Chính sách phát triển khoa học công nghệ cho ngành công nghiệp hỗ trợ trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CHO NGÀNH CÔNG  
NGHIỆP HỖ TRỢ TRONG BỐI CẢNH CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Th.s Vũ Thị Thanh Huyền  
Bộ môn Kinh tế học, Đại học Thƣơng Mại  
TÓM TẮT  
Trong những năm gần đây, sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ (CNHT) đang  
được Nhà nước và các doanh nghiệp tại Việt Nam hết sức quan tâm đầu tư, đặc biệt, với sự ra  
đời của Nghị định 111 về Phát triển CNHT, nhiều chính sách hỗ trợ và ưu đãi đã được quy  
định tương đối cụ thể nhằm tạo những điều kiện tốt nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh  
của DN CNHT. Trong bối cảnh mới của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 (CMCN 4.0) đang  
được hình thành trên thế giới, các chính sách phát triển khoa học công nghệ cho ngành  
CNHT sẽ cần được hoàn thiện và nâng cao hơn nữa hiệu quả thực thi. Nội dung bài viết sẽ đi  
từ tiếp cận bối cảnh của cuộc CMCN lần thứ tư, xem xét, đánh giá các tác động của cuộc  
cách mạng này đến sự phát triển của ngành CNHT Việt Nam, từ đó, nghiên cứu, đánh giá các  
chính sách khoa học công nghệ cho phát triển CNHT trong bối cảnh mới này. Phần cuối của  
bài viết sẽ đưa ra một số đề xuất hoàn thiện chính sách khoa học công nghệ cho ngành CNHT  
phù hợp với bối cảnh của CMCN 4.0.  
Từ khóa: Công nghiệp hỗ trợ (CNHT), chính sách, khoa học công nghệ, cách  
mạng công nghiệp 4.0  
1. MỞ ĐẦU  
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư được cho là đã bắt đầu từ vài năm gần đây, tập  
trung chủ yếu vào sản xuất thông minh dựa trên các thành tựu đột phá trong công nghệ thông  
tin, công nghệ sinh học, công nghệ nano. Sự hình thành và phát triển của cuộc cách mạng  
công nghiệp lần thứ 4 một mặt, sẽ đem lại sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ mới và rô  
bốt, mặt khác, có thể gây ra ảnh hưởng lớn đến cách thức sản xuất với một số ngành nghề tận  
dụng lợi thế lao động giá rẻ của Việt Nam, … Trong bối cảnh đó, ngành sản xuất công nghiệp  
hỗ trợ của Việt Nam với quy mô sản xuất nhỏ và vừa, áp dụng KHCN còn rất hạn chế, sẽ có  
thể đứng trước những thách thức lớn từ CMCN 4.0, đòi hỏi chính sách của Nhà nước cần có  
sự định hướng và hỗ trợ một cách đúng đắn, đặc biệt là các chính sách liên quan đến phát  
triển KHCN, từ đó, đặt ra vấn đề cần nghiên cứu và đánh giá các chính sách khoa học công  
nghệ cho phát triển CNHT nhằm thu được các lợi ích từ cách mạng công nghiệp.  
Mục tiêu nghiên cứu của bài viết là xem xét thực trạng quá trình xây dựng và thực thi  
các chính sách hỗ trợ về khoa học công nghệ cho phát triển ngành CNHT tại Việt Nam trong  
bối cảnh cuộc CMCN lần thứ tư đang trong giai đoạn hình thành trên thế giới với những cơ  
hội và thách thức đáng kể cho sự phát triển ngành CNHT trong nước. Từ đó, đưa ra đánh giá  
về ưu điểm và hạn chế của chính sách, đưa ra kết luận về cách thức hoàn thiện chính sách  
trong thời kỳ mới.  
Về phạm vi nghiên cứu: Nội dung bài viết sẽ tập trung vào nghiên cứu thực trạng các  
chính sách phát triển ngành CNHT của Việt Nam thời gian qua, đặc biệt liên quan đến cách  
chính sách về phát triển công nghệ ngành CNHT gắn với bối cảnh cuộc cách mạng công  
nghiệp 4.0 đang nổi lên. Trong đó, liên quan đến khách thể nghiên cứu là ngành CNHT, bài  
viết chỉ tiếp cận khái niệm CNHT theo nghĩa hẹp, tập trung vào phân tích thực trạng phát triển  
đối với các ngành linh kiện phụ tùng (đặc biệt là linh kiện điện – điện tử, nhựa - cao su, kim  
loại) đối với các ngành chủ yếu là ngành điện tử, ô tô, xe máy.  
Về nguồn số liệu:  
Để làm rõ thực trạng phát triển ngành CNHT, bài viết sử dụng các số liệu thứ cấp từ  
nguồn Comtrade.org, Tổng cục thống kê, Trung tâm phát triển DN CNHT - Bộ Công thương.  
Để thống kê các chính sách phát triển CNHT Việt Nam, bài viết sử dụng các nguồn dữ  
liệu thứ cấp được cung cấp trên website của Chính phủ, Bộ Công thương.  
Về phƣơng pháp nghiên cứu:  
355  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, đối chiếu để phân  
tích thực trạng quá trình tham gia cách mạng 4.0 của Việt Nam, những lợi ích và bất lợi khi  
tham gia; phân tích thực trạng phát triển CNHT và chính sách khoa học công nghệ cho phát  
triển CNHT; sử dụng phương pháp suy luận để đưa ra những đánh giá về những tác động của  
cách mạng 4.0 đến phát triển ngành CNHT.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Tổng quan về cách mạng công nghiệp 4.0 và ngành công nghiệp hỗ trợ  
Tổng quan về cách mạng công nghiệp 4.0  
Cách mạng công nghiệp là cuộc cách mạng trên lĩnh vực sản xuất, thể hiện sự thay  
đổi cơ bản các điều kiện kinh tế - xã hội, văn hóa và kỹ thuật. Cuộc cách mạng công nghiệp  
đầu tiên trải dài từ năm 1760 đến khoảng năm 1840. Bắt đầu bằng việc xây dựng các tuyến  
đường sắt và phát minh ra động cơ hơi nước, cuộc cách mạng này đánh dấu sự khởi đầu của  
kỷ nguyên sản xuất cơ khí. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai, diễn ra từ cuối thế kỷ  
19 và đầu thế kỷ 20, với sản xuất hàng loạt, được thúc đẩy bởi sự ra đời của điện năng và  
dây chuyền lắp ráp. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba bắt đầu vào những năm 1960.  
Nó thường được gọi là cuộc cách mạng máy tính hay cách mạng số bởi vì nó được xúc tác  
bởi sự phát triển của chất bán dẫn, máy tính cỡ lớn (mainframe) (thập niên 1960), máy tính  
cá nhân (thập niên 1970 và 1980) và internet (thập niên 1990).  
HÌNH 2.1. CÁC CUỘC CMCN TRONG LỊCH SỬ  
(Nguồn: Cục thông tin KH&CN Quốc gia, 2016)  
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư được hình thành trên nền tảng của CMCN lần  
thứ ba, đã bắt đầu xuất hiện từ giữa thế kỷ trước. Đặc trưng của cách mạng công nghiệp lần  
thứ 4 là tạo ra một thế giới mà ở đó các hệ thống sản xuất ảo và vật lý trên toàn cầu có thể liên  
kết với nhau một cách linh hoạt bằng cách kích hoạt các “nhà máy thông minh”, Internet kết  
nối vạn vật (IoT) và các hệ thống kết nối Internet (IoS). Đồng thời, các làn sóng của những  
đột phá xa hơn sẽ xảy ra trong các lĩnh vực khác nhau từ mã hóa chuỗi gen cho tới công nghệ  
nano, từ các năng lượng tái tạo tới tính toán lượng tử.  
356  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Theo GS. Klaus Schwab, Chủ tịch Diễn đàn Kinh tế Thế giới, Industry 4.0 (tiếng Đức  
là Industrie 4.0) hay Cuộc CMCN lần thứ 4, là một thuật ngữ bao gồm một loạt các công nghệ  
tự động hóa hiện đại, trao đổi dữ liệu và chế tạo. Cuộc CMCN lần thứ 4 được định nghĩa là  
“một cụm thuật ngữ cho các công nghệ và khái niệm của tổ chức trong chuỗi giá trị” đi cùng  
với các hệ thống vật lý trong không gian ảo, Internet kết nối vạn vật (IoT) và Internet của các  
dịch vụ (IoS).  
Bản chất của CMCN lần thứ 4 là dựa trên nền tảng công nghệ số và tích hợp tất cả  
các công nghệ thông minh để tối ưu hóa quy trình, phương thức sản xuất; nhấn mạnh những  
công nghệ đang và sẽ có tác động lớn nhất là công nghệ in 3D, công nghệ sinh học, công  
nghệ vật liệu mới, công nghệ tự động hóa, người máy,...  
Những nguyên lý chính của CMCN 4.0  
Thứ nhất, khả năng kết nối. Khả năng máy móc, thiết bị, vật cảm biến và con người có  
thể kết nối và giao tiếp với nhau thông qua Internet (IoT hoặc IoP).  
Thứ hai, minh bạch thông tin. Khả năng các hệ thống thông tin có thể tạo ra một bản  
sao ảo của thế giới vật lý thông qua việc làm phong phú thêm các mô hình kỹ thuật số với các  
dữ liệu cảm biến. Điều này đòi hỏi sự tập hợp của nguồn dữ liệu cảm biến đối với nguồn  
thông tin có giá trị cao hơn.  
Thứ ba, hỗ trợ kỹ thuật. Nguyên lý này bao hàm hai vấn đề: Một là, khả năng các hệ  
thống hỗ trợ có thể hỗ trợ cho con người thông qua việc tập hợp và hiển thị thông tin để đưa  
ra những quyết định và giải quyết các vấn đề khẩn cấp trên một bản thông báo ngắn. Hai là,  
khả năng các hệ thống điều khiển – có thể hỗ trợ về mặt vất lý cho con người bằng cách giải  
quyết một loạt cá trạng thái như khó chịu, quá mệt mỏi, hoặc không an toàn.  
Thứ tư, việc quyết định được phân cấp sâu hơn. Khả năng các hệ thống điều khiển –  
vật lý đưa ra các quyết định của riêng mình và tự thực hiện các nhiệm vụ nếu có thể. Chỉ  
trong trường hợp ngoại lệ, khi bị nhiễm hoặc các mục tiêu mâu thuẫn lẫn nhau thì các nhiệm  
vụ được thực hiện ở một cấp độ cao hơn.  
Tổng quan về ngành CNHT  
Khái niệm: Công nghiệp hỗ trợ theo nghĩa rộng được hiểu là việc sản xuất ra các sản  
phẩm trung gian cho quá trình sản xuất chính như sơ chế các nguyên liệu thô hoặc chế tạo  
một phần những sản phẩm chính tương tự theo tiêu chuẩn kỹ thuật và giấy phép của chính  
hãng. Hoặc theo nghĩa hẹp “Công nghiệp hỗ trợ gồm một nhóm các hoạt động công nghiệp  
cung cấp các đầu vào trung gian (gồm linh kiện, phụ tùng và công cụ để sản xuất ra các linh  
kiện phụ tùng) cho các ngành công nghiệp lắp ráp và chế biến”.  
Trong phạm vi của bài viết này, tác giả tiếp cận CNHT theo nghĩa tương đối hẹp,  
theo đó, tác giả xin đưa ra định nghĩa về CNHT như sau: Công nghiệp hỗ trợ là các ngành  
công nghiệp sản xuất các nguyên vật liệu cơ bản, các linh kiện, phụ tùng, bán thành phẩm  
để cung cấp cho các ngành công nghiệp lắp ráp như ngành ô tô, xe máy, điện tử,... Trong  
đó, sản phẩm CNHT các ngành lắp ráp bao gồm các nguyên vật liệu cơ bản như nhựa, cao  
su, kim loại; các linh kiện phụ tùng bao gồm: linh kiện nhựa – cao su, linh kiện kim loại,  
linh kiện điện (như pin, ắc quy, dây dẫn), linh kiên điện tử; ...  
Mối liên hệ giữa cách mạng công nghiệp 4.0 và phát triển ngành CNHT  
Có thể nhận thấy rằng, hoạt động sản xuất luôn gắn liền với các cuộc cách mạng công  
nghiệp, do đó, sự phát triển của ngành CNHT chắc chắn có những mối liên kết chặt chẽ với sự  
hình thành và phát triển của CMCN 4.0.  
Một mặt, CMCN lần thứ tư sẽ đem lại cho ngành CNHT những cơ hội lớn từ việc (1)  
tiếp thu tiến bộ công nghệ và cập nhật một cách nhanh chóng các xu thế công nghệ mới trên  
thế giới; (2) thúc đẩy sự liên kết, lan tỏa chặt chẽ hơn trong sản xuất CNHT với các ngành sản  
xuất CN chế biến chế tạo trong và ngoài nước, thúc đẩy sự tham gia các chuỗi cung ứng,  
chuỗi sản xuất trên phạm vi toàn cầu; (3) tăng năng suất và hiệu quả trong sản xuất công  
357  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
nghiệp, hạn chế tồn kho và (4) tạo khả năng đáp ứng tối ưu nhu cầu của từng khách hàng .  
Các thách thức bao gồm: (1) yêu cầu thay đổi lớn về cách thức sản xuất, xây dựng hệ thống  
cơ sở vật chất kỹ thuậtphù hợp với cách mạng 4.0 có thể là thách thức vô cùng lớn với các  
DN CNHT với quy mô nhỏ và vừa; (2) Lợi thế về lao động giá rẻ giảm, sự cắt giảm nhanh về  
nhu cầu lao động có thể ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN CNHT tại các  
quốc gia đang phát triển; (3) nguy cơ phá hủy đáng kể những chuỗi giá trị công nghiệp hiện  
có xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện những đối thủ cạnh tranh sáng tạo, nhanh nhạy nhờ  
tiếp cận với các nền tảng kỹ thuật số toàn cầu cho nghiên cứu, triển khai tiếp thị, bán hàng và  
phân phối, có thể lật đổ những người đương nhiệm nhanh hơn bao giờ hết; và (4) những thách  
thức từ việc bảo mật thông tin.  
Mặt khác, sự phát triển của ngành CNHT có thể tạo ra những nền tảng tốt, động lực để  
chuyển tiếp sang thời kỳ CMCN 4.0 một cách nhanh chóng và thuận lợi hơn. Ngược lại, một  
ngành CNHT trong nước kém phát triển sẽ gây ra sự kém tương thích với các hệ thống sản  
xuất tiên tiến trên thế giới, dẫn đến việc khó theo được xu hướng của cuộc CMCN mới và gia  
tăng sự bất bình đẳng, khoảng cách cạnh tranh giữa các quốc gia trên thế giới.  
2.2. Khái quát về thực trạng phát triển ngành CNHT và chính sách khoa học  
công nghệ cho phát triển CNHT tại Việt Nam  
Khái quát về thực trạng phát triển CNHT Việt Nam  
Sau 30 năm đổi mới, lĩnh vực công nghiệp và xây dựng đóng góp khoảng 33,21%  
trong tổng sản phẩm trong nước (GDP), tốc độ tăng trưởng từ năm 2005 đến nay luôn cao hơn  
tăng trưởng GDP. Tuy vậy, các ngành công nghiệp chế tạo Việt Nam sản xuất chủ yếu dựa  
trên nguồn đầu vào nhập khẩu. Nguyên nhân chính là sự yếu kém của các ngành CNHT.  
Những năm gần đây, CNHT đã trở thành vấn đề trọng tâm, được chính phủ Việt Nam quan  
tâm phát triển với nhiều chuyển biến trong nhận thức và chính sách. Dù vậy, nhìn chung,  
CNHT mới chỉ đáp ứng ở mức thấp nhu cầu tối đa sản xuất tại nội địa.  
Về số lượng doanh nghiệp:  
Ước tính đến hết năm 2016, có khoảng 1800 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực  
sản xuất linh kiện, phụ tùng, tăng trưởng bình quân về số lượng doanh nghiệp giai đoạn 2012  
– 2016 đạt 10%/ năm. Trong đó, sản xuất linh kiện phụ tùng kim loại phát triển nhất với 770  
doanh nghiệp, chiếm 42,8%. Sản xuất linh kiện điện – điện tử có 610 doanh nghiệp, phát triển  
rất nhanh, chủ yếu tập trung chủ yếu ở khu vực FDI. Sản xuất linh kiện nhựa – cao su có 420  
doanh nghiệp. Sản xuất linh kiện và phụ tùng cũng thu hút trên 242 nghìn lao động, tập trung  
chủ yếu ở khu vực sản xuất linh kiện kim loại và sản xuất linh kiện điện – điện tử.  
Tuy nhiên, nếu so sánh giữa số lượng doanh nghiệp sản xuất linh kiện phụ tùng và với  
số lượng doanh nghiệp trong ngành công nghiệp chính, có thể thấy một sự chênh lệch bất hợp  
lý. Năm 2015, tổng số doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là 67490, trong khi  
đó, số lượng doanh nghiệp sản xuất linh kiện, phụ tùng là khoảng 1800 doanh nghiệp (số liệu  
năm 2016), chiếm 2,67% là một tỷ lệ quá thấp và thể hiện một ngành công nghiệp hỗ trợ kém  
phát triển, do đó, ảnh hưởng xấu đến sự tăng năng suất, hiệu quả cho ngành CN chế biến chế  
tạo nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung.  
HÌNH 2.2. SỐ LƢỢNG DN VÀ LĐ LĨNH VỰC LINH KIỆN PHỤ TÙNG NĂM  
2016  
Nguồn: Niêm giám thống kê về CNHT các ngành chế tạo Việt Nam, 2017-2018  
358  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Về quy mô DN, đa số doanh nghiệp tham gia sản xuất CNHT thuộc đối tượng doanh  
nghiệp nhỏ và vừa dưới 300 lao động. Đặc trưng của nhóm doanh nghiệp này là họ rất năng  
động và linh hoạt trong biến động thị trường, đây là điểm mạnh cần phát huy trong bối cảnh  
hội nhập, cạnh tranh ngày càng gay gắt. Bên cạnh đó, đây là nhóm doanh nghiệp bị nhiều hạn  
chế bởi vốn, công nghệ, chất lượng nguồn lực, ... gây ra những khó khăn trong việc thúc đẩy  
phát triển ngành CNHT trong nước cũng như nâng cao năng suất, hiệu quả trong ngành.  
Về công nghệ, các doanh nghiệp chủ yếu sử dụng công nghệ, máy móc của Nhật Bản,  
Đài Loan (Trung Quốc), Trung Quốc, EU và một số máy móc được chế tạo hoặc được nâng  
cấp trong nước. Các tiêu chuẩn, công cụ quản lý tiên tiến cũng đã được các doanh nghiệp  
quan tâm và ứng dụng. Tiêu chuẩn quản lý chất lượng ISO 9000, ISO 9001, các công cụ quản  
lý 5S, Kaizen được khá nhiều doanh nghiệp áp dụng. Đây cũng là một yêu cầu quan trọng khi  
doanh nghiệp muốn cung cấp linh kiện cho doanh nghiệp FDI trong nội địa. Khi xây dựng và  
áp dụng các tiêu chuẩn, công cụ quản lý, doanh nghiệp đã nhận được sự hỗ trợ tích cực từ  
phía các khách hàng FDI, các tổ chức trong và ngoài nước. Tuy nhiên, về cơ bản, nhìn chung  
công nghệ trong sản xuất CNHT của Việt Nam còn lạc hậu, do vấn đề thiếu vốn, chất lượng  
nhân lực thấp, chúng ta khó có thể tiếp cận nhanh với công nghệ sản xuất hiện đại. Hầu hết  
doanh nghiệp CNHT lại là doanh nghiệp nhỏ và vừa nên quá trình đổi mới công nghệ càng  
kéo dài, mất nhiều thời gian hơn, điều này cũng khiến năng suất, hiệu quả của ngành khó tăng  
nhanh trong thời gian qua.  
Về tình hình nội địa hóa: Sản phẩm chính của lĩnh vực sản xuất linh kiện, phụ tùng là  
các loại linh kiện, phụ tùng phục vụ cho các ngành công nghiệp hạ nguồn trong nước như xe  
máy, ô tô, máy nông nghiệp, máy động lực, công nghiệp điện tử... Hiện mức độ đáp ứng nhu  
cầu sản xuất trong nước còn rất hạn chế. Các sản phẩm doanh nghiệp nội địa sản xuất có chất  
lượng thấp, giá thành cao (công nghệ lạc hậu, chậm đổi mới (do hạn chế nguồn lực, qui trình  
sản xuất kém…) nên chỉ tiêu thụ được trong nội bộ các doanh nghiệp nội địa. Thêm vào đó,  
trong số các ngành sản xuất, ngoại trừ xe máy đang là ngành có tỷ lệ % cung ứng trong nước  
cao, các ngành còn lại có tỷ lệ % cung ứng trong nước tương đối thấp, đặc biệt là ngành công  
nghiệp công nghệ cao (tỷ lệ % cung ứng trong nước chỉ đạt 10%). Xét về tỷ lệ sử dụng linh  
kiện điện – điện tử nội địa của các nhà lắp ráp ở Việt Nam, nhìn chung là thấp, trong đó điện  
tử gia dụng và ô tô – xe máy chiếm % tỷ lệ cung ứng trong nước cao nhất là 30 – 40%, thấp  
nhất là ngành điện tử chuyên dụng và công nghiệp công nghệ cao (chỉ chiếm 5%).  
BẢNG 2.1. NĂNG LỰC CUNG ỨNG CỦA LĨNH VỰC SX LINH KIỆN,  
PHỤ TÙNG  
Lĩnh vực hạ nguồn  
Khả năng cung ứng trong nước (%)  
Linh kiện cơ  
Linh kiện điện –  
điện tử  
Linh kiện nhựa  
– cao su  
85 – 95%  
khí  
Xe máy  
Ô tô  
85 – 95%  
85 – 90%  
15 – 40%  
30 – 45%  
50 – 60%  
50%  
15%  
20%  
-
Sản xuất thiết bị đồng bộ  
40%  
Sản xuất máy nông nghiệp, máy động lực  
Điện tử gia dụng  
-
-
30 – 35%  
15%  
40%  
15%  
5%  
Điện tử tin học, viễn thông  
Công nghiệp công nghệ cao  
30%  
10%  
5%  
Nguồn: SIDEC, 2015  
359  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Về tình hình liên kết trong ngành CNHT: quá trình liên kết sản xuất giữa các DN bắt  
đầu được manh nha hình thành thông qua sự hình thành một số khu, cụm liên kết. Ngày  
27/4/2009, KCN hỗ trợ số 1 của Việt Nam tại Bắc Ninh đã được khởi công xây dựng với sự  
giúp đỡ của Nhật Bản được coi là một bước quan trọng trong quá trình phát triển CNHT của  
Việt Nam. Năm 2012, Công ty Cổ phần Đầu tư - Phát triển N&G (N&G Corp) và Shimizu  
Corp của Nhật Bản đã ký kết thỏa thuận về việc hợp tác xây dựng và phát triển khu công  
nghiệp hỗ trợ đầu tiên ở Hà Nội, với tổng số vốn đầu tư dự kiến lên tới gần 1 tỷ USD. Dự án  
bắt đầu khởi công vào cuối năm 2012, có quy mô quy hoạch là 600 ha, định hướng mở rộng  
lên 2.000 ha tại xã Đại Xuyên, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Đây là những bước đi đầu tiên  
thể hiện nỗ lực của Chính phủ và DN trong việc thúc đẩy sự hình thành các chuỗi cung ứng,  
cụm liên kết ngành để phát triển CNHT. Tuy nhiên, hoạt động tại các khu CN này vẫn đang  
trong giai đoạn triển khai, chưa thu hút được đông đảo sự quan tâm của các nhà đầu tư và  
doanh nghiệp CNHT trong nước.  
Nhìn chung, sự liên kết kinh doanh, sản xuất giữa các doanh nghiệp là rất yếu là một  
trong những nguyên nhân căn bản dẫn đến sự kém phát triển của ngành CNHT trong nước.  
Thậm chí, nhiều doanh nghiệp còn cạnh tranh không lành mạnh, thiếu sự phối hợp giữa nhà  
sản xuất chính với các nhà thầu phụ, cũng như giữa các nhà thầu phụ với nhau, hay giữa các  
doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước. Các doanh nghiệp vẫn chủ yếu là mạnh ai  
nấy làm, dẫn đến không thúc đẩy được chuyên môn hóa sâu, hợp tác rộng để đem lại hiệu quả  
cao nhất. Thêm vào đó, các cụm công nghiệp được hình thành ít, thiếu quy hoạch tổng thể,  
thường là chú trọng giải quyết về mặt bằng sản xuất hơn là tạo nên chuỗi giá trị thông qua liên  
kết giữa các doanh nghiệp . (CIEM, 2009). Tóm lại, trong hơn 10 năm hình thành và phát  
triển, công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam đang trong tình trạng kém phát triển, sản xuất CNHT  
mới trong giai đoạn đầu, số lượng doanh nghiệp ít và chất lượng sản phẩm thấp. Nhiều loại  
chi tiết của sản phẩm tưởng chừng đơn giản như cúc áo, đinh vít, giắc cắm điện thoại v.v  
nhưng các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa sản xuất được mà chủ yếu phải nhập khẩu từ  
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều này sẽ đặt ra nhiều thách thức lớn cho  
CNHT Việt nam khi mà cuộc CMCN 4.0 đang đến gần. Phần tiếp theo, bài viết sẽ đi vào xem  
xét các chính sách phát triển CNHT Việt Nam hiện nay gắn với xu hướng của CMCN 4.0 để  
nhận thức rõ những ưu điểm và hạn chế trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách.  
Chính sách khoa học công nghệ phát triển ngành CNHT tại Việt Nam hiện nay  
Năm 2015, sau nhiều năm lấy ý kiến từ các doanh nghiệp, chuyên gia, các nhà quản  
lý, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 111 Về Phát triển Công nghiệp hỗ trợ nhằm quy định  
các chính sách hỗ trợ, chính sách ưu đãi nhằm phát triển CNHT.  
Các chính sách hỗ trợ phát triển CNHT bao gồm: (1) Nghiên cứu và phát triển; (2)  
Ứng dụng và chuyển giao; (3) Phát triển nguồn nhân lực; (4) Hợp tác quốc tế; (5) Hỗ trợ phát  
triển thị trường và đặc biệt, điểm mới trong các Chính sách hỗ trợ phát triển CNHT là: (1)  
Thành lập Trung tâm phát triển CNHT và (2) Chương trình phát triển CNHT. Tuy nhiên, hiện  
cả hai vẫn chưa sẵn sàng hoạt động.Về Chính sách ưu đãi: bao gồm các chính sách ưu đãi về  
thuế cụ thể là thu nhập doanh nghiệp, thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng và chính sách tín  
dụng.  
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định một số chính sách ưu đãi cho doanh nghiệp vừa và  
nhỏ hoạt động trong lĩnh vực sản xuất CNHT bao gồm ưu đãi vay vốn đầu tư, miễn giảm tiền  
thuê đất, thuê mặt nước và các chính sách ưu đãi theo quy định của Luật Đầu tư.  
Như vậy, nhóm chính sách liên quan đến hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ cho  
ngành CNHT thuộc nhóm các chính sách hỗ trợ phát triển CNHT theo nghị định 111.  
Theo đó, theo điều 4, chương II của Nghị định quy định về hoạt động Nghiên cứu và  
phát triển, các tổ chức, cá nhân nghiên cứu và phát triển sản xuất sản phẩm CNHT sẽ được tài  
trợ từ Chương trình phát triển CNHT và từ các Quỹ, nguồn kinh phí khác dành cho nghiên  
cứu, phát triển và đào tạo; được xem xét hỗ trợ một phần kinh phí nghiên cứu và phát triển  
đối với trường hợp đầu tư nghiên cứu và phát triển công nghệ có kết quả ứng dụng mang lại  
360  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
hiệu quả cao; Nhà nước hỗ trợ tối đa đến 50% kinh phí với Dự án sản xuất thử nghiệm các sản  
phẩm CNHT. Còn đối với dự án xây dựng cơ sở nghiên cứu và phát triển sản xuất sản phẩm  
CNHT được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, hỗ trợ tối đa 50% kinh phí đầu tư trang thiết bị.  
Điều 5, chương II của Nghị định cũng nêu rõ, hoạt động ứng dụng và chuyển giao  
công nghệ để sản xuất sản phẩm CNHT được hỗ trợ chi phí chế tạo thử nghiệm sản phẩm  
CNHT tối đa đến 50%. Thêm vào đó, Nhà nước hỗ trợ tối đa đến 75% chi phí chuyển giao  
công nghệ đối với dự án sản xuất vật liệu có sử dụng trên 85% nguyên liệu là sản phẩm của  
quá trình chế biến sâu khoáng sản trong nước để phục vụ cho sản xuất sản phẩm CNHT.  
Ngoài ra, các chính sách hỗ trợ còn lại của Nghị định bao gồm phát triển nguồn nhân  
lực; hợp tác quốc tế trong thu hút đầu tư, tạo mối liên kết, chuyển giao công nghệ, phát triển  
nguồn nhân lực; hỗ trợ phát triển thị trường; … cũng có ý nghĩa nhất định trong việc nâng cao  
trình độ khoa học công nghệ trong lĩnh vực sản xuất CNHT.  
Quyết định 68/QĐ-TTg về Chương trình phát triển CNHT giai đoạn 2016 – 2025 cũng  
xác định mục tiêu dự kiến hỗ trợ khoảng 1000 doanh nghiệp có chức năng nghiên cứu và áp  
dụng thành công 500 doanh nghiệp được ứng dụng, đổi mới công nghệ, sản xuất thực nghiệm,  
tiếp nhận chuyển giao công nghệ tham gia Chương trình, với các hoạt động chủ yếu là giới  
thiệu, phổ biến một số quy trình công nghệ sản xuất, yêu cầu kỹ thuật, tiêu chuẩn kỹ thuật; kết  
nối chuyên gia; hỗ trợ nghiên cứu ứng dụng, sản xuất thử nghiệm, chuyển giao công nghệ; hỗ  
trợ mua trang thiết bị chính cho các phòng thử nghiệm; …  
Ngoài các chính sách liên quan trực tiếp đến phát triển Khoa học công nghệ cho đối  
tượng sản xuất CNHT, để khuyến khích các doanh nghiệp đổi mới và cải tiến công nghệ,  
Chính phủ cũng đã ban hành một loạt các chính sách như: Nghị định số 80/2010/NĐ-CP Quy  
định về hợp tác, đầu tư với nước ngoài trong lĩnh vực khoa học và công nghệ; Quyết định  
432/QĐ-TTg Phê duyệt Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020;  
Nghị định số 45/2012/NĐ-CP về khuyến công; Quyết định 2075/QĐ-TTg của Thủ tướng  
chính phủ phê duyệt chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020;  
Quyết định số 677/QĐ-TTg về việc phê duyệt Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến  
năm 2020; Thông tư 09/2013/TT-BKHCN hướng dẫn quản lý Chương trình đổi mới công  
nghệ quốc gia đến 2020; Thông tư 04/2013/TT-BKHCN hướng dẫn tiêu chí đánh giá đề tài,  
dự án thuộc Chương trình đổi mới công nghệ quốc gia đến năm 2020; Quyết định 712/QĐ-  
TTg về việc phê duyệt chương trình quốc gia “Nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm,  
hàng hóa của doanh nghiệp Việt Nam đến năm 2020”; …  
Năm 2003, chính phủ ban hành Nghị định số 122/2003/NĐ-CP về việc thành lập Quỹ  
phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) có chức năng tài trợ, cho vay để  
thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ do tổ chức, cá nhân đề xuất. Theo đó, Thông tư  
liên tịch 129/2007/TTLT BKHCN-BTC của Bộ Khoa học Công nghệ và Bộ Tài chính;  
Quyết định 28/2011/QĐ-HĐQLQ của Hội đồng quản lý Quỹ quy định cụ thể hơn việc thực  
hiện quỹ này với các mức cho vay lãi suất 0% đối với các dự án ứng dụng kết quả nghiên  
cứu khoa học công nghệ được tạo ra trong nước và cho vay với lãi suất thấp các dự án đổi  
mới, chuyển giao công nghệ. Mức cho vay tối đa là 70% tổng mức đầu tư của dự án nhưng  
không quá 10 tỷ đồng với thời hạn cho vay không quá 3 năm.  
Bên cạnh đó, năm 2011, Quỹ đổi mới công nghệ Quốc gia (NATIF) đã được thành lập  
theo Quyết định số 1342/QĐ-TTg, quy chế hoạt động của Quỹ được phê duyệt vào năm 2013  
theo quyết định số 1051/QĐ-TTg và quỹ được ra mắt vào tháng 1/2015. Theo nghiên cứu của  
Viện Nghiên cứu Mitsubishi và Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế trung ương (2015), trong  
năm 2015, NATIF tập trung chủ yếu vào các khoản tài trợ cho nghiên cứu, bao gồm cung cấp  
hỗ trợ tài chính cho Nghiên cứu và Phát triển, chuyển giao công nghệ, ươm mầm cho các  
doanh nghiệp khoa học và công nghệ, áp dụng công nghệ trong nông nghiệp và đào tạo. Mục  
tiêu chủ yếu của quỹ này là hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động đổi  
mới công nghệ, thương mại hóa các kết quả nghiên cứu và phát triển công nghệ.  
361  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
2.3. Đánh giá các tác động  
Như vậy, thông qua những phân tích ở trên, có thể thấy rằng, ngành CNHT Việt Nam  
hiện mới chỉ ở giai đoạn bắt đầu hình thành, số lượng doanh nghiệp sản xuất linh phụ kiện ít  
và mất cân đối lớn với số lượng doanh nghiệp lắp ráp, chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng  
được nhu cầu của nhà lắp ráp, các tập đoàn đa quốc gia. Vì vậy, trong bối cảnh cách mạng  
công nghiệp 4.0, các doanh nghiệp sản xuất CNHT sẽ chịu một số các tác động như sau:  
Các tác đ ng đến sự phát triển của ngành CNHT  
Về tác động tích cực:  
Thứ nhất, khả năng thu hút vốn FDI, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng chất  
lượng cao từ để phát triển ngành CNHT trong nước. Cùng với sự phát triển nhanh chóng về  
công nghệ, sự thay đổi về phương thức sản xuất, hợp tác, kết nối trong sản xuất và kinh doanh  
theo xu hướng CMCN 4.0, các DN CNHT của Việt Nam có thể tận dụng để tiếp cận với các  
tiến bộ công nghệ tiên tiến trên thế giới một cách nhanh chóng, cũng như tăng cường khả  
năng tìm kiếm và thu hút các nguồn vốn đầu tư, nhân lực chất lượng cao, … nhờ có hệ thống  
mạng kết nối toàn cầu.  
Thứ hai, CMCN 4.0 có khả năng thúc đẩy sự liên kết trên quy mô rộng lớn hơn, từ đó,  
tăng cường khả năng tham gia vào chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng với các nền kinh tế lớn trên  
thế giới và các quốc gia có CNHT phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, …  
Thứ ba, khả năng tăng năng suất, hiệu quả sản xuất của ngành CNHT nhờ việc đổi  
mới về quy trình sản xuất, cơ cấu lại tổ chức, … tại các doanh nghiệp sản xuất CNHT để phù  
hợp với xu thế của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.  
Thứ tư, các lực đẩy từ việc hoàn thiện chính sách, môi trường đầu tư, việc áp dụng các  
quy định về an toàn lao động, … sẽ thúc đẩy việc nâng cao sức cạnh tranh cho doanh nghiệp  
và sản phẩm CNHT.  
Thứ năm, cùng với sự phát triển của CMCN 4.0, ngành CNHT Việt Nam sẽ tăng khả  
năng đáp ứng nhu cầu của các đối tượng khách hàng.  
Về tác động tiêu cực:  
Thứ nhất, yêu cầu thay đổi lớn về cách thức sản xuất, xây dựng hệ thống cơ sở vật  
chất kỹ thuật phù hợp với cách mạng 4.0 có thể là thách thức vô cùng lớn với các DN CNHT  
Việt Nam hiện nay. Do phần lớn các DN sản xuất CNHT tại Việt Nam hiện nay là doanh  
nghiệp nhỏ và vừa, thiếu cả về vốn, công nghệ, cũng như các kỹ năng quản lý và điều hành  
sản xuất, … vì vậy, yêu cầu thay đổi về cách thức sản xuất và xây dựng hệ thống cơ sở hạ  
tầng, cơ sở dữ liệu để đáp ứng với xu hướng 4.0 sẽ tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất,  
kinh doanh của DN CNHT trong tương lai, nhiều DN có thể đứng trước nguy cơ phá sản nếu  
không có sự đổi mới phù hợp.  
Thứ hai, Lợi thế về lao động giá rẻ giảm, sự cắt giảm nhanh về nhu cầu lao động sẽ  
ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN CNHT tại Việt Nam.  
Thứ ba, sự cạnh tranh sẽ ngày càng gay gắt hơn, trên phạm vi toàn cầu cùng với nguy  
cơ phá hủy đáng kể những chuỗi giá trị công nghiệp hiện có do sự xuất hiện những đối thủ  
cạnh tranh sáng tạo, nhanh nhạy nhờ tiếp cận với các nền tảng kỹ thuật số toàn cầu cho nghiên  
cứu, triển khai tiếp thị, bán hàng và phân phối,  
Thứ tư, những thách thức từ việc bảo mật thông tin. Do hệ thống cơ sở hạ tầng công  
nghệ thông tin của Việt Nam còn nhiều hạn chế, vì vậy, cùng với việc tăng cường áp dụng  
công nghệ thông tin và hệ thống mạng internet vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, … có  
thể dẫn đến nhiều rủi ro của việc bị đánh cắp thông tin, đặc biệt là rò rỉ các thông tin tuyệt mật  
về hoạt động sản xuất của các DN CNHT.  
Đánh giá về hệ thống chính sách khoa học công nghệ phát triển Công nghiệp hỗ  
trợ trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0  
362  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Thứ nhất, về thành tựu, có thể thấy rằng hiện nay chúng ta đã có một hệ thống các  
văn bản chính sách khoa học công nghệ liên quan đến phát triển CNHT với nhiều các chính  
sách ưu đãi cho các doanh nghiệp, dự án sản xuất sản phẩm CNHT.  
Thứ hai, về hạn chế, hiện các chính sách khoa học công nghệ cho phát triển CNHT  
hiện vẫn chưa bám sát với bối cảnh mới của cuộc CMCN 4.0, chính sách phát triển sản xuất  
và đổi mới công nghệ ngành CNHT chưa được gắn với quá trình ứng dụng, đổi mới về công  
nghệ thông tin, ứng dụng hệ thống mạng internet vào quản lý và liên kết sản xuất. Thêm vào  
đó, bản thân hệ thống chính sách hiện hành vẫn còn rất nhiều hạn chế, cụ thể là:  
Một là, chính sách về khoa học công nghệ chưa đủ sức tạo ra hấp dẫn đối với các  
doanh nghiệp trong đầu tư, đổi mới công nghệ hiện đại trong sản xuất, DN sản xuất CNHT  
muốn đổi mới công nghệ phần lớn phải tự bỏ vốn hoặc tự tìm kiếm sự hỗ trợ từ bên ngoài,  
dẫn đến quá trình đổi mới, hiện đại hóa công nghệ diễn ra rất chậm tại các DN CNHT.  
Hai là, thiếu các văn bản, thông tư hướng dẫn tiếp cận các chính sách hỗ trợ về khoa  
học công nghệ cho DN và dự án sản xuất CNHT. Hiện các thông tư hướng dẫn mới chỉ dừng  
lại ở các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, thiếu hẳn các thông tư hướng dẫn cụ thể để DN  
tiếp cận các chính sách hỗ trợ về KHCN, gây ra nhiều cản trở trong quá trình tiếp cận chính  
sách của DN.  
Ba là, trong nội dung các chính sách hỗ trợ công nghệ, chúng ta vẫn thiếu mảng tư  
vấn, hỗ trợ cho doanh nghiệp để phát triển công nghệ, cụ thể như: hỗ trợ về thử nghiệm sản  
phẩm, đào tạo, tư vấn để nắm bắt về công nghệ mới; thiếu các chính sách tăng cường liên kết,  
kết nối với các tập đoàn đa quốc gia, xuyên quốc gia nhằm nắm bắt đúng xu thế công nghệ  
mới và các định hướng công nghệ sản xuất tại các tập đoàn, tổng công ty này; các trung tâm,  
hiệp hội hỗ trợ cho doanh nghiệp gần như không có đội ngũ nhân sự hiểu biết về công nghệ,  
thiếu máy móc thiết bị để kiểm định sản phẩm cho doanh nghiệp, … (Theo Báo cáo kết quả  
nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Mitsubishi, Nhật Bản, 2016)  
Mặt khác, các chính sách liên quan đến hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực  
trong phát triển CNHT hầu như chưa được quan tâm thực hiện; chính sách hợp tác quốc tế  
trong chuyển giao công nghệ hầu như không được quan tâm triển khai, chủ yếu là DN CNHT  
tự mò mẫm, là nguyên nhân quan trọng dẫn đến DN khó có thể đẩy nhanh quá trình đổi mới  
về công nghệ phù hợp với xu hướng sản xuất hiện đại trên thế giới, cũng như cuộc cách mạng  
CN 4.0.  
3. KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ ĐỀ XUẤT HOÀN THIỆN CHÍNH SÁCH KHOA  
HỌC CÔNG NGHỆ CHO PHÁT TRIỂN CNHT TRONG BỐI CẢNH CMCN 4.0  
Tóm lại, trong những năm vừa qua, ngành CNHT của Việt Nam nhìn chung vẫn đang  
trong tình trạng bắt đầu hình thành, kém phát triển, các chính sách về khoa học công nghệ cho  
ngành CNHT vẫn chưa phát huy được tác dụng và hiệu quả, dẫn đến những thách thức cho  
ngành CNHT Việt Nam trong bối cảnh của cách mạng công nghiệp 4.0. Để tận dụng các cơ  
hội, khắc phục những tác động tiêu cực từ cách mạng CN 4.0, cũng như các hạn chế trong quá  
trình xây dựng, thực thi các chính sách về khoa học công nghệ cho phát triển CNHT, theo tác  
giả, trước mắt cần tập trung vào một số giải pháp như sau:  
Thứ nhất, tăng cường khả năng thực thi các chính sách hỗ trợ về khoa học công nghệ  
cho doanh nghiệp sản xuất CNHT thông qua việc nhanh chóng ban hành các chính sách,  
thông tư hướng dẫn chi tiết hơn nhằm cụ thể hóa các chính sách hỗ trợ về phát triển khoa học  
công nghệ cho DN CNHT. Thông qua hoạt động của các Trung tâm hỗ trợ, Hiệp hội DN  
CNHT để đưa chính sách gần hơn với DN sản xuất CNHT bằng các biện pháp trao đổi thông  
tin, hỗ trợ, tư vấn các điều kiện cần thiết để doanh nghiệp có thể tiếp cận chính sách.  
Thứ hai, nhanh chóng hoàn thiện, bổ sung nội dung chính sách phát triển khoa học  
công nghệ cho ngành CNHT gắn với xu thế của cuộc CMCN lần thứ tư. Trong đó, đặc biệt  
liên quan đến các chính sách khuyến khích phát triển công nghệ gắn với phát triển hệ thống  
công nghệ thông tin, ứng dụng mạng internet trong quản lý sản xuất, kinh doanh, tìm kiếm  
363  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
khách hàng,… Ngoài ra, nội dung chính sách khoa học công nghệ cho ngành CNHT cũng cần  
bổ sung, hoàn thiện các chính sách tăng cường hợp tác quốc tế để phát triển khoa học công  
nghệ ngành CNHT trong bối cảnh CMCN 4.0, thúc đẩy sự liên kết, trao đổi thông tin về công  
nghệ giữa các tập đoàn đa quốc gia, xuyên quốc gia với các DN sản xuất CNHT trong nước.  
Thứ ba, tạo điều kiện để tiếp nhận các chuyên gia đến từ các nước có ngành CNHT  
phát triển như Hàn Quốc, Nhật Bản, … nhằm cung cấp các dịch vụ hướng dẫn về công nghệ,  
hướng dẫn về tiếp cận công nghệ mới, cũng như đào tạo, nâng cao trình độ về công nghệ cho  
đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp. Trong dài hạn, các trung tâm hỗ trợ, Hiệp hội cần nâng cấp về  
cơ sở vật chất cũng như trình độ chuyên môn để cung cấp các dịch vụ như kiểm định chất  
lượng sản phẩm CNHT cho doanh nghiệp, hỗ trợ xây dựng, hiện đại hóa công nghệ sản xuất,  
là cầu nối để thu hút đầu tư vào công nghệ cho các doanh nghiệp CNHT trong nước.  
Thứ tƣ, chú trọng phát triển nguồn nhân lực cho ngành CNHT. Trước mắt, tập trung  
vào một số sản phẩm linh phụ kiện cơ bản trong sản xuất CNHT như sản phẩm khuôn đúc,  
linh kiện điện tử, linh phụ kiện nhựa, kim loại; tập trung vào sản xuất sản phẩm CNHT cho  
một số ngành công nghiệp đang có tốc độ tăng trưởng khá, đóng góp lớn vào GDP Việt Nam  
trong những năm gần đây, như ngành điện tử, ô tô, xe máy. Một mặt, cần có chính sách thu  
hút đội ngũ chuyên gia, ví dụ như Nhật Bản … hỗ trợ Việt Nam trong xây dựng ngành  
CNHT; mặt khác, chính sách cần tập trung hơn nữa trong đào tạo, phát triển nguồn nhân lực  
công nghiệp trong nước để tạo ra lực lượng nòng cốt cho phát triển CNHT, đáp ứng yêu cầu  
cung ứng cho các nhà lắp ráp trong nước và tham gia vào tiến trình CMCN 4.0. Việc đào tạo,  
nâng cao chất lượng nhân lực ngành Công nghiệp có thể được thực hiện thông qua hợp tác,  
liên kết với các tập đoàn lớn, đa quốc gia như Samsung; cần nâng cao hơn nữa tính liên kết  
giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp sản xuất, giữa doanh nghiệp sản xuất CNHT trong nước  
và các doanh nghiệp ngoài nước, đặc biệt là Nhật Bản, Hàn Quốc, …  
Thứ n m, chú trọng tới các chính sách thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư trực tiếp nước  
ngoài. Theo phân tích thực trạng phát triển của ngành CNHT Việt Nam, hiện số lượng các  
doanh nghiệp sản xuất CNHT còn rất ít, và phần lớn tập trung vào đối tượng các doanh  
nghiệp vừa và nhỏ. Đây là nhóm doanh nghiệp có tiềm lực vốn thấp, quy mô nhỏ, trình độ  
nhân lực không cao, do đó, khó có thể đầu tư vào công nghệ hiện đại và đổi mới phương thức  
sản xuất theo xu hướng CMCN 4.0. Vì vậy, trong giai đoạn đầu phát triển, ngành CNHT Việt  
Nam rất cần các nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển công nghệ, tạo ra mối  
liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm CNHT. Để thu hút các dự án FDI vào sản xuất  
công nghiệp hỗ trợ, cần có các ưu đãi thích hợp đủ sức hấp dẫn, trong đó đặc biệt các tập đoàn  
đa quốc gia có vị thế là nhà cung cấp toàn cầu linh kiện và vật liệu. Đối với các doanh nghiệp  
FDI có qui mô vừa trở lên,thường có nguồn lực tương đối mạnh, vì vậy, một trong những ưu  
đãi mà họ quan tâm nhất khi đầu tư vào Việt Nam là ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp. Bên  
cạnh đó, các doanh nghiệp CNHT vừa và nhỏ của Nhật Bản có trình độ công nghệ và sản xuất  
rất cao cũng là đối tượng cần phải hướng tới để thu hút. Các doanh nghiệp này có qui mô vừa  
và nhỏ, họ cần có sự hỗ trợ và sẵn sàng về mặt hạ tầng như mặt bằng, hệ thống nhà xưởng,  
thủ tục hành chính...trong các cụm công nghiệp hỗ trợ.  
364  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1, Hoàng Văn Châu, chủ nhiệm đề tài (2010), Chính sách phát triển công nghiệp hỗ  
trợ ở Việt Nam đến năm 2020, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Nhà nước, trường ĐH Ngoại  
Thương Hà Nội, Hà Nội.  
2, Chính phủ (2015), Nghị định số 111/2015/NĐ-CP Về phát triển CNHT.  
3, Cục Thông tin KH&CN Quốc gia (2016), Tổng luận “Cuộc cách mạng công nghiệp  
lần  
thứ  
4”,  
truy  
cập  
ngày  
12/8/2017  
tại  
trang  
web:  
4, Klaus Schwab (2016), Cuộc cách mạng công nghiệp Lần thứ tư.  
5, Mitsubishi Research Institute & Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung Ương  
(2016), Enhancement of Vietnamese Supporting Industries, Báo cáo nghiên cứu, Hà Nội, Việt  
Nam.  
6, Thủ tướng Chính phủ (2017), Quyết định Số: 68/QĐ-TTg về việc phê duyệt  
Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ từ năm 2016 đến năm 2025.  
7, Trung tâm Phát triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ (2015), Niên giám về Công  
nghiệp hỗ trợ các ngành chế tạo Việt Nam 2014 – 2015, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính  
sách Công nghiệp, Bộ Công thương.  
8, Trung tâm thông tin và dự báo kinh tế - xã hội quốc gia, Bộ Kế hoạch và Đầu tư  
(2016), Tác động của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tới Việt Nam, truy cập ngày  
THE SCIENCE AND TECHNOLOGY POLICY FOR DEVELOPING THE  
SUPPORTING INDUSTRY IN VIET NAM IN THE CONTEXT OF THE  
INDUSTRIAL REVOLUTION  
Abstract:  
In recent years, the development of the supporting industry has been paid great  
attention by the State and enterprises in Vietnam, especially with the introduction of Decree  
111 on Development SI, many support policies and incentives have been specified relatively  
specific to create the best conditions for production and business activities of SI. In the new  
context of the industrial revolution 4.0 (CMCN 4.0) is being formed around the world, the  
science and technology development policy for SI will need to be improved and further  
improved performance. The content of the article will go from the contextual perspective of  
the fourth CMC, reviewing, assessing the impact of this revolution on the development of the  
SI industry in Vietnam, from which, study and evaluate the Science and technology policy for  
the development of SI in this new context. The final section of the paper will provide some  
suggestions for finalizing science and technology policy for SI in line with the context of  
CMCN 4.0.  
Keywords: supporting industry, the science technology policy, industrial  
revolution 4.0  
365  
pdf 11 trang Thùy Anh 14420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chính sách phát triển khoa học công nghệ cho ngành công nghiệp hỗ trợ trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchinh_sach_phat_trien_khoa_hoc_cong_nghe_cho_nganh_cong_nghi.pdf