Phát triển và kinh doanh bền vững của doanh nghiệp vừa trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

PHÁT TRIỂN VÀ KINH DOANH BỀN VỮNG CỦA DOANH NGHIỆP VỪA  
TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
ThS. Lê Quốc Anh  
Đại học Kinh tế Quốc dân  
Lê Thị Trâm Anh  
Đại học New South Wales, Australia  
TÓM TẮT  
Quan niệm về doanh nghiệp vừa (DNV) không giống nhau ở các nước khác nhau, nhưng khu  
vực doanh nghiệp này đều có vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế của mọi nước. Đặc  
thù về quy mô làm cho việc phát triển và kinh doanh bền vững của DNV chịu tác động lớn từ cách  
mạng công nghiệp (CMCN) 4.0, cả về thuận lợi và thách thức, hứa hẹn tạo ra nhiều thay đổi cho hệ  
thống doanh nghiệp quốc gia. Đối với nước ta, hệ thống doanh nghiệp đã có nhiều bước tiến lớn, giúp  
khu vực DNV có sự phát triển đáng kể, và việc kinh doanh của nhiều DNV cũng đã có nhiều thành  
tựu. Song, vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém, bởi nhiều nguyên nhân, mà từ đó làm cho việc phát triển  
và kinh doanh của DNV sẽ gặp nhiều thách thức hơn thuận lợi trong bối cảnh CMCN 4.0. Để phát  
triển và tổ chức kinh doanh bền vững cho DNV, nước ta cần làm nhiều cuộc “cách mạng con”, như  
tập trung trí tuệ tinh hoa của dân tộc để xây dựng chủ thuyết phát triển. Giao trách nhiệm và lộ trình  
cho các cơ quan chức năng để hoàn tất các quá trình kinh tế dang dở, tháo gỡ các nút thắt, rào cản  
đã được nhận dạng, đổi mới sâu sắc bộ máy quản lý, chuyển dần sang quản lý theo doanh nghiệp.  
Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ doanh nhân, đẩy mạnh sự phối hợp giữa các doanh nghiệp,  
phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, sự góp sức của cộng đồng, khuếch trương ảnh hưởng  
của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Đồng thời, chuyển hướng kinh doanh hợp lý cho  
các DNV đang bị CMCN 4.0 tác động tiêu cực, như ở các ngành gia công, lắp ráp hoặc chuyển sang  
phục vụ các thị trường dễ tính, phát triển DNV kinh doanh sản phẩm giá rẻ theo các FTA... Nhằm làm  
cho nhiều doanh nghiệp mới được thành lập, nâng cấp được nhiều doanh nghiệp nhỏ (DNN) thành  
DNV, phát triển nhiều DNV thành doanh nghiệp lớn (DNL), hướng tới hình thành hệ thống doanh  
nghiệp Việt phát triển, với khu vực DNV hài hòa, vững mạnh, biến CMCN 4.0 thành “cơ hội vàng”  
cho phát triển của nước ta.  
Từ khóa: Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), doanh nghiệp vừa, kinh doanh bền vững.  
ABSTRACT  
The concept of medium-sized enterprise (MSE) is not the same in different countries, but this business  
sector plays an important role in the economic development of every country. Its charateristic size  
makes the MSE’s sustainable development and operation significantly affected by the fourth industrial  
revolution (FIR), both in terms of advantages and challenges, promising a lot of changes in the  
national enterprise system. In Vietnam, the enterprise system has made many great advances, helping  
the MSE sector develop considerably and making significant achievements. However, because of  
various reasons, there are still a lot of shortcomings, weaknesses with make MSE’s development and  
businessface more challenges than advantages in the context of FIR. In order to sustainably develop  
and organize business for MSE, Vietnam needs to make many "sub-revolutions", such as  
concentrating intellectual elite of the nation to build development doctrine. We need to delegate  
responsibilities and implementation schedules to the authorities to complete unfinished economic  
394  
processes, remove bottlenecks and identified barriers, deeply renovate management system, gradually  
shift to management based on enterprises. Besides, Vietnam needs to focus on training and fostering  
professional and skilled businessmen, stepping up the coordination among enterprises, enhance the  
roles of business associations and the contribution of the community, maximize the potential benefits  
of foreign direct investment enterprises. In addition, the Government should support MSE which have  
experienced negative impacts from the FIR, such as processing enterprises and assembling  
enterprises, help MSE change their business strategies to targetless strict market. Vietnam could also  
develop MSE specializing in low-price products based on Free Trade Agreement. All mentioned  
solutions are aimed at the targets: increase the number of newly established enterprises, upgrade  
small enterprises into MSE, MSE into large enterprises, so as to form a developed Vietnamese  
enterprise system, including a strong, harmonious MSE sector, turning the FIR into a "golden  
opportunity" for the Vietnam’s development.  
Keywords: FIR, MSE, sustainable operation.  
1. Đặt vấn đề  
Bước vào năm 2018, nước ta có 561.064 doanh nghiệp đang hoạt động, tạo ra mức  
bình quân hơn 58 doanh nghiệp/vạn dân, đây là con số khiêm tốn, bởi hơn 10 năm trước chỉ  
số này của Trung Quốc đã là 140, và từ hơn 40 năm trước, tương tự ở Nhật Bản là 4001. Hơn  
nữa, đến ngày 13/02/2018, trên cả 3 sàn HoSE, HNX, Upcom mới có tổng cộng 26 doanh  
nghiệp có vốn hóa trên 1 tỷ USD, bao gồm 22 doanh nghiệp niêm yết trên HoSE. Trong đó,  
Vinamilk là doanh nghiệp có vốn hóa lớn nhất thị trường chứng khoán Việt Nam, nhưng mới  
gần 281.000 tỷ đồng, tương ứng 12,4 tỷ USD. Sự mỏng về lượng, nhỏ về quy mô của doanh  
nghiệp tạo ra sự thất thế lớn cho Việt Nam trong hội nhập kinh tế, nhất là trong các hiệp định  
thương mại tự do (FTA) thế hệ mới vừa ký. Điều đó, buộc nước ta phải đẩy mạnh phong trào  
khởi nghiệp để tăng số doanh nghiệp hoạt động, mục tiêu có 1 triệu doanh nghiệp hoạt động  
vào năm 2020, tuy khó nhưng khả thi, bởi có thể nâng cấp 3,5 triệu hộ kinh doanh đã được  
cấp mã số thuế, và phát triển doanh nghiệp để tăng mức thương mại hóa cho nông nghiệp.  
Song việc cải thiện tình trạng thiếu doanh nghiệp có quy mô đủ lớn để hội nhập thì khó hơn,  
bởi trong vài năm tới, số DNL nội được đầu tư mới cả do Nhà nước và tư nhân, đều ít. Số  
DNL có thêm nhờ thu hút FDI khá đông, khoảng 2.000 DN/năm, do nước ta vẫn là điểm đến  
ưa thích của các nhà đầu tư, nhưng không thể phát triển lâu dài bằng doanh nghiệp FDI. Kỳ  
vọng tập trung vào việc phát triển hơn lên của DNV, song sứ mệnh này phụ thuộc vào khả  
năng phát triển, kinh doanh của chúng trong bối cảnh hội nhập, dưới tác động của CMCN  
4.0... Để góp phần thực hiện sứ mệnh trên, bài viết này tập trung nghiên cứu: (i) Phát triển và  
kinh doanh bền vững của DNV ở nước phát triển chưa cao trong bối cảnh CMCN 4.0, (ii)  
Tình hình phát triển và kinh doanh của DNV ở Việt Nam, và (iii) Các giải pháp để phát triển  
và hỗ trợ kinh doanh bền vững cho DNV ở Việt Nam trong bối cảnh CMCN 4.0.  
2. Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu  
CMCN 4.0 mới chính thức được thừa nhận vài năm gần đây, nên cơ sở lý thuyết về  
kinh doanh bền vững của DNV trong bối cảnh CMCN 4.0 còn là vấn đề mới mẻ. Nhận thức  
395  
về DNV ở nước ta cũng chưa phải là nội dung có tính chất phổ biến, bởi nó thường được xem  
xét, nghiên cứu gộp chung với doanh nghiệp siêu nhỏ (DNSN) và DNN, thành nhóm DNN và  
vừa (DNNVV). Vì thế, để thực hiện chuyên đề này vận dụng cho nước ta, trước tiên cần hệ  
thống, làm rõ hơn về DNV, sự giống và khác của DNV ở nước ta với các nước. Đồng thời,  
nghiên cứu tác động của CMCN 4.0 tới việc kinh doanh bền vững của DNV ở nước phát triển  
chưa cao như Việt Nam, lấy đó làm khung phân tích. Bên cạnh đó, là chuyên đề phân tích  
kinh tế, nên cơ sở lý thuyết được dùng để xây dựng khung là kinh tế học, nhất là kinh tế vĩ  
mô, kinh tế vi mô, kinh tế phát triển, quản trị doanh nghiệp, tài chính doanh nghiệp... Ngoài  
ra, còn sử dụng các kiến thức về quản trị học, thống kê kinh tế, CMCN 4.0, chuỗi giá trị, và  
các thông tin, nhìn nhận, đánh giá về các vấn đề trên cùng các diễn biến của chúng của các cơ  
quan chuyên ngành, người tham gia, chuyên gia, nhà nghiên cứu trong các lĩnh vực đó. Từ  
nguồn tài liệu thu thập được, tiến hành nghiên cứu định tính, thông qua các phương pháp,  
như: phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp chuyên gia, phương pháp  
phân tích tổng kết kinh nghiệm, phương pháp nghiên cứu lịch sử… Trên quan điểm duy vật  
biện chứng: dùng phép diễn dịch để suy đoán hệ quả tất yếu, dùng phép so sánh để đưa ra  
nhận định trung gian, từ đó sử dụng phép quy nạp để đưa ra kết luận, tổng hợp lại để đề đạt  
kiến nghị, giải pháp. Nguồn số liệu được thu thập từ website của Tổng cục Thống kê, từ các  
Báo cáo Thường niên doanh nghiệp Việt Nam của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt  
Nam (VCCI), và từ Đánh giá Kinh tế Việt Nam Thường niên 2017 của Trường Đại học Kinh  
tế Quốc dân (NEU).  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Phát triển và kinh doanh bền vững của DNV ở nước phát triển chưa cao trong  
bối cảnh CMCN 4.0  
3.1.1. Hệ thống doanh nghiệp ngày càng quan trọng hơn trong phát triển kinh tế quốc  
gia  
Kinh doanh hàng hóa và dịch vụ là hoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển các  
mối quan hệ xã hội, giữ vai trò quyết định sự hình thành, tồn tại và phát triển của xã hội loài  
người. Song hoạt động đó không được tiến hành dàn trải, khắp nơi, mà được tổ chức tập  
trung theo từng đơn vị kinh doanh, như các hộ tư nhân, cá thể, tổ hợp, hợp tác xã… Trong đó,  
doanh nghiệp là loại hình kinh doanh phổ biến và ưu việt trong kinh tế thị trường. Đó là tổ  
chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của  
pháp luật nhằm mục đích kinh doanh. doanh nghiệp tập hợp người lao động, cho phép từng  
người phát huy sở trường, thực hiện ý tưởng kinh doanh chất lượng, hội tụ các nguồn vốn sử  
dụng cho mục tiêu tập trung, hiệu quả. doanh nghiệp còn đưa công nghệ sản xuất mới tới số  
đông, áp dụng nhanh các thành tựu khoa học công nghệ, tích hợp nhanh và nhiều tiện ích mới  
vào sản phẩm nên tạo ngoại ứng tích cực cho nhiều chủ thể. Mức khuếch trương giá trị, tạo  
ngoại ứng tích cực và hiệu quả sử dụng các nguồn lực, công nghệ cao hơn đó làm cho doanh  
nghiệp có năng lực cạnh tranh cao hơn hộ tư nhân, cá thể, tổ hợp, hợp tác xã. Vì thế, doanh  
396  
nghiệp trở thành đối tượng được ưu tiên phát triên khi muốn đầu tư để thu về lợi nhuận cao,  
thành điểm “thu hút” nguồn lực khan hiếm của xã hội. Đó còn là nơi chính để Nhà nước dựa  
vào nhằm cải thiện ngân sách khi số thu từ khai thác tài nguyên thiên thiên đang giảm vì cạn  
kiệt, nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu giảm bớt vì miễn giảm theo các FTA. Đó còn là  
“người chơi” chính của từng nước trong các FTA, là chủ thể thay mặt quốc gia tham gia và  
củng cố vị thế trong các chuỗi giá trị toàn cầu để đảm bảo và nâng cao mức độ thành công  
trong hội nhập… Làm cho việc “doanh nghiệp hóa” các hộ tư nhân, cá thể, tổ hợp, hợp tác xã  
thành con đường phải chọn, có ảnh hưởng ngày càng lớn trong quá trình phát triển kinh tế.  
Làm cho số doanh nghiệp ngày càng đông, quy mô doanh nghiệp ngày càng lớn, biến hệ  
thống doanh nghiệp trở thành trung tâm, quyết định sự phát triển của nền kinh tế, trong đó  
DNV là loại hình quan trọng.  
3.1.2. Quan niệm về DNV và cơ sở hình thành  
Có DNN, DNL thì tất sẽ có DNV, nhưng quy mô của các doanh nghiệp thường biến  
động, bởi lãnh đạo doanh nghiệp luôn điều chỉnh số lao động, vốn, sản lượng theo thay đổi  
của thời thế để có lợi nhuận cao. Nhiều doanh nghiệp trong một năm có nhiều lần quy mô  
thay đổi lúc trên lúc dưới các ngưỡng phân định, cho thấy quan niệm về DNV chỉ có tính quy  
ước, nhiều nước sử dụng các hệ thống phân loại có số cấp, hoặc có các ngưỡng phân định  
khác nhau. Thống kê của Trần Thị Hòa (2009) cho thấy 10/12 nước được khảo sát, trong đó  
có Mỹ, Korea, Australia, Thailand, Malaysia, Indonesia gộp chung DNV, DNN và DNSN  
vào nhóm DNNVV, không phân tách. Phần lớn các nước chỉ dùng một, nhiều nước dùng hai,  
nhưng cũng có nước dùng cả ba tiêu chí: số lao động bình quân, doanh thu và vốn đầu tư để  
phân định. Tùy quan niệm, trình độ phát triển, ngành nghề, khu vực mà quy mô của DNV ở  
các nước khác nhau. Chẳng hạn, ngưỡng trên về số lao động của DNV ở Nga là 1.000; ở Mỹ,  
Trung Quốc, Canada là 500; ở khu vực EU là 250; nhưng ở Malaysia là 150; còn ở New  
Zealand chỉ là 50... Làm cho một doanh nghiệp gần hết cỡ “vừa” ở Mỹ, Trung Quốc, Canada  
cũng chỉ vào hạng doanh nghiệp “hơi nhỏ” ở Nga, nhưng là doanh nghiệp “khá lớn” nếu đăng  
ký ở EU, thậm chí là doanh nghiệp “rất lớn” nếu kinh doanh ở New Zealand. Song khác biệt  
đó không làm cho cơ sở làm hình thành DNV ở các nước thành khác nhau, mà luôn theo ba  
nguồn: (i) Được đầu tư thành lập mới ở địa bàn có tiềm năng kinh doanh vừa phải về một số  
sản phẩm thị trường đang cần. Nguồn này quan trọng, nhưng chỉ thuận lợi khi có lao động  
phù hợp, có nhà đầu tư, có sự tập trung về tài nguyên thiên nhiên, nhất là có thể kinh doanh  
sản phẩm xuất khẩu. (ii) Nâng cấp các DNN đã có nhờ quá trình phát triển tự thân, từ hoạt  
động sáp nhập, bằng việc tăng vốn, mở rộng quy mô, hoặc dưới sự hỗ trợ của nhà nước và  
cộng đồng. Đây là nguồn chính, nhưng để có sự phát triển lâu bền cần cải thiện môi trường  
kinh doanh, hệ sinh thái khởi nghiệp, hỗ trợ phát triển, nâng cấp DNN. (iii) Thu hút FDI cho  
các vùng, ngành còn giàu tiềm năng, để khai thác các lợi thế mà trong nước chưa kinh doanh  
hiệu quả, kể cả các ngành hỗ trợ. Với nước phát triển chưa cao thì đây là nguồn quan trọng,  
397  
nhưng không nên lạm dụng, cần có cam kết về tác động lan tỏa, chuyển giao công nghệ;  
ngoài ra, còn do việc thoái vốn, thu hẹp kinh doanh của các DNL, nhưng khá hiếm...  
3.1.3. DNV có tầm quan trọng lớn lao trong chiến lược phát triển quốc gia  
Dù khác biệt về quan niệm, song DNV ở bất kỳ nước nào cũng đều có tầm quan trọng  
lớn lao trong chiến lược phát triển của quốc gia, bởi: (i) Là thành phần không thể thiếu trong  
hệ thống doanh nghiệp quốc gia, DNV góp phần làm cho trung tâm của nền kinh tế cân đối,  
tạo sự hài hòa về cơ cấu doanh nghiệp theo quy mô, làm tăng độ vững chắc cho nền kinh tế.  
Đây là đơn vị kinh doanh cần có để tổ chức khai thác tập trung các nguồn lực trung bình, là  
hạt nhân phát triển kinh tế ở các vùng nông thôn, miền núi, hải đảo. (ii) Có sự tập trung về  
lao động, vốn và doanh thu, cho phép tạo mức khuếch trương giá trị, tạo ngoại ứng tích cực  
và hiệu quả sử dụng nguồn lực, công nghệ cao hơn DNN và DNSN. Làm cho việc đẩy mạnh  
khởi nghiệp và nâng cấp DNN lên thành DNV là giải pháp quan trọng, để tăng thêm nội lực,  
tăng cường năng lực cạnh tranh, nhất là cho các nền kinh tế chưa phát triển cao mà còn ít  
doanh nghiệp đủ khả năng hội nhập. (iii) Để có quy mô vừa, doanh nghiệp thường có bề dầy  
phát triển, có thời gian thể hiện và thử thách tiềm năng phát triển, năng lực kinh doanh đã  
được thị trường kiểm định, có vị thế trong hệ thống kinh tế - xã hội quốc gia. Lãnh đạo doanh  
nghiệp đã có kinh nghiệm và thực tế để đánh giá mô hình kinh doanh, năng lực của các thành  
viên, nên thường là doanh nghiệp hoạt động hiệu quả, có thể dựa vào để xây dựng kế hoạch  
phát triển cho các ngành, địa phương. (iv) Là loại hình doanh nghiệp phù hợp để khai thác lợi  
thế theo các FTA, nhằm tăng hàng xuất khẩu, đảm bảo và nâng mức thành công cho nước nhà  
trong hội nhập quốc tế. Đó còn là các doanh nghiệp có thể quy tụ, tập hợp các doanh nghiệp  
nhỏ hơn để tạo thành các chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị, cùng vươn lên hội nhập, làm cho việc  
phát triên và tổ chức kinh doanh cho DNV là nhiệm vụ quan trọng ở mọi quốc gia.  
3.1.4. Đặc thù của DNV trong thực thi chiến lược kinh doanh bền vững  
Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá  
trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm  
mục đích sinh lợi. Việc kinh doanh thành công một vài sản phẩm, thu lợi nhuận cao trong  
một vài thời đoạn là điều dễ đạt của nhiều doanh nghiệp, nhưng để đạt tới kinh doanh bền  
vững trong bối cảnh hội nhập là điều không dễ, nhất là với DNV, bởi: (i) kinh doanh bền  
vững đòi hỏi doanh nghiệp cần làm tròn trách nhiệm xã hội về hiệu quả kinh doanh, tuân thủ  
luật pháp, đạo đức và công việc thiện nguyện, do đó cần được tổ chức tốt, hoạt động trong  
môi trường thể chế chất lượng. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp cùng áp lực minh bạch  
của thể chế đều tăng thuận với quy mô, trở thành đòi hỏi vượt tầm ở nhiều nước, nhất là ở  
nước xã hội dân sự chưa phát triển, chuẩn pháp trị chưa cao. (ii) Khi đi theo chiều tăng của  
quy mô, từ DNSN => DNN => DNV => DNL => tập đoàn kinh tế, tác động của các tác nhân  
vi mô, cục bộ, địa phương giảm dần, nhưng các tác động vĩ mô, khu vực và quốc tế tăng dần.  
DNV nằm ở tầm trung gian làm cho khi xây dựng và thực thi chiến lược kinh doanh bền  
vững cần xem xét đồng đều các tác động, kể cả vi mô lẫn vĩ mô. (iii) Không quá mỏng về  
398  
năng lực vốn, có nguồn nhân lực đủ đông để tổ chức bộ máy kinh doanh, có tuổi đời, sự từng  
trải trong kinh doanh, làm cho DNV là chủ thể thích hợp để áp dụng chiến lược khoa học,  
thiết thực hướng tới kinh doanh bền vững. Cho phép phát huy các kinh nghiệm kinh doanh  
của DNN tiền thân, dọn đường, quy hoạch để hướng tới việc trở thành thương hiệu lớn cho  
đất nước trong tương lai. (iv) Chủ yếu là doanh nghiệp cổ phần, nên việc kinh doanh bền  
vững của DNV còn cho phép sử dụng và khuếch trương bộ phận nguồn lực phát triển không  
nhỏ, hướng nguồn lực xã hội “hội tụ” về doanh nghiệp hiệu quả. Làm cho DNV dễ tiến, dễ  
lui trong mọi hoàn canh, như là các “cứ điểm” để giữ sự ổn định cho nền kinh tế trước các  
biến cố, hạn chế sự kém hiệu quả hoặc làm đổ vỡ các lượng vốn khan hiếm không nhỏ của xã  
hội.  
3.1.5. CMCN 4.0 tạo ra nhiều thuận lợi cho việc kinh doanh bền vững của DNV  
Mới xuất hiện và phát triển mạnh trong vài năm gần đây, CMCN 4.0 là quá trình tái tổ  
chức nền kinh tế - xã hội, qua việc tích hợp các công nghệ mới dựa trên nền tảng công nghệ  
thông tin, làm thay đổi cơ bản cách thức kinh doanh. Kết nối thế giới thực với thế giới ảo,  
CMCN 4.0 giúp con người tham gia và điều khiển chuỗi giá trị, làm kinh doanh trở nên thông  
minh và thân thiện với môi trường, ảnh hưởng đến kinh doanh bền vững của doanh nghiệp.  
Riêng đối với kinh doanh bền vững của DNV, CMCN 4.0 tạo ra nhiều thuận lợi, như: (i) Các  
công nghệ phân tích dữ liệu lớn, điện toán đám mây, kết nối vạn vật giúp DNV nhiều trong  
việc đánh giá và thực hiện các phương án kinh doanh, hướng doanh nghiệp mở rộng kinh  
doanh sang các khâu khác của chuỗi giá trị. Đồng thời, làm cho doanh nghiệp được hưởng lợi  
từ việc phát triển chính quyền điện tử, mở rộng thương mại điện tử, phát triển mối liên hệ  
kinh tế với doanh nghiệp khác. (ii) Giúp DNV tổ chức lại hoạt động kinh doanh, nhất thể hóa  
các dây chuyền sản xuất, giảm các khâu trung gian, dùng kỹ thuật học máy để rút ngắn giai  
đoạn thử nghiệm, chuyển dần sang kinh doanh thông minh. Giúp hiện đại hóa quản trị doanh  
nghiệp bằng việc dùng trí tuệ nhân tạo để khám phá cảm nhận của khách hàng, hỗ trợ giao  
tiếp, nghiên cứu và phát triển (R&D) sản phẩm mới, tuyển dụng và đào tạo nhân sự hiệu  
quả... (iii) Tạo cơ hội phát triển bền vững hơn cho DNV ở những ngành đang tái cơ cấu nhờ  
rõ hơn xu hướng phát triển, hoặc ở những ngành giàu tiềm năng nhưng gặp khó về thị  
trường... Hoặc cho các DNV đang cần liên kết, đối tác chiến lược từ nước phát triển, những  
ngành như khai thác hợp lý tài nguyên, bảo vệ môi trường vốn còn thiếu thông tin và công  
nghệ phù hợp... (iv) Cảnh báo sớm nguy cơ thất bại cho DNV ở các ngành bị tác động tiêu  
cực, như các ngành dễ chuyển sang tự động; bị suy giảm lợi thế, bị đẩy vào cạnh tranh gay  
gắt vì giới hạn thị trường... Các DNV ở nước phát triển chưa cao ở ba lĩnh vực: kỹ thuật số,  
công nghệ sinh học và vật lý còn bị tụt hậu bởi phát triển đột phá ở nước phát triển, khó thu  
hút FDI bởi nó có xu thế chảy vào các nước có nhiều điều kiện sản xuất cao cấp...  
3.1.6. CMCN 4.0 tạo ra nhiều thách thức cho việc kinh doanh bền vững của DNV  
Tuy nhiên, thách thức là chính và nhiều đối với việc kinh doanh bền vững của DNV,  
với các thách thức chính là: (i) Không biết ở đâu và lúc nào sẽ xuất hiện công nghệ hoặc sản  
399  
phẩm mới làm công nghệ hiện dùng hoặc sản phẩm chủ đạo của doanh nghiệp bị cạnh tranh  
gay gắt, thậm chí bị đào thải khỏi thị trường. Nhiều mối quan hệ kinh tế bị hạ cấp, chuyển  
hướng, thậm chí bị cắt bỏ trước sự xuất hiện của các đối tác mới, bất ngờ, không thương tiếc.  
(ii) Nhiều chuẩn bị về nguồn lực, công nghệ, dự báo về năng lực, thị phần, tổng cung, tổng  
cầu... bị đảo lộn, khi xuất hiện vật liệu, công dụng, hoặc tiêu chuẩn mới, có khi ở mức chưa  
từng biết. Nhiều chương trình, kế hoạch phát triển, nhiều dự án phải thay đổi, chuyển hướng  
hoặc bị loại bỏ, khiến các doanh nghiệp đang đầu tư liên quan “lãnh đủ”, nhất là khi chưa có  
các hợp đồng cụ thể, rõ ràng. (iii) Nhiều công nghệ đột phá trở thành “con dao hai lưỡi”, làm  
lao động và đổi mới công nghệ không theo kịp phát minh sáng chế, đưa doanh nghiệp vào rủi  
ro hoạt động, vào thua lỗ, phá sản. Công nghệ mới giúp năng suất lao động tăng nhiều khi  
vượt xa mức tăng nhu cầu, buộc phải giảm các doanh nghiệp kinh doanh, việc tích hợp nhiều  
tiện ích vào một sản phẩm, làm giảm cầu sản phẩm. (iv) Nhiều rủi ro tiềm ẩn, như làm gia  
tăng nguy cơ khủng hoảng thừa, nạn sao chép, hàng nhái; cạnh tranh không lành mạnh bằng  
scandal truyền thông; các cuộc chiến tranh thương mại làm kinh doanh tê liệt... Nhưng rủi ro  
lớn nhất là rủi ro bảo mật, nhất là với sản phẩm hàm lượng trí tuệ cao, các hoạt động tài chính  
ngân hàng, thanh toán; rủi ro đạo đức công vụ của nhân viên thoái hóa, biến chất trong thời  
đại kinh tế số... (v) Đối với DNV ở các nước phát triển chưa cao còn có thách thức là các  
robot chuyên dụng và thiết bị tự động hóa “cướp” việc làm; bị các doanh nghiệp ở các nước  
phát triển lợi dụng thế mạnh về phát minh sáng chế, o ép về công nghệ nguồn. Nhiều tiêu chí  
mới về an toàn sản phẩm, thân thiện với môi trường tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh,  
“bóp chết” nhiều sản phẩm truyền thống, ngăn cản sự thâm nhập của các sản phẩm từ bên  
ngoai vào các thị trường khó tính...  
3.2. Tình hình phát triển và kinh doanh của DNV ở Việt Nam  
3.2.1. Hệ thống doanh nghiệp Việt phát triển mạnh từ ngày Đổi mới  
Doanh nghiệp Việt trước Đổi mới rất khó phát triển, có ý kiến cho rằng những năm  
đó, các lãnh đạo bị bưng bít bởi thông tin sai lệch, bị ru ngủ bởi những người và cơ quan giúp  
việc (Đặng Phong, tr. 260), dẫn đến có sai lầm khuyết điểm. Khi đó nước ta bài xích mọi  
quan hệ thị trường (Võ Nguyên Giáp, dẫn theo Đặng Phong, tr. 159), xem nguyên lý thị  
trường là suy nghĩ ngông cuồng (Lê Văn Tân – Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước, dẫn  
theo Đặng Phong, tr. 293), triển khai mô hình phi kinh tế, không thể nào chấp nhận được  
(Trường Chinh, dẫn theo Đặng Phong, tr. 271)... Các thành phần kinh tế phi XHCN trong giai  
đoạn 1979-1986 bị cấm triệt để, chỉ chấp nhận các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) như là  
thành phần vật chất giúp điều tiết vĩ mô với số lượng ít, lúc cao nhất năm 1986 chỉ khoảng  
12.000 doanh nghiệp. Nguyên nhân này góp phần làm nền kinh tế rất kém hiệu quả, gây ra  
khủng hoảng trầm trọng những năm 1980, lạm phát 774,7% năm 1986 và tích đọng thành  
nguy cơ phá sản nhà nước năm 1993 khi nợ nước ngoài gần 150% GDP, nghĩa vụ trả nợ nước  
ngoài tới 195,8% tổng kim ngạch xuất khẩu2... Từ ngày Đổi mới, sau bốn lần đổi mới nhận  
thức về doanh nghiệp với việc ban hành và sửa đổi Luật doanh nghiệp (1990, 1999, 2005 và  
400  
2014), đã tạo ra bốn cao trào phát triển doanh nghiệp. Đặc biệt, trong giai đoạn 2007-2017 hệ  
thống doanh nghiệp phát triển vững chắc, khi có thêm 928.875 doanh nghiệp đăng ký thành  
lập mới, nâng số doanh nghiệp đã đăng ký thành lập lên 1.178.010 doanh nghiệp. Số doanh  
nghiệp hoạt động tăng lên 3,8 lần, từ 149.000 doanh nghiệp lên 561.064 doanh nghiệp; đưa  
số lao động làm trong doanh nghiệp tăng từ 7,2 triệu lên trên 14 triệu; tổng nguồn vốn trong  
doanh nghiệp tăng từ 4,8 triệu tỷ đồng lên 30,187 triệu tỷ đồng năm 2016; tổng doanh thu của  
khu vực doanh nghiệp tăng từ 3,5 triệu tỷ đồng lên 17,449 triệu tỷ đồng (VCCI, 2018, các tr.  
38-42)... Trong hệ thống doanh nghiệp đã hinh thành các khu vực, bộ phận doanh nghiệp, với  
cơ cấu doanh nghiệp theo loại hình, hình thức sở hữu, ngành nghề kinh doanh, vùng lãnh thổ  
ngày càng tích cực. Chất lượng doanh nghiệp nói chung, năng lực từng doanh nghiệp nói  
riêng theo hiệu quả sử dụng lao động, khả năng thanh toán, hiệu quả sử dụng nguồn vốn đều  
ngày càng cao. Tới nay, khu vực doanh nghiệp đã đóng góp 40% GDP, 30% vào tổng thu  
ngân sách, giải quyết khoảng 50% công ăn việc làm cho xã hội, đồng thời là chỗ dựa tin cậy  
cho nước ta trong hội nhập quốc tế...  
3.2.2. Quan niệm về DNV có nhiều thay đổi, nhưng luôn giàu tiềm năng phát triển  
Trước đây nước ta phân loại doanh nghiệp theo trong và ngoài quốc doanh; danh  
xưng “DNV” chỉ được sử dụng từ ngày 20/6/1998, theo công văn số 681/1998/CP-KTN của  
Chính phủ, và được chính thức hóa bằng Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001. Song,  
việc phân định cụ thể DNV chỉ có sau Nghị định 56/2009-NĐ-CP ngày 30/6/2009, và được  
điều chỉnh bằng Nghị định 39/2018-NĐ-CP ngày 11/3/2018, khi tăng thêm tiêu chí doanh  
thu.  
Hình 1. Các mốc thay đổi về tiêu chí xác định DNNVV nói chung và DNV ở nước ta  
Bình quân năm  
Ngày ban  
hành  
Loại hình  
Khu vực  
Vốn kinh Số lao động Doanh thu  
doanh (tỷ  
đồng)  
(người)  
(tỷ đồng)  
20/06/1998  
23/11/2001  
30/6/2009  
DNNVV  
DNNVV  
DNV  
-
< 5  
< 10  
< 200  
< 300  
-
-
-
-
Khu vực sản xuất  
Thương mại, dịch vụ  
> 20-100  
> 10-50  
≤ 100  
201-300  
51-100  
-
≤ 200  
≤ 200  
11/3/2018  
DNV (khi không Khu vực sản xuất  
phải là DNN hoặc  
Thương mại, dịch vụ  
DNSN  
≤ 100  
≤ 100  
≤ 300  
Nhìn chung, DNV ở nước ta hiện nay xấp xỉ về quy mô so với DNV ở các nước  
ASEAN; có quy mô lao động tương đương với DNV ở Australia, Taiwan, nhưng thua về vốn,  
doanh thu so với Taiwan. Song, dù với quan niệm nào thì tiềm năng phát triển DNV đều lớn,  
nhất là trong giai đoạn hiện nay, bởi: (i) Nhiều nơi có nguồn lực đủ sức cho phép thành lập  
ngay DNV, như hàng nghìn mỏ khoáng sản, vùng rừng tập trung; hàng vạn nơi có thể phát  
401  
triển nông nghiệp chuyên canh, nuôi trồng và đánh bắt hải sản... Nguồn nhân lực đông và  
tăng cao, nguồn cung vốn đang cải thiện, nguồn lực công nghệ đang được phát huy, thị  
trường tại chỗ hơn 90 triệu dân, nhà nước đang thúc đẩy phong trào khởi nghiệp. (ii) Nguồn  
doanh nghiệp dự trữ cho quá trình nâng cấp lên thành DNV đông đảo và tăng nhanh, hiện có  
trên 113.000 DNN, trên 375.000 DNSN, trên 3,5 triệu hộ kinh doanh đã cấp mã số thuế, hàng  
vạn trang trại, hàng trăm ngàn doanh nghiệp thành lập mới hàng năm... Quốc hội vừa thông  
qua Luật hỗ trợ DNNVV, Chính phủ khuyến khích đưa doanh nghiệp về hỗ trợ nông nghiệp,  
chú trọng mở rộng sản xuất ở vùng sâu, nâng cấp doanh nghiệp để hội nhập... (iii) Việt Nam  
là điểm đến ưa thích của nhà đầu tư nước ngoài, là thị trường năng động, đang phát triển tốt,  
và nhìn đâu cũng thấy cơ hội (Brian Hull, Tổng giám đốc ABB Việt Nam, dẫn theo Lan Anh,  
2018). Giai đoạn 2014-2017 ký tới 4 FTA, làm cho không chỉ các tập đoàn đa quốc gia, mà cả các  
nhà đầu tư nhỏ lẻ cũng đang tìm đến Việt Nam để đầu tư đón đầu hưởng lợi theo các FTA...  
3.2.3. DNV ở nước ta đã có nhiều bước tiến dài trong phát triển và KD  
Có nhiều thay đổi trong quan niệm về DNV, lại có nền kinh tế nhiều năm lạm phát  
cao, nên khó đưa ra bức tranh tổng thể, xuyên suốt về tình hình phát triển, kinh doanh của  
DNV. Nhưng ở mức độ khái quát, có thể thấy: (i) Nhờ tiềm năng lớn, nên khu vực DNV đã  
có sự tăng nhanh về lượng, từ chỗ có rất ít DNV, chiếm tỷ trọng không đáng kể trong 12.000  
doanh nghiệp hoạt động năm 1986, do đó chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước, giữ vai trò  
“xương sống” của nền kinh tế. Sự chạy đua phát triển kinh tế địa phương của 63 tinh thành,  
cùng xu hướng tăng vốn để tham gia xuất khẩu và hội nhập quốc tế của các DNN, đến năm  
2015, số DNV theo quy mô vốn đã tăng lên 108.180 doanh nghiệp, như là kỳ tích phát triển.  
(ii) Bộ máy nhà nước với 22 bộ và cơ quan ngang bộ, cùng việc có 63 “nền kinh tế nhỏ”  
trong nền kinh tế mới có quy mô GDP vượt 200 tỷ USD trong 2 năm vừa qua, làm các doanh  
nghiệp Việt rất khó hợp lực tạo thành thương hiệu lớn. Nhưng lại làm DNV phát triển rộng  
khắp ở mọi ngành nghề, lĩnh vực, ngày càng giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát  
triển của các ngành, địa phương, trong các chuỗi giá trị quốc gia. (iii) DNV còn là thành tố  
quan trọng để thu hút đối tác nước ngoài tới tham gia liên doanh, liên kết; là nơi thu gom và  
sơ chế các sản phẩm thô, nhất là các nông sản được sản xuất phân tán phục vụ xuất khẩu.  
Hoạt động kinh doanh khởi sắc của DNV còn cung cấp thêm nhiều DNL, đóng góp đa dạng,  
và quan trọng cho tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. (iv) Sự phát triển yếu ớt của nhiều  
ngành, nhất là công nghiệp phụ trợ, cùng nguồn lao động giá rẻ, với các FTA thế hệ mới,  
cùng các chỉ tiêu môi trường thấp, ít bắt buộc về chuyển giao công nghệ… Đã trở thành các  
nhân tố quan trọng để thu hút nhiều doanh nghiệp FDI quy mô vừa tìm đến Việt Nam, nhất là  
ở lĩnh vực gia công, lắp ráp, hoặc ở ngành có nhiều tác động đến môi trường… (v) Nhiều lô  
hàng xuất khẩu gây tiếng vang trong thời gian gần đây là các sản phẩm thăm dò thị trường,  
như hoa quả, đồ gỗ gia dụng, sản phẩm truyền thống của các DNV. Do đó, cùng với các  
DNL, DNV đang trở thành thành tố quan trọng, góp phần khắc họa, định vị và khuếch trương  
thương hiệu Việt trên bản đồ kinh tế thế giới…  
402  
3.2.4. DNV còn nhiều hạn chế, yếu kém trong phát triển và kinh doanh bền vững  
Đã đông về lượng, nhưng từng DNV cũng như toàn khu vực DNV còn nhiều hạn chế,  
yếu kém, cả trong phát triển, lẫn trong kinh doanh, bởi: (i) Tiêu chuẩn phân định vốn thấp,  
ngưỡng trên về vốn của DNV ở khu vực EU là 27 triệu Euro, còn ở nước ta chỉ hơn 4 triệu  
Euro, khiến nhiều DNL thực chất là DNV bị “ép” lớn, không còn được hỗ trợ. Nhiều DNV  
hiện có chưa đủ tầm đảm nhiệm các trọng trách, làm cả hai nhóm doanh nghiệp đều khó phát  
triển, và khó kinh doanh hiệu quả. (ii) Nguồn dự trữ để phát triển thành DNV khan hiếm, vì  
DNN đang trong tình trạng “li ti hóa” (Võ Trí Thành, dẫn theo Ngọc Khanh, 2018), nhiều  
doanh nghiệp “không muốn lớn” vì sợ rủi ro và tốn chi phí. Các DNN muốn nâng cấp thành  
DNV khó tăng vốn vì lợi nhuận tích lũy nhỏ do giá vốn cao, dân cư có mức sống trung bình  
còn thấp; DNNN chưa chịu “trả đất” nên DNV thiếu “đất” hoạt động. (iii) DNV có doanh thu  
không nhiều, lại mới dành bình quân chỉ khoảng 0,3% doanh thu cho R&D, nên khó san lấp  
khoảng cách phát triển, dễ sa vào tình trạng tụt hậu, khó đủ sức cạnh tranh trong các FTA thế  
hệ mới. Mặt khác, chi phí vận tải và giá vốn đắt đỏ, chi phí không chính thức lớn, chi phí  
thực hiện các thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh cao, nên “chậm phát triển”. (iv)  
Nền kinh tế có độ mở rộng, nhiều FTA cam kết rộng và sâu vượt khả năng thích ứng của  
DNV, lại thực thi trong thời điểm nền kinh tế đang về đáy trong chu kỳ 10 năm, tạo nên áp  
lực mạnh, dễ đẩy nhiều DNV vào thế đổ vỡ. Chiến tranh thương mại Trung – Mỹ đã nổ ra,  
lượng sản phẩm lớn từ Trung Quốc đã chuyển từ hướng vào thị trường Mỹ, dồn sang nước ta,  
làm lao đao các DNV có sản phẩm tương tự. (v) Trung Quốc là công xưởng của thế giới, sự  
phụ thuộc về nguyên liệu từ Trung Quốc, nạn buôn lậu qua biên giới với mức chênh lệch xuất  
khẩu tiểu ngạch có năm trên 20 tỷ USD là “bóng ma” ám ảnh DNV. Nhiều chiêu trò, thủ  
đoạn của doanh nghiệp “Ba Tầu” thâm độc, tiềm ẩn rủi ro với các DNV chưa lọc lõi về kinh  
doanh của nền kinh tế có quy mô GDP mới 220 tỷ USD... Vì thế, mấu chốt để phát triển và  
kinh doanh bền vững của DNV hiện nay là thúc đẩy quá trình “tự lớn” của DNN, tăng nguồn  
dự trữ DNN bằng phong trào khởi nghiệp, đồng thời “cởi trói” tối đa cho hoạt động doanh  
nghiệp.  
3.2.5. Nguyên nhân của các hạn chế, yếu kém trong phát triển và kinh doanh của  
DNV  
Rất nhiều nguyên nhân, trong đó các nguyên nhân chính là: (i) Việt Nam chưa có chủ  
thuyết phát triển riêng, phù hợp, có cơ sở kinh tế vững chắc, chính sách luôn thay đổi theo lối  
xoay xở đối phó, làm các nhà đầu tư và doanh nghiệp bị phân tâm, khó định hướng, không  
dám đầu tư chiến lược lâu dài. Quản lý nhà nước có nhiều lỗ hổng pháp lý, tạo lợi nhuận  
“khủng” khi trục lợi chính sách, khiến nhiều doanh nghiệp hướng vào kinh doanh “chộp,  
giật”, không cốt lõi, thui chột sáng tạo, làm méo mó thị trường, tạo bất ổn về sau. (ii) Sự mơ  
hồ, chung chung trong các chủ trương, quyết sách, làm cho nhiều chương trình, kế hoạch bị  
“thiên biến vạn hóa”, lợi cho đối tượng biến chất lợi dụng, nhưng khó cho DN. Nhiều quá  
trình như công nghiệp hóa, chuyển đổi kinh tế, sắp xếp DNNN, tái cơ cấu không được triển  
403  
khai rốt ráo, triệt để, khiến doanh nghiệp bị đẩy vào “mê hồn trận” không biết phải làm gì,  
phối hợp với ai và dựa vào đâu để phát triển. (iii) Bộ máy quản lý nhiều tầng nấc, chưa  
chuyên nghiệp, kỷ cương chưa cao, còn không ít công chức thoái hóa biến chất, hay nhũng  
nhiễu, can thiệp phi kinh tế, làm môi trường đầu tư, kinh doanh thiếu lành mạnh. Nhiều rào  
cản hạn chế khả năng tiếp cận vốn, làm gia tăng các chi phí: lao động, cơ sở hạ tầng logistics,  
thực hiện nghĩa vụ nhà nước, làm nản lòng các doanh nhân. (iv) Nền kinh tế chủ yếu ở công  
nghệ 2.0, hoặc thấp hơn, đang hội nhập với trên 50 đối tác, trong đó có 32/35 thành viên của  
Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế, 13 thành viên G20, nên dư địa phát triển hẹp. Nhưng  
thiếu vốn lớn, giá rẻ, thời hạn dài để đầu tư cơ bản, nhằm thu hẹp cách biệt công nghệ, trình  
độ phát triển, nên doanh nghiệp luôn lo sợ thất bại. (v) Đa phần DNV là doanh nghiệp tư  
nhân, bị xem là phận “con ghẻ”, bên “con đẻ” là DNNN, “con nuôi” là doanh nghiệp FDI;  
còn bị huy động tới 40,8% lợi nhuận thông qua thuế phí3. Với điều kiện công nghệ, giá vốn,  
lao động, thị trường hiện tại, đây là số thu tận vét, đe dọa khả năng sinh lời, làm cho số doanh  
nghiệp phải ngừng hoạt động hàng năm luôn lớn, như năm 2014 tương đương 90,6% số  
doanh nghiệp thành lập mới trong năm, làm giảm sút hy vọng kinh doanh...  
3.2.6. Thách thức và thuận lợi cho việc phát triển và kinh doanh bền vững của DNV  
ở nước ta trong bối cảnh CMCN 4.0  
Bối cảnh phát triển và kinh doanh vốn phức tạp của DNV ở Việt Nam càng thêm  
phức tạp khi CMCN 4.0 xuất hiện và phát triển, với các thách thức chính là: (i) Sản lượng,  
giá thành và chất lượng của các sản phẩm tương tự ở nước phát triển cao thay đổi nhiều nhờ  
công nghệ 4.0, làm lợi thế cạnh tranh nghiêng hẳn về các đối tác trong các FTA. Lợi thế lao  
động giá rẻ của nước ta bị thu hẹp, nhiều khâu cần lao động sống được tự động hóa, robot  
chuyên dụng, in 3D thay dần gia công, lắp ráp, làm giảm đáng kể lợi nhuận của doanh  
nghiệp. (ii) Việc dùng công nghệ 4.0 để sản xuất thay thế hàng nhập khẩu, dùng robot chuyên  
dụng giải phóng lao động của con người... là các ưu tiên ở các nước CMCN 4.0 phát triển  
mạnh. Việc dùng công nghệ sinh học để sản xuất nông sản nhiệt đới, dùng in 3D để chế tạo  
hàng may mặc, giầy dép... buộc hàng vạn DNV ở nước ta phải tái cơ cấu, chuyển hướng kinh  
doanh. (iii) DNV phải tìm vốn để đầu tư nâng cấp công nghệ, đào tạo lại nhân lực, đổi mới  
thiết bị, tránh nguy cơ bị đào thải vì lạc hậu, lấy lại vị thế trong kinh doanh. Thách thức về  
thu hút và sử dụng nhân lực để chủ động trước các diễn biến trong tương lai, giữ nhân viên  
chất lượng, ngăn chặn, khắc phục các trục lợi của nhân viên biến chất. (iv) Thách thức dung  
hòa hợp lý nhu cầu tiếp cận nhanh, tiện lợi cho khách hàng, với an toàn bảo mật thông tin,  
phát triển thương mại điện tử, nguồn nhân lực đồng bộ với hạ tầng kinh tế số. Triển khai  
được kinh doanh thông minh, nhưng không vi phạm quyền riêng tư, phòng chống được tấn  
công mạng, ngăn ngừa sự cố truyền thông, đóng góp hiệu quả cho hoạt động thiện nguyện...  
Song, CMCN 4.0 cũng tạo ra nhiều thuận lợi mà DNV cần khai thác, như sử dụng các công  
nghệ phân tích dữ liệu lớn, điện toán đám mây, trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối blockchain, vạn  
vật kết nối… để thẩm định phương án kinh doanh, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm, đổi mới mẫu  
404  
mã và chất lượng sản phẩm. Giúp tổ chức lại mạng lưới doanh nghiệp hỗ trợ, phát triển mạng  
lưới tiêu thụ, tính toán thời điểm đổi mới giá trị, hoàn thiện tổ chức kinh doanh, đưa chất  
lượng quản trị doanh nghiệp lên tầm cao mới. Song cơ hội lớn nhất là CMCN 4.0 sẽ biến  
nhiều khả năng nhỏ thành lợi thế, giúp nhiều DNN lớn nhanh, liên kết các DNN, DNSN lại  
với nhau, giúp giải bài toán thị trường, để DNV kinh doanh thuận lợi...  
3.3. Các giải pháp để phát triển và hỗ trợ kinh doanh bền vững cho DNV ở Việt  
Nam trong bối cảnh CMCN 4.0  
Để DNV phát triển và kinh doanh bền vững trong bối cảnh CMCN 4.0, điều kiện  
trước tiên là phải làm cho chúng hội nhập được vào CMCN 4.0, lấy đó làm môi trường hoạt  
động. Để làm được điều đó, việc thành lập, điều hành, quản trị doanh nghiệp cần phải có  
quan điểm cách mạng, tư duy cách mạng, quyết định cách mạng, ứng xử cách mạng phù hợp  
với thực tế, với bản chất của CMCN 4.0. Vì thế, để phát triển, hỗ trợ kinh doanh bền vững  
cho doanh nghiệp Việt nói chung, khu vực và từng DNV nói riêng cần phải làm nhiều cuộc  
“cách mạng con”, với các hướng chính là:  
Một là, tập trung trí tuệ tinh hoa của dân tộc để xây dựng chủ thuyết phát triển, khoa  
học, cụ thể, rõ ràng cho đất nước, lấy đó làm kim chỉ nam cho đầu tư mới và cơ cấu lại nền  
kinh tế, tạo khung nền và định hướng đầu tư cho các doanh nghiệp liên quan.  
Thời buổi toàn cầu hóa và kinh tế tri thức, nghiên cứu kinh tế bằng chạy mô hình định  
lượng, là lúc bắt buộc phát triển kinh tế phải dựa vào lợi thế, với các mô hình có cơ sở vững  
chắc, dùng công nghệ hiện đại. Mặt khác, các doanh nghiệp, nhất là DNV có tiềm lực kinh tế  
chưa mạnh, để tồn tại lâu dài, kinh doanh bền vững phải đầu tư chiến lược, lâu dài, bài bản.  
Vì thế, để có con đường đúng, phải nghiêm khắc nhìn nhận lại kinh tế đất nước, không phải  
để tuyên truyền, mà để nhập cuộc cạnh tranh không khoan nhượng. Biết cái mạnh để tự tin,  
để phát huy; nhưng cần biết cái yếu, cái kém, để biết mình, biết người, tránh kết cục không  
mong muốn. Do đó, cần tập hợp trí tuệ tinh hoa toàn dân tộc, nhất là của các nhà khoa học,  
kỹ trị, với nòng cốt là các thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng, để có cái nhìn tổng  
hợp, sát thực về hiện tình đất nước. Phải làm rõ được nền kinh tế đang ở đâu trên con đường  
định hướng XHCN; thực lực và lợi thế không “tô hồng”, khiếm khuyết không che đậy, theo  
từng FTA, và chúng thay đổi thế nào dưới tác động của CMCN 4.0. Dựa vào đó xây dựng  
chủ thuyết phát triển, để nước ta thực sự là một miếng ghép phù hợp, khoa học, không thể  
thiếu của kinh tế thế giới. Từ đó, các bộ ngành, địa phương có các chương trình, kế hoạch sát  
thực, các doanh nghiệp tìm ra vị trí của mình để đầu tư đúng và trúng. Có thế kinh tế Việt  
Nam mới từng bước tăng thêm vóc dáng; các DNV với vị thế hạn chế, vẫn rõ hướng đầu tư,  
phát triển mạnh, kinh doanh bền vững trước các thay đổi nhanh chóng của CMCN 4.0.  
Hai là, giao trách nhiệm và lộ trình cho các cơ quan chức năng tiếp tục triển khai và  
hoàn tất các quá trình kinh tế dang dở, tháo gỡ cơ bản các nút thắt, rào cản đã được nhận  
dạng, nhằm giảm nhiễu và lành mạnh hóa môi trường đầu tư, kinh doanh cho DN.  
405  
Lộ trình hội nhập rất gấp gáp, áp lực của CMCN 4.0 tăng lên hàng ngày, cả thế giới  
đang chạy đua, nước ta cũng không thể chậm trễ, bởi thời gian không chờ đợi cũng không  
nương nhẹ ai, nếu không sẽ trả giá đắt. Các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,  
thậm chí lớn như Trung Quốc cũng chỉ cần khoảng 30 năm để “hóa Rồng”, thành cường  
quốc. Song nước ta, với các khoảng thời gian dài hơn vẫn chưa hoàn thành công nghiệp hóa,  
chuyển đổi kinh tế; hơn 1/4 thế kỷ chưa sắp xếp xong DNNN, sau 6 năm chưa tạo chuyển  
biến đáng kể cho tái cơ cấu. Nhiều vấn đề, hạn chế đã được nhận dạng, nêu lên từ các Đại hội  
Đảng nhiều năm trước đây vẫn là điệp khúc... Hậu quả không chỉ là suy giảm niềm tin, là mối  
lo năng lực giải quyết tồn tại, nguy cơ vô hiệu hóa chính sách tốt đẹp, tích đọng rủi ro. Đó  
còn là vật cản phát triển doanh nghiệp, làm suy yếu trung tâm nền kinh tế, giảm số và chất  
lượng “người chơi” trong các FTA... Để doanh nghiệp Việt vốn thua kém doanh nghiệp đối  
tác đủ mặt, từ quy mô, vốn, công nghệ, quản trị, càng khó cạnh tranh, dễ bị thôn tính, phụ  
thuộc. Nước ta không thể cứ mãi chùng chình các quá trình dang dở; để các nút thắt, rào cản  
do các nguyên nhân chủ quan, tiếp tục níu kéo, kìm hãm, đẩy doanh nghiệp vào “cửa tử”  
trong cạnh tranh quốc tế. Các cơ quan chức năng phải đứng ra giải quyết, đó là trách nhiệm,  
là sứ mệnh chính trị, và phải làm gấp, nếu không dễ phải ân hận, chịu phán xét của lịch sử.  
Phải làm tốt để giúp các doanh nghiệp, trong đó có các DNV không bị nhiễu động, có môi  
trường lành mạnh, để phát triển, kinh doanh bền vững đóng góp được nhiều chứ không gây  
họa cho sự nghiệp chung.  
Ba là, đổi mới sâu sắc bộ máy quản lý, chuyển dần từ quản lý theo ngành sang theo  
DN, giảm tối đa các đầu mối, tầng nấc, sàng lọc và bổ sung hợp lý đội ngũ cán bộ, hướng tới  
hoàn thiện Chính phủ kiến tạo đích thực, đồng hành sâu sát cùng DN.  
Khó có thể phủ định: chính bộ máy quản lý cồng kềnh, nhiều tầng nấc, ban bệ, còn  
công chức thoái hóa, biến chất, làm hiệu lực quản lý thấp là cản trở lớn nhất quá trình phát  
triển của nước ta. Các nút thắt ngân sách căng thẳng, nợ công kịch trần, nợ đọng lớn, chính  
sách tốt khó đi vào cuộc sống, “rừng” thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, chi phí  
“bôi trơn” khủng, nạn “chạy”... đều là hệ lụy từ đây. Hàng chục “cửa” có quyền can thiệp vào  
KD; mỗi chủ trương phải đi qua nhiều tầng nấc có lẫn vài viên chức biến chất. Việc còn viên  
chức dưới chuẩn được tuyển dụng, khó thải loại dù biết vi phạm đạo đức công vụ; khó tinh  
giảm bộ máy khi chỉ khoảng 2/3 công chức làm được việc... Di họa 10 năm lãnh đạo của cựu  
Thủ tướng khóa trước, làm tham nhũng ăn sâu vào trong bộ máy nhà nước và lan tràn trong  
xã hội (Vũ Mão, dẫn theo Trinh Phúc, 2017), nhóm lợi ích chi phối nhiều mặt đời sống. Cần  
học tập Trung Quốc, ân xá cao cho cán bộ tự giác khai nhận lỗi, tạm thời bỏ qua sai phạm  
trong quá khứ, nhưng từ thời điểm được lựa chọn, mọi sai phạm sẽ bị nghiêm trị, để ngăn sự  
suy thoái, trục lợi tràn lan của quan chức. Đưa ra lộ trình tự đào tạo, sau đó thi kiểm tra năng  
lực, 1/3 viên chức yếu nhất trong mỗi cơ quan sẽ bị sa thải... Có thế, tiêu cực mới giảm thiểu,  
bộ máy mới tinh giản lấy chỗ thu nhận nhân tài, mới có Chính phủ kiến tạo đích thực, đủ  
năng lực và uy tín để lãnh đạo đất nước. Tạo chỗ để phong trào khởi nghiệp phát triển, nhiều  
406  
DNN tự thân phát triển thành DNV, từng DNV có chỗ dựa, vượt qua áp lực, đương đầu với  
thách thức, hội nhập được với các doanh nghiệp ở các siêu cường, kinh doanh bền vững dù  
tụt hậu trước CMCN 4.0...  
Bốn là, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng để hình thành đội ngũ doanh nhân  
xứng tầm, thích nghi tốt với môi trường hội nhập trong bối cảnh CMCN 4.0, có văn hóa kinh  
doanh lành mạnh, lấy việc phụng sự các trách nhiệm xã hội làm mục tiêu phấn đấu.  
DNV với tầm ảnh hưởng khiêm tốn, chỉ có thể phát triển và kinh doanh bền vững khi  
được quản lý bởi các nhà kỹ trị, hiểu biết về doanh nghiệp, với bề dầy kinh nghiệm, có uy tín  
và văn hóa kinh doanh lành mạnh. Song nước ta có đến 1/4 thế kỷ là nền kinh tế tập trung,  
từng xem doanh nhân là “con phe”, “gian thương”, các trường kinh tế cũng chỉ giảng lướt về  
kinh doanh... Vì thế, khi phong trào thành lập doanh nghiệp bùng nổ, nước ta rất thiếu doanh  
nhân, thậm chí đến năm 2012, có tới 55,63% số chủ DNNVV có trình độ học vấn từ trung  
cấp trở xuống4. Đây là nguyên nhân cơ bản làm số doanh nghiệp phải ngừng hoạt động trong  
giai đoạn 2011-2015 luôn rất cao, chiếm đến 69,88-90,62% số doanh nghiệp thành lập mới  
trong năm (VCCI, 2017, tr. 23). Đội ngũ này không thể nào lãnh đạo doanh nghiệp, giúp nó  
kinh doanh bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, khi CMCN 4.0 lan rộng. Nhưng họ là  
cổ đông chính, là chủ doanh nghiệp, không thể gạt ra khỏi cương vị lãnh đạo, điều hành  
doanh nghiệp, dù nếu doanh nghiệp đổ vỡ họ sẽ là người trả giá chính. Song, đường sau đó là  
công ăn việc làm của các lao động trong doanh nghiệp, là hiệu ứng đồng lần, là ngoại ứng  
tiêu cực, là tổn thất vốn xã hội... Do đó, cần tăng cường công tác đào tạo lại, bồi dưỡng để  
nâng cao trình độ cho họ, tạo điều kiện để hình thành đội ngũ doanh nhân xứng tầm với thời  
cuộc, thích nghi được với môi trường hội nhập trong bối cảnh CMCN 4.0. Cần giúp họ loại  
dần thói quen kinh doanh “chộp, giật”, giảm thiểu “văn hóa phong bì”, xây dựng văn hóa  
kinh doanh chân chính, theo lối win-win theo các chuỗi giá trị, để DNV lấy việc phụng sự các  
trách nhiệm xã hội làm mục tiêu phấn đấu.  
Năm là, chuyển hướng các doanh nghiệp bị đe dọa, đẩy mạnh sự phối hợp giữa các  
doanh nghiệp, phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp, sự góp sức của cộng đồng,  
khuếch trương ảnh hưởng của doanh nghiệp FDI, hướng tới hình thành hệ thống doanh  
nghiệp Việt hài hòa với khu vực DNV phát triển và vững mạnh.  
Đòi hỏi kinh doanh bền vững trong bối cảnh hội nhập sâu rộng khi CMCN 4.0 phát  
triển là kỳ vọng cao đối với doanh nghiệp Việt, nhưng còn là trách nhiệm của doanh nghiệp  
trước tương lai dân tộc, và ngược lại. Do đó, cần chuyển hướng kinh doanh hợp lý cho các  
ngành bị CMCN 4.0 đe dọa, như gia công, lắp ráp; hoặc chuyển chúng sang phục vụ câc thị  
trường dễ tính như Lào, Campuchia; phát triển doanh nghiệp sản xuất hàng giá rẻ theo các  
FTA... Mặt khác, để tăng lực đỡ cho phát triển và kinh doanh của DNV cần nguồn vốn xã  
hôi, từ kinh nghiệm của doanh nghiệp đi trước, đến sự ủng hộ của cộng đồng trong các lần  
doanh nghiệp phát hành trái phiếu mở rộng. Các doanh nghiệp cần phối hợp chung sức, nhất  
là giữa các doanh nghiệp có mối quan hệ theo chiều “dọc”, phối hợp giữa các doanh nghiệp  
407  
sử dụng chung hạ tầng, cùng phối hợp trong logicstic... Đây là mối quan hệ đôi bên cùng có  
lợi, nhưng lâu nay bị xem nhẹ bởi bị tách biệt, cát cứ theo quyền lực của các bộ ngành địa  
phương. Bên cạnh đó, cần phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp theo sự mở rộng  
của quan hệ kinh tế, vượt ranh giới hành chính, để từng doanh nghiệp thực sự là các mảnh  
ghép cơ cấu theo ngành, chuỗi cung ứng, chuỗi giá trị, cũng như địa bàn lãnh thổ... Cần khai  
thác tối đa sự hỗ trợ góp sức của cộng đồng, như trong việc hỗ trợ đảm bảo trật tự an toàn xã  
hội, hỗ trợ y tế, giáo dục cho người lao động và thân nhân, cho việc tiêu dùng tại chỗ. Ngoài  
ra, cần thu hút FDI khôn ngoan để khai thác ảnh hưởng lan tỏa, nhất là trong các lĩnh vực mà  
trong nước chưa tự làm được, hướng tới hình thành hệ thống doanh nghiệp Việt phát triển,  
với khu vực DNV đông về lượng, mạnh về chất, phát triển với tốc độ cao và kinh doanh bền  
vững.  
4. Kết luận  
Như vậy, về cơ bản cả hai quá trình phát triển, kinh doanh bền vững cho doanh  
nghiệp trong đó có DNV, và ứng xử trước CMCN 4.0, Việt Nam đều đang đi đúng hướng,  
song đều mới nhanh về mức độ quan tâm, chủ trương, nhưng còn chậm về triển khai thực  
hiện. Đẩy nhanh các quá trình này trong điều kiện hiện nay không dễ, khi nhìn vào đâu cũng  
thấy sự lạc hậu, trì trệ, thiếu và yếu của các thành tố thực hiện lẫn hỗ trợ, cả về con người,  
phương cách và nguồn lực thực hiện. Hơn nữa, để đạt tới chuẩn mực quốc tế cho các quá  
trình này, Việt Nam còn không ít các rào cản về quan niệm, về ý thức hệ đang cần nghiên cứu  
thêm, gây khó cho các đột phá có tính chất cách mạng. Song với các thay đổi trong nhận thức  
về phát triển kinh tế mở đầu bằng Đại hội Đảng XII, đến việc Đảng liên tục đưa ra các Nghị  
quyết về xây dựng Đảng, về phát triển kinh tế tư nhân... Kế đó, Quốc hội thông qua Luật Hỗ  
trợ DNNVV; Chính phủ chuyển mạnh sang kiến tạo, cùng quan điểm: “Đặt doanh nghiệp vào  
vị trí trung tâm của hệ thống đổi mới quốc gia” của người đứng đầu Chính phủ. Việc tái  
thành lập các ban tư vấn cho Thủ tướng, việc lãnh đạo Đảng, Chính phủ, bộ ngành liên tục  
sâu sát với việc nghiên cứu và tìm cách ứng phó với CMCN 4.0; các trường đại học, viện  
nghiên cứu quan tâm tới CMCN 4.0, tới Tăng trưởng Xanh, kinh doanh bền vững... Đó là các  
cơ sở để có thể tin rằng: việc phát triển và tổ chức kinh doanh bền vững cho DNV ở Việt  
Nam tuy khó khăn, nhưng nếu triển khai được các giải pháp đột phá, thì vẫn đi đến thành  
công. Thậm chí, còn có thể xem công việc này sẽ là một trong các bước đi thực tế để biến  
CMCN 4.0 thực sự trở thành cơ hội phát triển quan trọng cho nước ta...  
Chú dẫn  
1. Hải Thanh (2015), Phát triển doanh nghiệp đón cơ hội từ hội nhập, truy cập ngày  
trien-doanh-nghiep-don-co-hoi-tu-hoi-nhap-68556.html>  
2. Hoàng Thị Nắng Hồng (2013), Thực trạng nợ công và quản lý nợ công ở Việt Nam,  
tra/thuc-trang-no-cong-va-quan-ly-no-cong-o-viet-nam-31983.html>  
408  
3. Cẩm An (2016), Doanh nghiệp “nộp” tới 40,8% lợi nhuận cho nhà nước thông qua  
thuế phí, truy cập ngày 22/06/2018, từ <http://cafef.vn/vi-mo-dau-tu/doanh-nghiep-nop-toi-  
40-8-loi-nhuan-cho-nha-nuoc-thong-qua-thue-phi-20160129075640222.chn>  
4. Vũ Hoàng Mạnh Trung (2014), Đào tạo chủ DNNVV: Thực trạng và giải pháp,  
vua-thuc-trang-va-giai-phap/c/14422837.epi>  
Tài liệu tham khảo  
Đặng Phong (2012), Tư duy kinh tế Việt Nam 1975 – 1989, Nxb Tri thức, Hà Nội.  
Lan Anh (2018), Sếp Tập đoàn FDI: Tôi chấm môi trường đầu tư của Việt Nam 11 điểm,  
cua-viet-nam-11-diem-post858630.html>  
Ngọc Khanh (2018), Lo doanh nghiệp “li ti hóa” quy mô, truy cập ngày 26/06/2018,  
từ <http://thoibaonganhang.vn/lo-doanh-nghiep-li-ti-hoa-quy-mo-72473.html>  
Trần Thọ Đạt & Tô Trung Thành (2018), Đánh giá Kinh tế Việt Nam Thường niên  
2017, Nxb ĐH Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.  
Trần Thị Hòa (...), Một số ý kiến về tiêu chí phân loại DNNVV theo Nghị định số  
90/2001/NĐ-CP của Chính phủ, tài nguyên DOC.  
Trinh Phúc (2017), Ông Vũ Mão: Còn nhiều sơ hở để cán bộ lộng quyền dẫn đến  
tham nhũng nghiêm trọng, truy cập ngày 28/06/2018, từ <http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Ong-  
Vu-Mao-Con-nhieu-so-ho-de-can-bo-long-quyen-dan-den-tham-nhung-nghiem-trong-  
post174030.gd>  
VCCI (2017), Báo cáo Thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2016, Nxb Thông tin và  
Truyền thông, Hà Nội.  
VCCI (2018), Báo cáo Thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2017/2018, Nxb Thông  
tin và Truyền thông, Hà Nội.  
409  
pdf 16 trang Thùy Anh 16580 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển và kinh doanh bền vững của doanh nghiệp vừa trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_va_kinh_doanh_ben_vung_cua_doanh_nghiep_vua_trong.pdf