Cộng đồng thương hiệu
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
CỘNG ĐỒNG THƯƠNG HIỆU
BRAND COMMUNITY
ThS. Trương Trần Trâm Anh
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Với mục đích giới thiệu khái niệm cộng đồng thương hiệu và những vấn đề xung quanh khái niệm này,
các nghiên cứu về cộng đồng thương hiệu được tổng hợp và phân tích trong bài báo này. Khái niệm, bản
chất, và những sự thật về cộng đồng thương hiệu được đưa ra trong phần tổng quan về lí thuyết như là nền
tảng cho nghiên cứu thực tế về các cộng đồng thương hiệu trực tuyến ở Việt Nam. Kết quả nghiên cứu về
tổng quan hoạt động của các cộng đồng thương hiệu trực tuyến của các thương hiệu hàng tiêu dùng, điện tử,
ô tô cho thấy (1) có hai nền tảng chính để xây dựng cộng đồng thương hiệu, (2) mối quan hệ giữa các thành
viên trong cộng đồng thương hiệu dựa trên mạng xã hội yếu hơn trên diễn đàn riêng cho cộng đồng, và (3)
cộng đồng thương hiệu phải có câu chuyện của riêng mình và câu chuyện này kết nối với cuộc sống của
thành viên và ý nghĩa của thương hiệu.
Từ khóa: cộng đồng thương hiệu, cộng đồng thương hiệu trực tuyến, gắn kết với cộng đồng thương hiệu,
quản trị cộng đồng thương hiệu.
ABSTRACT
This article introduces the concept, nature, and facts about brand community through reviewing extent
brand community literature. The literature review gives the basis for the empirical study of some online brand
communities in Vietnam. The results of studying the operation of online brand communities of some consumer
brands, electronic, and automobile brands show that (1) there are two main platforms for building brand
community, (2) the relationship between members in communities using Facebook platforms only is weaker
than those using forums, and (3) the brand community should have a story to connect members, and the story
should be around the members’ lives and related to brand meaning.
Keywords: brand community, online brand community, brand community engagement, brand community
management.
công ty này vận hành và kinh doanh. Ở Việt
Nam, những cộng đồng thương hiệu như thế
này chưa nhiều, hoặc chưa được biết tới. Khi
Internet phát triển, đặc biệt là sự bùng nổ của
mạng xã hội Facebook, cộng đồng thương hiệu
trực tuyến trở nên phổ biến, và các cộng đồng
thương hiệu sử dụng nền tảng Facebook được
hình thành ngày một nhiều. Xu hướng này
không ngoại lệ ở Việt Nam.
1. Giới thiệu
Khái niệm cộng đồng thương hiệu được
chú ý và đưa vào nghiên cứu vào những năm
2000 với một trong những nghiên cứu đầu tiên
là của Muniz và O’Guinn về các đặc điểm của
cộng đồng thương hiệu. Những nghiên cứu sau
này về cộng đồng thương hiệu tập trung vào
tìm hiểu mối quan hệ giữa sự gắn kết vào cộng
đồng thương hiệu, giữa việc tham gia tích cực
vào cộng đồng thương hiệu và lòng trung thành
đối với thương hiệu. Một hướng nghiên cứu
khác đó là xác định vai trò của những thành
viên trong cộng đồng, ý nghĩa của vai trò đó
đối với công ty, thương hiệu.
Mục đích đầu tiên của bài báo này là tổng
hợp các kiến thức về cộng đồng thương hiệu
trong những nghiên cứu hàn lâm cũng như là
những nghiên cứu, báo cáo thực tế. Mục đích
thứ hai của bài báo là tổng hợp được thực tế
một số cộng đồng thương hiệu trực tuyến tại
Việt Nam để đưa ra báo cáo về cách vận hành
của các cộng đồng này trên cơ sở một số điểm
lí thuyết được tổng hợp.
Trong thực tế, có rất nhiều công ty có cộng
đồng thương hiệu rất mạnh chẳng hạn như
Harley Davidson, Saab. Những cộng đồng
thương hiệu này làm thay đổi cách mà các
171
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
với những hành động của công ty mà còn khởi
2. Tổng quan lý thuyết
xướng và duy trì đối thoại giữa họ về bất kỳ
một khía cạnh nào của thương hiệu hoặc của
công ty.”
2.1. Khái niệm cộng đồng thương hiệu:
Theo Muniz và O’Guinn (2001), Bagozzi
và Dholakia (2006), “cộng đồng thương hiệu là
một cộng đồng được chuyên biệt hóa, không
phân biệt khoảng cách địa lí, và được hình
thành dựa trên một tập hợp các mối quan hệ xã
hội có cấu trúc giữa những người yêu thích
thương hiệu.” Theo Albert M. Muniz và
Jr.Thomas C. O’Guinn (2001) cộng đồng này
chuyên biệt bởi vì trung tâm của nó là thương
hiệu sản phẩm hoặc dịch vụ.Như những cộng
đồng khác, cộng đồng thương hiệu được tạo
nên bởi nhận thức chung, qui tắc và tập quán
được chia sẻ bởi cộng đồng, và trách nhiệm về
mặt đạo đức.
2.2. Bản chất của cộng đồng thương hiệu
2.2.1. Mối quan hệ trong cộng đồng thương
hiệu
Mô hình truyền thống chỉ ra mối quan hệ
chỉ giữa khách hàng và thương hiệu. Muniz và
O’Guinn (2001) qua nghiên cứu của mình chỉ
ra mối quan hệ trong cộng đồng thương hiệu
gồm khách hàng – khách hàng – thương hiệu.
McAlexander và cộng sự (2002) mở rộng mô
hình này với mạng lưới mối quan hệ phức tạp
hơn trong cộng đồng thương hiệu trong đó
khách hàng là trung tâm.
Cộng đồng thương hiệu giống như nơi tập
hợp những người liên quan đến thương hiệu
của công ty ở đó họ có thể nói chuyện với nhau
khi không có mặt công ty, nhưng công ty có
thể “viếng thăm” và tư vấn hoặc tham gia bất
kỳ lúc nào. Muniz và O’Guinn (2001) cho rằng
cộng đồng thương hiệu trong thực tế là hình
thức cộng đồng hợp pháp. Những cộng đồng
thương hiệu này có thể được tạo dựng xung
quanh bất cứ thương hiệu nào, nhưng hầu như
có khuynh hướng được hình thành xung quanh
những thương hiệu có một hình ảnh “mạnh”,
và có bề dày lịch sử.
Theo McAlexander và cộng sự (2002), mối
quan hệ trong cộng đồng thương hiệu không
chỉ đơn giản là mối quan hệ giữa khách hàng
với nhau và khách hàng với thương hiệu mà
bao gồm một mạng lưới những mối quan hệ
phức tạp hơn nhiều. Với mô hình khách hàng
là trung tâm, McAlexander và cộng sự (2002)
cho rằng trung tâm của cộng đồng thương hiệu
không phải là thương hiệu mà là khách hàng.
Mối quan hệ, những trải nghiệm của khách
hàng đối với thương hiệu, sản phẩm, các
chương trình marketing và những khách hàng
khác chính là những mối quan hệ chính tạo nên
bộ khung cho cộng đồng. Trọng tâm của cộng
đồng không phải là sản phẩm hay thương hiệu
mà chính là những ‘trải nghiệm mà khách hàng
có khi sở hữu và tiêu dùng sản phẩm hay
thương hiệu đó.”
Cộng đồng thương hiệu có thể trực tiếp
hoặc trực tuyến. Theo Mike Hall, cộng đồng
thương hiệu trực tuyến là “một nhóm những
thành viên là những người sử dụng một thương
hiệu cụ thể, thường xuyên tiếp xúc với thương
hiệu và tiếp xúc lẫn nhau, không chỉ phản hồi
172
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
Hình 1. Mối quan hệ chính trong cộng đồng thương hiệu
(nguồn: McAlexander và cộng sự (2002))
2.2.2. Đặc điểm của cộng đồng thương hiệu
Nhận thức về sự liên kết
đồng với những lí do khác nhau. Có thể không
được thể hiện rõ ràng ra bằng văn bản nhưng
có sự ngầm hiểu giữa mọi người về những ranh
giới giữa các nhóm trong cộng đồng. Chẳng
hạn như nhóm những thành viên thực sự tin
tưởng vào thương hiệu và những người sở hữu
thương hiệu chỉ để theo trào lưu. Bên cạnh đó,
những thành viên trong cộng đồng chia sẻ với
nhau ý nghĩa của thương hiệu và phân biệt
thương hiệu với các thương hiệu cạnh tranh. Ví
dụ về một cộng đồng thương hiệu mạnh đó là
cộng đồng thương hiệu của Saab. Mọi người
hay đánh đồng rằng Saab và Volvo là giống
nhau bởi vì cả hai đều được sản xuất ở Thụy
Điển, và đều biết đến bởi sự an toàn. Những
thành viên trong cộng đồng Saab thì không
nghĩ như vậy. Họ cho rằng Volvo là loại xe an
Nhận thức về sự liên kết tức là thành viên
trong cộng đồng nhận thức được sự kết nối
giữa các thành viên. Thành viên cộng đồng
phải có sự kết nối với thương hiệu. Tuy nhiên,
quan trọng hơn là chính họ phải nhận thức và
cảm nhận được sự kết nối giữa các thành viên
với nhau. Sự nhận thức này có thể đến từ việc
sở hữu sản phẩm. Chẳng hạn như những người
sở hữu Ipad nhận ra sự kết nối giữa họ với
nhau thông qua việc sở hữu chiếc máy này.
Bên cạnh đó, sự nhận thức này có thể không
phân biệt về mặt địa lí.
Nhận thức về sự liên kết này còn có thể
phân biệt những thành viên tham gia vào cộng
173
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
toàn và nhàm chán nhưng Saab thì ngược lại,
hiện qua những thông tin được chia sẻ về cách
sử dụng thương hiệu, nơi nào mua sản phẩm
với giá cả phải chăng, và qua việc cung cấp
những tài liệu tham khảo cần thiết cho các
thành viên.
Saab an toàn nhưng không kém phần thú vị.
Qui tắc và tập quán được chia sẻ bởi
cộng đồng
Các qui tắc và tập quán là những yếu tố tạo
nên cộng đồng, cho thấy thực sự cộng đồng
này là gì. Chẳng hạn như một ví dụ trong
nghiên cứu của Muniz và O’Guinn (2001) chỉ
ra rằng những người lái xe Saab khi lái xe trên
đường nhìn thấy nhau thì vẫy chào nhau hoặc
nháy đèn. Qui tắc chào hỏi này được coi là để
nhận diện những ai trong cộng đồng và thể
hiện cho những người khác về cộng đồng của
mình. Một trong những tập quán của cộng
đồng là chia sẻ với nhau những trải nghiệm với
thương hiệu, lịch sử của thương hiệu, và ý
nghĩa của thương hiệu. Những người sở hữu
thương hiệu thường kể những câu chuyện cá
nhân của mình liên quan đến việc sử dụng
thương hiệu. Thành viên trong cộng đồng duy
trì và phát triển văn hóa của cộng đồng thông
qua việc chia sẻ những câu chuyện cá nhân,
chia sẻ lịch sử thương hiệu (Laroche và cộng
sự, 2012). Những qui tắc và tập quán này có
thể được hình thành bởi thành viên của cộng
đồng hoặc của công ty.
2.3. Giá trị tạo ra bởi cộng đồng thương hiệu
Nhiều nghiên cứu về cộng đồng thương
hiệu đưa ra những lợi ích mà cộng đồng
thương hiệu mang lại cho công ty. Một cộng
đồng thương hiệu mạnh góp phần làm tăng
lòng trung thành của khách hàng, giảm chi phí
marketing, khẳng định được ý nghĩa của
thương hiệu, và đem lại cho công ty cơ hội tiếp
cận những ý tưởng mới được đề xuất bởi chính
những thành viên trong cộng đồng. Ví dụ như
trong nghiên cứu của Franke và Piller (2004),
các tác giả khẳng định rằng sự tham gia của
người tiêu dùng vào quá trình thiết kế sản
phẩm sẽ tăng sự sẵn sàng chi trả và sẵn sàng
chi trả nhiều hơn cho sản phẩm (trích dẫn trong
nghiên cứu của Schau và cộng sự, 2009).
Schau và cộng sự (2009) có cách tiếp cận
mới trong nghiên cứu của mình, đó là nghiên
cứu về những hoạt động tạo ra giá trị chung
của cộng đồng thương hiệu, vấn đề mà nhiều
nghiên cứu trước đó không xem là quan trọng.
Các tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích
meta (meta-analysis) để xác định những hoạt
động tạo ra giá trị trong cộng đồng thương hiệu
được đề cập trong 37 bài báo nghiên cứu về
chủ đề này. Đồng thời, họ sử dụng phương
pháp phỏng vấn, và quan sát để xác định những
hoạt động tạo giá trị. Kết quả cho thấy có ba
nhóm hoạt động tạo ra giá trị. Nhóm thứ nhất
là những hoạt động kết nối xã hội (social
networking), bao gồm các hoạt động tạo, gắn
kết, và duy trì mối quan hệ giữa các thành viên
trong cộng đồng. Nhóm thứ hai là những hoạt
động tạo ấn tượng (impression management),
bao gồm tạo ra những ấn tượng tốt về thương
hiệu, về cộng đồng thương hiệu. Nhóm thứ ba
Trách nhiệm về mặt đạo đức
Trong cộng đồng thương hiệu, trách nhiệm
về mặt đạo đức là trách nhiệm đối với cả cộng
đồng và đối với từng thành viên trong cộng
đồng. Tinh thần trách nhiệm này giúp kết nối
và duy trì các thành viên, và hỗ trợ các thành
viên trong việc sử dụng thương hiệu. Nếu trong
cộng đồng có thành viên chuyển sang dùng
thương hiệu khác, đặc biệt là thương hiệu cạnh
tranh thì sẽ nhận được những phản ứng từ
những thành viên khác trong cộng đồng. Bên
cạnh đó, các thành viên khác cũng hành động
đê ngăn chặn việc chuyển sang thương hiệu
khác của thành viên đó. Việc hỗ trợ các thành
viên trong việc sử dụng thương hiệu được thể
174
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
là những hoạt động tăng cường sự gắn kết của
hoạt động sử dụng thương hiệu (brand uses),
bao gồm việc đưa ra những gợi ý cho các thành
viên làm thế nào sử dụng sản phẩm một cách
tốt hơn, chia sẻ việc cá nhân hóa thương
hiệu/sản phẩm cho bản thân, và tìm cách
thương mại hóa những nguồn lực tạo ra bởi
cộng đồng.
thành viên với cộng đồng (community
engagement), bao gồm tự xác định những
nhóm nhỏ hơn trong cộng đồng mà mình tham
gia, ghi dấu lại những sự kiện của cá nhân liên
quan đến thương hiệu, ghi lại những trải
nghiệm với thương hiệu thông qua câu chuyện
cá nhân của thành viên. Nhóm thứ tư là những
Hình 2. Các hoạt động tạo ra giá trị chung trong cộng đồng thương hiệu
(nguồn: Schau và cộng sự (2009))
2.4. Những sự thật về cộng đồng thương hiệu
• Cộng đồng thương hiệu là một chiến
lược marketing
• Cộng đồng thương hiệu tồn tại để phục
vụ thương hiệu
Sau nhiều năm kinh nghiệm nghiên
cứu và tư vấn, F. Susan và L. Lara (2008) đưa
ra những sai lệch trong suy nghĩ về cộng đồng
thương hiệu:
175
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
người lái xe motor. Ban quản trị cấp cao của
• Xây dựng thương hiệu, và cộng đồng
sẽ được hình thành theo
công ty xây dựng một văn hóa hỗ trợ cộng
đồng thương hiệu ở đó có mối liên lạc trực tiếp
giữa nhân viên công ty và thành viên của cộng
đồng. Bên cạnh đó, những quyết định quản trị
mà công ty đưa ra dựa trên sự thấu hiểu nhu
cầu của cộng đồng. Như Mike Hall nhận xét
rằng cộng đồng thương hiệu của Harley
Davidson đã tác động đến mọi khía cạnh kinh
doanh của thương hiệu này thông quá văn hóa
công ty, cách thức hoạt động và cấu trúc tổ
chức của công ty.
• Cộng đồng thương hiệu nên là nơi chia
sẻ tình cảm của những người yêu mến và trung
thành với thương hiệu
• Tập trung vào những người lãnh đạo ý
kiến để xây dựng một cộng đồng mạnh
• Mạng lưới xã hội trực tuyến là cách tốt
nhất để xây dựng cộng đồng
• Cộng đồng thương hiệu mạnh phải
được quản lí và kiểm soát một cách chặt chẽ
Thứ hai, cộng đồng thương hiệu tồn tại
không phải để phục vụ thương hiệu mà phục vụ
những thành viên tạo nên cộng đồng đó. Một
cộng đồng thương hiệu tăng được lòng trung
thành, và sự gắn bó tình cảm của thành viên
với thương hiệu không phải bằng cách tạo ra sự
gắn kết với thương hiệu mà bằng cách hỗ trợ
cuộc sống của các thành viên trong cộng đồng.
Thứ nhất, cộng đồng thương hiệu trong
thực tế không chỉ là một chiến lược marketing
mà là một chiến lược kinh doanh. Quan điểm
này cũng được chia sẻ bởi Mike Hall trong bài
báo của mình về sự hoạt động của cộng đồng
thương hiệu trực tuyến.Mike Hall cho rằng
cộng đồng thương hiệu ảnh hưởng đến mọi
khía cạnh của công việc kinh doanh.Chiến lược
cộng đồng thương hiệu được tích hợp vào
chiến lược công ty, được tạo nên bởi giá trị
thương hiệu, và được hỗ trợ bởi cấu trúc, hệ
thống và qui trình của tổ chức.Việc xây dựng
cộng đồng thương hiệu không phải là nhiệm vụ
của phòng marketing hay là triết lí của
marketing mà phải được tích hợp vào triết lí
kinh doanh của cả tổ chức và gắn kết với giá trị
của thương hiệu.Harley Davidson là một ví dụ
điển hình cho quan điểm này được dẫn chứng
trong bài nghiên cứu của F. Susan và L. Lara
(2008).Harley Davidson đã tạo ra một cộng
đồng thương hiệu mạnh và đầy cam kết vì công
ty đã tạo dựng cộng đồng này với nền tảng giá
trị của tổ chức luôn hướng tới cộng đồng
những người sử dụng và yêu mến Harley
Davidson.Vào những năm 80 công ty thực hiện
chiến dịch quảng cáo cho thương hiệu mang
tên “do mọi người, và vì mọi người”. Tức là
mọi hoạt động của họ đều hướng đến việc hiểu
và phục vụ nhu cầu của cộng đồng những
Thứ ba, thực tế là phải xây dựng nên cộng
đồng, và thương hiệu mới phát triển theo sau.
Lý thuyết trong quản trị thương hiệu cho rằng
công ty phải xác định được giá trị của thương
hiệu sao cho những giá trị này được kết nối với
và cảm nhận bởi khách hàng, sau đó truyền
thông những giá trị này một cách nhất quán, và
kết quả là một thương hiệu mạnh sẽ ra đời. Tuy
nhiên, mối liên kết giữa những giá trị này của
thương hiệu và những thành viên trong cộng
đồng là tương đối lỏng lẻo. Vì xét về mối quan
hệ này, lợi ích của hai bên là không cân bằng.
Trong khi công ty nhận về là lòng trung thành
thương hiệu, và những lợi ích về tài chính khi
khách hàng mua sản phẩm còn lợi ích đem lại
cho khách hàng, những thành viên của cộng
đồng chỉ là sự thể hiện đẳng cấp hay nhận diện
cá nhân. Vì thế, mối liên kết giữa các thành
viên trong cộng đồng chỉ dựa trên giá trị
thương hiệu và niềm tin đối với thương hiệu là
khá yếu.Cách tiếp cận thứ hai mà F. Susan và
176
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
L. Lara (2008) đưa ra là mối liên kết giữa các
trọng mà những vai trò khác như đón chào
(welcoming), thấu cảm những vấn đề của thành
viên (empathizing), quản trị (governing),
truyền bá những điểm tốt về thương hiệu
(evangelizing), biện hộ, chứng minh
(justifying), phân biệt những nhóm trong cộng
đồng (staking), đánh mốc những thời điểm liên
quan đến việc sử dụng thương hiệu
(milestoning), ký hiệu cho mức độ tham gia
vào cộng đồng (badging), ghi chép những trải
nghiệm với thương hiệu (documenting), góp ý
cho việc sử dụng sản phẩm tốt hơn (grooming),
cá nhân hóa sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu
của cá nhân (customizing), bàn luận về việc
thương mại hóa những nguồn lực tạo ra bởi
cộng đồng (commoditizing). Nhiệm vụ của
công ty là phải xác định được những vai trò
này trong cộng đồng của mình, có cách khuyến
khích và phát triển những vai trò này để tăng
sự gắn kết của thành viên với cộng đồng.
thành viên trong cộng đồng chính là sự liên kết
giữa các thành viên với nhau.Các thành viên
này phải nói chuyện với nhau về một vấn đề
nào đó, tạo được mối quan hệ với nhau thì sự
kết nối trong cộng đồng mới mạnh mẽ.Cách
tiếp cận thứ ba đó là có một tâm điểm để các
thành viên kết nối vào.Tâm điểm này có thể là
một người nổi tiếng, các thành viên trong cộng
đồng thấy kết nối với người nổi tiếng này và họ
kết nối với nhau qua việc là người hâm mộ
người nổi tiếng này.Sự kết nối này có thể làm
cho sợi dây liên kết giữa các thành viên trong
cộng đồng mạnh mẽ hơn.Tuy nhiên, rủi ro có
thể xảy ra khi công ty chọn sai người nổi tiếng
làm tâm điểm của cộng đồng.
Thứ tư, qui luật về chính trị trong cộng
đồng là điều không thể tránh khỏi. Cộng đồng
thương hiệu là một cộng đồng mở, mọi người
tham gia và nói lên ý kiến, quan điểm của
mình. Cộng đồng này không phải chỉ bao gồm
những lời khen tặng hay góp ý chân thành mà
còn có những phàn nàn từ thành viên. Vì là
một cộng đồng, và như trong định nghĩa nêu ở
phần trước, quan hệ giữa các thành viên trong
cộng đồng cũng có những va chạm về mặt
quan điểm, và có những ranh giới giữa các
nhóm thành viên. Chẳng hạn như cộng đồng
Harley Davidson thường tránh những lái xe
người Nhật.
Thứ sáu, mạng xã hội là một công cụ chứ
không phải là chiến lược. Ngày nay, mọi người
nói rất nhiều về mạng xã hội, và các công ty
cũng tận dùng công cụ này như là một kênh
truyền thông với khách hàng. Các cộng đồng
thương hiệu trực tuyến cũng ra đời sử dụng nền
tảng mạng xã hội. Tuy nhiên, không phải hoạt
động trực tuyến nào cũng phổ biến, và có nhiều
mạng lưới xã hội thực, trực tiếp vẫn rất mạnh
mẽ. Bên cạnh đó, hầu hết các khía cạnh đời
sống của khách hàng đều xảy ra ngoài đời thực.
Trong thực tế, có một nơi để các cá nhân gặp
gỡ nhau, trao đổi trực tiếp với nhau sẽ tạo nên
sự gắn kết bền chặt hơn là những cuộc đối
thoại trực tuyến.
Thứ năm, cộng đồng thương hiệu phải
quan tâm đến tất cả mọi người, mỗi thành viên
trong cộng đồng đều đóng vai trò quan trọng.
Theo Schau và cộng sự (2009), nếu công ty
trao cho các thành viên trong cộng đồng quyền
xây dựng cộng đồng, và điều chỉnh sản phẩm,
họ sẽ làm điều đó. Trong nghiên cứu của Schau
và cộng sự (2009), tác giả đã chỉ ra nhiều vai
trò khác nhau trong một cộng đồng thương
hiệu. Không chỉ có những người lãnh đạo ý
kiến (opinion leaders) mới đóng vai trò quan
Thứ bảy, cộng đồng thương hiệu phải cởi
mở và không phải để công ty kiểm soát. Cộng
đồng thương hiệu không phải là tài sản của
công ty để công ty có thể sở hữu và kiểm soát.
Cộng đồng được tạo ra bởi “con người và vì
con người”. Công ty chính là những thành viên
177
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
của cộng đồng chứ không phải là quản lí và
Người quản lí cộng đồng
kiểm soát vì công ty không thể quản lí thứ mà
họ không sở hữu. Tuy nhiên, không phải vì thế
mà các thành viên trong cộng đồng tự do nói
xấu thương hiệu, hoặc hành động không theo
một qui tắc nào. Trong trường hợp lí tưởng,
công ty đóng vai trò như là người khuyến
khích những đóng góp tích cực, những chia sẻ
có ích giữa các thành viên trong cộng đồng, và
bản thân công ty phải xem mình như là thành
viên trong cộng đồng. Nhiệm vụ của công ty là
làm thế nào để gần gũi với các thành viên trong
cộng đồng và hỗ trợ, đem lại lợi ích cho họ chứ
không phải chỉ là “khai thác” họ.
Người quản lí, điều phối hoạt động trong
cộng đồng có thể là công ty (Kotex, Sunsilk,
Dove, Closeup, Comfort, Samsung, Pepsi), có
thể là chính những người yêu thương hiệu
(Apple (applervn.com)), và có thể là một tổ
chức, công ty độc lập (Ô tô Sài Gòn).
Nền tảng (platform) cho cộng đồng
Platform thứ nhất để xây dựng cộng đồng
thương hiệu trực tuyến đó là website do công
ty hoặc do nhóm người yêu thích thương hiệu
tạo nên hoặc do một công ty thứ ba tạo nên.
Với platform này, việc tham gia diễn đàn yêu
cầu nhiều thời gian hơn như đăng ký làm thành
viên, hiểu nội qui, học cách đăng bài lên diễn
đàn, cách đăng một chủ đề mới, vân vân.
Platform thứ hai là những mạng xã hội như
Facebook, Twitter, mà hiện nay phổ biến nhất
là Facebook. Với platform này, người dùng sẽ
cảm thấy dễ dàng tiếp cận hơn vì hầu hết họ đã
có sẵn tài khoản trên Facebook, việc bình luận,
thích, chia sẻ thông tin cũng dễ dàng hơn.
Trong các cộng đồng thương hiệu được đưa
vào nghiên cứu trong bài này, chỉ có Kotex,
Samsung, Apple là các cộng đồng sử dụng cả
hai platform. Ô tô Sài Gòn không có platform
mạng xã hội Facebook, và những cộng đồng
khác chỉ sử dụng platform mạng xã hội
Facebook. Việc lựa chọn platform ảnh hưởng
đến các mối quan hệ trong cộng đồng thương
hiệu.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu thứ cấp để tìm
hiểu thực tiễn một số cộng đồng thương hiệu
tại Việt Nam. Trong thực tế, cộng đồng thương
hiệu có thể là trực tuyến hoặc trực tiếp. Tuy
nhiên, nghiên cứu này tập trung vào các cộng
đồng thương hiệu trực tuyến vì tính dễ tiếp cận.
Nghiên cứu tổng hợp các diễn đàn cộng đồng
thương hiệu trực tuyến của các nhãn hàng và
thương hiệu tại Việt Nam để phân nhóm và tìm
điểm chung giữa các diễn đàn tích hợp với
những lý thuyết về cộng đồng thương hiệu đã
trình bày ở phần trên. Với mục đích tìm hiểu
cách hoạt động của các diễn đàn, nội dung của
các diễn đàn được tổng hợp và đưa vào phân
tích để tìm ra những đặc điểm của các cộng
đồng.
4. Kết quả nghiên cứu
Đối với trường hợp Ô tô Sài Gòn, các
thương hiệu xe hơi được đưa vào thành các
mục trong diễn đàn để những người yêu xe trao
đổi thông tin với nhau về các thương hiệu này.
Trong cộng đồng thương hiệu những người yêu
ô tô, sẽ có những nhóm cộng đồng nhỏ thảo
luận về từng thương hiệu ô tô. Vì vậy, cộng
đồng này không phải là một cộng đồng cho
một thương hiệu xe cụ thể nào cả.
Một số các cộng đồng thương hiệu ở Việt
Nam được đưa vào nghiên cứu này là Kotex,
Sunsilk, Dove, Closeup, Comfort, Samsung,
Apple, Pepsi, Ô tô Sài Gòn. Những cộng đồng
này bao gồm cộng đồng của những thương
hiệu tiêu dùng (Kotex, Sunsilk, Dove, Closeup,
Comfort, Pepsi), những thương hiệu điện tử
(Samsung, Apple), và ô tô (Ô tô Sài Gòn).
178
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
vẫn chưa thấy thông tin của mình, hoặc hỏi về
Các mối quan hệ trong cộng đồng
thương hiệu
thông tin sự kiện liên quan đến thương hiệu. Ở
đây, mối quan hệ giữa thành viên và thành viên
ít xảy ra. Ví dụ như trên fanpage của Pepsi, hầu
hết các bài đăng của thành viên đều phản hồi
lại các chương trình khuyến mãi gần nhất như
tham gia các sự kiện âm nhạc bằng cách đổi vỏ
chai lấy vé:
Với các cộng đồng có sử dụng website
diễn đàn, mối quan hệ của cộng đồng là mối
quan hệ giữa thành viên với thương hiệu, giữa
các thành viên với nhau, thành viên với các
chương trình marketing, thành viên với sản
phẩm. Các thành viên trong cộng đồng có
những cuộc đối thoại với nhau về cách sử dụng
sản phẩm, về việc mua sản phẩm ở đâu là hợp
lí nhất, đối thoại về việc xử lí thế nào khi sản
phẩm bị hỏng…Chẳng hạn cuộc đối thoại của
thành viên trong cộng đồng My Samsung như
sau:
Taylor Miu: Hôm nay mình mua 5 chai, cố
gắng uống hết 4 chai để đem đi đổi, cuối cùng
thì…chẳng được gì, lại còn không biết cụ thể
là bao giờ mới đổi được, chán quá?
Panda ChjBj: Mình ở Hà Nội, hôm nay có
hỏi mấy chỗ để đổi vé đều thấy không có chỗ
nào cho đổi, nơi thì bảo mấy hôm nữa!! Thế là
như nào???
A: định up FW cho máy ngon hơn tý nhưng
đang up thì bị lỗi Boot2. Qua website kia thấy
cách khắc phục lúc còn chữ download. Lúc đó
máy cũng còn chữ download. Vừa mở lên định
làm lại thì Máy tính bị khởi động lại. Đúng là
xui bây giờ thì không thể mở lên được chữ
Download cũng không còn. Em phải làm sao
cho nó trở về ban đâu đây…Giúp e với hay
đem ra tiệm mà nếu làm lại được thì mất
khoảng bao nhiều Money.
Trong khi đó, ở trên diễn đàn của cộng
đồng, mối quan hệ giữa các thành viên có thể
gắn kết hơn. Hầu hết các diễn đàn đều có mục
các sự kiện offline để các thành viên có thể gặp
gỡ nhau trực tiếp. Chẳng hạn như diễn đàn
những người thích Apple ở Việt Nam
(applervn.com) có sự kiện gặp gỡ để chào
mừng sinh nhật tròn một tuổi của diễn đàn, hay
chào mừng sự kiện ra đời iOS7 và ra đời kho
ứng dụng riêng của diễn đàn. Các sự kiện này
làm gắn kết giữa các thành viên và cũng dễ
thấy sự yêu thích, nhiệt tình đối với thương
hiệu của thành viên. Đối với các cộng đồng
dùng platform FB thì không thấy được sự gắn
kết này.
B: nếu ở saigon liên hệ mình repair boot
cho bạn
Với các cộng đồng chỉ sử dụng Facebook
(FB) làm platform, mối quan hệ chủ yếu là
“người thích trang FB” với thương hiệu, và
những thông tin, chương trình của thương hiệu
được đưa ra bởi người quản trị trang. Trên thực
tế, vẫn có những câu hỏi của các thành viên về
việc sử dụng sản phẩm nhưng khá ít. Bởi trên
trang Facebook, một ngày admin có thể tải lên
nhiều nội dung về thương hiệu, và qua quan sát
trên các trang FB thì mọi người hầu hết ấn nút
“like” và rất ít các bình luận giúp đỡ thành
viên. Các bình luận phần nhiều là về nội dung
làm sao nhận được quà từ công ty khi tham gia
vào một chương trình khuyến mãi được đăng
lên Facebook, hoặc đã đăng ký tham gia nhưng
“Câu chuyện” của cộng đồng
Có một câu chuyện vui là nếu một
công ty bán tăm xỉa răng thì có thể xây dựng
một cộng đồng thương hiệu cho thương hiệu
tăm xỉa răng của công ty không? Thật ra là có,
nếu thương hiệu này mang lại một câu chuyện
để gắn kết các thành viên của cộng đồng. Cộng
đồng thương hiệu tăm xỉa răng có thể xoay
quanh chuyện ẩm thực chẳng hạn. Cộng đồng
thương hiệu của nhãn hàng Kotex là một ví dụ.
179
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Cộng đồng không xoay quanh sản phẩm mà
trách nhiệm của riêng cộng đồng. Những giá trị
mà cộng đồng thương hiệu đem lại cho thương
hiệu, và cho chính thành viên tham gia trong
cộng đồng đã được chứng minh trong nhiều
nghiên cứu. Qua thực tế nghiên cứu, những giá
trị mà cộng đồng đem lại cho thành viên đó là
thông tin, là sự kết nối với người khác, và cảm
giác được sẻ chia, gắn kết. Với nhiều nền tảng
khác nhau, cộng đồng thương hiệu cũng đa
dạng về mặt hình thức, có thể là trực tiếp hay
trực tuyến. Với cộng đồng thương hiệu trực
tuyến, có thể sử dụng diễn đàn, hay sử dụng
nền tảng mạng xã hội để tiếp cận với các thành
viên. Thực tế phân tích các cộng đồng thương
hiệu trực tuyến sử dụng cả hai nền tảng này
cho thấy rằng sự gắn kết giữa các thành viên sẽ
yếu hơn nhiều khi chỉ sử dụng nền tảng mạng
xã hội so với việc sử dụng những diễn đàn
chính thức. Câu chuyện để thu hút và gắn kết
các thành viên trong cộng đồng cũng phải
mang một ý nghĩa lớn hơn xa hơn so với chỉ
tập trung vào thương hiệu. Câu chuyện đó phải
gắn với những vấn đề trong cuộc sống hàng
ngày của thành viên trong cộng đồng, và
đương nhiên phải kết nối với ý nghĩa thương
hiệu.
phần lớn nội dung của cộng đồng xoay quanh
những vấn đề về kiến thức về sinh lý và tâm lý
cho các bạn gái. Chuyên gia tâm lý TS. Huỳnh
Văn Sơn là người tư vấn cho các bạn gái trong
cộng đồng. Những chủ đề liên quan đến đời
sống tinh thần, vấn đề về sức khỏe được nêu ra
để thảo luận. Do đó, các thành viên tham gia
vào cộng đồng gắn kết với nhau qua các chia
sẻ, gắn kết với thương hiệu thông qua những
vấn đề trong đời sống hàng ngày của mình
được chia sẻ với người nhiều kinh nghiệm.
Các cộng đồng thương hiệu của Sunsilk,
Dove, Closeup và Comfort cũng như vậy. Họ
đưa ra các câu chuyện trong đời sống hàng
ngày về chăm sóc bản thân, chăm sóc tóc, da,
răng miệng, chăm sóc gia đình,…để gắn kết
các thành viên. Những thương hiệu này đều chỉ
sử dụng FB làm platform và mỗi ngày người
quản lí cộng đồng đều tìm một hình ảnh đẹp về
phụ nữ, trẻ thơ, gia đình, tình yêu để chia sẻ
với mọi người ngoài những thông tin về
chương trình khuyến mãi hay các sự kiện của
thương hiệu. Mỗi cộng đồng cũng gắn kết ý
nghĩa của thương hiệu vào đó. Chẳng hạn như
Dove, một thương hiệu nổi tiếng với sự mềm
mại, yêu thương chính mình. Closeup hướng
đến giới trẻ thì luôn có những thông tin cập
nhật về các sự kiện trong giới trẻ, những
chương trình, cuộc thi của chính nhãn hàng
được cập nhật liên tục. Tương tự như cộng
đồng Pepsi, các cuộc thi ảnh dành cho các
khách hàng, các chương trình tham gia cùng
thần tượng, bình chọn ảnh, bình chọn video
ngay trên FB đã thu hút hàng loạt người tham
gia. Tất cả nội dung đó gắn kết với ý nghĩa
thương hiệu là phong cách sống trẻ trung, sôi
động của Pepsi. Trang FB của Pepsi có đến 17
triệu người like.
Nghiên cứu này là nghiên cứu khám phá và
mang tính tổng quan về một số cộng đồng
thương hiệu tại Việt Nam của một số thương
hiệu lớn. Hướng nghiên cứu trong tương lai có
thể phân tích sâu hơn nội dung của các cộng
đồng, phỏng vấn thành viên trong cộng đồng
để hiểu về những khái niệm nghiên cứu trong
cộng đồng thương hiệu. Bên cạnh đó, nghiên
cứu trong tương laic so thể tập trung vào việc
đo lường hiệu quả của cộng đồng thương hiệu,
và xác định những cách thức hình thành, duy
trì cộng đồng thương hiệu hiệu quả qua việc
tìm hiểu thực tế các cộng đồng thương hiệu ở
Việt Nam và trên thế giới./.
5. Bàn luận
Cộng đồng thương hiệu được xem như là
một cộng đồng xã hội có cấu trúc và có qui tắc,
180
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
181
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
182
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Brodie, R. J., et al. (2011). "Consumer engagement in a virtual brand community: An
exploratory analysis." Journal of Business Research.
[2] McAlexander, J. H., et al. (2002). "Building brand community." The Journal of Marketing:
38-54.
portals/12/.../20100728_white_paper_verve.pdf
[4] Muniz Jr, A. M. and T. C. O’guinn (2001). "Brand community." Journal of consumer research
27(4): 412-432.
[5] O'Donnell, E. and S. Brown (2012). "BRAND COMMUNITY LOYALTY: A SELF
DETERMINATION THEORY PERPECTIVE." Academy of Marketing Studies Journal
16(2): 107-118.
[6] Schau, H. J., et al. (2009). "How brand community practices create value." Journal of
Marketing 73(5): 30-51.
[7] Sicilia, M. and M. Palazón (2008). "Brand communities on the internet." Corporate
Communications 13(3): 255-270.
[8] F. Susan and L. Lara (2008). “The seven deadly sins of brand community management.” The
Boston University School of Management
[ 9] Won-Moo, H., et al. (2011). "Building brand loyalty through managing brand community
commitment." Management Decision 49(7): 1194-1213
183
Bạn đang xem tài liệu "Cộng đồng thương hiệu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
cong_dong_thuong_hieu.pdf

