Mối quan hệ giữa hành vi thiếu văn minh của khách hàng và hành vi phá hoại dịch vụ của nhân viên trong ngành dịch vụ ở Việt Nam

Nguyễn D. An, Zhenyuan Wang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 5-18  
5
Mối quan hệ giữa hành vi thiếu văn minh của khách hàng và hành  
vi phá hoại dịch vụ của nhân viên trong ngành dịch vụ ở Việt Nam  
The relationship between customer mistreatment and employee’s  
service sabotage in service industry in Vietnam  
Nguyễn Duy An1,2*, Zhenykuan Wang1  
1Đại học Sư phạm Hoa Đông, Thượng Hải, Trung Quốc  
2Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - ĐHQG Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: nguyenduyan93@gmail.com  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
Nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu tác động của hành vi thiếu  
văn minh của khách hàng đối với hành vi phá hoại dịch vụ của nhân  
viên thông qua biến trung gian kiệt sức về cảm xúc và vai trò điều  
tiết của sự hỗ trợ từ tổ chức trong tác động trên. Với dữ liệu thu từ  
449 nhân viên thường xuyên tiếp xúc với khách hàng tại Việt Nam,  
nghiên cứu phân tích nhân tố khẳng định, phân tích hồi quy thứ bậc  
và kiểm tra Bootstrap trên phần mềm PROCESS trong SPSS. Kết  
quả bài nghiên cứu cho thấy: Hành vi thiếu văn minh là tác nhân  
trực tiếp dẫn đến hành vi phá hoại dịch vụ; kiệt sức về cảm xúc có  
vai trò trong gian trong ảnh hưởng của hành vi không văn minh đối  
với hành vi phá hoại dịch vụ; sự hỗ trợ từ tổ chức điều tiết ảnh  
hưởng của hành vi thiếu văn minh đối với hành vi phá hoại dịch vụ  
thông qua việc làm giảm tác động ảnh hưởng hành vi thiếu văn  
minh đối với tình trạng kiệt sức về cảm xúc. Nghiên cứu làm phong  
phú và mở rộng các nghiên cứu trước đây về các yếu tố ảnh hưởng  
đến hành vi phá hoại dịch vụ của nhân viên ở Việt Nam. Ngoài ra,  
nghiên cứu cũng đưa ra một số đề xuất nhằm giảm thiểu các hành  
vi phá hoại dịch vụ.  
Ngày nhận: 15/03/2021  
Ngày nhận lại: 22/05/2021  
Duyệt đăng: 25/05/2021  
Từ khóa:  
hành vi thiếu văn minh của  
khách hàng; hành vi phá hoại  
dịch vụ của nhân viên; lý thuyết  
bảo tồn nguồn lực; tình trạng  
kiệt sức cảm xúc; sự ủng hộ từ  
tổ chức  
ABSTRACT  
The research aims to explore the impact of customer  
mistreatment behavior on service sabotage behavior through the  
mediating variable emotional exhaustion, and the regulatory role  
of perceived organizational support. With research data from 449  
employees who regularly contact with customers in Vietnam, the  
data is analyzed according to a process from reliability test to factor  
determination analysis, hierarchical regression analysis and  
Bootstrap testing in PROCESS software in SPSS. The results  
showed that: customer mistreatment behavior positively affects  
employee’s service sabotage behavior; emotional exhaustion  
partially mediates the relationship between customer mistreatment  
behavior and employee’s service sabotage behavior; perceived  
organizational support moderates the mediation relationship  
Keywords:  
customer mistreatment  
behavior; service sabotage  
behavior; conservation of  
resources theory; emotional  
exhaustiont; perceived  
organizational support  
6
Nguyễn D. An, Zhenyuan Wang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 5-18  
negatively. Based on the conservation of resources theory, this  
study expands the relevant research on the employee’s service  
sabotage in the context of Vietnam. In addition, this study also  
provides suggestions for reducing employee’s service sabotage.  
1. Đặt vấn đề  
Trong một thời gian dài, nhiều doanh nghiệp cho rằng nhân viên ngành dịch vụ phải đề cao  
quan điểm “khách hàng là trên hết.” Tuy nhiên, chính chuẩn mực quản lý kinh doanh này rất dễ  
gây ra những sai lệch trong nhận thức và làm tổn hại đến cảm xúc của nhân viên, có thể dẫn đến  
việc nhân viên có hành vi phá hoại dịch vụ, tạo ra tác động tiêu cực đến sản phẩm dịch vụ (Harris  
& Ogbonna, 2006). Ngày nay, với sự bùng nổ của ngành dịch vụ, các công việc liên quan cũng  
dần phát triển, việc nhận thức không đầy đủ và phản ứng không kịp thời trong việc xử lý hành vi  
phá hoại dịch vụ ngày càng trở nên phổ biến. Có 75% nhân viên ngành dịch vụ thừa nhận họ đã  
thực hiện những hành vi không phù hợp trong quá trình cung cấp sản phẩm dịch vụ; 90% nhân  
viên cho rằng phá hoại dịch vụ là một hành vi hằng ngày (Harris & Ogbonna, 2002). Ngoài ra, các  
hành vi thiếu văn minh của khách hàng (Customer Mistreatment) cũng tăng và nhân viên phục vụ  
thường gặp phải những “rắc rối hằng ngày” trong quá trình phục vụ khách hàng (Arnold & Walsh,  
2015; Sliter, Jex, Wolford, & McInnerney, 2010; Sliter, Sliter, & Jex, 2012; Wilson & Holmvall,  
2013). Những hành vi thiếu văn minh có vẻ không tác động lớn đến nhân viên; tuy nhiên, việc lặp  
đi lặp lại thường xuyên sẽ gây áp lực cho nhân viên và dẫn đến những phản ứng tiêu cực (Kim &  
Qu, 2018; Sliter et al., 2012).  
Tại Việt Nam, sự căng thẳng giữa khách hàng và nhân viên đã được phản ánh khá rõ nét  
qua nhiều thông tin tiêu cực từ ngành dịch vụ như: hướng dẫn viên du lịch chèo kéo khách hàng  
mua sắm; nhân viên dọn phòng khách sạn dùng khăn mặt lau chùi nhà vệ sinh; khách hàng cự cãi,  
thậm chí còn bị khinh thường, áp bức đối với nhân viên phục vụ, ... Cụ thể là bài phóng sự “Góc  
khuất vệ sinh khách sạn: Dùng khăn tắm lau bồn cầu” trên báo Tuổi Trẻ tháng 07/2019 (Nguyen  
& Thien Dieu, 2019); vụ tranh chấp giữa YouTuber Khoa Pug và Aroma Resort tháng 04/2019  
(Quang Le, 2019); sự kiện bác sĩ gốc Việt bị “lôi” khỏi máy bay United Airlines năm 2017 (Thuy  
Linh, 2017), ...  
Có rất ít nghiên cứu quan tâm đến ảnh hưởng của hành vi thiếu văn minh ở khách hàng đến  
tâm lý và hành vi của nhân viên phục vụ ở Việt Nam. Mục đích của bài nghiên cứu nhằm nhận  
diện, phân tích lý do nhân viên tham gia việc phá hoại dịch vụ đồng thời đưa ra biện pháp ngăn  
ngừa hành vi sai trái của họ. Từ đó, nghiên cứu sẽ gợi ý về logic lý thuyết và bằng chứng để giải  
thích tại sao nhân viên lại có những hành vi phá hoại dịch vụ trong quá trình cung cấp dịch vụ.  
2. Cơ sở lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu  
2.1. Ảnh hưởng của khách hàng có hành vi thiếu văn minh và hành vi phá hoại dịch vụ  
của nhân viên  
Hành vi thiếu văn minh của khách hàng là “hành vi lệch lạc cường độ thấp, gây tổn hại đến  
nhân viên với ý định không rõ ràng và vi phạm các chuẩn mực xã hội về sự tôn trọng và lịch sự  
lẫn nhau” (Andersson & Pearson, 1999, p. 454). Những hành vi thiếu văn minh không chỉ xuất  
hiện giữa các nhân viên với nhau mà còn xuất hiện khi giao tiếp với khách hàng như là hành động  
thiếu thân thiện và bất lịch sự (Kern & Grandey, 2009; Sliter et al., 2010). Hầu hết hành vi thiếu  
văn minh mà nhân viên phải đối mặt đến từ khách hàng nhiều hơn là từ đồng nghiệp. Có thể kể  
đến như: thái độ không tôn trọng hoặc to tiếng nhân viên; đưa ra các yêu cầu quá cao đối với dịch  
vụ, không quan tâm đến nguyên tắc và cảm xúc của nhân viên phục vụ, … (Wang et al., 2013).  
Nguyễn D. An, Zhenyuan Wang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 5-18  
7
Khái niệm Hành vi phá hoại dịch vụ (Service Sabotage) lần đầu tiên được đề xuất bởi  
Harris và Ogbonna (2002), dùng để chỉ những hành vi mà nhân viên cố tình gây ảnh hưởng xấu  
đến chất lượng dịch vụ khi cung cấp cho khách hàng. Có thể kể đến như: nhân viên cố tình bỏ qua  
hoặc phớt lờ các tiêu chuẩn dịch vụ do tổ chức đưa ra, thao túng tốc độ cung cấp dịch vụ; làm  
ngược lại các yêu cầu của khách hàng, thực hiện các hành vi tiêu cực, sử dụng ngôn từ thô lỗ, cố  
ý làm hỏng đồ đạc của khách hàng, tấn công khách hàng, … Một số nghiên cứu nhận định rằng  
phá hoại dịch vụ là hành động trả đũa của nhân viên đối với khách hàng, trong đó bao gồm cả việc  
vi phạm các quy định của tổ chức dịch vụ, cũng như các hành vi thô lỗ và hạ thấp chất lượng dịch  
vụ của nhân viên (Skarlicki, Van Jaarsveld, & Walker, 2008; Wang, Liao, Zhan, & Shi, 2011).  
Lý thuyết Bảo tồn Nguồn lực (Conservation of Resources Theory) cho rằng căng thẳng và  
áp lực có tác động xấu đến hành vi và cảm xúc của con người (Hobfoll, 1989). Con người khó kiểm  
soát được hành vi và cảm xúc khi chịu căng thẳng và áp lực (Bedi & Schat, 2017). Các căng thẳng  
và áp lực từ các hành vi thiếu văn minh của khách hàng sẽ uy hiếp và làm tổn hại đến các nguồn lực  
nội tại sẵn có của nhân viên (Hur, Moon, & Jun, 2016; Kim & Qu, 2018; Torres, Van Niekerk, &  
Orlowski, 2017). Mặt khác, đặc trưng của ngành dịch vụ là nhân viên phải tương tác với khách hàng  
hằng ngày, việc chịu đựng các hành vi thiếu văn minh từ khách hàng một cách bị động và thường  
xuyên chính là một áp lực lớn (Cho, Bonn, Han, & Lee, 2016; Kern & Grandey, 2009; Sliter et al.,  
2010; Van Jaarsveld, Walker, & Skarlicki, 2010). Khi đó, nhân viên sẽ nảy sinh tâm lý “ăn miếng  
trả miếng” đối với khách hàng có hành vi thiếu văn minh (Skarlicki et al., 2008), dẫn đến hành vi  
phá hoại dịch vụ để giải tỏa áp lực (Spector & Fox, 2002). Vì vậy, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:  
H1: Hành vi thiếu văn minh có tác động thuận chiều đến hành vi phá hoại dịch vụ  
2.2. Vai trò trung gian của tình trạng kiệt sức về cảm xúc trong ảnh hưởng của khách  
hàng có hành vi thiếu văn minh và hành vi phá hoại dịch vụ của nhân viên  
Kiệt sức về cảm xúc (Emotional exhaustion) là “cảm giác căng thẳng quá mức về mặt cảm  
xúc do công việc” (Maslach, Jackson, & Leiter, 1997, p. 194 ). Điều này xảy ra khi nhân viên cảm  
thấy mệt mỏi về thể chất hoặc kiệt quệ về tinh thần và cảm xúc (Wright & Cropanzano, 1998).  
Căn cứ vào lý thuyết Bảo tồn Nguồn lực, các nhân viên phải đầu tư thêm nguồn lực để điều  
chỉnh cảm xúc tiêu cực do những hành vi thiếu văn minh từ khách hàng gây ra (Sliter et al., 2010;  
Van Jaarsveld et al., 2010) sẽ khiến nguồn lực dành cho các nhiệm vụ trong công việc bị phân tán,  
từ đó sẽ giảm độ chính xác và chất lượng của công việc (Goldberg & Grandey, 2007). Những nhân  
viên đang có cảm xúc tiêu cực sẽ khó kiểm soát được hành vi và thái độ khi làm việc (Denson,  
Pedersen, Friese, Hahm, & Roberts, 2011) nên họ rất có khả năng tham gia vào việc phá hoại dịch  
vụ để giải phóng cảm xúc tiêu cực của họ (Wang et al., 2011). Việc thường xuyên tiếp xúc với các  
khách hàng có hành vi thiếu văn minh không những trực tiếp dẫn đến các hành vi phá hoại dịch  
vụ, mà còn khiến nhân viên rơi vào trạng thái kiệt sức về cảm xúc, từ đó những nhân viên này có  
hành vi phá hoại dịch vụ để cân bằng lại nguồn lực của bản thân (Luo & Bao, 2013). Vì vậy,  
nghiên cứu tiếp tục đề xuất giả thuyết:  
H2: Kiệt sức về cảm xúc là nhân tố trung gian trong tác động hành vi thiếu văn minh đối  
với hành vi phá hoại dịch vụ  
2.3. Vai trò điều tiết của sự hỗ trợ từ tổ chức đối với ảnh hưởng của hành vi thiếu văn  
minh và hành vi phá hoại dịch vụ thông qua kiệt sức về cảm xúc  
Sự hỗ trợ từ tổ chức (Perceived organizational support) được hiểu là mức độ nhận biết của  
cá nhân khi được tổ chức trân trọng và đánh giá cao, điều này nhằm để đổi lấy sự đóng góp, cống  
hiến của cá nhân dành cho với tổ chức (Eisenberger, Huntington, Hutchison, & Sowa, 1986). Trong  
doanh nghiệp, sự hỗ trợ từ tổ chức là mức độ quan tâm đến hạnh phúc của công ty dành cho nhân  
8
Nguyễn D. An, Zhenyuan Wang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 5-18  
viên, đây được xem như là “phần thưởng” khi các nhân viên hoàn thành công việc (Rhoades &  
Eisenberger, 2002).  
Dựa trên lý thuyết Bảo tồn Nguồn lực, thái độ và hành vi nhân viên phụ thuộc vào sự cân  
bằng giữa nguồn lực mà nhân viên tiêu thụ và nguồn lực thu được qua nhiều kênh khác nhau  
(Watts, Robertson, Winter, & Leeson, 2013). Trong khi đó, hỗ trợ từ tổ chức có thể làm giảm ảnh  
hưởng giữa các tác nhân gây căng thẳng và phản ứng với căng thẳng (Lustig, Pessino, & Scott,  
2014; Wu, Changyang, & Qin, 2019). Việc cải thiện nhân tố này có thể làm giảm tác hại của tình  
trạng kiệt sức trong công việc, trong đó có kiệt sức về cảm xúc (Watts et al., 2013). Sự hỗ trợ từ  
tổ chức chính là một nguồn lực bổ sung quan trọng, giúp nhân viên cân bằng cảm xúc khi họ gặp  
phải các hành vi thiếu văn minh của khách hàng (Bacharach, Bamberger, & Doveh, 2008; Sliter  
et al., 2010; Van Jaarsveld et al., 2010). Vì vậy, nghiên cứu đề xuất giả thuyết:  
H3: Sự hỗ trợ từ tổ chức điều tiết ngược chiều sự ảnh hưởng của hành vi thiếu văn minh  
của khách hàng đối với tình trạng kiệt sức về cảm xúc của nhân viên  
Theo mối quan hệ giữa giả thuyết H2 và H3, bài nghiên cứu đề xuất thêm giả thuyết H4.  
Dưới các áp lực của các hành vi thiếu văn minh do khách hàng gây ra, sự hỗ trợ từ tổ chức sẽ bổ  
sung nguồn lực tinh thần làm giảm tình trạng kiệt sức về cảm xúc của nhân viên (Bacharach et al.,  
2008; Sliter et al., 2010; Van Jaarsveld et al., 2010). Các nhân viên có mức độ cảm nhận hỗ trợ từ tổ  
chức cao sẽ điều chỉnh được thái độ và hành vi tiêu cực cao hơn các nhân viên khác, điều này giúp  
giảm tình trạng nhân viên tham gia vào các hành vi tiêu cực khi làm việc, điển hình là hành vi phá  
hoại dịch vụ (Denson et al., 2011; Wang et al., 2011). Vì vậy, nghiên cứu đề xuất thêm giả thuyết:  
H4: Sự hỗ trợ từ tổ chức điều tiết ngược chiều tác động của hành vi thiếu văn minh lên  
hành vi phá hoại dịch vụ thông qua điều tiết ngược chiều sự tác động của hành vi thiếu văn minh  
lên tình trạng kiệt sức về cảm xúc  
Sự hỗ trợ từ tổ chức  
H4(-)  
H3(-)  
H (+)  
2
Hành vi phá hoại  
dịch vụ  
Hành vi thiếu văn  
Kiệt sức về cảm xúc  
minh  
H1(+)  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Phương pháp thu thập dữ liệu  
Hành vi phá hoại dịch vụ là hành vi cố tình gây ảnh hưởng xấu đến dịch vụ trong quá trình  
cung cấp dịch vụ cho khách hàng của nhân viên (Harris & Ogbonna, 2002). Vì vậy, các nhân viên  
thường xuyên tiếp xúc với khách hàng chính là đối tượng phù hợp với nghiên cứu này. Nghiên  
cứu thu thập dữ liệu bằng phương pháp chọn mẫu định lượng: phi xác xuất - thuận tiện, thông qua  
hình thức phiếu khảo sát online từ Google Forms. Nhờ sự hỗ trợ của các nhân viên trong ngành  
nghề có đặc điểm công việc phù hợp với đối tượng nghiên cứu, như: ngành du lịch, chăm sóc  
khách hàng, spa, … link phiếu khảo sát được chia sẻ trên Facebook, Zalo. Khảo sát thu được tổng  
Nguyễn D. An, Zhenyuan Wang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 5-18  
9
cộng 655 bảng hỏi. Sau khi sàng lọc, nghiên cứu loại bỏ 206 bảng hỏi không phù hợp với mục  
đích nghiên cứu. Vì vậy, nghiên cứu chỉ sử dụng 449 (76.2%) bảng hỏi hợp lệ.  
Nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS 24.0 và AMOS 24.0 để phân tích dữ liệu, thông qua  
phân tích hồi quy thứ bậc trong SPSS 24.0 và phần mềm mở rộng PROCESS trong SPSS để kiểm  
tra các giả thuyết. Phân tích hồi quy thứ bậc nhằm kiểm tra các giả thuyết H1, H2, H3. Sau đó,  
nghiên cứu sử dụng phần mềm mở rộng PROCESS trong SPSS để tiến hành kiểm tra Bootstrap  
để kiểm tra giả thuyết H2, H4. Đặc điểm mẫu khảo sát chi tiết được trình bày cụ thể ở Bảng 1.  
Bảng 1  
Thông tin mẫu nghiên cứu  
Mẫu n = 449  
Chỉ tiêu  
Tần số  
149  
300  
400  
45  
Tỷ lệ%  
33.2%  
66.8%  
89.1%  
10%  
Nam  
Giới tính  
Nữ  
18 - 25 tuổi  
26 - 35 tuổi  
Tuổi  
Trên 36  
4
0.9%  
Dưới 01 năm  
01 - 02 năm  
94  
20.9%  
45.2%  
24.7%  
9.1%  
203  
111  
41  
Kinh nghiệm làm việc  
Tình trạng hôn nhân  
Trình độ học vấn  
02 - 05 năm  
05 năm trở lên  
Độc thân  
384  
65  
85.5%  
14.5%  
8%  
Đã kết hôn  
THPT trở xuống  
Trung cấp, cao đẳng  
Đại học  
36  
116  
269  
28  
25.8%  
59.9%  
6.2%  
Cao học trở lên  
Du lịch lữ hành  
Y tế  
106  
12  
23.6%  
2.7%  
Nhà hàng, khách sạn  
Ngân hàng, bảo hiểm  
Giao thông vận tải  
Bán lẻ  
102  
14  
22.7%  
3.1%  
11  
2.4%  
Lĩnh vực công việc  
14  
3.1%  
Bất động sản  
Chăm sóc khách hàng  
11  
2.4%  
93  
20.7%  
Thẩm mỹ, chăm sóc sắc  
đẹp  
86  
19.2%  
Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS  
10  
Nguyễn D. An, Zhenyuan Wang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 5-18  
3.2. Thang đo  
Để đảm bảo hiệu quả, nghiên cứu sử dụng các bảng hỏi được sử dụng trong những nghiên  
cứu trước đây, sau đó tiến hành dịch thuật và được các chuyên gia và nhân viên trong ngành dịch  
vụ góp ý sửa chữa nhằm phù hợp với môi trường Việt Nam. Bảng hỏi sử dụng thang đo Likert 5  
bậc cho tất cả các biến.  
Biến Hành vi thiếu văn minh của khách hàng (ký hiệu CM), sử dụng thang đo Hành vi bắt  
nạt khách hàng do Wang và cộng sự (2013) đề xuất, gồm 18 câu trích, độ tin cậy Cronbach’s α là  
0.948.  
Biến Kiệt sức về cảm xúc (ký hiệu EE), sử dụng thang đo Tình trạng Kiệt sức về cảm xúc  
trong bảng câu hỏi khảo sát của Maslach và cộng sự (1997) về tình trạng kiệt sức ở nơi làm việc  
MBI-GS (Maslach Burnout Inventory general survey), thang đo này gồm 05 câu trích, độ tin cậy  
Cronbach’s α là 0.897.  
Biến Hành vi phá hoại dịch vụ (ký hiệu SS), sử dụng thang đo Hành vi phá hoại dịch vụ  
của Harris và Ogbonna (2006), gồm 09 câu trích. Từ kết quả phân tích độ tin cậy Cronbach’s α,  
loại 02 biến quan sát (Tôi không bao giờ thể hiện bản thân trước mặt khách hàng; Ở công ty, khách  
hàng sẽ được đối xử rất tốt), độ tin cậy Cronbach’s α là 0.848.  
Biến Sự hỗ trợ từ tổ chức (ký hiệu POS), sử dụng Eisenberger và cộng sự (1986), gồm 08  
câu trích. Từ kết quả phân tích độ tin cậy Cronbach’s Alpha, loại 01 biến quan sát (Ngay cả khi  
tôi cố gắng làm tốt nhất có thể công việc của mình, công ty cũng không quan tâm), độ tin cậy  
Cronbach’s α là 0.923.  
Biến Kiểm soát: nghiên cứu sử dụng các biến nhân khẩu học phổ biến trong hành vi của tổ  
chức như giới tính, lứa tuổi, kinh nghiệm làm việc, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn, lĩnh vực  
công việc.  
4. Kết quả nghiên cứu  
4.1. Phân tích CFA  
Trong nghiên cứu này, phân tích CFA tuân thủ theo kiến nghị của Hui, Lee, và Rousseau  
(2004) tiến hành gộp biến đối với việc xây dựng nhân tố có nhiều hơn 03 biến quan sát. Theo cách  
này, mỗi nhân tố chỉ có 03 biến quan sát, căn cứ vào kết quả phân tích nhân tố, gộp biến có hệ số  
tải nhân tố cao nhất và biến có hệ số tải nhân tố thấp nhất thành một biến bằng cách lấy hệ số trung  
bình của hai biến, gộp biến có hệ số tải nhân tố cao thứ hai và biến có hệ số tải nhân tố thấp thứ  
hai thành một biến, … Tiến hành tương tự như vậy cho đến khi chỉ còn 03 biến quan sát trong một  
nhân tố.  
Căn cứ vào Bảng 2, các chỉ số của mô hình bao gồm 04 nhân tố (mô hình đề xuất của  
nghiên cứu) với các giá trị 푥2 = 102.803, 푥2/푑푓 = 2.142, GFI = 0.963, TLI = 0.982, CFI = 0.987  
đều cao hơn giá trị công nhận 0.900; RMSEA là 0.050, thấp hơn giá trị công nhận chung là 0.080,  
cho thấy dữ liệu mô hình giả định phù hợp.  
So sánh mô hình 04 nhân tố (mô hình đề xuất) với ba mô hình thay thế khác, mô hình 04  
nhân tố (푥2 = 102.803, 푥2/푑푓 = 2.142) có các chỉ số phù hợp hơn so với ba mô hình còn lại. Mô  
hình 03 nhân tố (푥2 = 798.280, 푥2/푑푓 = 15.653) kết hợp nhân tố Hành vi thiếu văn minh và nhân  
tố Kiệt sức về cảm xúc. Mô hình 02 nhân tố (푥2 = 1851.717, 푥2/푑푓 = 34.938) kết hợp nhân tố  
Hành vi thiếu văn minh, nhân tố Kiệt sức về cảm xúc và nhân tố Sự hỗ trợ từ tổ chức. Mô hình 01  
nhân tố (푥2 = 2254.068, 푥2/푑푓 = 41.742) kết hợp tất cả các nhân tố. Như vậy, có thể kết luận rằng  
mô hình 04 nhân tố đáng tin cậy và phù hợp với dữ liệu khảo sát.  
Nguyễn D. An, Zhenyuan Wang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 5-18  
11  
Bảng 2  
Kết quả phân tích CFA  
풙ퟐ  
풙ퟐ  
RMSEA  
Mô hình  
Nhân tố  
df  
48  
51  
GFI  
CFI  
TLI  
NFI  
풅풇  
Mô hình 04  
nhân  
tố  
CM,EE,  
POS, SS  
2.142 0.963 0.987 0.982 0.976  
102.803  
798.280  
0.050  
(Mô hình  
đề xuất)  
Mô hình 03 CM+EE,  
nhân tố POS, SS  
15.653 0.750 0.822 0.769 0.812  
34.938 0.573 0.571 0.465 0.565  
41.742 0.497 0.475 0.368 0.470  
0.181  
0.275  
0.302  
Mô hình 02 CM+EE+P  
nhân tố OS, SS  
1,851.717 53  
2,254.068 54  
Mô hình 01 CM+EE+P  
nhân tố OS+SS  
Ghi chú: CM: Hành vi thiếu văn minh; EE: Kiệt sức về cảm xúc; POS: Sự hỗ trợ từ tổ chức; SS: Hành vi phá hoại  
dịch vụ; + nghĩa là 02 nhân tố gộp lại thành 01 nhân tố  
Nguồn: Kết quả phân tích từ AMOS  
4.2. Phân tích tương quan  
Từ Bảng 3 cho thấy Hành vi thiếu văn minh của khách hàng, Hành vi phá hoại dịch vụ của  
nhân viên và tình trạng Kiệt sức về cảm xúc của nhân viên tương quan thuận chiều, hệ số tương  
quan lần lượt là r = 0.394 , p < 0.001; r = 0.478, p < 0.001. Sự hỗ trợ từ tổ chức và Hành vi phá  
hoại dịch vụ, Hành vi thiếu văn minh của khách hàng, tình trạng Kiệt sức về cảm xúc tương quan  
ngược chiều, hệ số tương quan lần lượt là r = -0.279, p < 0.001; r = -0.203, p < 0.001; r = -0.359,  
p < 0.001. Kết quả này sẽ cung cấp cơ sở cho việc kiểm định các giả thuyết.  
Bảng 3  
Hệ số tương quan, giá trị trung bình (M), độ lệch chuẩn (SD) giữa các biến  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10  
1. Giới  
tính  
1
2. Tuổi .130**  
1
3. Kinh  
nghiệm  
.092  
.346***  
1
làm việc  
4. Tình  
trạng hôn -.035  
.228*** .350***  
1
nhân  
5. Tình  
trạng học .047  
vấn  
.182*** .245*** .178***  
1
6. Lĩnh  
vực công -.246*** -.185***  
việc  
-.062  
-.034 -.312***  
1
12  
Nguyễn D. An, Zhenyuan Wang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 5-18  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10  
7. SS  
8. CM  
9. EE  
.075  
.096*  
-.003  
-.126**  
.081  
.034  
-.073  
-.024  
-.015  
2.22  
.880  
.083  
-.051  
.102*  
-.055  
.14  
-.059  
-.038  
1
-.028 -.162** .394***  
1
-.057  
-.056  
22.51  
3.763  
-.075  
.025  
2.64  
.718  
.097* .541*** .478***  
1
10. POS -.077  
.095* -.279*** -.203*** -.359***  
1
M
.33  
5.17  
2.30  
.834  
2.90  
.833  
2.58 3.639  
.959 .886  
SD  
.417  
.352  
2.923  
Ghi chú: ***p < 0.001; ** p < 0.01 ; *p < 0.05  
Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS  
4.3. Tác động của hành vi thiếu văn minh đến hành vi phá hoại dịch vụ  
Thông qua kết quả phân tích từ Bảng 4, hành vi thiếu văn minh tác động thuận chiều đến hành  
vi phá hoại dịch vụ, β = 0.418, p = 0.000 < 0.001 (Bảng 4, Mô hình 4), chấp nhận giả thuyết H1.  
Bảng 4  
Kết quả phân tích hồi quy thứ bậc  
Biến  
EE  
SS  
EE  
Mô hình Mô hình Mô hình Mô hình Mô hình Mô hình Mô hình  
1
2
3
4
5
6
7
CM  
EE  
.520***  
.418*** .189*** .467*** .464***  
.440***  
POS  
-.280*** -.272***  
-.090*  
CM X POS  
Giới tính  
Tuổi  
.074  
.013  
.176  
.127  
.121  
-.014  
-.011  
-.015  
-.044  
-.028*  
.011  
-.049*** -.059*** -.047*** -.029**  
-.029**  
.011  
Kinh  
.075  
.119*  
.114*  
.010  
nghiệm làm  
việc  
Tình trạng .403**  
hôn nhân  
.450*** .336**  
-.030 -.125  
.056*** -.024  
.373**  
-.084  
.175  
.395**  
-.007  
.416***  
-.001  
Trình  
học vấn  
độ -.080  
vực .027  
-.071  
-.026  
Lĩnh  
-.002  
.062*** .050**  
công việc  
R2  
R2  
.031  
.288  
.277  
.049  
.036  
.215  
.203  
.353  
.342  
.362  
.351  
.372  
.359  
hiệu .017  
chỉnh  
∆푅2  
.031  
.258  
.049  
.166  
.138  
.074  
.009  
F
2.319  
25.489  
3.823  
17.295  
30.056  
31.251  
28.845  
Ghi chú: *** p < 0.001; ** p < 0.01; * p < 0.05  
Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS  
Nguyễn D. An, Zhenyuan Wang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 5-18  
13  
4.4. Vai trò trung gian của tình trạng kiệt sức về cảm xúc trong mối quan hệ giữa hành  
vi thiếu văn minh của khách hàng và hành vi phá hoại dịch vụ của nhân viên  
Hành vi thiếu văn minh có tác động thuận chiều đến Kiệt sức về cảm xúc, β = 0.520, p =  
0.000 < 0.001 (Bảng 4, Mô hình 2). Kiệt sức về cảm xúc tác động thuận chiều đến Hành vi phá  
hoại dịch vụ, β = 0.440, p = 0.000 < 0.001 (Bảng 4, Mô hình 5). Từ Mô hình 5 cũng có thể thấy  
rằng sau khi thêm biến Kiệt sức về cảm xúc, so với Mô hình 4, hệ số hồi quy về Hành vi thiếu văn  
minh của khách hàng và Hành vi phá hoại dịch vụ của nhân viên tuy giảm nhưng vẫn có ý nghĩa  
tương quan, β = 0.189, p = 0.000 < 0.001.  
Tiến hành kiểm tra Bootstrap trên phần mềm mở rộng PROCESS trong SPSS. Ảnh hưởng  
trung gian của tình trạng Kiệt sức về cảm xúc đạt đến mức ý nghĩa β = 0.229, khoảng 95% độ tin  
cậy [0.172; 0.295], không bao gồm 0, như vậy tác dụng trung gian của tình trạng Kiệt sức về cảm  
xúc có ý nghĩa. Đồng thời, tác động trực tiếp của Hành vi thiếu văn minh đối với hành vi phá hoại  
dịch vụ vẫn có ý nghĩa, β = 0.188, khoảng 95% độ tin cậy [0.098; 0.278], không bao gồm 0, giả  
thuyết H2 được chấp nhận.  
4.5. Ảnh hưởng điều tiết của nhân tố hỗ trợ từ tổ chức trong sự ảnh hưởng của hành vi  
thiếu văn minh đối với tình trạng kiệt sức về cảm xúc  
Biến hệ số nhân giữa Hành vi thiếu văn minh của khách hàng và Sự hỗ trợ từ tổ chức tác  
động ngược chiều lên tình trạng Kiệt sức về cảm xúc của nhân viên, β = -0.090, p = 0.01 < 0.05  
(Bảng 4, Mô hình 7), cho thấy Sự hỗ trợ từ tổ chức điều tiết ngược chiều sự ảnh hưởng của Hành  
vi thiếu văn minh của khách hàng đối với tình trạng Kiệt sức về cảm xúc của nhân viên, giả thuyết  
H3 được chấp nhận.  
Hình 2 mô tả tác dụng điều tiết của nhân tố sự hỗ trợ từ tổ chức trong ảnh hưởng của Hành  
vi thiếu văn minh đối với tình trạng Kiệt sức về cảm xúc. Từ Hình 2 có thể thấy rằng nếu nhân  
viên có mức độ cảm nhận hỗ trợ từ tổ chức thấp, độ dốc thể hiện sự ảnh hưởng của Hành vi thiếu  
văn minh của khách hàng đối với tình trạng Kiệt sức về cảm xúc của nhân viên lớn hơn nhân viên  
có mức độ cảm nhận hỗ trợ từ tổ chức cao. Như vậy, nhân viên có mức độ cảm nhận hỗ trợ từ tổ  
chức thấp sẽ chịu tác động của Hành vi thiếu văn minh của khách hàng dẫn đến tình trạng Kiệt sức  
mạnh hơn nhân viên có sự hỗ trợ từ tổ chức cao.  
Hình 2. Ảnh hưởng điều tiết Sự hỗ trợ từ tổ chức đối với ảnh hưởng của Hành vi thiếu văn minh  
đối với Hành vi phá hoại dịch vụ  
Nguồn: Kết quả phân tích của nghiên cứu  
14  
Nguyễn D. An, Zhenyuan Wang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 5-18  
4.6. Tác động điều tiết của sự hỗ trợ từ tổ chức trong ảnh hưởng của hành vi thiếu văn  
minh lên hành vi phá hoại dịch vụ thông qua tình trạng kiệt sức về cảm xúc của nhân viên  
Trên cơ sở giả thuyết H2, H3 được chấp nhận, nghiên cứu tiến hành kiểm tra Bootstrap  
trên phần mềm mở rộng PROCESS trong SPSS. Theo kết quả phân tích từ Bảng 5, khi sự hỗ trợ  
từ tổ chức thấp, ảnh hưởng của Hành vi thiếu văn minh lên Hành vi phá hoại dịch vụ thông qua  
Kiệt sức về cảm xúc có ý nghĩa, β = 0.243, khoảng 95% độ tin cậy [0.174; 0.321], không bao gồm  
0; khi sự hỗ trợ từ tổ chức cao, ảnh hưởng của Hành vi thiếu văn minh lên Hành vi phá hoại dịch  
vụ thông qua việc Kiệt sức về cảm xúc có ý nghĩa, β = 0.164, khoảng 95% độ tin cậy [0.108;  
0.231], không bao gồm 0; chênh lệch giữa Sự hỗ trợ từ tổ chức cao và thấp đều có ý nghĩa, β = -  
0.039, khoảng 95% độ tin cậy [-0.076; -0.009], không bao gồm 0. Như vậy sự hỗ trợ từ tổ chức  
điều tiết ngược chiều sự ảnh hưởng của hành vi thiếu văn minh lên hành vi phá hoại dịch vụ thông  
qua kiệt sức về cảm xúc, giả thuyết H4 được chấp nhận.  
Bảng 5  
Kết quả kiểm tra Bootstrap của Mô hình biến trung gian Mediator  
Tác dụng ảnh  
hưởng gián tiếp  
Biến điều tiết  
SE  
95% khoảng tin cậy  
Boot LLCI  
.174  
Boot ULCI  
.321  
Sự hỗ trợ từ tổ chức  
thấp  
.243  
.164  
.036  
.031  
Sự hỗ trợ từ tổ chức  
cao  
.108  
.231  
Chênh lệch giữa sự  
hỗ trợ từ tổ chức cao  
và thấp  
-.039  
.017  
-.076  
-.009  
Nguồn: Kết quả phân tích từ SPSS  
5. Kết luận và ý nghĩa của nghiên cứu  
5.1. Kết luận  
Hành vi ứng xử thiếu văn minh của khách hàng sẽ khiến các nhân viên dễ tham gia vào  
hành vi phá hoại dịch vụ (Giả thuyết H1). Hành vi thiếu văn minh từ khách hàng sẽ khiến các nhân  
viên rơi vào tình trạng kiệt sức về cảm xúc, từ đó các nhân viên này sẽ tham gia vào các hành vi  
phá hoại dịch vụ (Giả thuyết H2). Kết quả này cũng tương đồng với các nghiên cứu trước (Hur et  
al., 2016; Luo & Bao, 2013; Van Jaarsveld et al., 2010; Wang et al., 2013).  
Sự hỗ trợ từ tổ chức có vai trò làm giảm tác động ảnh hưởng của hành vi thiếu văn minh  
của khách hàng đối với tình trạng kiệt sức về cảm xúc của nhân viên (Giả thuyết H3). Sự hỗ trợ từ  
tổ chức điều tiết ngược chiều sự ảnh hưởng của hành vi thiếu văn minh đối với hành vi phá hoại  
dịch vụ thông qua điều tiết ngược chiều sự ảnh hưởng của hành vi thiếu văn minh của khách hàng  
đối với tình trạng kiệt sức về cảm xúc của nhân viên (Giả thuyết H4). Kết quả này cũng tương  
đồng với các nghiên cứu trước, sự hỗ trợ từ tổ chức có vai trò điều tiết ảnh hưởng của tác nhân gây  
căng thẳng và phản ứng của nhân viên (Lustig et al., 2014).  
5.2. Ý nghĩa của nghiên cứu  
Nghiên cứu này đã mở rộng nghiên cứu về cơ chế ảnh hưởng của hành vi thiếu văn minh  
của khách hàng đến tâm lý và hành vi của nhân viên trong ngành dịch vụ ở Việt Nam, giúp tìm  
Nguyễn D. An, Zhenyuan Wang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 5-18  
15  
hiểu cơ chế của hành vi phá hoại dịch vụ của nhân viên từ các góc độ lý thuyết Bảo tồn Nguồn lực  
tại Việt Nam. Nghiên cứu đã liên kết thành công các hành vi thiếu văn minh của khách hàng với  
các hành vi phá hoại dịch vụ của nhân viên, cho thấy quy luật: Hành vi thiếu văn minh của khách  
hàng sẽ dẫn đến hành vi phá hoại dịch vụ của nhân viên tại Việt Nam. Nghiên cứu này còn đưa ra  
biến số trung gian của các hành vi thiếu văn minh tại nơi làm việc ảnh hưởng đến các hành vi phá  
hoại dịch vụ, đó là kiệt sức về cảm xúc.  
Ngoài ra, kết quả nghiên cứu này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hỗ trợ từ tổ chức  
đối với vai trò điều tiết trong mối liên kết: Hành vi thiếu văn minh - Kiệt sức về cảm xúc - Hành  
vi phá hoại dịch vụ. Trong các nghiên cứu trước đây, có rất ít trường hợp chú ý đến các nhân tố  
làm giảm hành vi phá hoại dịch vụ của nhân viên (Wang et al., 2011). Kết quả của nghiên cứu này  
chứng minh rằng sự hỗ trợ từ tổ chức là có ý nghĩa trong việc làm giảm các cảm xúc và hành vi  
phá hoại dịch vụ của nhân viên do các hành vi thiếu văn minh của khách hàng gây ra.  
5.3. Khuyến nghị về thực tiễn  
Các nhà quản lý nên nhận ra sự tồn tại của hành vi thiếu văn minh của khách hàng để tìm  
cách giảm thiểu ảnh hưởng của nó bằng cách: xây dựng quy trình công việc và quy định nội bộ  
đối với nhân viên nhằm “hạn chế” tác động xấu khi nhân viên gặp phải khách hàng thực hiện các  
hành vi thiếu văn minh; sử dụng các chiến lược tuyên truyền để củng cố hành vi văn minh của  
khách hàng, tăng cường ủy quyền cho nhân viên nhằm giảm tỷ lệ khách hàng khiếu nại; đồng thời  
tạo ra môi trường phục vụ chu đáo và hài hòa để thúc đẩy các hành vi văn minh; cho phép nhân  
viên từ chối cung cấp dịch vụ khi gặp phải một số hành vi quá đáng từ khách hàng.  
Doanh nghiệp nên quan tâm đến tâm trạng và cảm xúc của nhân viên, cung cấp các giải  
pháp và hỗ trợ tinh thần kịp thời khi nhân viên tiếp xúc với khách hàng thiếu văn minh. Doanh  
nghiệp cần chủ động và thường xuyên trao đổi với nhân viên, thấu hiểu khó khăn của những nhân  
viên này khi gặp phải trong công việc để kịp thời giúp đỡ và hỗ trợ trong trường hợp cần thiết; xây  
dựng chương trình huấn luyện về tâm lý và kỹ năng cho nhân viên để họ biết cách ứng phó với  
các hành vi thiếu văn minh từ khách hàng, ...  
5.4. Hạn chế và gợi ý cho nghiên cứu tiếp theo  
Đầu tiên, đó là hiện tượng đa cộng tuyến (multi-collinearity) giữa các biến với nhau, tuy  
rằng các chỉ số phân tích CFA đã chứng minh rằng giữa các nhân tố có tính phân biệt, đa cộng  
tuyến không quá nghiêm trọng. Tuy nghiên, dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ một mốc thời gian  
nên vẫn còn hạn chế. Các nghiên cứu tiếp theo có thể thu thập số liệu từ nhiều mốc thời gian khác  
nhau, hoặc dùng các phương pháp khác để giảm hiện tượng đa cộng tuyến. Ngoài ra, còn có thể  
khảo sát thêm những nhân tố khác đã sự hưởng đến hành vi phá hoại dịch vụ của nhân viên như thế  
nào, ví dụ: đồng nghiệp có hành vi thiếu văn minh, lãnh đạo có hành vi bắt nạt nhân viên, …  
Một hạn chế khác là dữ liệu nghiên cứu thu thập từ nhiều ngành nghề, nghiên cứu tiếp theo  
có thể tập trung nghiên cứu một ngành dịch vụ nhất định để khái quát sâu sắc hơn quy luật dẫn  
đến các hành vi phá hoại dịch vụ của nhân viên, ví dụ: ngành nhà hàng khách sạn, ...  
Tài liệu tham khảo  
Andersson, L. M., & Pearson, C. M. (1999). Tit for tat? The spiraling effect of incivility in the  
workplace. The Academy of Management Review, 24(3), 452-471.  
16  
Nguyễn D. An, Zhenyuan Wang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 5-18  
Arnold, K. A., & Walsh, M. M. (2015). Customer incivility and employee well-being: Testing the  
moderating effects of meaning, perspective taking and transformational leadership. Work  
and Stress, 29(4), 362-378.  
Bacharach, S. B., Bamberger, P. A., & Doveh, E. (2008). Firefighters, critical incidents, and  
drinking to cope: The adequacy of unit-level performance resources as a source of  
vulnerability and protection. Journal of Applied Psychology, 93(1), 155-169.  
Bedi, A., & Schat, A. C. H. (2017). Employee revenge against uncivil customers. Journal of  
Services Marketing, 31(6), 636-649.  
Cho, M., Bonn, M. A., Han, S. J., & Lee, K. H. (2016). Workplace incivility and its effect upon  
restaurant frontline service employee emotions and service performance. International  
Journal of Contemporary Hospitality Management, 28(12), 2888-2912.  
Denson, T. F., Pedersen, W. C., Friese, M., Hahm, A., & Roberts, L. (2011). Understanding  
impulsive aggression: Angry rumination and reduced self-control capacity are mechanisms  
underlying the provocation-aggression relationship. Personality and Social Psychology  
Bulletin, 37(6), 850-862.  
Eisenberger, R., Huntington, R., Hutchison, S., & Sowa, D. (1986). Perceived organizational  
support. Journal of Applied Psychology, 71(3), 500-507.  
Goldberg, L. S., & Grandey, A. A. (2007). Display rules versus display autonomy: Emotion  
regulation, emotional exhaustion, and task performance in a call center simulation. Journal  
of Occupational Health Psychology, 12(3), 301-318.  
Harris, L. C., & Ogbonna, E. (2002). Exploring service sabotage: The antecedents, types and  
consequences of frontline, deviant, antiservice behaviors. Journal of Service Research, 4(3),  
163-183.  
Harris, L. C., & Ogbonna, E. (2006). Service sabotage: A study of antecedents and consequences.  
Journal of the Academy of Marketing Science, 34(4), 543-558.  
Hobfoll, S. E. (1989). Conservation of resources: A new attempt at conceptualizing stress.  
American Psychologist, 44(3), 513-524.  
Hui, C., Lee, C., & Rousseau, D. M. (2004). Psychological contract and organizational citizenship  
behavior in China: Investigating generalizability and instrumentality. Journal of Applied  
Psychology, 89(2), 311-321.  
Hur, W. M., Moon, T., & Jun, J. K. (2016). The effect of workplace incivility on service employee  
creativity: The mediating role of emotional exhaustion and intrinsic motivation. Journal of  
Services Marketing, 30(3), 302-315.  
Kern, J. H., & Grandey, A. A. (2009). Customer incivility as a social stressor: The role of race and  
racial identity for service employees. Journal of Occupational Health Psychology, 14(1),  
46-57.  
Kim, H., & Qu, H. (2018). The effects of experienced customer incivility on employees’ behavior  
toward customers and coworkers. Journal of Hospitality & Tourism Research, 43(1), 58-77.  
Luo, P., & Bao, Z. (2013). Affectivity, emotional exhaustion, and service sabotage behavior: The  
mediation role of rumination. Social Behavior and Personality: An International  
Journal, 41(4), 651-661.  
Nguyễn D. An, Zhenyuan Wang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 5-18  
17  
Lustig, N., Pessino, C., & Scott, J. (2014). The impact of taxes and social spending on inequality  
and poverty in Argentina, Bolivia, Brazil, Mexico, Peru, and Uruguay: Introduction to the  
special issue. Public Finance Review, 42(3), 287-303.  
Maslach, C., Jackson, S. E., & Leiter, M. P. (1997). Maslach burnout inventory manual (3rd ed.).  
Palo Alto, CA: Consulting Psychologists Press.  
Nguyen, T., & Thien Dieu (2019). Góc khuất vệ sinh khách sạn: Tổng cục Du lịch yêu cầu kiểm  
tra [Hidden corner of hotel hygiene: Vietnam National Administration of Tourism requires  
inspection]. Retrieved Febuary 15, 2021, from https://tuoitre.vn/goc-khuat-ve-sinh-khach-  
Quang Le (2019). Resort Aroma phản hồi chính thức về việc bị tố lừa đảo, đe dọa Khoa Pug: Sự  
hiểu lầm trong giao tiếp không mong muốn [Resort Aroma official response to accusations  
of fraud and threats Khoa Pug: Misunderstanding in unwanted communication]. Retrieved  
Rhoades, L., & Eisenberger, R. (2002). Perceived organizational support: A review of the  
literature. Journal of Applied Psychology, 87(4), 698-714.  
Skarlicki, D. P., Van Jaarsveld, D. D., & Walker, D. D. (2008). Getting even for customer  
mistreatment: The role of moral identity in the relationship between customer interpersonal  
injustice and employee sabotage. Journal of Applied Psychology, 93(6), 1335-1347.  
Sliter, M., Jex, S., Wolford, K., & McInnerney, J. (2010). How rude! Emotional labor as a mediator  
between customer incivility and employee outcomes. Journal of Occupational Health  
Psychology, 15(4), 468-481.  
Sliter, M., Sliter, K., & Jex, S. (2012). The employee as a punching bag: The effect of multiple  
sources of incivility on employee withdrawal behavior and sales performance. Journal of  
Organizational Behavior, 33(1), 121-139.  
Spector, P. E., & Fox, S. (2002). An emotion-centered model of voluntary work behavior: Some  
parallels between counterproductive work behavior and organizational citizenship  
behavior. Human Resource Management Review, 12(2), 269-292.  
Thuy Linh (2017). United Airlines mất hàng trăm triệu USD vụ đuổi hành khách gốc Việt [United  
Airlines lost hundreds of millions of dollars in evicting passengers of Vietnamese origin].  
Torres, E. N., Van Niekerk, M., & Orlowski, M. (2017). Customer and employee incivility and its  
causal effects in the hospitality industry. Journal of Hospitality Marketing & Management,  
26(1), 48-66.  
Van Jaarsveld, D. D., Walker, D. D., & Skarlicki, D. P. (2010). The role of job demands and  
emotional exhaustion in the relationship between customer and employee incivility. Journal  
of Management, 36(6), 1486-1504.  
Wang, M., Liao, H., Zhan, Y., & Shi, J. (2011). Daily customer mistreatment and employee  
sabotage against customers: Examining emotion and resource perspectives. Academy of  
Management Journal, 54(2), 312-334.  
18  
Nguyễn D. An, Zhenyuan Wang. HCMCOUJS-Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, 17(2), 5-18  
Wang, M., Liu, S., Liao, H., Gong, Y., Kammeyer-Mueller, J., & Shi, J. (2013). Can’t get it out of  
my mind: Employee rumination after customer mistreatment and negative mood in the next  
morning. Journal of Applied Psychology, 98(6), 989-1004.  
Watts, J., Robertson, N., Winter, R., & Leeson, D. (2013). Evaluation of organisational culture  
and nurse burnout. Nurs Manag (Harrow), 20(6), 24-29.  
Wilson, N. L., & Holmvall, C. M. (2013). The development and validation of the incivility from  
customers scale. Journal of Occupational Health Psychology, 18(3), 310-326.  
Wright, T. A., & Cropanzano, R. (1998). Emotional exhaustion as a predictor of job performance  
and voluntary turnover. Journal of Applied Psychology, 83(3), 486-493.  
Wu, W., Changyang, H., & Qin, Z. (2019). The influence of negative mood on organizational  
citizenship behavior and counterproductive work behavior:  
A
self-control  
perspective. Management Review, 31(12), 146-158.  
Creative Commons Attribution-NonCommercial 4.0 International License.  
pdf 14 trang Thùy Anh 16540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mối quan hệ giữa hành vi thiếu văn minh của khách hàng và hành vi phá hoại dịch vụ của nhân viên trong ngành dịch vụ ở Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_quan_he_giua_hanh_vi_thieu_van_minh_cua_khach_hang_va_ha.pdf