The impact of training service quality on students’ satisfaction in school of business of university of finance – marketing

Journal of Finance – Marketing, Vol. 62, April 2021  
ISSN: 1859-3690  
T ẠP CH Í  
NGHIÊN CỨU  
TÀI CHÍNH - MARKETING  
Số 62 - Tháng 04 Năm 2021  
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING  
Journal of Finance – Marketing  
THE IMPACT OF TRAINING SERVICE QUALITY ON  
STUDENTS’ SATISFACTION IN SCHOOL OF BUSINESS OF  
UNIVERSITY OF FINANCE – MARKETING  
Ao u Hoai, Tran i Tuyet Mai, Tran Vinh Hoang, Pham i Tuyet Nhung  
University of Finance – Marketing  
Received date: September 11, 2020 Accepted: February 19, 2021 Post date: April 5, 2021  
Abstract: e research was processed with the aim of determining the impact  
relationship between quality of training service and student’s satisfaction of Business  
Administration Faculty, University of Finance – Marketing in the context of higher  
education in Vietnam. Base on literature review with modifying HEdPERF model and  
practical survey data, the research team explores the binding relationship through a  
Structural Equation Modeling, using a combination of qualitative research methods  
throughtwophases:(1)exploretobuildresearchmodelsand(2)adjustandsupplement  
scales, and combine quantitative research with 509 samples. e research results show  
that: Non-academic, Academic, Facilities, Curriculum, Quality of Training Services  
and Student Satisfaction all have a positive relationship. e research also pointed  
out limitations in regard to the quality of Business Administration Faculty, of the  
University, from which improvements will be proposed in time.  
Keywords: Business Administration Faculty, factors, quality of service, student  
satisfaction, University of Finance – Marketing.  
62  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
ISSN: 1859-3690  
T ẠP CH Í  
NGHIÊN CỨU  
TÀI CHÍNH - MARKETING  
Số 62 - Tháng 04 Năm 2021  
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ ĐÀO TẠO NGÀNH QUẢN TRỊ  
KINH DOANH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING ĐẾN  
SỰ HÀI LÒNG CỦA SINH VIÊN KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH  
Ao u Hoài, Trần ị Tuyết Mai, Trần Vĩnh Hoàng, Phạm ị Tuyết Nhung  
Trường Đại học Tài chính – Marketing  
Ngày nhận bài: 11/9/2020 Ngày chấp nhận đăng: 19/02/2021 Ngày đăng: 05/4/2021  
Tóm tắt: Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định ảnh hưởng của chất lượng  
dịch vụ đào tạo ngành Quản trị kinh doanh (QTKD), Trường Đại học Tài chính –  
Marketing tới sự hài lòng của sinh viên trong bối cảnh giáo dục cao đẳng – đại học  
(CĐ – ĐH) ở Việt Nam. Trên cơ sở tổng quan lý thuyết dựa cơ bản vào mô hình  
HEdPERF có thay thế một biến và dữ liệu khảo sát thực tiễn, nhóm nghiên cứu tiến  
hành khám phá mối quan hệ ràng buộc qua mô hình cấu trúc tuyến tính, sử dụng  
phương pháp định tính qua hai giai đoạn: (1) Phân tích khám phá nhằm xây dựng mô  
hình và (2) bổ sung, loại bỏ thang đo, tiếp đến là nghiên cứu định lượng với mẫu có  
kích thước 509. Kết quả cho thấy các yếu tố “Phi học thuật”, “Học thuật”, “Cơ sở vật  
chất”, “Chương trình đào tạo”, “Chất lượng dịch vụ đào tạo” và “Sự hài lòng của sinh  
viên” có mối quan hệ ảnh hưởng thuận chiều. Kết quả nghiên cứu cũng khám phá ra  
một số vấn đề hạn chế về chất lượng dịch vụ của khoa, của trường, qua đó, một số ý  
kiến nhằm cải thiện kịp thời.  
Từ khóa: Chất lượng dịch vụ, Trường Đại học Tài chính – Marketing, khoa QTKD,  
hài lòng, yếu tố ảnh hưởng.  
1. Giới thiệu về nghiên cứu  
thương mại thì hiện nay, dưới áp lực và  
thách thức của bối cảnh chung, đào tạo CĐ  
– ĐH được xem như một ngành dịch vụ,  
khi đó, người học hoàn toàn chủ động lựa  
chọn nơi cung cấp dịch vụ (DỊCH VỤ) cho  
mình mà họ cho là phù hợp nhất. Để tồn tại  
và phát triển, các trường học cần chú trọng  
Trong thời kỳ công nghiệp 4.0, giáo dục  
bậc CĐ – ĐH được quan tâm sâu sắc của  
cả xã hội. Có thể thời kỳ trước, giáo dục  
nói chung và giáo dục CĐ – ĐH nói riêng  
chỉ được coi như một hoạt động xã hội phi  
63  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
vào chất lượng dịch vụ nhằm tăng thêm sự (Assurance); Đồng cảm (Empathy); Phương  
tiện hữu hình (Tangibles). Mô hình chất  
lượng năm khoảng cách được chọn làm cơ sở  
cho việc đánh giá DỊCH VỤ với nhiều tranh  
luận (Carman, 1990; Babakus và Boller,  
1992; Cronin và Taylor, 1992), Cronin và  
Taylor (1992) với mô hình SERVPERF, cho  
rằng mức độ cảm nhận của khách hàng đối  
với dịch vụ của doanh nghiệp phản ánh tốt  
nhất qua chất lượng dịch vụ.  
hài lòng của sinh viên.  
Giáo dục – đào tạo ở Việt Nam đã thực  
sự được coi là một ngành dịch vụ sau cam  
kết thực hiện Hiệp định chung về thương  
mại và dịch vụ (GATS) (WTO, 1995). Hiện  
nay, giáo dục đại học Việt Nam không còn  
thuần tuý là một lợi ích công, đây vừa là  
một lợi ích công vừa là một dịch vụ công  
(Yến Anh, 2006). Là một đơn vị tự chủ tài  
chính từ năm 2015, Trường Đại học Tài  
chính – Marketing (sau đây gọi tắt là UFM  
– University of Finance Marketing) đã thực  
hiện nhiều biện pháp cải tiến hoạt động  
theo đúng một ngành dịch vụ trong cơ chế  
thị trường, vừa phù hợp với chính sách  
của Đảng – Nhà nước. Khoa QTKD là một  
trong những đơn vị trong những năm gần  
đây phát triển mạnh, là mũi nhọn của Nhà  
trường, hàng năm tuyển sinh hơn 500 sinh  
viên ở nhiều hệ đào tạo với nhiều nỗ lực để  
đạt được chất lượng tốt nhất. Mặc dù vậy,  
nhà trường vẫn nhận được những phản hồi  
từ phía sinh viên do chưa hài lòng một số  
khía cạnh. Để đánh giá kết quả thực hiện,  
nhóm nghiên cứu lựa chọn đề tài thông qua  
việc khảo sát các đối tượng là những sinh  
viên và cựu sinh viên của khoa QTKD nhằm  
thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu.  
Kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ nhà trường  
ra các quyết định quản lý cải tổ chất lượng  
dịch vụđào tạo trong các giai đoạn tiếp theo.  
Chất lượng đào tạo là tập hợp các yếu tố  
đầu vào, quy trình và đầu ra của hệ thống  
giáo dục để cung cấp các dịch vụ thỏa mãn  
hoàn toàn sinh viên nội bộ và bên ngoài  
nhằm đáp ứng các kỳ vọng hiện tại và tiềm  
ẩn của họ (Cheng và Tam, 1997). Green và  
Harvey (1993), Vroeijenstijn (2002) đã đề  
cập đến năm khía cạnh của chất lượng đào  
tạo: sự vượt trội; sự hoàn hảo; sự phù hợp;  
sự đáng giá; sự chuyển đổi. Karami và Olfati  
(2011) đánh giá sự hài lòng của học viên cao  
học về chất lượng dịch vụ trong các trường  
kinh doanh ở Iran thông quan mô hình  
SERVPERF.  
Nghiên cứu của Abdullah (2005), mặc dù  
SERVQUAL, SERVPERF được thiết kế như  
công cụ chung dùng để đo lường chất lượng  
dịch vụ trong đa số ngành công nghiệp, cần  
phải sửa đổi và bổ sung thang đo để phù hợp  
với tình hình cụ thể. Ông đề xuất mô hình  
HEdPERF (Higher Education Performance)  
đo lường chất lượng trong giáo dục đại học  
và thực hiện so sánh hiệu quả tương đối  
của ba công cụ đo lường chất lượng dịch vụ  
được sử dụng trong lĩnh vực giáo dục đại  
học, cao đẳng là HEdPERF, SERVPERF và  
kết hợp cả hai. Kết quả nghiên cứu cho thấy  
HEdPERF tin cậy hơn. Nhiều nhà nghiên  
2. Tổng quan nghiên cứu  
ang đo SERVQUAL (Parasuraman  
và cộng sự, 1988) được công bố có năm  
thành phần: Tin cậy (Reliability); Đáp  
ứng (Responsiveness); Năng lực phục vụ  
64  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
cứu đã liên tục sử dụng từng thang đo trên bốn biến của mô hình HEdPERF và thêm ba  
hoặc kết hợp cùng lúc các thang đo đó để biến mới. Nguyễn Hoàng Chương (2015) và  
đo lường chất lượng dịch vụ đào tạo (dịch Trần ị Mai (2017) cũng có những nghiên  
vụ đào tạo của các cơ sở giáo dục đào tạo cứu tương tự với những biến nghiên cứu đề  
khác nhau).  
xuất tham khảo từ ba mô mô hình cơ bản là  
SERVQUAL, SERPERF và HEdPERF. Xuất  
phát từ việc tổng quan những nghiên cứu  
đi trước, nhóm nghiên cứu dựa cơ bản vào  
thang đo HEdPERF và khám phá nghiên  
cứu bằng việc xây dựng mô hình cấu trúc  
tuyến tính SEM. Đây chính là một trong  
những điểm khác biệt cơ bản của nghiên  
cứu này vì các nghiên cứu chỉ dừng lại ở mô  
hình hồi quy tuyến tính.  
Ảnh hưởng của chất lượng dịch vụ đào  
tạo tới sự hài lòng của sinh viên cũng được  
làm rõ qua một số nghiên cứu. eo Oliver  
(1995) cho rằng chất lượng dịch vụ ảnh  
hưởng đến mức độ thỏa mãn của khách  
hàng, nghĩa là chất lượng dịch vụ được  
xác định bởi nhiều nhân tố khác nhau, là  
một phần nhân tố quyết định của sự hài  
lòng (Parasuraman, 1985, 1988). Qi Huang  
(2010) đã chứng minh tính hiệu quả của  
mô hình HEdPERF qua nghiên cứu về sự  
hài lòng của sinh viên Trường Đại học Hạ  
Môn – Trung Quốc. Kết quả cho thấy, khía  
cạnh phi học thuật ảnh hưởng mạnh tới  
sự hài lòng của sinh viên. Còn đối với khía  
cạnh học thuật, sự hài lòng sẽ tăng lên khi  
trường đại học có sự cải tiến về chất lượng  
giảng dạy. Sinh viên khá hài lòng khi giảng  
viên áp dụng những phương pháp giảng  
dạy phù hợp. Còn đối với các vấn đề liên  
quan đến chương trình học, có mối liên hệ  
vừa phải với sự hài lòng. Điều này có nghĩa  
là khi trường đại học nỗ lực trong việc cải  
tiến chương trình học, sinh viên sẽ hài lòng  
hơn. Jalal và cộng sự (2011) tiến hành điều  
tra ở các cơ sở giáo dục đại học ở Malaysia  
bằng SERVQUAL, kết quả chỉ ra rằng, cả  
năm thành phần của chất lượng dịch vụ đều  
tương quan với sự hài lòng của sinh viên.  
3. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu  
3.1. Các lý thuyết liên quan đến đề tài  
Dịch vụ có nhiều định nghĩa khác nhau  
do tính phổ biến của nó. Kotler và Amstrong  
(2012) cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động  
và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho  
bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn  
đến quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm  
của nó có thể có hay không gắn liền với một  
sản phẩm vật chất”.  
eo Feigenbaum (1991), “chất lượng”  
là quyết định của khách hàng dựa trên kinh  
nghiệm thực tế đối với sản phẩm, được đo  
lường dựa trên những yêu cầu của khách  
hàng, những yêu cầu này có thể được hoặc  
không được nêu ra, được ý thức hoặc đơn  
giản chỉ là cảm nhận, hoàn toàn chủ quan  
hoặc mang tính chuyên môn và luôn đại  
diện cho mục tiêu động trong một thị  
trường cạnh tranh”.  
Hà Nam Khánh Giao và cộng sự (2015)  
dựa vào mô hình HEdPERF và đề xuất bảy  
biến sau khi chỉnh sửa bổ sung một số biến.  
Dương ị u Trang (2015) cũng sử dụng  
Chất lượng dịch vụ là mức độ mà một  
dịch vụ đáp ứng được nhu cầu và sự mong  
65  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
đợi của khách hàng (Lewis và Mitchell, trung vào các nhân tố của chất lượng dịch vụ  
1990; omasson và cộng sự, 1994). Do môi (Zeithaml & Bitner, 2000). Chất lượng dịch  
trường văn hóa khác nhau, người tiêu dùng vụ và Sự hài lòng của khách hàng có quan hệ  
ở mỗi quốc gia khác nhau có thể có nhận đồng biến với nhau.  
thức khác nhau về chất lượng dịch vụ ở mỗi  
3.2. Một số mô hình nghiên cứu tham khảo  
loại hình dịch vụ khác nhau (Malhotra và  
Mô hình thang đo chất lượng dịch vụ  
SERVQUAL. Parasuraman và cộng sự  
(1985) đã nghiên cứu ra mô hình năm  
khoảng cách dùng để đánh giá chất lượng  
dịch vụ và cho rằng chất lượng dịch vụ là  
hàm số của khoảng cách thứ năm. Khoảng  
cách thứ năm này phụ thuộc vào các khoảng  
cách trước đó. Nghĩa là phụ thuộc vào các  
khoảng cách 1, 2, 3, 4. Sau nhiều lần kiểm  
định, Parasuraman và cộng sự (1988) đã  
đưa ra thang đo SERVQUAL bao gồm năm  
thành phần cơ bản: Phương tiện hữu hình;  
sự tin cậy; khả năng đáp ứng; năng lực phục  
vụ; sự đồng cảm.  
cộng sự, 2000).  
Chất lượng giáo dục trường đại học là sự  
đáp ứng mục tiêu do nhà trường đề ra, đảm  
bảo các yêu cầu về mục tiêu giáo dục đại học  
của Luật Giáo dục, phù hợp với yêu cầu đào  
tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế  
– xã hội của địa phương và cả nước (Bộ Giáo  
dục và Đào tạo, 2007, 2016). Trong nghiên  
cứu này, chất lượng được hiểu theo khái  
niệm của omasson và cộng sự (1994), đó  
là, chất lượng dịch vụ là dịch vụ đáp ứng  
được sự mong đợi của sinh viên và làm thỏa  
mãn nhu cầu của sinh viên (Huỳnh ị u  
Sương và Trần Văn Hưng, 2021; Bảo Trung  
và cộng sự, 2020).  
Mô hình HEdPERF của Firdaus  
Abdullah. MôhìnhHEdPERFcủa Abdullah  
(2005) đo lường chất lượng trong giáo dục  
đại học với 38 biến quan sát và có cấu trúc  
năm thành phần là: (1) Khía cạnh phi học  
thuật (Non-academic aspect): Các khía  
cạnh liên quan đến nhiệm vụ được thực  
hiện bởi đội ngũ nhân viên phục vụ công tác  
đào tạo; (2) Khía cạnh học thuật (Academic  
aspect): ái độ tích cực, kỹ năng giao tiếp  
tốt, đủ tư vấn, thông tin phản hồi thường  
xuyên đến SV và khả năng sử dụng công  
nghệ thông tin trong giảng dạy; (3) Danh  
tiếng (Reputation): Các mục quan trọng đối  
Sự hài lòng là cảm nhận của khách hàng  
qua đánh giá từ những trải nghiệm giao tiếp  
trong quá khứ của khách hàng với nhà cung  
cấp dịch vụ cho đến thời điểm đánh giá và  
đánh giá này được khách hàng sử dụng để  
dự đoán những trải nghiệm tiếp theo trong  
tương lai (Crosby và cộng sự, 1990). Bên  
cạnh đó, còn rất nhiều khái niệm khác được  
nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra như  
Bachelet (1995); Oliva, Oliver và Bearden  
(1995); Oliver (1997); Zeithaml và Bitner  
(2000); Eisenblatt (2002); v.v...  
Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng là hai với tổ chức học tập trong tạo dựng hình ảnh  
khái niệm khác nhau nhưng có liên hệ chặt chuyên nghiệp; (4) Tiếp cận (Access): Cách  
chẽ với nhau (Parasuraman và cộng sự, 1988). tiếp cận và phương pháp tiếp cận dễ dàng  
Sự hài lòng của khách hàng là một khái niệm trong việc liên lạc của cả hai đội ngũ phục  
tổng quát trong khi chất lượng dịch vụ chỉ tập vụ công tác đào tạo; (5) Chương trình đào  
66  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
tạo (sau đây gọi là CTĐT) (Program issues):  
Chương trình có cấu trúc linh hoạt, dịch vụ  
tư vấn.  
Các yếu tố học thuật. eo Fallow và  
Steven (2000), việc đánh giá chất lượng  
giảng viên dựa vào các tiêu chí sau: (1)  
Kiến thức và trình độ chuyên môn; (2) Khả  
năng sư phạm; (3) Kinh nghiệm thực tế; (4)  
Tiếp thu ý kiến phản hồi để hoàn thiện và  
bổ sung kiến thức cho bản thân. Ta có giả  
thuyết H2: Yếu tố học thuật có ảnh hưởng  
thuận chiều tới chất lượng dịch vụ đào tạo  
của Khoa QTKD – UFM.  
Trong những năm gần đây, có rất nhiều  
nghiên cứu về vấn đề này ở các trường đại  
học ở Việt Nam, đơn cử một mô hình nghiên  
cứu của Dương ị u Trang (2015). Sau  
khi tiến hành nghiên cứu ở trên, tác giả liệt  
kê các biến nghiên cứu của các học giả đi  
trước, lựa chọn sơ bộ một số biến và tiến  
hành nghiên cứu định tính để lựa chọn và  
loại bỏ các biến không phù hợp, đồng thời  
đưa vào những biến thích hợp. Các biến đó  
là: Yếu tố phi học thuật; học thuật; danh  
tiếng; tiếp cận; chương trình đào tạo; quy  
mô lớp học và cá nhân sinh viên (Dương  
ị u Trang, 2015).  
Yếu tố cơ sở vật chất (CSVC). eo Mark  
Schneider (2002), các yếu tố môi trường  
(ánh sáng, không khí, khả năng thông gió,  
nhiệt độ) và CSVC (độ tuổi và chất lượng  
công trình, kích thước trường học, kích  
thước lớp học, phương tiện giảng dạy) có  
ảnh hưởng đến chất lượng học tập. Ta có  
giả thuyết H3: Yếu tố CSVC có ảnh hưởng  
thuận chiều tới chất lượng dịch vụ đào tạo  
của Khoa QTKD – UFM.  
3.3. Giả thuyết và mô hình nghiên cứu  
đề xuất  
Bảy yếu tố được sử dụng để tiếp tục nghiên  
cứu trong nghiên cứu này bao gồm năm yếu  
tố ảnh hưởng đến chất lượng (biến độc lập)  
và hai yếu tố chất lượng dịch vụ đào tạo (biến  
trung gian) và Sự hài lòng (biến phụ thuộc).  
Yếu tố tiếp cận. eo Jusoh và cộng sự  
(2004), có sự khác biệt về nhận thức của sinh  
viên khi tiếp cận với dịch vụ đào tạo (do kì  
vọng của sinh viên tăng lên khi họ đã quen  
thuộc với hệ thống, có học hơn và trưởng  
thành hơn) và chủng tộc hay văn hóa. Ông  
cũng chỉ ra rằng yếu tố “học tập” không chỉ  
giới hạn trong lĩnh vực học tập, nó phải bao  
gồm tất cả các yếu tố có thể tuyên truyền  
và phát triển cho các giá trị, thái độ, tính  
cách tốt đẹp, cơ sở hạ tầng tốt và dịch vụ hỗ  
trợ. Ta có giả thuyết H4: Yếu tố tiếp cận có  
ảnh hưởng thuận chiều tới chất lượng dịch  
vụ đào tạo của Khoa QTKD – UFM.  
Các yếu tố phi học thuật. eo Karami  
và Olfati (2011), sự hỗ trợ của nhân viên  
nhà trường là một trong những yếu tố quan  
trọng để sinh viên đánh giá chất lượng giáo  
dục. Davies và cộng sự (2007) cho thấy quy  
mô lớp học có thể được xem như là một  
nhân tố ảnh hưởng đến sự đánh giá chất  
lượng giảng dạy của sinh viên đối với giảng  
viên, đặc biệt là có sự khác biệt về đánh giá  
này tùy theo năm học của sinh viên. Ta có  
giả thuyết H1: Yếu tố phi học thuật có ảnh  
hưởng thuận chiều tới chất lượng dịch vụ  
đào tạo của Khoa QTKD – UFM.  
Yếu tố chương trình đào tạo. Fallow và  
Steven (2000), Bảo Trung và cộng sự (2020)  
thì cho rằng, khái niệm này bao gồm nội  
67  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
dung đào tạo, lịch đào tạo, phương pháp như nguyên nhân, do đó, muốn nâng cao sự  
đào tạo, thiết kế các môn học, cách đánh hài lòng của sinh viên, nhà cung cấp dịch vụ  
giá sinh viên trong quá trình học. Ta có phải nâng cao chất lượng dịch vụ. Spreng và  
giả thuyết H5: Yếu tố CTĐT có ảnh hưởng Mackoy (1996) chỉ ra rằng chất lượng dịch  
thuận chiều tới chất lượng dịch vụ đào tạo vụ là tiền đề của Sự hài lòng của sinh viên.  
của Khoa QTKD – UFM.  
Ta có giả thuyết H6: chất lượng dịch vụ đào  
tạo có ảnh hưởng thuận chiều tới sự hài lòng  
của sinh viên Khoa QTKD – UFM.  
Hầu hết kết quả nghiên cứu của các học  
giả cho thấy giữa chất lượng dịch vụ đào tạo  
và sự hài lòng của sinh viên có mối quan hệ  
Sau khi nghiên cứu tổng quan, lý thuyết  
chặt chẽ và đồng nhất hai khái niệm, một về mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ đào  
số nghiên cứu khác cho rằng chúng là hai tạo và sự hài lòng của sinh viên, mô hình  
khái niệm khác nhau. Sự hài lòng sinh viên nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu  
xem như là kết quả, chất lượng dịch vụ xem được đề xuất như sau:  
Yếu tố phi học thuật  
Yếu tố học thuật  
Chất lượng  
dịch vụ đào tạo  
Sự hài lòng  
của sinh viên  
Yếu tố cơ sở vật chất  
Yếu tố tiếp cận  
Yếu tố chương trình đào tạo  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu lý thuyết đề xuất  
Lý do không xây dựng mô hình hồi quy 4. Phương pháp nghiên cứu  
tuyến tính để đánh giá tác động trực tiếp  
Toàn bộ quy trình nghiên cứu được mô  
từ các thành phần chất lượng đào tạo đến  
sự hài lòng của sinh viên là vì các yếu tố  
này vừa đóng vai trò cấu thành chất lượng,  
đồng thời lại tác động ảnh hưởng đến chất  
lượng, nên chúng có thể tiềm ẩn các mối  
quan hệ bên trong cần được khám phá, và  
chất lượng dịch vụ đào tạo ở đây giữ vai trò  
là biến trung gian trong mô hình cấu trúc  
tuyến tính.  
tả tóm tắt trong sơ đồ. Trước hết, căn cứ vào  
cơ sở lý thuyết và những vấn đề cấp thiết  
của thực tiễn đã nêu, một số các công việc  
chính cần phải thực hiện theo đúng trình tự  
khách quan và khoa học được sắp xếp logic.  
Nghiên cứu định tính với kỹ thuật phỏng  
vấn sâu người học tại UFM để khám phá các  
khái niệm nghiên cứu và mối quan hệ của  
chúng trong lĩnh vực giáo dục ở Việt Nam.  
68  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
Đồng thời, đánh giá cách sử dụng thuật ngữ được áp dụng với đối tượng nghiên cứu là  
trong bảng câu hỏi để điều chỉnh một số các sinh viên Khoa QTKD đã và đang theo  
câu hỏi và thuật ngữ cho thích hợp trước học CĐ – ĐH tại UFM với nhiều hình thức  
khi tiến hành nghiên cứu định lượng chính như chính quy, liên thông, văn bằng hai,  
thức. Mẫu ngẫu nhiên tập trung (Cluster) vừa làm vừa học, đại trà, chất lượng cao.  
Hình 2. Khái quát quy trình nghiên cứu  
Dữ liệu định tính được tổng hợp, phân nghị, có thay biến gốc “Danh tiếng” của mô  
loại và so sánh với lý thuyết. Kết quả cho hình HEdPERF bằng biến “Cơ sở vật chất”  
thấy có sự xuất hiện của các khái niệm: chất sau thảo luận nhóm và chuyên gia. Nghiên  
lượng dịch vụ đào tạo và sự hài lòng của sinh cứu định tính giai đoạn hai nhằm điều chỉnh  
viên. ứ hai là có sự phù hợp giữa nghiên thang đo các khái niệm nghiên cứu cho phù  
cứu khám phá lý thuyết chất lượng dịch vụ hợp với điều kiện nghiên cứu.  
đàotạovàsựhàilòngcủasinhviên. Sinhviên  
Phỏng vấn trực tiếp sinh viên và cựu  
cho rằng thông qua quá trình trải nghiệm  
sinh viên thông qua bảng câu hỏi trực tuyến  
các dịch vụ của Khoa QTKD tại trường họ  
(Google doc forms) tới các nhóm sinh viên  
mới có được nhận thức và đánh giá về chất  
trên facebook group và thư điện tử theo  
lượng dịch vụ đào tạo cũng như khẳng định  
sự hài lòng với CTĐT của Khoa QTKD. Kết  
luận: Mô hình nghiên cứu cơ bản được giữ  
nguyên vì sự phù hợp giữa kết quả nghiên  
cứu và mô hình lý thuyết nhóm tác giả đề  
nhóm (group mail), mỗi nhóm có khoảng  
1000 SV và cựu sinh viên Khoa QTKD. Kích  
thước mẫu khi sử dụng phương pháp phân  
tích SEM đòi hỏi lớn vì nó dựa vào lý thuyết  
phân phối mẫu lớn. eo Bollen (1989)  
69  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
kích thước mẫu tốt hơn là 10 mẫu cho một thông, cao đẳng. Về năm học, mẫu phân bổ  
tham số cần ước lượng. eo đó, mô hình lý  
thuyết của nghiên cứu này có 47 biến quan  
sát thì số mẫu tốt có thể là 470. Nghiên cứu  
áp dụng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên  
tập trung trên cơ sở đa dạng các đối tượng  
sinh viên từ nhiều chương trình học.  
khá đồng đều từ năm nhất đến năm tư và  
cựu sinh viên trong khoảng trung bình 20%,  
riêng cựu sinh viên đã phỏng vấn chiếm  
tới 25%, điều này rất có ý nghĩa cho phân  
tích vì thực tế là cựu sinh viên sẽ có cảm  
nhận chân thực và đầy đủ hơn so với sinh  
viên còn đang học hoặc mới năm đầu có tới  
48,1% sinh viên sống ở các thành phố, 30%  
sống ở nông thôn, còn lại là ở các vùng ị  
xã – ị trấn và số ít là học sinh phổ thông  
ở nước ngoài về (0,4%).  
Tích hợp nhiều phương pháp xử lý số liệu  
như thống kê mô tả mẫu, để đánh giá hệ số  
tin cậy, các giá trị cần đạt: Cronbach Alpha  
≥ 0,6, dữ liệu phù hợp để thực hiện phân  
tích EFA khi 0.5 ≤ KMO ≤ 1 (Hair, 1998,  
2010), hệ số tương quan biến tổng (item-  
total correlation) ≥ 0.4, tổng phương sai  
trích đạt từ 60% trở lên. Tiếp theo là phân  
tích nhân tố khẳng định CFA, mô hình cấu  
trúc tuyến tính SEM. Để đánh giá giá trị  
thang đo trong phân tích CFA và mức độ  
phù hợp của mô hình cấu trúc tuyến tính,  
các nhà nghiên cứu thường dùng các chỉ số:  
CMIN p < 0,05; CMIN/df < 5; p < 0,05; p <  
0,05; RMSEA = < 0,08 thì mô hình phù hợp  
với dữ liệu thị trường.  
5.2. Đánh giá thang đo  
Có bảy nhân tố được đo lường và thực  
hiện tính toán hệ số Cronbach alpha thông  
qua phần mềm SPSS. Kết quả cho thấy các  
thang đo đều đạt độ tin cậy. Tất cả các thang  
đo đều có tương quan biến tổng từ 0,481  
đến 0,873 (> 0,3) và hệ số Cronbach’s alpha  
lớn hơn 0,9, nên tất cả 47 thang đo này đều  
đạt yêu cầu và được chấp nhận.  
SửdụngphươngpháptríchPrincipalAxis  
Factoring với phép xoay Promax (Gerbing  
và Erson, 1988) với hệ số tải ≥ 0,5 (Hair và  
cộng sự, 1998). Dựa vào kết quả phân tích  
và tiêu chuẩn Eigenvalue lớn hơn 1 thì có 7  
nhân tố được trích ra. Giá trị Cumulative %  
cho biết 7 nhân tố đầu giải thích 70,948 %  
biến thiên của dữ liệu. eo Hair và cộng  
sự (1998), phương sai trích phải từ 50% trở  
lên mô hình mới phù hợp. Kết quả lần xoay  
thứ nhất trong bảng Pattern Matrix cho  
biết, một số thang đo có giá trị < 0,5, một  
số thang đo thể hiện giá trị ở hai nhân tố,  
do vậy, nhóm nghiên cứu tiến hành loại các  
thang đo đó ra để tiến hành lần phân tích  
tiếp theo.  
5. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
5.1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu  
Trong tổng số mẫu thu được là 509,  
29,8% là nam giới, 68,6% là nữ giới, LGBT1  
với 1,6% tham gia phỏng vấn trực tiếp. Sinh  
viên hệ đại học đại trà 61,1% và 14% là sinh  
viên hệ đại học chất lượng cao, còn lại 24,9%  
là các chương trình vừa học vừa làm, liên  
1
LGBT là tên viết tắt của “đồng tính nữ (Lesbian).  
đồng tính nam (Gay). song tính (Bisexual) và  
chuyển giới (Transgender)”. uật ngữ này mô tả  
xu hướng tình dục của một người, tức là họ có  
sự hấp dẫn tình yêu và tình dục với những người  
cùng giới tính.  
70  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
Phân tích EFA lần cuối, KMO là 0,953 – Yếu tố cơ sở vật chất (RE) gồm 6 thang đo:  
RE2, RE3, RE4, RE5, RE6, RE7.  
– Chất lượng DỊCH VỤĐT (QS) gồm 5  
thang đo: QS1, QS2, QS3, QS4, QS5.  
– Sự hài lòng (SA) gồm 5 thang đo: SA1,  
SA4, SA5, SA6, SA7.  
– Yếu tố phi học thuật (NC) gồm 3 thang  
đo: NC2, NC3, NC4.  
nằm trong khoảng tiêu chuẩn cho phép tối  
thiểu (0,5 < KMO < 1) và Sig Bartlett’s =  
0,00 cho biết các thang đo có tương quan  
với nhau trên tổng thể (Sig < 0,05). Như  
vậy, các hệ số nói trên cho phép kết luận  
rằng việc phân tích EFA là hoàn toàn phù  
hợp. Tất cả các thang đo của Yếu tố Tiếp  
cận hoàn toàn bị loại, nên thang đo đó cũng  
không còn trong mô hình. Các nhóm nhân  
tố mới bao gồm:  
– Yếu tố học thuật (AC) gồm 3 thang đo  
AC4, AC5, NC5.  
Sau khi kiểm định thang đo chất lượng  
DỊCH VỤĐT và sự hài lòng của SV, mô  
hình nghiên cứu được điều chỉnh như sau:  
– Yếu tố chương trình đào tạo (PR) gồm 7  
thang đo: PR1, PR2, PR3, PR4, PR5, PR6,  
PR7.  
Yếu tố phi học thuật  
Yếu tố học thuật  
Chất lượng  
dịch vụ đào tạo  
Sự hài lòng  
của sinh viên  
Yếu tố cơ sở vật chất  
Yếu tố chương trình đào tạo  
Hình 3. Mô hình nghiên cứu lý thuyết đề xuất sau chỉnh sửa  
5.3. Phân tích nhân tố khẳng định CFA  
(0,920) ≥ 0,9; GFI (0,848) > 0,8 là chấp nhận  
được (Bentler và Bonelt, 1980). CMIN/df  
(3,622) ≤5 (Hair và cộng sự, 2010). RMSEA  
(0,073) ≤ 0,08 (Steiger, 1990 cho thấy mô  
hình nghiên cứu phù hợp với thông tin thị  
trường. Về kiểm định giá trị hội tụ, kiểm  
định độ tin cậy thang đo, giá trị phân biệt  
đều đạt theo tiêu chuẩn.  
Từ kết quả của EFA, chúng ta thấy rằng có  
sáu nhân tố trong mô hình nghiên cứu. Vẽ  
hình bằng chức năng của AMOS 20 và đặt  
lại tên các biến nghiên cứu: PRF; REF; QSF;  
SAF; NCF; ACF. Từ kết quả của EFA, kết quả  
phân tích CFA với giá trị TLI (0,909) và CFI  
71  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
Hình 4. Sơ đồ CFA chưa chuẩn hóa và sơ đồ sau khi điều chỉnh mô hình nghiên cứu  
5.4. Mô hình cấu trúc tuyến tính SEM  
Phi học thuật, Hoàn thiện CSVC, nâng cao  
chất lượng giảng viên để tăng Chất lượng  
dịch vụ. Với hệ số R2 = 0,435 của QSF, giải  
thích các biến độc lập tác động 43,5% vào  
biến trung gian Chất lượng dịch vụ đào tạo.  
Tương tự, R2 = 0,569 của biến SAF giải thích  
được sự tác động 56,9% từ các biến độc lập  
tới biến phụ thuộc Sự hài lòng của đào tạo.  
Từ phân tích qua mô hình SEM, khẳng  
định giữa CSVC và Học thuật có ảnh hưởng  
trực tiếp đến chất lượng dịch vụ đào tạo, chất  
lượng dịch vụ đào tạo, Yếu tố CTĐT (0,385)  
và Yếu tố phi học thuật (0,242) ảnh hưởng  
trực tiếp đến Sự hài lòng của sinh viên. Do  
đó, muốn nâng cao Sự hài lòng của dịch vụ  
thì phải tăng chất lượng dịch vụ đào tạo,  
Tóm tắt số liệu từ các phân tích trên, nhóm  
cải tiến chương trình đào tạo và các yếu tố nghiên cứu đưa ra mô hình kết quả sau:  
72  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
Hình 5. Kết quả phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM lần 2  
Hình 6. Mối liên hệ giữa chất lượng DỊCH VỤĐT và sự hài lòng của sinh viên  
6. Kết luận và hàm ý quản trị  
– UFM trong thời gian tới. Quy ước đánh  
giá sau khi nhóm thảo luận và thống nhất:  
(1) Với mức giá trị trung bình dưới 2,5 được  
coi là rất Yếu kém; (2) Với mức giá trị trung  
bình từ 2,5 đến 3,5 được coi là Trung bình;  
(3)Với mức giá trị trung bình từ 3,5 đến dưới  
4,0 được coi là Khá tốt; (4) Với mức giá trị  
trung bình từ 4,0 đến dưới 4,5 được coi là  
Tốt; (5)Với mức giá trị trung bình từ 4,5 trở  
lên được coi là Rất tốt.  
6.1. Kết luận  
Tiếp tục phân tích những đánh giá chi  
tiết của sinh viên khoa QTKD về cảm nhận  
của họ đối với chất lượng dịch vụ đào tạo,  
từ đó rút ra những điểm mạnh và điểm yếu  
còn tồn tại nhằm đề xuất những giải pháp  
nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo nhằm  
tăng sự hài lòng của sinh viên Khoa QTKD  
73  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
Bảng 1. Kết quả thống kê mô tả của các yếu tố  
Yếu tố phi học thuật  
Giá trị TB Đánh giá  
Nhân viên nhà trường có kiến thức và kinh nghiệm để tư vấn  
3,92  
3,58  
3,41  
Khá tốt  
Khá tốt  
về các vấn đề hành chính  
Nhân viên nhà trường giải quyết thỏa đáng các yêu cầu hợp lý  
của SV  
Nhân viên nhà trường xử lý hiệu quả, nhanh chóng, khiếu nại  
của SV  
Trung bình  
Cán bộ quản lý giải quyết thỏa đáng các yêu cầu của SV  
An ninh – trật tự được đảm bảo trong khu vực nhà trường  
Yếu tố học thuật  
3,60  
4,18  
Khá tốt  
Tốt  
Giá trị TB Đánh giá  
Giảng viên có kiến thức chuyên sâu  
4,09  
Tốt  
Giảng viên giúp SV tư duy liên hệ các vấn đề trong lý thuyết  
vào thực tiễn  
3,90  
Khá tốt  
Giảng viên tư vấn cho SV kiến thức và hướng nghiệp  
Giảng viên đảm bảo giờ lên lớp và lịch trình giảng dạy  
Giảng viên đánh giá thường xuyên và công bằng với SV  
Giảng viên nhiệt tình giảng dạy  
3,84  
4,09  
3,90  
4,03  
Khá tốt  
Tốt  
Khá tốt  
Tốt  
Yếu tố CSVC  
Giá trị TB Đánh giá  
Giảng đường sạch sẽ thoáng mát, đảm bảo yêu cầu về chỗ ngồi  
Giảng đường có đầy đủ trang thiết bị, công nghệ hiện đại  
3,85  
3,69  
Khá tốt  
Khá tốt  
Khuôn viên trường khang trang, rộng rãi, thoáng mát, tạo ấn  
tượng tốt khi đến trường  
ư viện đảm bảo không gian, chỗ ngồi đáp ứng nhu cầu học  
tập của SV  
3,58  
3,81  
Khá tốt  
Khá tốt  
ư viện đầy đủ tài liệu  
ư viện cung cấp DỊCH VỤ photo, in ấn tài liệu đạt chất lượng  
SV dễ dàng truy cập internet miễn phí của trường  
3,63  
3,23  
3,31  
Khá tốt  
Trung bình  
Trung bình  
Website của Nhà trường có đầy đủ thông tin và dễ dàng  
truy cập  
3,84  
Khá tốt  
Ký túc xá, khu thể thao, căng tin đảm bảo điều kiện sinh hoạt  
3,42  
3,43  
Trung bình  
Trung bình  
của SV  
Nhà xe đáp ứng tốt và và phí gửi trông giữ xe phù hợp  
74  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
Yếu tố tiếp cận  
GTTB  
Đánh giá  
Nhân viên nhà trường luôn sẵn sàng hỗ trợ và giúp đỡ SV  
3,72  
Khá tốt  
Nhân viên nhà trường có thái độ hòa nhã, lịch sự trong giải  
quyết công việc  
3,66  
Khá tốt  
Nhân viên nhà trường có thái độ tôn trọng SV  
Giảng viên giao tiếp lịch sự, gần gũi, thân thiện với SV  
Cố vấn học tập quan tâm và lắng nghe đến các vấn đề của SV  
3,73  
4,02  
3,91  
Khá tốt  
Tốt  
Khá tốt  
Tổ chức tốt các hoạt động thể dục thể thao, văn nghệ, công tác  
xã hội, tình nguyện viên  
3,85  
Khá tốt  
Nhà trường giải quyết tốt các chế độ, chính sách trợ cấp cho SV  
Yếu tố chương trình đào tạo  
Mục tiêu chương trình đào tạo của ngành học rõ ràng  
3,71  
GTTB  
3,78  
Khá tốt  
Đánh giá  
Khá tốt  
Nội dung chương trình đào tạo phù hợp với mục tiêu đào tạo  
của ngành học  
Nội dung chương trình có nhiều kiến thức được cập nhật  
Ngành học mang tính thực tiễn cao, đáp ứng nhu cầu nhân lực  
của xã hội  
3,82  
3,76  
3,69  
Khá tốt  
Khá tốt  
Khá tốt  
Trình tự sắp xếp các môn học phù hợp và logic  
Chương trình học cân đối giữa lý thuyết và thực hành  
3,75  
3,54  
Khá tốt  
Khá tốt  
Phương pháp đánh giá, kiểm tra, thi kết thúc môn phù hợp với  
tính chất và đặc điểm của từng môn học  
3,89  
Khá tốt  
“An ninh – trật tự được đảm bảo trong hài lòng về các vấn đề liên quan đến giảng  
khu vực nhà trường” được đánh giá tốt nhất viên, từ kiến thức đến thái độ hành vi, đặc  
với giá trị trung bình 4,18 cho thấy sinh viên biệt kiến thức giảng viên, tính nghiêm túc  
khá hài lòng về chất lượng dịch vụ này. Về trong giờ giấc giảng dạy (4,09) và sự nhiệt  
“Nhân viên nhà trường xử lý hiệu quả, nhanh tình giảng dạy (4,03) được sinh viên đánh  
chóng, khiếu nại của sinh viên” với điểm giá cao.  
đánh giá ở mức trung bình 3,41 cho thấy đây  
Sinh viên đánh giá khá cao “Giảng đường  
là hoạt động cần cải tiến hơn nhu cầu khiếu  
sạch sẽ thoáng mát, đảm bảo yêu cầu về chỗ  
nại của sinh viên. Ba hoạt động còn lại ở mức  
ngồi” (3,85), “ư viện đảm bảo không  
khá tốt, cần tiếp tục cải tiến để tăng sự hài  
gian, chỗ ngồi đáp ứng nhu cầu học tập  
lòng của sinh viên (Xem Bảng 1).  
của sinh viên” (3,81) và “Website của Nhà  
Hầu hết các vấn đề trong nhóm nhân trường có đầy đủ thông tin và dễ dàng truy  
tố này được đánh giá từ mức Khá tốt đến cập” (3,84). Bên cạnh đó, những vấn đề còn  
Tốt (Xem Bảng 1), cho thấy sinh viên khá lại (Xem Bảng 1), sinh viên đánh giá Trung  
75  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
bình, cần có biện pháp thích hợp để cải thiệt lượng dịch vụ đào tạo tại Khoa QTKD -  
chất lượng, làm sinh viên hài lòng hơn.  
UFM, bao gồm: yếu tố Phi học thuật, yếu tố  
học thuật, CSVC và CTĐT.  
“Giảng viên giao tiếp lịch sự, gần gũi,  
thân thiện với sinh viên” được sinh viên  
đánh giá tốt nhất với 4,02 điểm trung bình.  
Các vấn đề còn lại đều được đánh giá Khá  
tốt (Xem Bảng 1).  
ứ hai, các nhân tố kể trên phù hợp với  
dữ liệu thị trường và sử dụng tốt trong việc  
xây dựng mô hình cấu trúc, cũng như thể  
hiện mức độ tin cậy của mối liên hệ giữa  
chất lượng dịch vụ đào tạo và Sự hài lòng  
của sinh viên.  
Đánh giá của sinh viên với một số yếu  
tố của CTĐT chỉ dừng lại ở mức “Khá tốt”  
(Xem Bảng 1), trong đó “Phương pháp đánh  
giá, kiểm tra, thi kết thúc môn phù hợp với  
tính chất và đặc điểm của từng môn học”  
được đánh giá cao nhất với 3,89 điểm.  
ứ ba, nghiên cứu đã tiến hành xây  
dựng mô hình cấu trúc SEM và tiến hành  
phân tích mối liên hệ giữa năm thành phần  
đại diện cho cảm nhận của sinh viên về chất  
lượng dịch vụ đào tạo, thành phần chất  
lượng đào tạo và đặc biệt là thành phần sự  
hài lòng.  
Như vậy, qua quá trình thu thập, xử lý,  
phân tích các dữ liệu sơ cấp điều tra được,  
nghiên cứu đã thu được những kết quả khá  
quan trọng và hết sức cần thiết đối với hoạt  
động nâng cao chất lượng dịch vụ đào tạo  
nhằm tăng sự hài lòng của sinh viên Khoa  
QTKD – UFM trong thời gian tới. Nghiên  
cứu giải quyết được những câu hỏi nghiên  
cứu đề ra ban đầu như:  
Nhìn nhận một cách khách quan khi đưa  
ra nhận định về sự hài lòng của sinh viên về  
các yếu tố chất lượng dịch vụ. Nghiên cứu  
đã thông qua kiểm định One-way Anova từ  
đó đã có những kết luận khá chính xác về  
cảm nhận chất lượng dịch vụ đào tạo của  
sinh viên.  
ứ nhất, có bốn nhóm nhân tố chính  
phản ánh cảm nhận của sinh viên về chất  
Bảng 2. Kết quả kiểm định giả thuyết  
Mối quan hệ giữa các khái niệm  
GT  
Kết luận  
Nhóm giả thuyết chính  
Yếu tố phi học thuật có ảnh hưởng thuận chiều tới chất lượng DỊCH  
H1  
H2  
H3  
H4  
H5  
Bác bỏ  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Bác bỏ  
VỤĐT của Khoa QTKD-UFM  
Yếu tố học thuật có ảnh hưởng thuận chiều tới chất lượng DỊCH  
VỤĐT của Khoa QTKD-UFM.  
CSVC có ảnh hưởng thuận chiều tới chất lượng DỊCH VỤ ĐT của  
Khoa QTKD-UFM.  
CTĐT có ảnh hưởng thuận chiều tới chất lượng DỊCH VỤ ĐT của  
Khoa QTKD-UFM.  
Chất lượng DỊCH VỤđào tạo có ảnh hưởng thuận chiều tới sự hài  
lòng của SV Khoa QTKD-UFM.  
Chấp nhận  
76  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
Nhóm giả thuyết bổ sung  
Không có sự khác nhau giữa mức độ hài lòng của SV với chất lượng  
H01  
H02  
H03  
H04  
Bác bỏ  
Bác bỏ  
DỊCH VỤ ĐT theo giới tính.  
Không có sự khác nhau giữa mức độ hài lòng của SV với chất lượng  
DỊCH VỤ ĐT theo Hệ đào tạo.  
Không có sự khác nhau giữa mức độ hài lòng của SV với chất lượng  
DỊCH VỤ ĐT theo Năm học.  
Không có sự khác nhau giữa mức độ hài lòng của SV với chất lượng  
DỊCH VỤ ĐT theo địa chỉ.  
Chấp nhận  
Bác bỏ  
Nhóm quan hệ mới khám phá chưa có trong giả thuyết  
CTĐT có ảnh hưởng thuận chiều tới sự hài lòng của SV Khoa QTKD-  
Hn1  
Hn2  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
UFM.  
Yếu tố Phi học thuật có ảnh hưởng thuận chiều tới sự hài lòng của  
SV Khoa QTKD-UFM.  
Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu  
6.2. Hàm ý quản trị  
viên vì giảng viên là những người trực tiếp  
thường xuyên tiếp xúc với sinh viên nên sự  
ảnh hưởng từ kiến thức, cách thức truyền  
tải kiến thức, giao tiếp và kỹ năng giao tiếp  
với snh viên được đặc biệt ưu tiên.  
Dựa vào kết quả nghiên cứu là có sự  
ảnh hưởng tích cực của chất lượng dịch vụ  
đào tạo đến sự hài lòng của sinh viên Khoa  
QTKD của UFM, một số hàm ý quản trị  
được đề xuất nhằm làm gia tăng sự hài lòng  
của sinh viên về chất lượng dịch vụ đào tạo đội ngũ nhân viên các phòng ban. Với mức  
của Khoa QTKD thuộc UFM.  
Nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua  
đánh giá từ trung bình đến tốt qua nhiều  
vấn đề khác nhau, cần lưu ý: ứ nhất là thái  
độ phục vụ của các chuyên viên phòng ban;  
ứ hai là rà soát lại quy trình, thủ tục hành  
chính. Xây dựng diễn đàn, hộp thư của các  
phòng ban, để cán bộ và sinh viên trao đổi  
thông tin, giải đáp thắc mắc của sinh viên  
về quy chế, chính sách, thủ tục hành chính.  
ứ ba là nâng cao nhận thức tự cập nhật  
kiến thức, rèn luyện kỹ năng phục vụ hiệu  
quả công việc.  
Tăng cường xây dựng và phát triển  
CSVC. Với mức đánh giá phần lớn là khá  
tốt, chỉ có bốn vấn đề ở mức hài lòng trung  
bình, từ đó tập trung vào cải tiến các vấn  
đề tồn tại đó như: Đầu tư mới và thường  
xuyên kiểm tra; kịp thời sửa chữa phòng  
học; nâng cấp hệ thống mạng Internet; máy  
chiếu, máy vi tính; thư viện, khu gửi xe, ký  
túc xá, v.v...  
Phát triển mạnh đội ngũ giảng viên cả  
về chất và lượng. Với mức đánh giá phần  
lớn là khá tốt và tốt, mặc dù vậy, vẫn cần  
chú trọng đầu tư cho chất lượng giảng  
Đổi mới và hoàn thiện CTĐT. Với mức  
đánh giá khá tốt, khoa và nhà trường vẫn  
cần tăng cường nâng cao chương trình học  
77  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
thông qua các cuộc kiểm định trong và đào tạo của trường. Nhà trường và khoa cần  
ngoài nước, CTĐT phải phù hợp với yêu phải xây dựng các mối liên hệ với các công  
cầu người học, đáp ứng thị trường lao động ty bên ngoài, tạo điều kiện cho sinh viên  
và yêu cầu của xã hội, có các chính sách giúp được tham quan, thực tập, tiếp xúc với môi  
sinh viên tối ưu hóa về chi phí, thời gian và trường thực tế, tăng sự hài lòng của sinh  
công sức bỏ ra khi tham gia chương trình viên về nội dung này.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Abdullah, F. (2005). HEdPERF versus SERVPERF: e Quest for Ideal Measuring Instrument of Service  
Quality in Higher Education Sector. Quality Assurance in Education, 13, 305-328.  
Babakus, E. and Boller, G.W. (1992). An empirical assessment of the SERVQUAL scale. Journal of  
Business Research, 24(3) 253-68.  
Bachelet, D. (1995). Measuring Satisfaction; or the Chain, the Tree, and the Nest. Customer Satisfaction  
Research, Brooker, R.(ed.), Emosar.  
Bảo Trung và Nguyễn ị Tố Loan (2020). Chất lượng dịch vụ giáo dục đại học theo mô hình IPA tại  
trường Đại học Tài chính – Marketing. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, 57, 52-64.  
Bollen, K.A. (1989). Structural Equations with Latent Variables. John Wiley and Sons, Inc., New York.  
Carman, J.M. (1990). Consumer perceptions of service quality: An assessment of the SERVQUAL  
dimensions. Journal of Retailing, 66, 33-55.  
Cheng & Tam (1997). Multi-models of quality in education. Quality Assurance in Education, 5(1) 22-31.  
Cronin, J.J. and Taylor, S.A. (1992). Measuring service quality: reexamination and extension. Journal  
of Marketing, 56, 55-68.  
Crosby L.A., Evans K.R. and Cowles D. (1990). Relationship Quality in Services Selling: An Interpersonal  
Influence Perspective. Journal of Marketing, 54(3) (Jul. 1990), 68-81 (14 pages), Published By:  
Davies, M., Hirschberg, J., Lye, L., Johnston, C. and McDonald, I. (2007). Systematic influences on  
teaching evaluations: the case for caution. Australian Economic Papers, March, 18-38.  
Dương ị u Trang (2015). Ứng dụng của mô hình HEDPERF trong nghiên cứu chất lượng giảng  
dạy ở bậc CĐ, ĐH. Chuyên đề khoa học và giáo dục – 04 (07-2015).  
Eisenblatt, S. (2002). e Straight Road to Happiness: A Personal Guide to Enable Us to Overcome  
Tendencies which Block Our Natural Flow of Happiness and to Explore New Horizons of Inner Joy.  
Feldheim Publishers, ISBN-10: 1583305203 tr. 292.  
Fallows, S., & Steven, C. (2000). Building employability skills into the higher education curriculum: A  
university-wide initiative. Education and Training, 42, 75-83. doi:10.1108/00400910010331620  
Feigenbaum, A.V. (1991). Quality Control (3rd Edition). New York: McGraw-Hill.  
Firdaus (2005). Measuring service quality in higher education: HEdPERF versus SERVPERF. MARA  
University of Technology, Sarawak, Malaysia.  
Green, D., & Harvey, L. (1993). Defining quality. Assessment and Evaluation in Higher Education,  
18.16-23.  
78  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
Hà Nam Khánh Giao và Nguyễn Phạm Hạnh Phúc (2015). Sự hài lòng SV đối với chất lượng dịch vụ  
đào tạo của khoa Du lịch Trường ĐH Tài chính – Marketing giai đoạn 2010 – 2013. Tạp chí  
nghiên cứu Tài chính – Marketing, 28, 67-76.  
Hair et al (1998). Multivariate Data Analysis (5th Edition). Upper Saddle River, NJ: Prentice Hall.  
Hair, J.F., Black, W.C., Babin, B.J., Anderson, R.E. (2010). Multivariate data analysis. Prentice Hall,  
Upper Saddle River, NJ.  
Harvey, J. (1995). Student satisfaction. e new review of academic librarianship, 1, 161-173.  
Hill, F. (1995). Managing service quality in higher education: e role of the student as primary  
consumer. Quality assurance in education, 3, 10-21.  
Huang, Q. (2010). e relationship between service quality and student satisfaction in higher educatuon  
sector: A case study on the undergraduate sector of Xiamen University of China. AU Journal of  
Management, 8, 38-44.  
Huỳnh ị u Sương và Trần Văn Hưng (2021). Nhu cầu nhân lực làm nghề nhân sự, nghiên cứu  
trường hợp các doanh nghiệp trên địa bàn ành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí Nghiên cứu Tài  
chính – Marketing, 61, 82-93.  
Jalal, R.M., Abdullah, H.H. and Warokka, A. (2011). Service Quality and Students’ Satisfaction at Higher  
Learning Institutions: e Competing Dimensions of Malaysian Universities’ Competitiveness.  
Journal of Southeast Asian Research. Vol. 2011 (2011), Article ID 855931, 10 pages. DOI:  
10.5171/2011.855931  
Jusoh et al (2004). Service quality in higher education: management student’s perspective. Research Vot  
No: 71982 Management Department Faculty of Management And Human Resource Development  
University of Technology Malaysia.  
Karami, M. & Olfati, O. (2011). Measuring service quality and satisfaction of students: A case study of  
students’ perception of service quality in high-ranking business schools in Ira. African Journal of  
Business Management, 6(2), 658-669.  
Kotler, P. and Armstrong, G. (2012). Principles of Marketing (14th Edition). Global Edition. Pearson  
Prentice Hall.  
Lewis, B.R. and Mitchell, V.W. (1990). Defining and Measuring the Quality of Customer Service.  
Malhotra A., Parasuraman A. (2000). A Conceptual Frame-work for Understanding e-Service Quality:  
Implications for Future. Research and Managerial Practice, working paper, report No. 00-115,  
Marketing Science Institute, Cambridge, MA.  
Nguyễn Hoàng Chương (2015). Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của SV đối với chất  
lượng dịch vụ đào tạo đại học của trường đại học Sài Gòn. Luận văn ạc sỹ. Trường Đại học Tài  
chính Marketing.  
Oliver, R.L. & W.O. Bearden (1985). Disconfirmation Processes and Consumer Evaluations in Product  
Usage. Journal of Business Research, 13(1985), 235-246.  
Oliver, R.L. (1997). Satisfaction: A behavioral perspective on the customer. New York.  
Oliver, R.L., Oliva, T.A., & Bearden, W.O. (1995). e relationships among consumer satisfaction,  
involvement, and product performance: A catastrophe theory application. Behavioral Science,  
79  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing, số 62 – áng 4 Năm 2021  
Parasuraman, A., Zeithaml, V.A. & Berry, L.L. (1988). Servqual: A multipleitem scale for measuring  
consumer perceptions of service quality. Journal of Retailing, 64(1988) 1, 12-40.  
Schneider (2002). Do School Facilities Affect Academic Outcomes. Information Analyses. ERIC  
Publications.  
Spreng, R.A. and MacKoy, R.D. (1996). An empirical examination of a model of perceived service  
quality and satisfaction. Journal of Retailing, 72, 201-214.  
Stipek, D. J. (1996). Motivation and instruction. Handbook of educational psychology, 85-113.  
omasson, B., Edvardsson, B. & OvretVeit, J. (1994). Quality of Service: Making it Work, New  
York: McGraw-Hill.  
Trần ị Mai (2017). Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của SV đối với chất lượng đào tạo Tại trường  
Đại học Hoa Sen. Luận văn ạc sỹ. Trường Đại học HUTECH.  
Vroeijenstijn, A.I. (2002). Improvement and accountability: Navigating between Scylla and Charybdis.  
Higher Education Policy Series, London: Jessica Kingsley.  
WTO (1995). Hiệp định chung về thương mại dịch vụ, Điều 1 – Chương 3.  
Yến Anh (2006). Đổi mới giáo dục đại học (2006). Đổi mới giáo dục ĐH “hậu” WTO: Không né tránh  
thị trường giáo dục. Báo Người lao động ngày 17/12/2006.  
Zeithaml, V.A. & Bitner, M.J. (2000). Services Marketing: Integrating Customer Focus across the Firm.  
Irwin cGraw-Hill.  
80  
pdf 19 trang Thùy Anh 15200 Free
Bạn đang xem tài liệu "The impact of training service quality on students’ satisfaction in school of business of university of finance – marketing", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthe_impact_of_training_service_quality_on_students_satisfact.pdf