v o nguꢉn cung  
cấp đảm  ảo sꢂ  ư ng v  chất  ư ng nông sản  
127  
127  
127  
3
2
2
5
5
5
4.58  
4.38  
4.27  
.511  
.629  
.623  
NC2 Uy t n  thương hiꢁu cꢈa nguꢉn cung cấp nông sản hꢊu cơ c  ảnh  
hưꢇng  ꢃn đ n   t quả  inh doanh cꢈa ngưꢄi  ꢀn    
NC3  inh doanh nông sản hꢊu cơ ph  thu c v o mꢂi  iên   t ch t ch  
giꢊa ngưꢄi sản xuất vꢃi ngưꢄi  ꢀn    
Sự sꢀn sꢁng kinh doanh nông sꢂn hữu cơ  
SS1 Tôi ngh  m nh nên  inh doanh nông sản hꢊu cơ  
127  
127  
2
2
5
5
3.96  
3.82  
.858  
.849  
SS2 Tôi rất muꢂn chuy n sang  ꢀn nông sản hꢊu cơ trong thꢄi  
gian tꢃi  
SS3 Tôi đ   inh doanh nông sản hꢊu cơ ngay t   hi  i t ch ng tꢂt cho  
sức  h e ngưꢄi tiêu dꢅng  
127  
127  
1
1
5
5
3.34  
3.68  
1.163  
1.038  
SS4 Tôi v n ti p t c mꢇ r ng  inh doanh nông sản hꢊu cơ trong thꢄi  
gian tꢃi  
Những v n  ề trở ng i trong kinh doanh nông sꢂn hữu cơ  
CT1 Thi u   ng chứng thuy t ph c ngưꢄi tiêu dꢅng ph n  iꢁt nông  
127  
2
5
4.20  
.867  
sản hꢊu cơ vꢃi nông sản thưꢄng  
CT2 H nh thức nông sản hꢊu cơ  hông hấp d n  
127  
127  
1
2
5
5
3.89  
4.28  
.893  
.712  
CT3 Thi u nguꢉn cung cấp nông sản hꢊu cơ đảm  ảo   n đ nh v  tin cậy  
CT4 Thi u g n   t giꢊa ngưꢄi sản xuất vꢃi ngưꢄi  inh doanh nông  
127  
2
5
4.13  
.820  
sản hꢊu cơ  
CT5 Thi u s   iên   t vꢃi thương  ꢀi v  ngưꢄi  ꢀn  uôn nông sản hꢊu cơ  
CT6 Giꢀ nông sản hꢊu cơ quꢀ cao  
127  
127  
127  
127  
127  
2
1
1
2
2
5
5
5
5
5
4.10  
3.98  
3.69  
3.55  
3.44  
.805  
.801  
.782  
.870  
.923  
CT7  ông sản hꢊu cơ  h   ảo quản  
CT8  hông c  phương tiꢁn  ảo quản v  d  trꢊ nông sản hꢊu cơ  
CT9  hông c  diꢁn t ch c a h ng đꢈ  ꢃn đ   inh doanh nông sản hꢊu cơ  
CT10  inh doanh nông sản hꢊu cơ c n vꢂn  ꢃn hơn so vꢃi nông sản  
127  
127  
127  
2
2
3
5
5
5
4.19  
3.63  
4.19  
.774  
.862  
.601  
thông thưꢄng  
CT11  h  t m đư c đ a đi m c a h ng thuận   i  
CT12  h  thay đ i đư c th i quen mua nông sản chưa quan t m đ n  
nguꢉn gꢂc hꢊu cơ hiꢁn nay cꢈa ngưꢄi tiêu dꢅng  
CT13 Thꢈ t c xin chứng nhận nông sản hꢊu cơ quꢀ phức t p v   h   h n  
CT14  hông c nh tranh đư c vꢃi nhꢊng ngưꢄi  ꢀn nông sản thông thưꢄng  
CT15 Cơ quan quản    an to n vꢁ sinh th c ph m g y  h   h n  
127  
127  
127  
1
2
1
5
5
5
4.03  
3.87  
3.61  
.723  
.810  
.817  
24  
Kết quả thống kê mô tả các biến độc lập cho thấy ý kiến trả lời cho các phát biểu của thang đo  
các biến độc lập khá đa dạng. Có những ý kiến rất đồng ý và những ý kiến rất không đồng ý. Các  
giá trị nhỏ nhất (Minimum) và lớn nhất (Maximum) của các thang đo nằm trong khoảng từ 1 đến 5  
cho thấy không có giới hạn về mặt biến động đối với các thang đo được sử dụng.  
4.2. K t quả đo l ờng các y u tố tác động đ n sự sẵn sàng kinh doanh sản phẩm nông nghiệp  
hữu c  của nhà bán lẻ  
Giá trị trung bình của các biến quan sát có sự khác biệt khá lớn (3.34 - 4.58) chứng tỏ có sự  
đánh giá khác nhau về mức độ quan trọng giữa các biến độc lập.  
Kết quả kiểm định Skewness và Kurtosis cho thấy giá trị tuyệt đối của hai chỉ số này nằm  
trong giới hạn cho phép tương ứng là Skewness nhỏ hơn 3 và Kurtosis 5. Những kết quả trên cho  
thấy thang đo biến độc lập có phân phối chuẩn, đảm bảo yêu cầu thực hiện các kiểm định và phân  
tích tiếp theo ở các phần sau.  
Kết quả kiểm định độ phù hợp của thang đo. Phương pháp phân tích nhân tố khám phá EF  
(Exploratory Factor Analysis) thuộc nhóm phân tích đa biến phụ thuộc lẫn nhau (interdependence  
techniques), nghĩa là không có biến phụ thuộc và biến độc lập mà nó dựa vào mối tương quan giữa  
các biến với nhau (interrelationships). EF  dùng để rút gọn một tập k biến quan sát thành một tập F  
(F < k) các nhân tố có ý nghĩa hơn. Cơ sở của việc rút gọn này dựa vào mối quan hệ tuyến tính của  
các nhân tố với các biến quan sát (Nguyễn Đình Thọ, 2011).  
Phân tích nhân tố sẽ được sử dụng để kiểm định sự hội tụ của các biến thành phần về khái  
niệm bằng độ giá trị hội tụ (convergence validity), đồng thời đo lường độ giá trị phân biệt giúp đảm  
bảo sự khác biệt, không có mối quan hệ tương quan gữa các yếu tố sử dụng để đo lường các nhân tố  
bằng độ giá trị phân biệt (discriminant validity). Theo J. F. Hair và cộng sự (1998), với hệ số tải  
(factor loading) ≥ 0,3 là đạt giá trị hội tụ và hệ số tải của nhân tố này lớn hơn hệ số tải của nhân tố  
khác cho thấy tính đảm bảo độ giá trị phân biệt.  
Phương pháp trích Principal Component  nalysis được sử dụng kèm với phép quay  
Varimax. Điểm dừng trích khi các yếu tố có Initial Eigenvalues > 1 (Meyers, L.S., Gamst, G.,  
Guarino A.J., 2006).  
Trước khi đi kiểm định giá trị của các thang đo bằng kiểm định EF , tác giả kiểm tra xem dữ  
liệu có đầy đủ điều kiện để phân tích hay không bằng kiểm định KMO và kiểm định Barlett.  
Kết quả cho thấy KMO = 0.757 thỏa mãn điều kiện KMO > 0,5 (Kaiser, 1974). Như vậy, có  
thể kết luận phân tích nhân tố là thích hợp với các dữ liệu đã có. Tương tự như vậy, kết quả kiểm  
định Barlett cho thấy p = 0.000 < 5% như vậy có nghĩa là các biến có quan hệ với nhau và có đủ  
điều kiện để phân tích nhân tố bằng kiểm định EF .  
Phép trích Principal Component  nalysis với phép quay Varimax được sử dụng trong phân  
tích nhân tố thang đo các biến độc lập. Các biến có hệ số tải (Factor loading) nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại,  
điểm dừng khi Eigenvalue (đại diện cho phần biến thiên được giải thích bởi mỗi nhân tố) > 1 và  
tổng phương sai trích lớn hơn 50% (Gerbing và  nderson, 1988).  
Kết quả cho thấy từ 19 biến quan sát có thể rút ra năm nhóm nhân tố. Tổng phương sai giải  
thích được khi nhóm nhân tố được rút ra là 59,365% (> 50%).  
25  
Kết quả EF  cho “Nhận thức về nông sản hữu cơ” cho thấy năm tiêu chí đo lường “Nhận  
thức về nông sản hữu cơ” được tải vào một nhân tố. Tất cả các hệ số tải đều từ 0.601 trở lên đạt tiêu  
chuẩn đề ra và cho thấy các biến quan sát có quan hệ ý nghĩa với nhân tố.  
Kết quả EF  cho “Nhận thức về kinh doanh nông sản hữu cơ” cho thấy bốn tiêu chí đo lường  
“Nhận thức về kinh doanh nông sản hữu cơ” là KD1, KD2, KD3, KD4 được tải vào một nhân tố,  
với các hệ số tải đều từ 0.541 trở lên đạt tiêu chuẩn đề ra. Riêng KD5 có hệ số tải là 0.136 < 0.3 nên  
loại ra khỏi thang đo. Vậy thang đo mới sẽ chỉ có bốn biến quan sát là KD1, KD2, KD3, KD4.  
Kết quả EF  cho “Trách nhiệm đối với người tiêu dùng” cho thấy ba tiêu chí đo lường  
“Trách nhiệm đối với người tiêu dùng” được tải vào một nhân tố. Tất cả các hệ số tải đều từ 0.768  
trở lên đạt tiêu chuẩn đề ra và cho thấy các biến quan sát có quan hệ ý nghĩa với nhân tố.  
Kết quả EF  cho “Ảnh hưởng của môi trường xung quanh” cho thấy bốn tiêu chí đo lường  
Ảnh hưởng của môi trường xung quanh được tải vào một nhân tố. Tất cả các hệ số tải đều từ 0.570  
trở lên đạt tiêu chuẩn đề ra và cho thấy các biến quan sát có quan hệ ý nghĩa với nhân tố.  
Kết quả EF  cho “Ảnh hưởng của nguồn cung cấp nông sản hữu cơ” cho thấy ba tiêu chí đo  
lường “Ảnh hưởng của nguồn cung cấp nông sản hữu cơ” được tải vào một nhân tố. Tất cả các hệ  
số tải đều từ 0.797 trở lên đạt tiêu chuẩn đề ra và cho thấy các biến quan sát có quan hệ ý nghĩa với  
nhân tố.  
Như vậy, tất cả các thang đo được lựa chọn cho các biến trong mô hình đều đảm bảo yêu cầu  
và có thể sử dụng trong các phân tích tiếp theo.  
Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo.  
Các yếu tố đo lường đều được đánh giá độ tin cậy thông qua hệ số Cronbach‟s  lpha.  
Cronbach  lpha là phép kiểm định thống kê về mức độ chặt chẽ hay khả năng giải thích cho một  
khái niệm nghiên cứu của một tập hợp các biến quan sát trong thang đo. Phương pháp này dùng để  
loại bỏ những biến không phù hợp và hạn chế biến rác trong mô hình nghiên cứu (Hoàng Trọng và  
Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008). Hair và cộng sự (1998) cho rằng, Cronbach  lpha từ 0,8 đến gần  
1 thì thang đo lường là tốt; từ 0,7 đến gần 0,8 là thang đo sử dụng được; từ 0,6 trở lên là có thể chấp  
nhận được trong trường hợp khái niệm đang nghiên cứu là mới hoặc được nghiên cứu trong bối  
cảnh mới.  
Khi cân nhắc xem nên loại bỏ biến nào, nhà nghiên cứu có thể căn cứ vào hai hệ số. Thứ nhất  
là Cronbach‟s  lpha if Item Deleted. Khi hệ số này lớn hơn hệ số Cronbach‟s  lpha của biến tổng,  
có nghĩa là sự tham gia của biến quan sát này làm giảm đi hệ số Cronbach‟s  lpha của biến tổng, có  
thể coi là một dấu hiệu để nhà nghiên cứu cân nhắc loại bỏ biến vì khi đó hệ số Cronbach‟s  lpha  
của biến tổng sẽ tăng lên. Thứ hai là hệ số tương quan biến tổng (item - total correlation). Hệ số này  
cho thấy mức độ quan hệ chặt chẽ giữa biến quan sát tương ứng và biến tổng. Những biến quan sát  
nào có hệ số tương quan biến tổng < 0,3 sẽ được cân nhắc loại bỏ. Đây là những dấu hiệu gợi ý cho  
nhà nghiên cứu về việc loại bỏ biến quan sát nhằm làm tăng mức độ chặt chẽ của thang đo. Tuy  
nhiên, trong thực tế, nhà nghiên cứu sẽ cân nhắc kỹ càng các điều kiện này và các điều kiện trong  
các kiểm định khác và ý nghĩa thực tế của biến quan sát để đưa ra quyết định.  
Trong nghiên cứu này, mẫu nghiên cứu có kích thước đủ lớn là 127 đơn vị. Vì vậy, trong quá  
trình kiểm định Cronbach‟s  lpha, tác giả sẽ giữ lại các thang đo có hệ số Cronbach‟s  lpha ≥ 0,6  
và có hệ số tương quan biến tổng ≥ 0,3.  
26  
Kết quả việc đánh giá này được tóm tắt như sau:  
- Nhận thức về nông sản hữu cơ  
Kết quả Cronbach‟s  lpha cho “Nhận thức về nông sản hữu cơ” là 0,821. Các biến quan sát  
NS1, NS2, NS3, NS4, NS5 đều có hệ số Cronbach‟s  lpha if Item Deleted nhỏ hơn hệ số  
Cronbach‟s  lpha của biến tổng. Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3. Như vậy, đây là  
thang đo tốt, có tương quan chặt chẽ với nhau để đo lường “Nhận thức về nông sản hữu cơ” của nhà  
bán lẻ.  
Kết quả Cronbach‟s  lpha cho “Nhận thức về kinh doanh nông sản hữu cơ” là 0,614. Các  
biến quan sát KD1, KD2, KD3, KD4 đều có hệ số Cronbach‟s  lpha if Item Deleted nhỏ hơn hệ số  
Cronbach‟s  lpha của biến tổng. Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3. Như vậy, đây là  
thang đo tốt, có tương quan chặt chẽ với nhau để đo lường “Nhận thức về kinh doanh nông sản hữu  
cơ” của nhà bán lẻ.  
Kết quả Cronbach‟s  lpha cho “Trách nhiệm đối với người tiêu dùng” là 0,757. Các biến quan  
sát TN1, TN2, TN3 đều có hệ số Cronbach‟s  lpha if Item Deleted nhỏ hơn hệ số Cronbach‟s  lpha  
của biến tổng. Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3. Như vậy, đây là thang đo tốt, có  
tương quan chặt chẽ với nhau để đo lường “Trách nhiệm đối với người tiêu dùng” của nhà bán lẻ.  
Kết quả Cronbach‟s  lpha cho “Ảnh hưởng của môi trường xung quanh” là 0,679. Các biến  
quan sát MT1, MT2, MT3, MT4 đều có hệ số Cronbach‟s  lpha if Item Deleted nhỏ hơn hệ số  
Cronbach‟s  lpha của biến tổng. Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3. Như vậy, đây là  
thang đo tốt, có tương quan chặt chẽ với nhau để đo lường “Ảnh hưởng của môi trường xung  
quanh” của nhà bán lẻ.  
Kết quả Cronbach‟s  lpha cho “Ảnh hưởng của nguồn cung cấp nông sản hữu cơ” là 0,821.  
Các biến quan sát NS1, NS2, NS3, NS4, NS5 đều có hệ số Cronbach‟s  lpha if Item Deleted nhỏ  
hơn hệ số Cronbach‟s  lpha của biến tổng. Các hệ số tương quan biến tổng đều lớn hơn 0,3. Như  
vậy, đây là thang đo tốt, có tương quan chặt chẽ với nhau để đo lường “Ảnh hưởng của nguồn cung  
cấp nông sản hữu cơ” của nhà bán lẻ.  
Sau khi kiểm định độ tin cậy và giá trị của thang đo, các nhân tố được đưa vào kiểm định mô  
hình. Giá trị nhân tố được kiểm định là trung bình của các biến quan sát thành phần thuộc nhân tố đó.  
Phân tích hồi quy được thực hiện để xác định mối quan hệ nhân quả giữa biến phụ thuộc ý  
định mua và các biến độc lập: sự quan tâm đến sức khỏe, nhận thức về chất lượng, chuẩn mực chủ  
quan, nhận thức về sự sẵn có của sản phẩm, nhận thức về giá bán sản phẩm, tham khảo - giá trị bản  
thân, tham khảo - tuân thủ, tham khảo - thông tin và truyền thông đại chúng.  
Mô hình hồi quy sẽ tìm ra các biến độc lập có tác động tới biến phụ thuộc và các biến độc lập  
không tác động tới biến phụ thuộc. Với những biến có tác động, mô hình hồi quy còn cho biến  
hướng tác động là dương (+) hay âm (-), hay tác động là thuận chiều hay ngược chiều. Đồng thời,  
mô hình cũng mô tả mức độ tác động của biến độc lập cụ thể là như thế nào qua đó giúp ta dự đoán  
được giá trị của biến phụ thuộc khi biết trước giá trị của các biến độc lập. Mô hình nghiên cứu bao  
gồm một biến phụ thuộc và nhiều biến độc lập. Vì vậy, tác giả sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính  
bội (Nguyễn Đình Thọ, 2011).  
27  
Để đánh giá độ phù hợp của mô hình hồi quy, tác giả căn cứ vào hệ số xác định R2. Hệ số R2  
cho biết % sự biến động của biến phụ thuộc (Y) được giải thích bởi các biến độc lập (Xi) trong mô  
hình. Giá trị R2 nằm trong khoảng từ 0 đến 1:  
Khi R2 = 0, ta kết luận biến phụ thuộc và các biến độc lập không có quan hệ với nhau.  
Khi R2 = 1, ta kết luận đường hồi quy phù hợp hoàn hảo.  
Theo Hair và cộng sự (1998), sử dụng hệ số xác định R2 có nhược điểm là giá trị R2 tăng khi  
số biến độc lập đưa vào mô hình tăng mặc dù biến đưa vào không có ý nghĩa. Vì vậy nên sử dụng  
giá trị R2 điều chỉnh ( djusted R Square) để kết luận về % sự biến động của biến phụ thuộc được  
giải thích bởi các biến độc lập.  
Để kiểm định độ phù hợp của mô hình, tác giả sử dụng kiểm định F. Đây là phép kiểm định  
giả thuyết về độ phù hợp của mô hình hồi quy tuyến tính tổng thể nhằm xem xét biến phụ thuộc có  
liên hệ tuyến tính với toàn bộ các biến độc lập không. Mô hình được coi là phù hợp khi giá trị  
significant của kiểm định < 0,05.  
Phân tích hồi quy còn cho biết tình trạng đa cộng tuyến có tồn tại không. Đa cộng tuyến là  
trạng thái mà trong đó, các biến độc lập có tương quan chặt chẽ với nhau. Để kiểm định hiện tượng  
đa cộng tuyến, tác giả sử dụng hệ số phóng đại phương sai (VIF). Nếu giá trị hệ số này < 2 thì quan  
hệ đa cộng tuyến giữa các biến độc lập là không đáng kể.  
Giá trị hệ số R2 điều chỉnh là 0,436. Điều này cho thấy sự tương thích của mô hình với biến kiểm  
soát là hợp lý. Như vậy, các biến độc lập giải thích được 43,6% sự biến động của biến phụ thuộc.  
Kết quả kiểm định F cho thấy giá trị F = 20.487, giá trị sig = 0,000. Như vậy, mối quan hệ này  
đảm bảo độ tin cậy với mức độ cho phép là 5%. Do đó, có thể kết luận các biến độc lập có tác động đến  
biến phụ thuộc và mô hình hồi quy tuyến tính bội phù hợp với tập dữ liệu và có thể sử dụng được.  
Kết quả kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến cho thấy hệ số phóng đại phương sai VIF của các  
biến kiểm soát được đưa vào phân tích ở mô hình đều có giá trị < 2. Như vậy, tính đa cộng tuyến  
của các biến độc lập không đáng kể và các biến trong mô hình được chấp nhận.  
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy bốn biến độc lập là nhận thức về nông sản hữu cơ, nhận  
thức về kinh doanh nông sản hữu cơ, trách nhiệm đối với người tiêu dùng, ảnh hưởng của môi trường  
xung quanh, ảnh hưởng đến sự sẵn sàng kinh doanh nông sản hữu cơ vì có giá trị sig < 0,05. Riêng  
nguồn cung cấp nông sản hữu cơ có giá trị sig = 0,72 cho thấy rằng, chưa có cơ sở để kết luận về mối  
quan hệ giữa nguồn cung cấp nông sản hữu cơ và sự sẵn sàng kinh doanh nông sản hữu cơ.  
Mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập được thể hiện trong phương trình hồi  
quy tuyến tính sau:  
Y = 0,249X1 + 0,244X2 - 0,249X3 + 0,253X4  
Trong đó:  
Y: Sự sẵn sàng kinh doanh nông sản hữu cơ;  
X1: Nhận thức về nông sản hữu cơ;  
X2: Nhận thức về kinh doanh nông sản hữu cơ;  
X3: Trách nhiệm đối với người tiêu dùng;  
X4: Ảnh hưởng của môi trường xung quanh.  
Phương trình hồi quy cho thấy các hệ số Beta chuẩn hóa của các biến độc lập đều > 0 cho  
thấy các biến độc lập tác động thuận chiều tới “Sự sẵn sàng kinh doanh nông sản hữu cơ”. Như vậy,  
28  
theo phương trình trên thì khi một đơn vị “Sự sẵn sàng kinh doanh nông sản hữu cơ” tăng lên thì  
theo đó phải có sự cộng hưởng dương của 0,249 “Nhận thức về nông sản hữu cơ”, 0,244 “Nhận  
thức về kinh doanh nông sản hữu cơ”, 0,249 “Trách nhiệm đối với người tiêu dùng”, 0,253 “Ảnh  
hưởng của môi trường xung quanh”.  
5. B NH LUẬN VÀ KHU ẾN NGHỊ GIẢI PHÁP TH C ĐẨ  CÁC CỬA HÀNG KINH  
DOANH SẢN PHẨM NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ  
Như vậy, trong năm nhân tố tác động đến sự sẵn sàng kinh doanh SPNNHC của các cửa hàng  
bán lẻ đã cho kết quả là các nhân tố có tác động tương đối đồng đều (Nhận thức về kinh doanh nông  
sản hữu cơ tác động ít nhất và Trách nhiệm đối với người tiêu dùng tác động lớn nhất).  
Nhận thức về nông sản hữu cơ tác động đến sự sẵn sàng kinh doanh nông sản hữu cơ của các  
cửa hàng bán lẻ. Khi nhà bán lẻ nông sản có thông tin về nông sản hữu cơ, hiểu được quy trình và  
điều kiện nuôi trồng, biết được sự khác biệt về chất lượng giữa nông sản hữu cơ và nông sản thường,  
đặc biệt khi họ nhận thức được việc nuôi trồng nông sản hữu cơ sẽ giúp bảo vệ môi trường, bảo vệ  
sức khỏe cộng đồng thì họ sẽ có ý định kinh doanh nông sản hữu cơ. Hiểu được giá trị của nông sản  
hữu cơ sẽ là cơ sở đầu tiên để nhà bán lẻ mong muốn tham gia kinh doanh các sản phẩm này.  
Nhận thức về kinh doanh nông sản hữu cơ là khi nhà bán lẻ hiểu được sự khác nhau giữa kinh  
doanh thực phẩm thường và thực phẩm hữu cơ. Việc kinh doanh thực phẩm hữu cơ sẽ có quy trình  
bảo quản khác biệt, thời gian sử dụng cũng ngắn hơn thực phẩm thường, tuy nhiên đối tượng khách  
hàng tiếp cận thực phẩm hữu cơ lại là những người quan tâm đến sức khỏe và sẵn sàng trả giá cao  
cho sản phẩm tốt cho sức khỏe. Điều này có thể dẫn tới lợi nhuận kinh doanh thực phẩm hữu cơ có  
thể cao hơn thực phẩm thường. Khi nhận thức được vấn đề này thì những nhà bán lẻ thực phẩm sẽ  
sẵn sàng kinh doanh thực phẩm hữu cơ hơn.  
Trách nhiệm đối với người tiêu dùng là việc các nhà kinh doanh hướng tới mục tiêu kinh  
doanh của mình là lợi ích của người tiêu dùng và kinh doanh những sản phẩm đảm bảo lợi ích của  
người tiêu dùng. Thực phẩm an toàn là sản phẩm có quy trình sản xuất thân thiện với môi trường,  
loại bỏ những hóa chất có hại cho sức khỏe người tiêu dùng, do vậy nó là sản phẩm đảm bảo cho lợi  
ích trước mắt và lâu dài của người tiêu dùng. Khi những nhà bán lẻ nhận thức được trách nhiệm của  
mình với sức khỏe và lợi ích của người tiêu dùng và kinh doanh thực phẩm hữu cơ là kinh doanh  
những sản phẩm tốt cho người tiêu dùng thì họ sẽ sẵn sàng tham gia kinh doanh thực phẩm hữu cơ.  
Ảnh hưởng của môi trường xung quanh cũng là yếu tố tác động tới sự sẵn sàng kinh doanh  
thực phẩm hữu cơ của các nhà bán lẻ thực phẩm. Những nhà bán lẻ này khi kinh doanh họ có thể  
tham khảo về phương thức kinh doanh, quy trình bảo quản và phân phối, phương thức tiếp cận  
khách hàng và đặc biệt là chất lượng và giá cả sản phẩm từ những nhóm tham khảo xung quanh như  
bạn bè, người thân, những người cùng kinh doanh thực phẩm, những gương tiêu biểu kinh doanh  
thực phẩm, truyền thông từ các phương tiện thông tin để tham chiếu cho các quyết định kinh doanh  
của mình. Khi những nhà bán lẻ nhận thấy từ những nhóm tham khảo việc kinh doanh thực phẩm  
hữu cơ là một cơ hội kinh doanh tốt thì họ sẽ sẵn sàng tham gia kinh doanh.  
Từ kết quả nghiên cứu có thể đề xuất một số giải pháp thúc đẩy các nhà kinh doanh bán lẻ  
trên địa bàn Hà Nội chuyển sang kinh doanh SPNNHC như sau:  
- Thúc đẩy khâu sản xuất nông nghiệp hữu cơ, tạo nguồn cung cấp hàng ổn định cho các nhà  
bán lẻ thực phẩm hữu cơ. Nhà bán lẻ chủ động liên kết với khâu sản xuất nông nghiệp để đảm bảo  
29  
số lượng và chất lượng các SPNNHC kinh doanh trong cửa hàng. Lập kế hoạch liên kết trong chuỗi  
cung ứng bao gồm kế hoạch trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Chỉ khi có khả năng kiểm soát  
nguồn cung SPNNHC với xuất xứ rõ ràng, chất lượng đảm bảo, giá cả cạnh tranh thì các nhà kinh  
doanh nông sản thực phẩm mới sẵn sàng kinh doanh các SPNNHC.  
- Nhà bán lẻ cần hiểu rõ đặc điểm tiêu dùng để có chiến lược xây dựng uy tín thương hiệu cửa  
hàng bán lẻ SPNNHC một cách bền vững. Kết hợp xây dựng thương hiệu cửa hàng bán lẻ với  
thương hiệu SPNNHC, đầu tư thực hiện chiến lược và các biện pháp marketing nhằm tạo lòng tin  
của khách hàng, từ đó hình thành thói quen mua và lòng tin vào các cửa hàng kinh doanh SPNNHC.  
- Để hỗ trợ các nhà bán lẻ kinh doanh SPNNHC, thành phố Hà Nội cần đầu tư tổ chức các  
chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức của người tiêu dùng. Cùng với đó là việc xây dựng các  
cơ chế khuyến khích cửa hàng, siêu thị chuyển sang kinh doanh SPNNHC thu mua sản phẩm bảo  
đảm đầu ra cho nông nghiệp hữu cơ phát triển ổn định,…  
- Các cơ quan có trách nhiệm trong quản lý vệ sinh an toàn thực phẩm của Hà Nội như quản  
lý thị trường, chi cục thú y,… cần nâng cao trách nhiệm, năng lực và đổi mới cơ chế quản lý nhằm  
kiểm soát được chất lượng hàng nông sản lưu thông trên thị trường, loại bỏ được các nông sản có  
chất cấm độc hại, tạo điều kiện các các doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh SPNNHC có thể cạnh  
tranh được với các hàng nông sản chất lượng kém giá rẻ. Kiểm soát được nông sản kém chất lượng  
sẽ tạo cơ hội thị trường cho các SPNNHC tốt cho sức khỏe con người.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Gopal Das (2014), Factors affecting Indian shoppers
׳
 attitude and purchase intention:  n  
empirical check, Journal of Retailing and Consumer Services, Available online 16 May 2014.  
retailers implementing CPFR - A fuzzy AHP analysis, Journal of Systems Science and Systems  
Engineeringvolume 19, pp.192-209.  
3. Latacz-Lohmann, U., Foster, C. (1997), From “niche” to “mainstream” - strategies for marketing  
organic food in Germany and the UK, British Food Journal, 99(8), pp.275-282.  
4. Laux, M. (2013), Organic food trends profile, Agricultural Marketing Resource Centre:  
5. Lodorfos, G. and Dennis, J. (2008), Consumers‟ Intent: In the Organic Food Market, Journal of  
Food Products Marketing, 14(2), pp.17-38.  
6. Maloni, M. and Brown, M. (2006), Corporate Social Responsibility in the Supply Chain: An  
Application in the Food Industry, Journal of Business Ethics, 68(1), pp.35-52.  
7. Mao Wenjin Jiang Lin (2008), On Behavioral Factors Affecting the Willingness to Share  
Information by Retailers and Suppliers, Journal of Hebei University of Economics and Business.  
8. Pandey, S. and Khare, A. (2017), The Role of Retailer Trust and Word of Mouth in Buying  
Organic Foods in an Emerging Market, Journal of Food Products Marketing, 23(8), pp.926-938.  
9. Tạp chí Brand Việt Nam (2017), Thực phẩm hữu cơ: Nhà sản xuất, bán l  cùng vào cuộc, truy  
30  
pdf 12 trang Thùy Anh 16700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số nhân tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng kinh doanh sản phẩm nông nghiệp hữu cơ của các nhà án trên địa bàn nội thành Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_nhan_to_anh_huong_den_su_san_sang_kinh_doanh_san_pham.pdf