Cộng đồng thương hiệu

HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
CỘNG ĐỒNG THƯƠNG HIỆU  
BRAND COMMUNITY  
ThS. Trương Trần Trâm Anh  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
TÓM TẮT  
Với mục đích giới thiệu khái niệm cộng đồng thương hiệu và những vấn đề xung quanh khái niệm này,  
các nghiên cứu về cộng đồng thương hiệu được tổng hợp và phân tích trong bài báo này. Khái niệm, bản  
chất, và những sự thật về cộng đồng thương hiệu được đưa ra trong phần tổng quan về lí thuyết như là nền  
tảng cho nghiên cứu thực tế về các cộng đồng thương hiệu trực tuyến ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu về  
tổng quan hoạt động của các cộng đồng thương hiệu trực tuyến của các thương hiệu hàng tiêu dùng, điện tử,  
ô tô cho thấy (1) có hai nền tảng chính để xây dựng cộng đồng thương hiệu, (2) mối quan hệ giữa các thành  
viên trong cộng đồng thương hiệu dựa trên mạng xã hội yếu hơn trên diễn đàn riêng cho cộng đồng, và (3)  
cộng đồng thương hiệu phải có câu chuyện của riêng mình và câu chuyện này kết nối với cuộc sống của  
thành viên và ý nghĩa của thương hiệu.  
Từ khóa: cộng đồng thương hiệu, cộng đồng thương hiệu trực tuyến, gắn kết với cộng đồng thương hiệu,  
quản trị cộng đồng thương hiệu.  
ABSTRACT  
This article introduces the concept, nature, and facts about brand community through reviewing extent  
brand community literature. The literature review gives the basis for the empirical study of some online brand  
communities in Vietnam. The results of studying the operation of online brand communities of some consumer  
brands, electronic, and automobile brands show that (1) there are two main platforms for building brand  
community, (2) the relationship between members in communities using Facebook platforms only is weaker  
than those using forums, and (3) the brand community should have a story to connect members, and the story  
should be around the members’ lives and related to brand meaning.  
Keywords: brand community, online brand community, brand community engagement, brand community  
management.  
công ty này vận hành và kinh doanh. Ở Việt  
Nam, những cộng đồng thương hiệu như thế  
này chưa nhiều, hoặc chưa được biết tới. Khi  
Internet phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ của  
mạng xã hội Facebook, cộng đồng thương hiệu  
trực tuyến trở nên phổ biến, và các cộng đồng  
thương hiệu sử dụng nền tảng Facebook được  
hình thành ngày một nhiều. Xu hướng này  
không ngoại lệ ở Việt Nam.  
1. Giới thiệu  
Khái niệm cộng đồng thương hiệu được  
chú ý và đưa vào nghiên cứu vào những năm  
2000 với một trong những nghiên cứu đầu tiên  
là của Muniz và O’Guinn về các đặc điểm của  
cộng đồng thương hiệu. Những nghiên cứu sau  
này về cộng đồng thương hiệu tập trung vào  
tìm hiểu mối quan hệ giữa sự gắn kết vào cộng  
đồng thương hiệu, giữa việc tham gia tích cực  
vào cộng đồng thương hiệu và lòng trung thành  
đối với thương hiệu. Một hướng nghiên cứu  
khác đó là xác định vai trò của những thành  
viên trong cộng đồng, ý nghĩa của vai trò đó  
đối với công ty, thương hiệu.  
Mục đích đầu tiên của bài báo này là tổng  
hợp các kiến thức về cộng đồng thương hiệu  
trong những nghiên cứu hàn lâm cũng như là  
những nghiên cứu, báo cáo thực tế. Mục đích  
thứ hai của bài báo là tổng hợp được thực tế  
một số cộng đồng thương hiệu trực tuyến tại  
Việt Nam để đưa ra báo cáo về cách vận hành  
của các cộng đồng này trên cơ sở một số điểm  
lí thuyết được tổng hợp.  
Trong thực tế, có rất nhiều công ty có cộng  
đồng thương hiệu rất mạnh chẳng hạn như  
Harley Davidson, Saab. Những cộng đồng  
thương hiệu này làm thay đổi cách mà các  
171  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
với những hành động của công ty mà còn khởi  
2. Tổng quan lý thuyết  
xướng và duy trì đối thoại giữa họ về bất kỳ  
một khía cạnh nào của thương hiệu hoặc của  
công ty.”  
2.1. Khái niệm cộng đồng thương hiệu:  
Theo Muniz và O’Guinn (2001), Bagozzi  
và Dholakia (2006), “cộng đồng thương hiệu là  
một cộng đồng được chuyên biệt hóa, không  
phân biệt khoảng cách địa lí, và được hình  
thành dựa trên một tập hợp các mối quan hệ xã  
hội có cấu trúc giữa những người yêu thích  
thương hiệu.” Theo Albert M. Muniz và  
Jr.Thomas C. O’Guinn (2001) cộng đồng này  
chuyên biệt bởi vì trung tâm của nó là thương  
hiệu sản phẩm hoặc dịch vụ.Như những cộng  
đồng khác, cộng đồng thương hiệu được tạo  
nên bởi nhận thức chung, qui tắc và tập quán  
được chia sẻ bởi cộng đồng, và trách nhiệm về  
mặt đạo đức.  
2.2. Bản chất của cộng đồng thương hiệu  
2.2.1. Mối quan hệ trong cộng đồng thương  
hiệu  
Mô hình truyền thống chỉ ra mối quan hệ  
chỉ giữa khách hàng và thương hiệu. Muniz và  
O’Guinn (2001) qua nghiên cứu của mình chỉ  
ra mối quan hệ trong cộng đồng thương hiệu  
gồm khách hàng – khách hàng – thương hiệu.  
McAlexander và cộng sự (2002) mở rộng mô  
hình này với mạng lưới mối quan hệ phức tạp  
hơn trong cộng đồng thương hiệu trong đó  
khách hàng là trung tâm.  
Cộng đồng thương hiệu giống như nơi tập  
hợp những người liên quan đến thương hiệu  
của công ty ở đó họ có thể nói chuyện với nhau  
khi không có mặt công ty, nhưng công ty có  
thể “viếng thăm” và tư vấn hoặc tham gia bất  
kỳ lúc nào. Muniz và O’Guinn (2001) cho rằng  
cộng đồng thương hiệu trong thực tế là hình  
thức cộng đồng hợp pháp. Những cộng đồng  
thương hiệu này có thể được tạo dựng xung  
quanh bất cứ thương hiệu nào, nhưng hầu như  
có khuynh hướng được hình thành xung quanh  
những thương hiệu có một hình ảnh “mạnh”,  
và có bề dày lịch sử.  
Theo McAlexander và cộng sự (2002), mối  
quan hệ trong cộng đồng thương hiệu không  
chỉ đơn giản là mối quan hệ giữa khách hàng  
với nhau và khách hàng với thương hiệu mà  
bao gồm một mạng lưới những mối quan hệ  
phức tạp hơn nhiều. Với mô hình khách hàng  
là trung tâm, McAlexander và cộng sự (2002)  
cho rằng trung tâm của cộng đồng thương hiệu  
không phải là thương hiệu mà là khách hàng.  
Mối quan hệ, những trải nghiệm của khách  
hàng đối với thương hiệu, sản phẩm, các  
chương trình marketing và những khách hàng  
khác chính là những mối quan hệ chính tạo nên  
bộ khung cho cộng đồng. Trọng tâm của cộng  
đồng không phải là sản phẩm hay thương hiệu  
mà chính là những ‘trải nghiệm mà khách hàng  
có khi sở hữu và tiêu dùng sản phẩm hay  
thương hiệu đó.”  
Cộng đồng thương hiệu có thể trực tiếp  
hoặc trực tuyến. Theo Mike Hall, cộng đồng  
thương hiệu trực tuyến là “một nhóm những  
thành viên là những người sử dụng một thương  
hiệu cụ thể, thường xuyên tiếp xúc với thương  
hiệu và tiếp xúc lẫn nhau, không chỉ phản hồi  
172  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
Hình 1. Mối quan hệ chính trong cộng đồng thương hiệu  
(nguồn: McAlexander và cộng sự (2002))  
2.2.2. Đặc điểm của cộng đồng thương hiệu  
Nhận thức về sự liên kết  
đồng với những lí do khác nhau. Có thể không  
được thể hiện rõ ràng ra bằng văn bản nhưng  
có sự ngầm hiểu giữa mọi người về những ranh  
giới giữa các nhóm trong cộng đồng. Chẳng  
hạn như nhóm những thành viên thực sự tin  
tưởng vào thương hiệu và những người sở hữu  
thương hiệu chỉ để theo trào lưu. Bên cạnh đó,  
những thành viên trong cộng đồng chia sẻ với  
nhau ý nghĩa của thương hiệu và phân biệt  
thương hiệu với các thương hiệu cạnh tranh. Ví  
dụ về một cộng đồng thương hiệu mạnh đó là  
cộng đồng thương hiệu của Saab. Mọi người  
hay đánh đồng rằng Saab và Volvo là giống  
nhau bởi vì cả hai đều được sản xuất ở Thụy  
Điển, và đều biết đến bởi sự an toàn. Những  
thành viên trong cộng đồng Saab thì không  
nghĩ như vậy. Họ cho rằng Volvo là loại xe an  
Nhận thức về sự liên kết tức là thành viên  
trong cộng đồng nhận thức được sự kết nối  
giữa các thành viên. Thành viên cộng đồng  
phải có sự kết nối với thương hiệu. Tuy nhiên,  
quan trọng hơn là chính họ phải nhận thức và  
cảm nhận được sự kết nối giữa các thành viên  
với nhau. Sự nhận thức này có thể đến từ việc  
sở hữu sản phẩm. Chẳng hạn như những người  
sở hữu Ipad nhận ra sự kết nối giữa họ với  
nhau thông qua việc sở hữu chiếc máy này.  
Bên cạnh đó, sự nhận thức này có thể không  
phân biệt về mặt địa lí.  
Nhận thức về sự liên kết này còn có thể  
phân biệt những thành viên tham gia vào cộng  
173  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
toàn và nhàm chán nhưng Saab thì ngược lại,  
hiện qua những thông tin được chia sẻ về cách  
sử dụng thương hiệu, nơi nào mua sản phẩm  
với giá cả phải chăng, và qua việc cung cấp  
những tài liệu tham khảo cần thiết cho các  
thành viên.  
Saab an toàn nhưng không kém phần thú vị.  
Qui tắc và tập quán được chia sẻ bởi  
cộng đồng  
Các qui tắc và tập quán là những yếu tố tạo  
nên cộng đồng, cho thấy thực sự cộng đồng  
này là gì. Chẳng hạn như một ví dụ trong  
nghiên cứu của Muniz và O’Guinn (2001) chỉ  
ra rằng những người lái xe Saab khi lái xe trên  
đường nhìn thấy nhau thì vẫy chào nhau hoặc  
nháy đèn. Qui tắc chào hỏi này được coi là để  
nhận diện những ai trong cộng đồng và thể  
hiện cho những người khác về cộng đồng của  
mình. Một trong những tập quán của cộng  
đồng là chia sẻ với nhau những trải nghiệm với  
thương hiệu, lịch sử của thương hiệu, và ý  
nghĩa của thương hiệu. Những người sở hữu  
thương hiệu thường kể những câu chuyện cá  
nhân của mình liên quan đến việc sử dụng  
thương hiệu. Thành viên trong cộng đồng duy  
trì và phát triển văn hóa của cộng đồng thông  
qua việc chia sẻ những câu chuyện cá nhân,  
chia sẻ lịch sử thương hiệu (Laroche và cộng  
sự, 2012). Những qui tắc và tập quán này có  
thể được hình thành bởi thành viên của cộng  
đồng hoặc của công ty.  
2.3. Giá trị tạo ra bởi cộng đồng thương hiệu  
Nhiều nghiên cứu về cộng đồng thương  
hiệu đưa ra những lợi ích mà cộng đồng  
thương hiệu mang lại cho công ty. Một cộng  
đồng thương hiệu mạnh góp phần làm tăng  
lòng trung thành của khách hàng, giảm chi phí  
marketing, khẳng định được ý nghĩa của  
thương hiệu, và đem lại cho công ty cơ hội tiếp  
cận những ý tưởng mới được đề xuất bởi chính  
những thành viên trong cộng đồng. Ví dụ như  
trong nghiên cứu của Franke và Piller (2004),  
các tác giả khẳng định rằng sự tham gia của  
người tiêu dùng vào quá trình thiết kế sản  
phẩm sẽ tăng sự sẵn sàng chi trả và sẵn sàng  
chi trả nhiều hơn cho sản phẩm (trích dẫn trong  
nghiên cứu của Schau và cộng sự, 2009).  
Schau và cộng sự (2009) có cách tiếp cận  
mới trong nghiên cứu của mình, đó là nghiên  
cứu về những hoạt động tạo ra giá trị chung  
của cộng đồng thương hiệu, vấn đề mà nhiều  
nghiên cứu trước đó không xem là quan trọng.  
Các tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích  
meta (meta-analysis) để xác định những hoạt  
động tạo ra giá trị trong cộng đồng thương hiệu  
được đề cập trong 37 bài báo nghiên cứu về  
chủ đề này. Đồng thời, họ sử dụng phương  
pháp phỏng vấn, và quan sát để xác định những  
hoạt động tạo giá trị. Kết quả cho thấy có ba  
nhóm hoạt động tạo ra giá trị. Nhóm thứ nhất  
là những hoạt động kết nối xã hội (social  
networking), bao gồm các hoạt động tạo, gắn  
kết, và duy trì mối quan hệ giữa các thành viên  
trong cộng đồng. Nhóm thứ hai là những hoạt  
động tạo ấn tượng (impression management),  
bao gồm tạo ra những ấn tượng tốt về thương  
hiệu, về cộng đồng thương hiệu. Nhóm thứ ba  
Trách nhiệm về mặt đạo đức  
Trong cộng đồng thương hiệu, trách nhiệm  
về mặt đạo đức là trách nhiệm đối với cả cộng  
đồng và đối với từng thành viên trong cộng  
đồng. Tinh thần trách nhiệm này giúp kết nối  
và duy trì các thành viên, và hỗ trợ các thành  
viên trong việc sử dụng thương hiệu. Nếu trong  
cộng đồng có thành viên chuyển sang dùng  
thương hiệu khác, đặc biệt là thương hiệu cạnh  
tranh thì sẽ nhận được những phản ứng từ  
những thành viên khác trong cộng đồng. Bên  
cạnh đó, các thành viên khác cũng hành động  
đê ngăn chặn việc chuyển sang thương hiệu  
khác của thành viên đó. Việc hỗ trợ các thành  
viên trong việc sử dụng thương hiệu được thể  
174  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
là những hoạt động tăng cường sự gắn kết của  
hoạt động sử dụng thương hiệu (brand uses),  
bao gồm việc đưa ra những gợi ý cho các thành  
viên làm thế nào sử dụng sản phẩm một cách  
tốt hơn, chia sẻ việc cá nhân hóa thương  
hiệu/sản phẩm cho bản thân, và tìm cách  
thương mại hóa những nguồn lực tạo ra bởi  
cộng đồng.  
thành viên với cộng đồng (community  
engagement), bao gồm tự xác định những  
nhóm nhỏ hơn trong cộng đồng mà mình tham  
gia, ghi dấu lại những sự kiện của cá nhân liên  
quan đến thương hiệu, ghi lại những trải  
nghiệm với thương hiệu thông qua câu chuyện  
cá nhân của thành viên. Nhóm thứ tư là những  
Hình 2. Các hoạt động tạo ra giá trị chung trong cộng đồng thương hiệu  
(nguồn: Schau và cộng sự (2009))  
2.4. Những sự thật về cộng đồng thương hiệu  
• Cộng đồng thương hiệu là một chiến  
lược marketing  
• Cộng đồng thương hiệu tồn tại để phục  
vụ thương hiệu  
Sau nhiều năm kinh nghiệm nghiên  
cứu và tư vấn, F. Susan và L. Lara (2008) đưa  
ra những sai lệch trong suy nghĩ về cộng đồng  
thương hiệu:  
175  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
người lái xe motor. Ban quản trị cấp cao của  
• Xây dựng thương hiệu, và cộng đồng  
sẽ được hình thành theo  
công ty xây dựng một văn hóa hỗ trợ cộng  
đồng thương hiệu ở đó có mối liên lạc trực tiếp  
giữa nhân viên công ty và thành viên của cộng  
đồng. Bên cạnh đó, những quyết định quản trị  
mà công ty đưa ra dựa trên sự thấu hiểu nhu  
cầu của cộng đồng. Như Mike Hall nhận xét  
rằng cộng đồng thương hiệu của Harley  
Davidson đã tác động đến mọi khía cạnh kinh  
doanh của thương hiệu này thông quá văn hóa  
công ty, cách thức hoạt động và cấu trúc tổ  
chức của công ty.  
• Cộng đồng thương hiệu nên là nơi chia  
sẻ tình cảm của những người yêu mến và trung  
thành với thương hiệu  
• Tập trung vào những người lãnh đạo ý  
kiến để xây dựng một cộng đồng mạnh  
• Mạng lưới xã hội trực tuyến là cách tốt  
nhất để xây dựng cộng đồng  
• Cộng đồng thương hiệu mạnh phải  
được quản lí và kiểm soát một cách chặt chẽ  
Thứ hai, cộng đồng thương hiệu tồn tại  
không phải để phục vụ thương hiệu mà phục vụ  
những thành viên tạo nên cộng đồng đó. Một  
cộng đồng thương hiệu tăng được lòng trung  
thành, và sự gắn bó tình cảm của thành viên  
với thương hiệu không phải bằng cách tạo ra sự  
gắn kết với thương hiệu mà bằng cách hỗ trợ  
cuộc sống của các thành viên trong cộng đồng.  
Thứ nhất, cộng đồng thương hiệu trong  
thực tế không chỉ là một chiến lược marketing  
mà là một chiến lược kinh doanh. Quan điểm  
này cũng được chia sẻ bởi Mike Hall trong bài  
báo của mình về sự hoạt động của cộng đồng  
thương hiệu trực tuyến.Mike Hall cho rằng  
cộng đồng thương hiệu ảnh hưởng đến mọi  
khía cạnh của công việc kinh doanh.Chiến lược  
cộng đồng thương hiệu được tích hợp vào  
chiến lược công ty, được tạo nên bởi giá trị  
thương hiệu, và được hỗ trợ bởi cấu trúc, hệ  
thống và qui trình của tổ chức.Việc xây dựng  
cộng đồng thương hiệu không phải là nhiệm vụ  
của phòng marketing hay là triết lí của  
marketing mà phải được tích hợp vào triết lí  
kinh doanh của cả tổ chức và gắn kết với giá trị  
của thương hiệu.Harley Davidson là một ví dụ  
điển hình cho quan điểm này được dẫn chứng  
trong bài nghiên cứu của F. Susan và L. Lara  
(2008).Harley Davidson đã tạo ra một cộng  
đồng thương hiệu mạnh và đầy cam kết vì công  
ty đã tạo dựng cộng đồng này với nền tảng giá  
trị của tổ chức luôn hướng tới cộng đồng  
những người sử dụng và yêu mến Harley  
Davidson.Vào những năm 80 công ty thực hiện  
chiến dịch quảng cáo cho thương hiệu mang  
tên “do mọi người, và vì mọi người”. Tức là  
mọi hoạt động của họ đều hướng đến việc hiểu  
và phục vụ nhu cầu của cộng đồng những  
Thứ ba, thực tế là phải xây dựng nên cộng  
đồng, và thương hiệu mới phát triển theo sau.  
Lý thuyết trong quản trị thương hiệu cho rằng  
công ty phải xác định được giá trị của thương  
hiệu sao cho những giá trị này được kết nối với  
và cảm nhận bởi khách hàng, sau đó truyền  
thông những giá trị này một cách nhất quán, và  
kết quả là một thương hiệu mạnh sẽ ra đời. Tuy  
nhiên, mối liên kết giữa những giá trị này của  
thương hiệu và những thành viên trong cộng  
đồng là tương đối lỏng lẻo. Vì xét về mối quan  
hệ này, lợi ích của hai bên là không cân bằng.  
Trong khi công ty nhận về là lòng trung thành  
thương hiệu, và những lợi ích về tài chính khi  
khách hàng mua sản phẩm còn lợi ích đem lại  
cho khách hàng, những thành viên của cộng  
đồng chỉ là sự thể hiện đẳng cấp hay nhận diện  
cá nhân. Vì thế, mối liên kết giữa các thành  
viên trong cộng đồng chỉ dựa trên giá trị  
thương hiệu và niềm tin đối với thương hiệu là  
khá yếu.Cách tiếp cận thứ hai mà F. Susan và  
176  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
L. Lara (2008) đưa ra là mối liên kết giữa các  
trọng mà những vai trò khác như đón chào  
(welcoming), thấu cảm những vấn đề của thành  
viên (empathizing), quản trị (governing),  
truyền bá những điểm tốt về thương hiệu  
(evangelizing), biện hộ, chứng minh  
(justifying), phân biệt những nhóm trong cộng  
đồng (staking), đánh mốc những thời điểm liên  
quan đến việc sử dụng thương hiệu  
(milestoning), ký hiệu cho mức độ tham gia  
vào cộng đồng (badging), ghi chép những trải  
nghiệm với thương hiệu (documenting), góp ý  
cho việc sử dụng sản phẩm tốt hơn (grooming),  
cá nhân hóa sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu  
của cá nhân (customizing), bàn luận về việc  
thương mại hóa những nguồn lực tạo ra bởi  
cộng đồng (commoditizing). Nhiệm vụ của  
công ty là phải xác định được những vai trò  
này trong cộng đồng của mình, có cách khuyến  
khích và phát triển những vai trò này để tăng  
sự gắn kết của thành viên với cộng đồng.  
thành viên trong cộng đồng chính là sự liên kết  
giữa các thành viên với nhau.Các thành viên  
này phải nói chuyện với nhau về một vấn đề  
nào đó, tạo được mối quan hệ với nhau thì sự  
kết nối trong cộng đồng mới mạnh mẽ.Cách  
tiếp cận thứ ba đó là có một tâm điểm để các  
thành viên kết nối vào.Tâm điểm này có thể là  
một người nổi tiếng, các thành viên trong cộng  
đồng thấy kết nối với người nổi tiếng này và họ  
kết nối với nhau qua việc là người hâm mộ  
người nổi tiếng này.Sự kết nối này có thể làm  
cho sợi dây liên kết giữa các thành viên trong  
cộng đồng mạnh mẽ hơn.Tuy nhiên, rủi ro có  
thể xảy ra khi công ty chọn sai người nổi tiếng  
làm tâm điểm của cộng đồng.  
Thứ tư, qui luật về chính trị trong cộng  
đồng là điều không thể tránh khỏi. Cộng đồng  
thương hiệu là một cộng đồng mở, mọi người  
tham gia và nói lên ý kiến, quan điểm của  
mình. Cộng đồng này không phải chỉ bao gồm  
những lời khen tặng hay góp ý chân thành mà  
còn có những phàn nàn từ thành viên. Vì là  
một cộng đồng, và như trong định nghĩa nêu ở  
phần trước, quan hệ giữa các thành viên trong  
cộng đồng cũng có những va chạm về mặt  
quan điểm, và có những ranh giới giữa các  
nhóm thành viên. Chẳng hạn như cộng đồng  
Harley Davidson thường tránh những lái xe  
người Nhật.  
Thứ sáu, mạng xã hội là một công cụ chứ  
không phải là chiến lược. Ngày nay, mọi người  
nói rất nhiều về mạng xã hội, và các công ty  
cũng tận dùng công cụ này như là một kênh  
truyền thông với khách hàng. Các cộng đồng  
thương hiệu trực tuyến cũng ra đời sử dụng nền  
tảng mạng xã hội. Tuy nhiên, không phải hoạt  
động trực tuyến nào cũng phổ biến, và có nhiều  
mạng lưới xã hội thực, trực tiếp vẫn rất mạnh  
mẽ. Bên cạnh đó, hầu hết các khía cạnh đời  
sống của khách hàng đều xảy ra ngoài đời thực.  
Trong thực tế, có một nơi để các cá nhân gặp  
gỡ nhau, trao đổi trực tiếp với nhau sẽ tạo nên  
sự gắn kết bền chặt hơn là những cuộc đối  
thoại trực tuyến.  
Thứ năm, cộng đồng thương hiệu phải  
quan tâm đến tất cả mọi người, mỗi thành viên  
trong cộng đồng đều đóng vai trò quan trọng.  
Theo Schau và cộng sự (2009), nếu công ty  
trao cho các thành viên trong cộng đồng quyền  
xây dựng cộng đồng, và điều chỉnh sản phẩm,  
họ sẽ làm điều đó. Trong nghiên cứu của Schau  
và cộng sự (2009), tác giả đã chỉ ra nhiều vai  
trò khác nhau trong một cộng đồng thương  
hiệu. Không chỉ có những người lãnh đạo ý  
kiến (opinion leaders) mới đóng vai trò quan  
Thứ bảy, cộng đồng thương hiệu phải cởi  
mở và không phải để công ty kiểm soát. Cộng  
đồng thương hiệu không phải là tài sản của  
công ty để công ty có thể sở hữu và kiểm soát.  
Cộng đồng được tạo ra bởi “con người và vì  
con người”. Công ty chính là những thành viên  
177  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
của cộng đồng chứ không phải là quản lí và  
Người quản lí cộng đồng  
kiểm soát vì công ty không thể quản lí thứ mà  
họ không sở hữu. Tuy nhiên, không phải vì thế  
mà các thành viên trong cộng đồng tự do nói  
xấu thương hiệu, hoặc hành động không theo  
một qui tắc nào. Trong trường hợp lí tưởng,  
công ty đóng vai trò như là người khuyến  
khích những đóng góp tích cực, những chia sẻ  
có ích giữa các thành viên trong cộng đồng, và  
bản thân công ty phải xem mình như là thành  
viên trong cộng đồng. Nhiệm vụ của công ty là  
làm thế nào để gần gũi với các thành viên trong  
cộng đồng và hỗ trợ, đem lại lợi ích cho họ chứ  
không phải chỉ là “khai thác” họ.  
Người quản lí, điều phối hoạt động trong  
cộng đồng có thể là công ty (Kotex, Sunsilk,  
Dove, Closeup, Comfort, Samsung, Pepsi), có  
thể là chính những người yêu thương hiệu  
(Apple (applervn.com)), và có thể là một tổ  
chức, công ty độc lập (Ô tô Sài Gòn).  
Nền tảng (platform) cho cộng đồng  
Platform thứ nhất để xây dựng cộng đồng  
thương hiệu trực tuyến đó là website do công  
ty hoặc do nhóm người yêu thích thương hiệu  
tạo nên hoặc do một công ty thứ ba tạo nên.  
Với platform này, việc tham gia diễn đàn yêu  
cầu nhiều thời gian hơn như đăng ký làm thành  
viên, hiểu nội qui, học cách đăng bài lên diễn  
đàn, cách đăng một chủ đề mới, vân vân.  
Platform thứ hai là những mạng xã hội như  
Facebook, Twitter, mà hiện nay phổ biến nhất  
là Facebook. Với platform này, người dùng sẽ  
cảm thấy dễ dàng tiếp cận hơn vì hầu hết họ đã  
có sẵn tài khoản trên Facebook, việc bình luận,  
thích, chia sẻ thông tin cũng dễ dàng hơn.  
Trong các cộng đồng thương hiệu được đưa  
vào nghiên cứu trong bài này, chỉ có Kotex,  
Samsung, Apple là các cộng đồng sử dụng cả  
hai platform. Ô tô Sài Gòn không có platform  
mạng xã hội Facebook, và những cộng đồng  
khác chỉ sử dụng platform mạng xã hội  
Facebook. Việc lựa chọn platform ảnh hưởng  
đến các mối quan hệ trong cộng đồng thương  
hiệu.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp để tìm  
hiểu thực tiễn một số cộng đồng thương hiệu  
tại Việt Nam. Trong thực tế, cộng đồng thương  
hiệu có thể là trực tuyến hoặc trực tiếp. Tuy  
nhiên, nghiên cứu này tập trung vào các cộng  
đồng thương hiệu trực tuyến vì tính dễ tiếp cận.  
Nghiên cứu tổng hợp các diễn đàn cộng đồng  
thương hiệu trực tuyến của các nhãn hàng và  
thương hiệu tại Việt Nam để phân nhóm và tìm  
điểm chung giữa các diễn đàn tích hợp với  
những lý thuyết về cộng đồng thương hiệu đã  
trình bày ở phần trên. Với mục đích tìm hiểu  
cách hoạt động của các diễn đàn, nội dung của  
các diễn đàn được tổng hợp và đưa vào phân  
tích để tìm ra những đặc điểm của các cộng  
đồng.  
4. Kết quả nghiên cứu  
Đối với trường hợp Ô tô Sài Gòn, các  
thương hiệu xe hơi được đưa vào thành các  
mục trong diễn đàn để những người yêu xe trao  
đổi thông tin với nhau về các thương hiệu này.  
Trong cộng đồng thương hiệu những người yêu  
ô tô, sẽ có những nhóm cộng đồng nhỏ thảo  
luận về từng thương hiệu ô tô. Vì vậy, cộng  
đồng này không phải là một cộng đồng cho  
một thương hiệu xe cụ thể nào cả.  
Một số các cộng đồng thương hiệu ở Việt  
Nam được đưa vào nghiên cứu này là Kotex,  
Sunsilk, Dove, Closeup, Comfort, Samsung,  
Apple, Pepsi, Ô tô Sài Gòn. Những cộng đồng  
này bao gồm cộng đồng của những thương  
hiệu tiêu dùng (Kotex, Sunsilk, Dove, Closeup,  
Comfort, Pepsi), những thương hiệu điện tử  
(Samsung, Apple), và ô tô (Ô tô Sài Gòn).  
178  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
vẫn chưa thấy thông tin của mình, hoặc hỏi về  
Các mối quan hệ trong cộng đồng  
thương hiệu  
thông tin sự kiện liên quan đến thương hiệu. Ở  
đây, mối quan hệ giữa thành viên và thành viên  
ít xảy ra. Ví dụ như trên fanpage của Pepsi, hầu  
hết các bài đăng của thành viên đều phản hồi  
lại các chương trình khuyến mãi gần nhất như  
tham gia các sự kiện âm nhạc bằng cách đổi vỏ  
chai lấy vé:  
Với các cộng đồng có sử dụng website  
diễn đàn, mối quan hệ của cộng đồng là mối  
quan hệ giữa thành viên với thương hiệu, giữa  
các thành viên với nhau, thành viên với các  
chương trình marketing, thành viên với sản  
phẩm. Các thành viên trong cộng đồng có  
những cuộc đối thoại với nhau về cách sử dụng  
sản phẩm, về việc mua sản phẩm ở đâu là hợp  
lí nhất, đối thoại về việc xử lí thế nào khi sản  
phẩm bị hỏng…Chẳng hạn cuộc đối thoại của  
thành viên trong cộng đồng My Samsung như  
sau:  
Taylor Miu: Hôm nay mình mua 5 chai, cố  
gắng uống hết 4 chai để đem đi đổi, cuối cùng  
thì…chẳng được gì, lại còn không biết cụ thể  
là bao giờ mới đổi được, chán quá?  
Panda ChjBj: Mình ở Hà Nội, hôm nay có  
hỏi mấy chỗ để đổi vé đều thấy không có chỗ  
nào cho đổi, nơi thì bảo mấy hôm nữa!! Thế là  
như nào???  
A: định up FW cho máy ngon hơn tý nhưng  
đang up thì bị lỗi Boot2. Qua website kia thấy  
cách khắc phục lúc còn chữ download. Lúc đó  
máy cũng còn chữ download. Vừa mở lên định  
làm lại thì Máy tính bị khởi động lại. Đúng là  
xui bây giờ thì không thể mở lên được chữ  
Download cũng không còn. Em phải làm sao  
cho nó trở về ban đâu đây…Giúp e với hay  
đem ra tiệm mà nếu làm lại được thì mất  
khoảng bao nhiều Money.  
Trong khi đó, ở trên diễn đàn của cộng  
đồng, mối quan hệ giữa các thành viên có thể  
gắn kết hơn. Hầu hết các diễn đàn đều có mục  
các sự kiện offline để các thành viên có thể gặp  
gỡ nhau trực tiếp. Chẳng hạn như diễn đàn  
những người thích Apple ở Việt Nam  
(applervn.com) có sự kiện gặp gỡ để chào  
mừng sinh nhật tròn một tuổi của diễn đàn, hay  
chào mừng sự kiện ra đời iOS7 và ra đời kho  
ứng dụng riêng của diễn đàn. Các sự kiện này  
làm gắn kết giữa các thành viên và cũng dễ  
thấy sự yêu thích, nhiệt tình đối với thương  
hiệu của thành viên. Đối với các cộng đồng  
dùng platform FB thì không thấy được sự gắn  
kết này.  
B: nếu ở saigon liên hệ mình repair boot  
cho bạn  
Với các cộng đồng chỉ sử dụng Facebook  
(FB) làm platform, mối quan hệ chủ yếu là  
“người thích trang FB” với thương hiệu, và  
những thông tin, chương trình của thương hiệu  
được đưa ra bởi người quản trị trang. Trên thực  
tế, vẫn có những câu hỏi của các thành viên về  
việc sử dụng sản phẩm nhưng khá ít. Bởi trên  
trang Facebook, một ngày admin có thể tải lên  
nhiều nội dung về thương hiệu, và qua quan sát  
trên các trang FB thì mọi người hầu hết ấn nút  
“like” và rất ít các bình luận giúp đỡ thành  
viên. Các bình luận phần nhiều là về nội dung  
làm sao nhận được quà từ công ty khi tham gia  
vào một chương trình khuyến mãi được đăng  
lên Facebook, hoặc đã đăng ký tham gia nhưng  
“Câu chuyện” của cộng đồng  
Có một câu chuyện vui là nếu một  
công ty bán tăm xỉa răng thì có thể xây dựng  
một cộng đồng thương hiệu cho thương hiệu  
tăm xỉa răng của công ty không? Thật ra là có,  
nếu thương hiệu này mang lại một câu chuyện  
để gắn kết các thành viên của cộng đồng. Cộng  
đồng thương hiệu tăm xỉa răng có thể xoay  
quanh chuyện ẩm thực chẳng hạn. Cộng đồng  
thương hiệu của nhãn hàng Kotex là một ví dụ.  
179  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Cộng đồng không xoay quanh sản phẩm mà  
trách nhiệm của riêng cộng đồng. Những giá trị  
mà cộng đồng thương hiệu đem lại cho thương  
hiệu, và cho chính thành viên tham gia trong  
cộng đồng đã được chứng minh trong nhiều  
nghiên cứu. Qua thực tế nghiên cứu, những giá  
trị mà cộng đồng đem lại cho thành viên đó là  
thông tin, là sự kết nối với người khác, và cảm  
giác được sẻ chia, gắn kết. Với nhiều nền tảng  
khác nhau, cộng đồng thương hiệu cũng đa  
dạng về mặt hình thức, có thể là trực tiếp hay  
trực tuyến. Với cộng đồng thương hiệu trực  
tuyến, có thể sử dụng diễn đàn, hay sử dụng  
nền tảng mạng xã hội để tiếp cận với các thành  
viên. Thực tế phân tích các cộng đồng thương  
hiệu trực tuyến sử dụng cả hai nền tảng này  
cho thấy rằng sự gắn kết giữa các thành viên sẽ  
yếu hơn nhiều khi chỉ sử dụng nền tảng mạng  
xã hội so với việc sử dụng những diễn đàn  
chính thức. Câu chuyện để thu hút và gắn kết  
các thành viên trong cộng đồng cũng phải  
mang một ý nghĩa lớn hơn xa hơn so với chỉ  
tập trung vào thương hiệu. Câu chuyện đó phải  
gắn với những vấn đề trong cuộc sống hàng  
ngày của thành viên trong cộng đồng, và  
đương nhiên phải kết nối với ý nghĩa thương  
hiệu.  
phần lớn nội dung của cộng đồng xoay quanh  
những vấn đề về kiến thức về sinh lý và tâm lý  
cho các bạn gái. Chuyên gia tâm lý TS. Huỳnh  
Văn Sơn là người tư vấn cho các bạn gái trong  
cộng đồng. Những chủ đề liên quan đến đời  
sống tinh thần, vấn đề về sức khỏe được nêu ra  
để thảo luận. Do đó, các thành viên tham gia  
vào cộng đồng gắn kết với nhau qua các chia  
sẻ, gắn kết với thương hiệu thông qua những  
vấn đề trong đời sống hàng ngày của mình  
được chia sẻ với người nhiều kinh nghiệm.  
Các cộng đồng thương hiệu của Sunsilk,  
Dove, Closeup và Comfort cũng như vậy. Họ  
đưa ra các câu chuyện trong đời sống hàng  
ngày về chăm sóc bản thân, chăm sóc tóc, da,  
răng miệng, chăm sóc gia đình,…để gắn kết  
các thành viên. Những thương hiệu này đều chỉ  
sử dụng FB làm platform và mỗi ngày người  
quản lí cộng đồng đều tìm một hình ảnh đẹp về  
phụ nữ, trẻ thơ, gia đình, tình yêu để chia sẻ  
với mọi người ngoài những thông tin về  
chương trình khuyến mãi hay các sự kiện của  
thương hiệu. Mỗi cộng đồng cũng gắn kết ý  
nghĩa của thương hiệu vào đó. Chẳng hạn như  
Dove, một thương hiệu nổi tiếng với sự mềm  
mại, yêu thương chính mình. Closeup hướng  
đến giới trẻ thì luôn có những thông tin cập  
nhật về các sự kiện trong giới trẻ, những  
chương trình, cuộc thi của chính nhãn hàng  
được cập nhật liên tục. Tương tự như cộng  
đồng Pepsi, các cuộc thi ảnh dành cho các  
khách hàng, các chương trình tham gia cùng  
thần tượng, bình chọn ảnh, bình chọn video  
ngay trên FB đã thu hút hàng loạt người tham  
gia. Tất cả nội dung đó gắn kết với ý nghĩa  
thương hiệu là phong cách sống trẻ trung, sôi  
động của Pepsi. Trang FB của Pepsi có đến 17  
triệu người like.  
Nghiên cứu này là nghiên cứu khám phá và  
mang tính tổng quan về một số cộng đồng  
thương hiệu tại Việt Nam của một số thương  
hiệu lớn. Hướng nghiên cứu trong tương lai có  
thể phân tích sâu hơn nội dung của các cộng  
đồng, phỏng vấn thành viên trong cộng đồng  
để hiểu về những khái niệm nghiên cứu trong  
cộng đồng thương hiệu. Bên cạnh đó, nghiên  
cứu trong tương laic so thể tập trung vào việc  
đo lường hiệu quả của cộng đồng thương hiệu,  
và xác định những cách thức hình thành, duy  
trì cộng đồng thương hiệu hiệu quả qua việc  
tìm hiểu thực tế các cộng đồng thương hiệu ở  
Việt Nam và trên thế giới./.  
5. Bàn luận  
Cộng đồng thương hiệu được xem như là  
một cộng đồng xã hội có cấu trúc và có qui tắc,  
180  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
181  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
182  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Brodie, R. J., et al. (2011). "Consumer engagement in a virtual brand community: An  
exploratory analysis." Journal of Business Research.  
[2] McAlexander, J. H., et al. (2002). "Building brand community." The Journal of Marketing:  
38-54.  
portals/12/.../20100728_white_paper_verve.pdf  
[4] Muniz Jr, A. M. and T. C. O’guinn (2001). "Brand community." Journal of consumer research  
27(4): 412-432.  
[5] O'Donnell, E. and S. Brown (2012). "BRAND COMMUNITY LOYALTY: A SELF  
DETERMINATION THEORY PERPECTIVE." Academy of Marketing Studies Journal  
16(2): 107-118.  
[6] Schau, H. J., et al. (2009). "How brand community practices create value." Journal of  
Marketing 73(5): 30-51.  
[7] Sicilia, M. and M. Palazón (2008). "Brand communities on the internet." Corporate  
Communications 13(3): 255-270.  
[8] F. Susan and L. Lara (2008). “The seven deadly sins of brand community management.” The  
Boston University School of Management  
[ 9] Won-Moo, H., et al. (2011). "Building brand loyalty through managing brand community  
commitment." Management Decision 49(7): 1194-1213  
183  
pdf 13 trang Thùy Anh 14940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cộng đồng thương hiệu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcong_dong_thuong_hieu.pdf