Đo lường mức độ hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp vùng Duyên hải Nam Trung Bộ

VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 100-109  
VNU Journal of Economics and Business  
Journal homepage: https://js.vnu.edu.vn/EAB  
Original Article  
Measuring Resident Satisfaction of the Quality  
of Fishery Public Services in the South Central Coast  
Nguyen Danh Nam*, Uong Thi Ngoc Lan  
Hanoi University of Natural Resources and Environment  
No. 41A, Phu Dien Road, Bac Tu Liem Distr., Hanoi, Vietnam  
Received 05 February 2021  
Revised 13 April 2021; Accepted 25 June 2021  
Abstract: This study examines factors affecting resident satisfaction of the quality of fishery public  
services. The data collected from 398 interviewees living in Quang Ngai and Binh Dinh provinces  
are processed with descriptive statistics, Cronbach's alpha, Exploratory Factor Analysis (EFA), and  
multivariate regression analysis. It is indicated in the research that there are six factors affecting  
resident satisfaction of the quality of fishery public services including: i) empathy; ii) tangibles; iii)  
reliability; iv) responsiveness; v) assurance; and vi) transparence. Based on the research results, a  
number of solutions have been proposed so as to improve resident satisfaction of the quality of  
fishery public services.  
Keywords: Satisfaction, service quality, fishery public services.  
D*  
_______  
*Corresponding author  
E-mail address: [email protected]  
100  
VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 100-109  
101  
Đo lường mức độ hài lòng của người dân  
đối với chất lượng dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp  
vùng Duyên hải Nam Trung bộ  
Nguyễn Danh Nam*, Uông Thị Ngọc Lan  
Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường  
Số 41A đường Phú Diễn, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 05 tháng 02 năm 2021  
Chỉnh sửa ngày 13 tháng 4 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 25 tháng 6 năm 2021  
Tóm tắt: Mục đích của nghiên cứu là kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ hài lòng của người  
dân đối với chất lượng dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp. Dữ liệu thu được từ 398 người dân khảo  
sát tại 2 tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định được xử lý bằng thống kê mô tả, kiểm tra thang đo  
Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích hồi quy bội. Kết quả nghiên cứu  
chỉ ra có 6 yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ công phục  
vụ ngư nghiệp, được sắp xếp theo mức độ từ mạnh nhất đến yếu nhất: i) Sự tin cậy; ii) Sự phản hồi;  
iii) Sự đảm bảo; vv) Sự cảm thông; v) Tính minh bạch; và vi) Phương tiện hữu hình. Trên cơ sở kết  
quả nghiên cứu, một số hàm ý quản trị đã được để xuất nhằm nâng cao mức độ hài lòng của người  
dân đối với chất lượng dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp.  
Từ khóa: Sự hài lòng; chất lượng dịch vụ; dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp.  
1. Đặt vấn đề *  
Dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp có liên  
loại: dịch vụ hành chính công, dịch vụ sự nghiệp  
công (khuyến ngư) và dịch vụ công ích [4].  
Đánh giá chất lượng dịch vụ công phục vụ ngư  
nghiệp là sự ghi nhận cảm nhận thực tế của người  
dân về các khía cạnh chất lượng dịch vụ, cho phép  
xác định được điểm yếu của dịch vụ, từ đó có chính  
sách phù hợp để cải thiện chất lượng dịch vụ [5].  
Các yếu tố cấu thành chất lượng dịch vụ bao gồm  
phương tiện hữu hình, sự tin cậy, sự phản hồi, sự  
đảm bảo và sự cảm thông. Mô hình SERVQUAL  
được sử dụng phổ biến trong nghiên cứu chất  
lượng dịch vụ [6, 7]. Hạn chế của mô hình là khía  
cạnh minh bạch trong cung ứng dịch vụ công chưa  
được đề cập tới. Nghiên cứu này được thực hiện  
nhằm đo lường chất lượng dịch vụ công phục vụ  
ngư nghiệp vùng Duyên hải Nam Trung Bộ, dựa  
trên mô hình SERVQUAL và mở rộng các tiêu chí  
chất lượng đặc thù của dịch vụ công phục vụ ngư  
nghiệp. Cụ thể hơn, nghiên cứu đánh giá các khía  
quan đến quá trình phục vụ sản xuất ngư nghiệp  
từ đầu vào đến đầu ra, bao gồm cung ứng vật tư  
ngư nghiệp, cung ứng giống, khuyến ngư,  
chuyển giao công nghệ, bảo vệ nguồn lợi thủy  
sản, thú y, kiểm soát chất lượng, cơ giới hóa phục  
vụ sản xuất, dịch vụ tín dụng nông thôn, bảo  
hiểm ngư nghiệp, thông tin và xúc tiến thương  
mại, tiêu thụ sản phẩm... [1]. Dựa vào các nghiên  
cứu có liên quan đến dịch vụ công [2, 3], nhóm  
tác giả đưa ra khái niệm: “Dịch vụ công phục vụ  
ngư nghiệp do nhà nước chịu trách nhiệm cung  
ứng một cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua  
các tổ chức được ủy quyền nhằm đáp ứng nhu  
cầu cần thiết của người dân”. Tại Việt Nam, dịch  
vụ công phục vụ ngư nghiệp được triển khai có  
hệ thống từ Trung ương đến địa phương gồm 3  
_______  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]  
N.D. Nam. U.T.N. Lan / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 100-109  
102  
Sự phản hồi: Sự sẵn sàng của bên cung ứng  
trong việc cung cấp dịch vụ nhanh và kịp thời,  
sẵn sàng giúp khách hàng giải quyết các vấn đề,  
hoặc sẵn sàng trả lời thắc mắc của người dân khi  
có yêu cầu, bao gồm cả việc cung cấp cho người  
dân về thời điểm triển khai dịch vụ.  
cạnh chất lượng của từng loại hình dịch vụ công  
phục vụ ngư nghiệp để nắm được các mặt còn hạn  
chế, từ đó có chính sách hoàn thiện phù hợp.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Sự đảm bảo: Phản ánh mức độ tin tưởng  
của người dân về nhân viên và đơn vị cung  
ứng, được thể hiện qua sự đánh giá về mức độ  
hiểu biết và thái độ lịch sự của nhân viên. Khi  
nhân viên thể hiện thái độ lịch sự và có trình  
độ chuyên môn, hiểu biết rộng để có thể trả lời  
mọi thắc mắc của người dân thì có thể tạo cho  
họ cảm giác tin tưởng.  
Sự cảm thông: Thể hiện sự quan tâm, chú ý  
của nhân viên và đơn vị cung ứng tới nhu cầu  
khác biệt của từng đối tượng, luôn đặt lợi ích của  
người dân vào trung tâm quá trình cung ứng và  
thời gian mở cửa hoạt động của đơn vị thuận tiện  
cho người dân tới giao dịch.  
2.1. Mô hình và giả thuyết nghiên cứu  
Kết quả tổng quan nghiên cứu và ý kiến thu  
thập được từ các cuộc phỏng vấn sâu với người  
dân và các chuyên gia trong lĩnh vực ngư nghiệp  
cho thấy, chất lượng dịch vụ công phục vụ ngư  
nghiệp thể hiện qua phương tiện hữu hình, sự tin  
cậy, sự phản hồi, sự đảm bảo, sự cảm thông và  
tính minh bạch.  
Phương tiện hữu hình: Bao gồm diện mạo cơ  
sở vật chất, phương tiện thiết bị sử dụng trong  
quá trình cung ứng dịch vụ.  
Sự tin cậy: Khả năng thực hiện dịch vụ phù  
hợp và chính xác với những gì đã cam kết với  
người dân như: giải quyết công việc kịp thời, đầy  
đủ, chính xác và đúng pháp luật; tạo được sự an  
tâm cho người dân.  
Tính minh bạch: Thể hiện ở sự công bằng và  
không quan liêu, nhũng nhiễu; tạo điều kiện tốt  
nhất cho người dân, có những lời khuyên tốt khi  
người dân cần tư vấn; quan tâm, tìm hiểu tâm tư  
nguyện vọng của mọi người dân như nhau [8].  
k
Phương tiện hữu hình  
Sự tin cậy  
Sự hài lòng của người dân đối với  
chất lượng dịch vụ công phục vụ  
ngư nghiệp  
Sự phản hồi  
Sự đảm bảo  
Sự cảm thông  
Tính minh bạch  
Hình 1: Mô hình đo lường mức độ hài lòng của người dân đối  
với chất lượng dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp vùng Duyên hải Nam Trung Bộ  
Nguồn: Nhóm tác giả đề xuất.  
Giả thuyết nghiên cứu:  
Giả thuyết H1: Phương tiện hữu hình có  
ảnh hưởng cùng chiều tới sự hài lòng của  
người dân đối với chất lượng dịch vụ công  
phục vụ ngư nghiệp.  
N.D. Nam. U.T.N. Lan / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 100-109  
103  
Phổ An) và huyện đảo Lý Sơn (không có đơn vị  
hành chính cấp xã); Bình Định khảo sát tại 2  
huyện gồm Hoài Nhơn (xã Tam Quan Bắc và xã  
Tam Quan Nam) và Phù Cát (xã Cát Khánh và  
xã Cát Hải).  
Giả thuyết H2: Sự tin cậy có ảnh hưởng cùng  
chiều tới sự hài lòng của người dân đối với chất  
lượng dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp.  
Giả thuyết H3: Sự phản hồi có ảnh hưởng cùng  
chiều tới sự hài lòng của người dân đối với chất  
lượng dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp.  
Giả thuyết H4: Sự đảm bảo có ảnh hưởng cùng  
chiều tới sự hài lòng của người dân đối với chất  
lượng dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp.  
Giả thuyết H5: Sự cảm thông có ảnh hưởng  
cùng chiều tới sự hài lòng của người dân đối với  
chất lượng dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp.  
Giả thuyết H6: Tính minh bạch có ảnh hưởng  
cùng chiều tới sự hài lòng của người dân đối với  
chất lượng dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp.  
Mô hình hồi quy được xác định như sau:  
SHL (Y) = β0 + β1*HH + β2*TC + β3*PH + β4*ĐB  
+ β5*CT + β6*MB  
* Mẫu nghiên cứu  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra  
ngẫu nhiên phân tầng để tiến hành thu thập thông  
tin của người dân đối với chất lượng dịch vụ  
công phục vụ ngư nghiệp. Tổng số dân tại các  
điểm nghiên cứu tính đến cuối năm 2019 là  
92.535 người. Vì vậy, quy mô mẫu sẽ được tính  
theo công thức của Slovin (1984) như sau:  
n = N/(1 + e2N) = 92.535/(1 + 0,052 *  
92.535) = 398  
Trong đó:  
- n: Quy mô mẫu mong muốn  
- N: Quy mô tổng thể  
- e: Sai số cho phép (chọn 0,05)  
Trong đó:  
- SHL (Biến phụ thuộc): Sự hài lòng của  
người dân đối với chất lượng dịch vụ công phục  
vụ ngư nghiệp  
Tác giả sẽ chia đều mẫu điều tra cho các điểm  
nghiên cứu là 398/8 xã = 50 người dân/xã.  
- Các biến độc lập (X1): Phương tiện hữu  
hình (HH); Sự tin cậy (TC); Sự phản hồi (PH);  
Sự đảm bảo (ĐB); Sự cảm thông (CT); Tính  
minh bạch (MB)  
2.3. Phân tích và xử lý dữ liệu  
Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm  
SPSS 26.0. Sau khi mã hóa và sàng lọc, dữ liệu  
được phân tích như sau: thống kê mô tả; đánh giá  
độ tin cậy của thang đo thông qua hai công cụ là  
hệ số Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố. Hệ  
số Cronbach’s Alpha được sử dụng để loại các  
biến “rác”, các biến có hệ số tương quan biến tổng  
nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại và thang đo sẽ được chọn  
khi hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,6 [9]. Phân  
tích EFA xem xét các biến quan sát có hệ số  
truyền tải nhỏ hơn 0,5 và được trích vào 2 nhân tố  
có sự chênh lệch nhỏ hơn 0,3 sẽ bị loại. Điểm  
dừng Eigenvalue (đại diện cho phần biến thiên  
được giải thích bởi mỗi nhân tố) lớn hơn 1 và tổng  
phương sai trích lớn hơn 50% [10]. Bên cạnh đó,  
kiểm định KMO (Kaiser-Mayer-Olkin) và Bartlet  
được sử dụng để đánh giá tính hợp lý của dữ liệu.  
Sử dụng kiểm định F trong bảng phân tích phương  
sai để kiểm định giả thuyết về độ phù hợp của mô  
hình hồi quy tuyến tính tổng thể. Khi Sig. < 0,05  
thì mô hình hồi quy phù hợp với tập dữ liệu và có  
thể sử dụng được. Sử dụng hệ số VIF để kiểm tra  
hiện tượng đa cộng tuyến (VIF < 10) [11].  
- βk: Hệ số hồi quy (k = 0, 1, 2,..., 5)  
2.2. Thiết kế bảng hỏi và thu thập dữ liệu  
Bảng hỏi gồm các nhận định về các khía  
cạnh chất lượng dịch vụ công phục vụ ngư  
nghiệp, gồm 27 câu hỏi tương ứng với 6 yếu tố  
ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân đối với  
chất lượng dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp.  
Nghiên cứu được đo lường bằng thang đo Likert  
5 mức độ (1 = hoàn toàn không đồng ý, 2 =  
không đồng ý, 3 = trung bình, 4 = đồng ý và 5 =  
hoàn toàn đồng ý), phản ánh mức độ đồng ý của  
người dân với các nhận định trong bảng hỏi.  
Dữ liệu được thu thập trong tháng 08/2020,  
thông qua phát phiếu khảo sát trực tiếp tới người  
dân tại một số xã ngư nghiệp ở 2 tỉnh đại diện  
thuộc vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là Quảng  
Ngãi và Bình Định. Mỗi tỉnh khảo sát tại 2 huyện  
phát triển ngư nghiệp và mỗi huyện có 2 xã đại  
diện về ngư nghiệp. Cụ thể, Quảng Ngãi khảo sát  
tại 2 huyện gồm Đức Phổ (xã Phổ Quang và xã  
N.D. Nam. U.T.N. Lan / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 100-109  
104  
hệ số Cronbach’s Alpha tổng nên không có biến  
nào bị loại. Tất cả các thang đo đều đạt được cả  
2 giá trị tin cậy và giá trị phân biệt, do đó thang  
đo được đánh giá là tốt, đạt yêu cầu để đưa vào  
phân tích EFA (Bảng 1).  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Thống kê mô tả  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê  
tần số các thông tin gồm giới tính, tuổi, trình độ  
học vấn và diện tích sản xuất. Trong 398 phiếu  
thu được, thống kê về giới tính có 47,3% nam và  
52,7% nữ; phần lớn trên 40 tuổi (90,8%), khoảng  
2/3 người trả lời mới tốt nghiệp cấp 2 (62%).  
Ngoài ra, phần lớn là đối tượng có diện tích sản  
xuất nhỏ, dưới 5.000 m2 (0,5 ha) (chiếm 94,7%).  
Thuộc tính của mẫu khảo sát phù hợp với thực tế  
ngành ngư nghiệp Việt Nam, đối tượng làm ngư  
nghiệp phần nhiều là nữ giới, ở độ tuổi trung  
niên, với trình độ học vấn không cao, quy mô sản  
xuất còn nhỏ lẻ, manh mún.  
3.3. Phân tích EFA  
Kết quả phân tích EFA các biến độc lập  
(Bảng 2) cho thấy hệ số KMO đạt 0,539 (0,5 <  
KMO < 1) và mức ý nghĩa 0,000 (< 0,05). Tại  
mức giá trị Eigenvalue = 1,378 (> 1), phân tích  
nhân tố đã trích ra được 6 nhân tố từ 27 biến quan  
sát với hệ số phương sai trích đạt 80,634% (lớn  
hơn 50%). Năm nhân tố này giải thích được  
80,634% sự biến thiên của dữ liệu. Hệ số tải của  
các biến quan sát đều lớn hơn 0,5; cho thấy phân  
tích EFA là phù hợp (Bảng 2).  
Kết quả phân tích nhân tố thang đo sự hài  
lòng gồm 3 biến quan sát lần lượt có hệ số tải  
(0,812; 0,811; 0,801), đều lớn hơn 0,5 nên các  
biến quan sát này có ảnh hưởng quan trọng đến  
sự hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch  
vụ công phục vụ ngư nghiệp. Kiểm định KMO  
cho kết quả là 0,75 (lớn hơn 0,5) với mức ý nghĩa  
0,000 (< 0,05), hệ số Eigenvalue = 2,473 (lớn  
hơn 1), tổng phương sai trích được 82,438%.  
3.2. Kiểm định độ tin cậy của thang đo  
Kết quả đánh giá độ tin cậy thang đo của mô  
hình nghiên cứu cho thấy hệ số Cronbach’s  
Alpha của thang đo thấp nhất là 0,893 và cao  
nhất là 0,948 (Bảng 1). So với chuẩn 0,6 thì tất  
cả các biến quan sát của các thang đo đều đạt yêu  
cầu. Các hệ số tương quan biến - tổng đều có kết  
quả lớn hơn 0,3. Hệ số Cronbach’s Alpha nếu  
loại biến của tất cả 30 biến quan sát đều nhỏ hơn  
Bảng 1: Đánh giá độ tin cậy thang đo  
Biến quan sát  
Tương quan biến – tổng  
Cronbach’s Alpha nếu loại biến  
Phương tiện hữu hình (HH): Cronbach’s Alpha = 0,839  
HH1  
HH2  
HH3  
HH4  
0,724  
0,723  
0,730  
0,727  
0,844  
0,848  
0,814  
0,827  
Sự tin cậy (TC): Cronbach’s Alpha = 0,817  
TC1  
TC2  
TC3  
TC4  
0,834  
0,884  
0,898  
0,885  
0,902  
0,794  
0,830  
0,784  
Sự phản hồi (PH): Cronbach’s Alpha = 0,848  
PH1  
PH2  
PH3  
PH4  
PH5  
0,736  
0,739  
0,732  
0,740  
0,738  
0,861  
0,838  
0,840  
0,833  
0,843  
Sự đảm bảo (ĐB): Cronbach’s Alpha = 0,841  
ĐB1  
ĐB2  
0,726  
0,730  
0,849  
0,826  
N.D. Nam. U.T.N. Lan / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 100-109  
105  
ĐB3  
ĐB4  
ĐB5  
0,729  
0,731  
0,722  
0,834  
0,823  
0,872  
Sự cảm thông (CT): Cronbach’s Alpha = 0,840  
CT1  
CT2  
CT3  
CT4  
0,722  
0,727  
0,729  
0,729  
0,861  
0,834  
0,822  
0,820  
Tính minh bạch (MB): Cronbach’s Alpha = 0,793  
MB1  
MB2  
MB3  
MB4  
MB5  
0,644  
0,659  
0,639  
0,651  
0,633  
0,796  
0,777  
0,799  
0,743  
0,748  
Sự hài lòng (SHL): Cronbach’s Alpha = 0,776  
SHL1  
SHL2  
SHL3  
0,613  
0,671  
0,607  
0,709  
0,787  
0,748  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu của nhóm tác giả, 2020.  
Bảng 2: Kết quả phân tích EFA các biến độc lập  
Nhân tố  
Biến quan sát  
1
2
3
4
5
6
HH1  
HH3  
HH4  
HH2  
TC2  
TC3  
TC1  
TC4  
PH5  
PH4  
PH3  
PH1  
PH2  
ĐB1  
ĐB3  
ĐB5  
ĐB2  
ĐB4  
CT1  
CT3  
CT2  
CT4  
MB2  
MB3  
0,821  
0,813  
0,809  
0,807  
0,846  
0,843  
0,829  
0,823  
0,821  
0,811  
0,809  
0,794  
0,764  
0,834  
0,812  
0,805  
0,769  
0,754  
0,829  
0,825  
0,810  
0,792  
0,736  
0,694  
N.D. Nam. U.T.N. Lan / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 100-109  
106  
MB5  
MB4  
MB1  
0,687  
0,981  
0,620  
Hệ số KMO = 0,539  
Giá trị Chi bình  
phương xấp xỉ  
df  
7739,386  
Kiểm định Bartlett  
300  
Sig.  
0,000  
80,634  
Tổng phương sai trích (%)  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu của nhóm tác giả, 2020.  
Bảng 3: Kết quả phân tích EFA biến phụ thuộc  
3.5. Phân tích hồi quy  
Nhân tố  
1
Biến quan sát  
Để đo lường sự hài lòng của người dân đối  
với chất lượng dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp,  
nghiên cứu thực hiện phương pháp phân tích hồi  
quy 6 nhân tố độc lập và biến phụ thuộc sự hài  
lòng của người dân bằng phương pháp Enter. Kết  
quả phân tích cho thấy mô hình nghiên cứu phù  
hợp với mức ý nghĩa Sig < 0,05. Hệ số R2 = 0,646  
và R2 điều chỉnh = 0,640, cho thấy 71,142% giá  
trị biến thiên được giải thích bởi 6 nhân tố ảnh  
hưởng đến sự hài lòng của người dân (Bảng 5).  
Kết quả phân tích ANOVA và kiểm định  
F (Bảng 6) cho thấy trị số thống kê được tính từ  
R2 có giá trị Sig. = 0,000 (< 0,05) và tổng bình  
phương hồi quy (71,142) lớn hơn tổng bình  
phương phần dư (38,921) cho thấy mô hình giải  
thích hầu hết các phương sai của biến phụ thuộc.  
Điều này chứng tỏ mô hình hồi quy tuyến tính  
phù hợp với tập dữ liệu nghiên cứu. Như vậy, cả  
6 biến độc lập đều có quan hệ với biến phụ thuộc  
và mô hình hồi quy tuyến tính là phù hợp, có thể  
sử dụng được cho nghiên cứu.  
Kết quả kiểm định hồi quy cho thấy cả 6  
nhân tố đều ảnh hưởng cùng chiều đến sự hài  
lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ  
công phục vụ ngư nghiệp. Trong đó, sự tin cậy  
có ảnh hưởng mạnh nhất đến sự hài lòng của  
người dân, tiếp đến là sự phản hồi, sự đảm bảo,  
sự cảm thông, tính minh bạch và cuối cùng là  
phương tiện hữu hình. Kết quả kiểm định các giả  
thuyết H1, H2, H3, H4, H5, H6 được chấp nhận  
và đều có mức ý nghĩa Sig. < 0,05. Hệ số phóng  
đại VIF của các biến độc lập đều < 10 nên không  
có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến độc  
SHL1  
0,812  
0,811  
0,801  
SHL2  
SHL3  
Hệ số KMO = 0,75  
Giá trị Chi bình  
phương xấp xỉ  
392,556  
Kiểm  
định  
Bartlett  
df  
3
Sig.  
0,000  
82,438  
Tổng phương sai trích (%)  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu  
của nhóm tác giả, 2020.  
3.4. Phân tích tương quan Pearson  
Trước khi tiến hành phân tích hồi quy tuyến  
tính bội, ta phải tiến hành phân tích tương quan  
để xem xét mối tương quan giữa các biến độc lập  
với biến phụ thuộc và giữa các biến độc lập với  
nhau trong mô hình nghiên cứu. Từ kết quả phân  
tích hệ số tương quan, các giá trị cho thấy các  
biến có tương quan với nhau, 6 biến độc lập đều  
có tương quan với biến phụ thuộc sự hài lòng của  
người dân. Trong đó, tương quan mạnh nhất là  
biến ĐB (0,628) và tương quan yếu nhất với biến  
PH (0,536) và mối tương quan có ý nghĩa thống  
kê ở độ tin cậy 99% nên ta có thể kết luận các  
biến độc lập này được đưa vào mô hình để giải  
thích cho biến sự hài lòng của người dân đối với  
chất lượng dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp.  
Tóm lại, sau khi kiểm định Pearson thì giữa các  
biến độc lập với nhau đều thỏa mãn điều kiện để  
đưa vào phân tích hồi quy (Bảng 4).  
N.D. Nam. U.T.N. Lan / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 100-109  
107  
SHL (Y) = 0,098 x HH + 0,359 x TC + 0,223  
x PH + 0,214 x ĐB + 0,138 x CT + 0,110 x MB  
lập. Phương trình hồi quy tuyến tính theo hệ số  
Beta chuẩn hóa như sau:  
Bảng 4: Hệ số tương quan tuyến tính Pearson  
Các mối tương quan  
SHL  
HH  
TC  
PH  
ĐB  
CT  
MB  
SHL Tương quan Pearson  
1
0,543** 0,579** 0,536** 0,628** 0,542** 0,541**  
Sig. (2-tailed)  
N
0,000  
398  
1
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
398  
0,543**  
HH  
TC  
PH  
Tương quan Pearson  
0,478** 0,497** 0,416** 0,529** 0,521**  
Sig. (2-tailed)  
N
0,000  
398  
0,579** 0,478**  
0,000  
398  
1
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
398  
Tương quan Pearson  
0,470** 0,551** 0,473** 0,449**  
Sig. (2-tailed)  
N
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
1
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
398  
Tương quan Pearson  
0,536** 0,497** 0,470**  
0,587** 0,573** 0,536**  
Sig. (2-tailed)  
N
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
1
0,000  
398  
0,583** 0,545**  
0,000  
398  
398  
ĐB  
Tương quan Pearson  
0,628** 0,416** 0,551** 0,587**  
Sig. (2-tailed)  
N
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
1
0,000  
398  
0,565**  
398  
CT  
Tương quan Pearson  
0,542** 0,529** 0,473** 0,573** 0,583**  
Sig. (2-tailed)  
N
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
1
398  
MB  
Tương quan Pearson  
0,541** 0,469** 0,528** 0,429** 0,531** 0,456**  
Sig. (2-tailed)  
N
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
0,000  
398  
398  
** Tương quan có ý nghĩa ở mức 0,01 (2-tailed).  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu của nhóm tác giả, 2020.  
Bảng 5: Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu  
Tóm tắt mô hìnhb  
Sai số chuẩn của  
Hệ số  
Durbin-Watson  
Mô hình Hệ số R Hệ số R2 Hệ số R2 hiệu chỉnh  
0,804a  
ước lượng  
1
0,646  
0,640  
0,33646  
0,961  
a. Dự đoán: (Hằng số), HH, TC, PH, ĐB, CT, MB  
b. Biến phụ thuộc: SHL  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu của nhóm tác giả, 2020.  
VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 100-109  
Bảng 6: Kiểm định ANOVA của mô hình nghiên cứu  
ANOVAa  
Tổng  
bình phương  
Hệ số Trung bình  
Hệ số F  
104,492  
Hệ số Sig.  
0,000b  
Mô hình  
Hồi quy  
df  
bình phương  
71,142  
38,921  
110,063  
6
11,857  
Phần dư  
Tổng  
343  
349  
0,113  
1
a. Biến phụ thuộc: SHL  
b. Dự đoán: (Hằng số), HH, TC, PH, ĐB, CT, MB  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu của nhóm tác giả, 2020.  
Bảng 7: Kết quả phân tích hồi quy  
Hệ số hồi quya  
Hệ số hồi quy chưa Hệ số hồi quy  
Thống kê đa cộng  
tuyến  
chuẩn hóa  
chuẩn hóa  
Hệ số  
Sig.  
Mô hình  
Hệ số t  
Độ lệch  
Dung sai  
VIF  
Hệ số B  
Hệ số Beta  
chuẩn  
0,129  
0,027  
0,028  
0,028  
0,030  
0,030  
0,027  
điều chỉnh  
(Hằng số)  
0,414  
0,069  
0,100  
0,163  
0,169  
0,275  
0,105  
3,199  
2,534  
9,596  
5,912  
5,671  
3,280  
2,811  
0,002  
0,012  
0,000  
0,000  
0,000  
0,000  
0,005  
HH  
TC  
PH  
ĐB  
CT  
MB  
0,098  
0,359  
0,223  
0,214  
0,138  
0,110  
0,693  
0,604  
0,723  
0,722  
0,790  
0,677  
1,442  
1,420  
1,382  
1,385  
1,449  
1,447  
1
a. Biến phụ thuộc: SHL  
Nguồn: Kết quả xử lý số liệu của nhóm tác giả, 2020.  
liệu nhằm cung cấp thông tin và dữ liệu cho các  
bộ phận chức năng của cơ quan thực hiện các tác  
nghiệp quản lý. Đầu tư, bổ sung thiết bị phục vụ  
hoạt động cung ứng dịch vụ công trong lĩnh vực  
ngư nghiệp.  
Thứ hai, trong các yếu tố đo lường sự hài  
lòng của người dân thì yếu tố tính minh bạch đạt  
mức độ hài lòng khá thấp. Do vậy, các cơ quan  
cung ứng dịch vụ công cần phải quán triệt tư  
tưởng thấm nhuần đạo đức cho toàn thể cán bộ  
công chức; tăng cường lắng nghe nguyện vọng  
của người dân; nâng cao công tác phòng và  
chống tham nhũng...  
4. Kết luận và hàm ý chính sách  
Kết quả nghiên cứu và phương trình hồi quy  
thu được cho thấy sự hài lòng của người dân đối  
với chất lượng dịch vụ phục vụ ngư nghiệp chịu  
tác động bởi 6 yếu tố của chất lượng dịch vụ,  
được sắp xếp theo mức độ từ mạnh nhất đến yếu  
nhất: i) sự tin cậy; ii) sự phản hồi; iii) sự đảm  
bảo; iv) sự cảm thông; v) tính minh bạch; và vi)  
phương tiện hữu hình. Từ đó, nghiên cứu đề xuất  
hàm ý chính sách:  
Thứ nhất, cần ứng dụng mạnh mẽ công nghệ  
thông tin trong cung ứng dịch vụ công phục vụ  
ngư nghiệp. Xây dựng các trung tâm xử lý dữ  
108  
N.D. Nam. U.T.N. Lan / VNU Journal of Economics and Business, Vol. 1, No. 1 (2021) 100-109  
109  
land allocation policy-The Link Policy: Based on  
the empirical research of Ezhou”, Habitat  
International, 75 (2018), 38-49.  
Thứ ba, đội ngũ cán bộ công chức không chỉ  
nắm vững chuyên môn, nghiệp vụ mà còn phải  
bồi dưỡng các kỹ năng mềm. Tiếp tục bồi dưỡng,  
cập nhật kiến thức về quản lý nhà nước cho đội  
ngũ cán bộ công chức để đảm bảo đội ngũ này  
hoạt động đúng khuôn khổ và nâng cao tinh thần  
trách nhiệm làm việc. Ngoài ra, để tạo động lực  
làm việc và hạn chế tiêu cực thì cần có cơ chế  
lương thưởng hợp lý.  
i-vn/, accessed on 1 September 2020  
(in Vietnamese).  
[5] H.V. Quang, V.T. Binh, “Index of public service  
quality in agriculture based on service user  
feedback”,  
Journal  
of  
Economics  
and  
Development, 241 (2011), 59-67.  
Thứ tư, để gia tăng thêm sự tin cậy, cơ quan  
cung ứng dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp cần  
nâng cao hơn nữa chất lượng dịch vụ cung ứng  
đến người dân thông qua các nội dung như hạn  
chế để xảy ra sai sót trong cung ứng dịch vụ  
công, tạo sự tin tưởng cho người dân, tạo điều  
kiện cho người dân luôn nhận được kết quả giải  
quyết chính xác, kịp thời, thông tin của người  
dân phải được bảo mật và thời gian xử lý phải  
phù hợp.  
[6] Parasuraman et al., “Servqual: A Multiple-Item  
Scale for Measuring Consumer Perceptions of  
Service Quality”, Journal of Retailing, 64 (1988) 1,  
2-40.  
[7] Mauri, Roberta, Muccio, Simonetta, “A Review of  
Literature on the Gaps Model on Service Quality:  
A 3-Decades Period: 1985-2013”, International  
Business Research, No. 6, 2013.  
[8] Park, Blenkinsopp, “The roles of transparency and  
trust in the relationship between corruption and  
citizen satisfaction”, International Review of  
Administrative Sciences, 77 (2011) 2, 254-274.  
[9] H. Trong, C.N.M. Ngoc, Data analysis with SPSS,  
Statistical Publisher, Ho Chi Minh City, 2008.  
Tài liệu tham khảo  
[10] K.A. Bollen, Structural Equations with latant  
variable, New York, John Wiley & Sons, 1989.  
[1] Political Academic I, Studying the current situation  
of and proposing solutions for public investment,  
public services in agriculture, 2014.  
[11] CECODES, VFF-CRT  
Governance and  
&
UNDP, Provencial  
Public Administration  
[2] M. Gao, Alam, “Service quality of public and  
private agricultural extension service providers in  
Bangladesh”, Journal of Agricultural Extension,  
22 (2018) 2, 57-67.  
Performance Index (PAPI): Measured from  
people’s practical experience. Joint policy research  
report to support the community (CECODES),  
Center for staff fostering and scientific research in  
the Vietnamese Fatherland Front, and United  
Nations Development Programme (UNDP), 2018.  
[3] Cheng, Liu, Brown, Searle, “Factors affecting  
farmers’ satisfaction with contemporary China's  
pdf 10 trang Thùy Anh 9060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đo lường mức độ hài lòng của người dân đối với chất lượng dịch vụ công phục vụ ngư nghiệp vùng Duyên hải Nam Trung Bộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdo_luong_muc_do_hai_long_cua_nguoi_dan_doi_voi_chat_luong_di.pdf