Giáo trình Quản trị kinh kinh doanh - Bài 5: Giao tiếp trong quản trị kinh doanh

Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
BÀI 5: GIAO TIẾP TRONG QUẢN TRỊ KINH DOANH  
Nội dung  
Khái niệm, bản chất và ý nghĩa của giao tiếp.  
Cấu trúc, công cụ và phong cách giao tiếp.  
Một số yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến quá  
trình giao tiếp.  
Nghệ thuật giao tiếp ứng xử trong  
kinh doanh.  
Các loại giao tiếp chủ yếu trong kinh doanh.  
Hướng dẫn học  
Mục tiêu  
Học xong bài này học viên sẽ:  
Nắm được đối tượng và các phương  
pháp nghiên cứu môn học cơ bản.  
Nắm được khái niệm, bản chất và mục  
đích của giao tiếp.  
Nắm được các kiến thức cơ bản về tâm  
lý học.  
Nắm được nội dung và vận dụng các  
công cụ giao tiếp.  
Nội dung và ứng dụng của các học  
thuyết tâm lý quản trị.  
Nắm được nội dung và vận dụng có sáng  
tạo các bài học kinh nghiệm về ứng xử  
trong giao tiếp kinh doanh.  
Thời lượng học  
6 tiết  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
107  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
TÌNH HUỐNG KHỞI ĐỘNG BÀI  
Thuyết phục nhân viên  
Công ty thương mại kinh doanh hàng lưu niệm nhập khẩu từ Hàn Quốc dự định mở cửa hàng  
tại phố mua sắm chợ đêm Hàng Ngang-Hàng Đào (Hà Nội). Giám đốc quyết định sẽ chọn cửa  
hàng trưởng có 2 tiêu chuẩn cơ bản: Có chuyên môn vững và có năng lực quản lý. Anh Hùng  
là người đạt cả 2 tiêu chuẩn này cao nhất (là cán bộ chuyên kinh doanh mặt hàng lưu niệm có  
trên 10 năm kinh nghiệm, đã từng làm tổ trưởng tổ bán hàng ở công ty khác trước khi chuyển  
về công ty này). Giám đốc mời anh Hùng đến phòng làm việc và nói dự định cử anh làm cửa  
hàng trưởng. Nhưng câu trả lời của anh Hùng đã làm giám đốc ngạc nhiên: “Tôi rất cám ơn lời  
đề nghị của anh, nhưng thật tình tôi không muốn làm cửa hàng trưởng, tôi có một đứa con  
đang học phổ thông. Tôi muốn dành thời gian buổi tối cho gia đình. Tuy chưa thật sung túc  
nhưng thu nhập của hai vợ chồng cũng đủ sống. Xin giám đốc cử người khác  
Câu hỏi  
Theo bạn, giám đốc cần phải thuyết phục như thế nào để anh Hùng nhận làm cửa hàng trưởng?  
108  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
5.1.  
Khái niệm, bản chất và ý nghĩa của giao tiếp  
Những vấn đề chung về giao tiếp  
5.1.1.  
5.1.1.1. Khái niệm và phân loại giao tiếp  
Hiện nay tồn tại nhiều khái niệm giao tiếp khác nhau:  
Theo Martin. P.Andelem: Giao tiếp là quy trình  
trong đó chúng ta hiểu được người khác và làm  
cho người khác hiểu được chúng ta.  
Giao tiếp là hoạt động xác lập và vận hành các mối  
quan hệ giữa người với người và với các yếu tố xã  
hội nhằm thỏa mãn những nhu cầu nhất định.  
Khái niệm và phân loại  
giao tiếp  
Giao tiếp là sự tiếp xúc giữa người và người,  
thông qua đó mà con người trao đổi với nhau về thông tin, cảm xúc, tìm hiểu lẫn  
nhau, tác động qua lại với nhau.  
Có thể phân loại giao tiếp theo các tiêu chí sau:  
Theo đối tượng hoạt động giao tiếp, bao gồm: Giao tiếp liên nhân cách (giữa 2-3  
người với nhau), giao tiếp xã hội (giao tiếp giữa một người với một nhóm, ví dụ:  
lớp học, hội nghị), giao tiếp nhóm (đây là loại hình giao tiếp đặc trưng cho một tập  
thể nhỏ liên kết với nhau bởi hoạt động chung và nó phục vụ cho hoạt động này).  
Theo nội dung tâm lý của giao tiếp, bao gồm: Giao tiếp nhằm thông báo những  
thông tin mới, giao tiếp nhằm thay đổi hệ thống động cơ và giá trị, giao tiếp nhằm  
kích thích động viên hành động.  
Theo tính chất tiếp xúc, bao gồm: Giao tiếp trực tiếp (là loại hình giao tiếp thông  
dụng nhất trong hoạt động của con người, trong đó các đối tượng của giao tiếp gặp  
gỡ nhau và thường dùng ngôn ngữ nói và biểu cảm để truyền cho nhau những ý  
nghĩ và tình cảm của mình), giao tiếp gián tiếp (là giao tiếp thông qua một phương  
tiện trung gian khác như thư từ, điện thoại, internet...).  
Theo hình thức của giao tiếp, bao gồm: Giao tiếp chính thức (là giao tiếp có sự ấn  
định theo pháp luật, theo một quy trình được các tổ chức thừa nhận như hội họp,  
mít-tinh, đàm phán...), giao tiếp không chính thức (là giao tiếp không theo quy  
định nào cả, mang nặng tính cá nhân).  
Theo thế tâm lý (tâm thế) giữa hai bên trong giao tiếp. Thế tâm lý tức là vị thế tâm  
lý giữa hai người trong quan hệ giao tiếp đó, nó nói lên ai mạnh hơn ai về mặt tâm  
lý (ví dụ: Ai cần ai, ai không cần ai, ai sợ ai...). Bao gồm: Giao tiếp ở thế mạnh,  
giao tiếp ở thế yếu và giao tiếp ở thế cân bằng.  
5.1.1.2. Các khía cạnh của giao tiếp  
Khi nói đến giao tiếp người ta đề cập đến 3 khía cạnh sau:  
Giao lưu: Là quá trình tiếp xúc, trao đổi giữa hai bên, hai tư tưởng, quan điểm. Đó  
là quá trình trao đổi thông tin giữa hai bên giao tiếp với nhau có tính đến mục đích,  
tâm thế và ý định của nhau. Quá trình giao lưu sẽ làm giàu thêm kiến thức, kinh  
nghiệm của những người tham gia giao tiếp.  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
109  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
Tác động qua lại giữa hai bên: Trong trường  
hợp này, ngôn ngữ thống nhất và cùng hiểu biết  
về tình huống, hoàn cảnh giao tiếp là điều kiện  
cần thiết để đảm bảo sự tác động qua lại có hiệu  
quả. Có nhiều kiểu tác động lẫn nhau giữa người  
với người. Đó là sự hợp tác và cạnh tranh, tương  
ứng với chúng là sự đồng tình hay sự xung đột.  
Tri giác của giao tiếp là quá trình hình thành  
hình ảnh về người khác, xác định các phẩm chất  
Các khía cạnh của giao tiếp  
tâm lý, đặc điểm và hành vi của người đó (thông qua các biểu hiện bên ngoài).  
Trong khi tri giác người khác cần chú ý đến các hiện tượng như ấn tượng ban đầu,  
lần đầu tiên gặp gỡ, hiệu ứng cái mới, sự điển hình hóa…  
5.1.2.  
Bản chất của giao tiếp  
Giao tiếp là một nhu cầu: Nhu cầu ở thang bậc thứ  
3 trong tháp nhu cầu của Maslow, để thỏa mãn  
nhu cầu thứ 3 chỉ có ở con người, trong quan hệ  
với con người, vì vậy xuất hiện giao tiếp.  
Giao tiếp là một hoạt động: Trong hoạt động của  
con người bao giờ cũng có đối tượng. Đối tượng  
của hoạt động được chia thành hai loại: Đối tượng  
là tự nhiên (đất nước, động thực vật, cơ sở vật  
Bản chất của giao tiếp  
chất, máy móc, thiết bị...) và đối tượng là con người. Vì thế trong hoạt động giao  
tiếp chủ thể và đối tượng của hoạt động đều là con người. Giữa hai chủ thể đều có  
ý thức, có tâm tư, tình cảm khác nhau, ở đó luôn luôn có sự đổi ngôi. Có lúc người  
này chủ động đóng vai trò chủ thể, còn người kia đóng vai trò khách thể thụ động  
nghe. Sau đó lại có sự đổi ngôi ngược lại.  
Giao tiếp là sự vận động và biểu hiện của mối quan hệ người – người. Mỗi người  
trong xã hội có nhiều mối quan hệ chằng chịt đan xen nhau. Trong mỗi mối quan  
hệ, mỗi người có một chức danh tương ứng với người bên kia. Những mối quan hệ  
này rất sống động khi có sự tiếp xúc với nhau: Thân thuộc hay sơ sài, chân thành  
hay giả dối, có các loại quan hệ như: Cha, mẹ – con; anh, chị – em; ông, bà – cháu;  
vợ – chồng; thầy – trò; cấp trên – cấp dưới…  
Giao tiếp giữa hai người với nhau là giao tiếp giữa hai thực thể tâm lý và hai thực  
thể xã hội.  
Giao tiếp giữa hai người với tư cách là hai thực thể tâm lý được biểu hiện như sau:  
Nhân cách A – Nhân cách B; Trí tuệ A – Trí tuệ B; Tình cảm A – Tình cảm B;  
Tính cách A – Tính cách B…  
Giao tiếp giữa hai người với tư cách là hai thực thể xã hội được biểu hiện như sau:  
Nhân vật A – Nhân vật B; Chức danh A – Chức danh B; Vai trò A – Vai trò B;  
Uy tín A – Uy tín B; Quyền lực A – Quyền lực B; Lợi ích A – Lợi ích B…  
Giao tiếp là điều kiện hình thành, phát triển, khẳng định và đánh giá nhân cách.  
Khi con người mới sinh ra chỉ là một thực thể sinh học (một cơ thể) qua giao tiếp  
với người lớn (cha mẹ, ông bà, anh chị,…) sẽ được xã hội hóa, được nhân cách  
hóa để trở thành một con người, một nhân cách hoàn thiện.  
110  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
5.1.3.  
Mục đích và ý nghĩa của giao tiếp kinh doanh  
Giao tiếp kinh doanh là mối quan hệ hay sự tiếp xúc  
giữa những con người với nhau trong hoạt động kinh  
doanh. Trong kinh doanh, giao tiếp có chức năng thu  
nhận và trao đổi thông tin về kinh doanh diễn ra trên  
thương trường. Trên cơ sở tiếp nhận thông tin, nhà  
kinh doanh sẽ xây dựng điều chỉnh kế hoạch và chiến  
lược kinh doanh, đồng thời điều chỉnh hành vi ứng  
xử, cử chỉ tình cảm của bản thân trong quá trình giao  
tiếp. Ngoài các chức năng trên, giao tiếp còn có chức  
Giao tiếp kinh doanh  
năng phụ là giao lưu tình cảm, tư tưởng, văn hóa… Mức độ giao tiếp rộng hay hẹp tùy  
thuộc vào phạm vi và mức độ kinh doanh.  
5.1.3.1. Mục đích của giao tiếp trong kinh doanh  
Trong kinh doanh, mục đích chính của giao tiếp là:  
Để đàm phán, bàn bạc, thảo luận đi đến quyết định, ký kết các hợp đồng kinh tế... mục  
đích chính của giao tiếp trong quản trị là truyền đạt các chỉ thị, mệnh lệnh…  
Tìm hiểu và tiếp nhận thông tin, từ đó đề ra các quyết định chính xác và kịp thời  
cho hoạt động kinh doanh.  
Trao đổi tâm tư, tình cảm, ý nghĩ của nhau.  
Trong hoạt động kinh doanh hiện đại, giao tiếp đóng vai trò quan trọng đặc biệt,  
các nhà kinh doanh thường dành từ 60% – 90% thời gian cho giao tiếp, người có  
chức vụ càng cao thì thời gian dành cho giao tiếp càng lớn. Do có những thay đổi  
to lớn từ môi trường kinh doanh, nội dung và phong cách quản lý... đòi hỏi các nhà  
quản lý phải xác lập cho mình một chuẩn mực mới về ứng xử, phù hợp với hoàn  
cảnh trong và ngoài nước.  
5.1.3.2. Ý nghĩa của giao tiếp trong kinh doanh  
Giao tiếp trong kinh doanh có những ý nghĩa quan trọng sau:  
Giao tiếp trong kinh doanh có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển, giải  
quyết các mâu thuẫn nội bộ, tạo nhân hòa để kinh doanh có hiệu quả. Thực tiễn  
chứng minh chìa khóa cho sự thành công trong kinh doanh không chỉ đơn thuần  
phụ thuộc vào cơ sở vật chất, kỹ thuật, vốn… mà còn phụ thuộc rất lớn vào  
nghệ thuật giao tiếp.  
Giao tiếp trong kinh doanh tạo ra các mối quan hệ tốt đẹp với các đối tác và khách  
hàng, với cấp trên và cộng sự. Trong thực tế thì nghệ thuật giao tiếp cũng là một  
tiêu chuẩn quan trọng để lựa chọn nhà lãnh đạo.  
Giao tiếp trong kinh doanh có tác dụng truyền bá, giao lưu văn hóa giữa các  
dân tộc trên thế giới, phản ánh trình độ con người, đất nước, lối sống, phong  
tục, tập quán của mỗi dân tộc, thúc đẩy xã hội phát triển, tạo điều kiện hội  
nhập với thế giới…  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
111  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
5.2.  
Cấu trúc công cụ và phong cách giao tiếp  
Cấu trúc của giao tiếp  
5.2.1.  
5.2.1.1. Theo các nhà điều khiển học  
Các nhà điều khiển học xem giao tiếp như là một hiện tượng tâm lý – xã hội có tổ  
chức cao. Bao gồm các thành tố:  
Bộ phát: Là người (hoặc máy) gửi thông điệp đi.  
Bộ thu: Là nơi nhận bản thông tin hay thông điệp.  
Thông điệp: Là nội dung giao tiếp. Cần phải trả lời được một số câu hỏi:  
o Bộ phát muốn nói gì? Đã nói được gì?  
o Bộ thu đã nghe được gì? Hiểu được gì? Nhớ được gì? Vận dụng được gì?  
Bộ  
Thông  
điệp  
Bộ  
phát  
Kênh  
Giải  
mã  
Mã  
hóa  
thu  
Nhiễu  
Phản hồi  
5.2.1.2. Mô hình giao tiếp của Norbert Wiener  
Theo quan điểm của Wiener thì giao tiếp là một quá trình hai chiều. A sẽ truyền đạt  
thông tin cho B và tiếp thu ngược lại các thông tin phản hồi từ B. Trên cơ sở đó, điều  
chỉnh sự phát thông tin của mình. Ông cho rằng giao tiếp không thể là mô hình đường  
thẳng và đưa ra khái niệm “Feed-back” (phản hồi) trong giao tiếp.  
ĐIỀU CHỈNH  
BỘ  
PHÁT  
BỘ  
THÔNG ĐIỆP  
PHẢN HỒI  
THU  
112  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
Mô hình giao tiếp của Weiner gồm 5 yếu tố:  
Bộ phát (sender) hay còn gọi là bộ nguồn. Bộ phát là thành phần chính trong giao  
tiếp. Đó là nơi gửi thông điệp cho đối tượng giao tiếp.  
Bộ thu (receiver) là người (đối tượng) nhận thông điệp mà người khác gửi đến. Bộ  
thu cũng là thành phần chính trong giao tiếp.  
Thông điệp (message) truyền tải các thông tin đã được mã hóa của người gửi. Đây  
là một trong những công cụ chính của giao tiếp.  
Phản hồi (feed-back) là các thông tin đáp lại của người nhận đến người gửi.  
Điều chỉnh (response) người phát điều chỉnh lại sự phát thông tin của mình sau khi  
tiếp nhận các thông tin phản hồi từ người nhận.  
5.2.2.  
Công cụ của giao tiếp  
5.2.2.1. Giao tiếp bằng ngôn ngữ  
Khái niệm ngôn ngữ  
o Theo Từ điển Bách Khoa thư Việt Nam: “Ngôn  
ngữ là tín hiệu quan trọng và độc đáo nhất trong  
giao tiếp của loài người, là phương tiện để biểu  
hiện và phát triển tư duy, bảo lưu và chuyển giao  
có hiệu lực nhất các truyền thống lịch sử, văn hóa  
của một dân tộc”.  
o Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp chủ yếu của  
con người. Bằng ngôn ngữ con người có thể  
Khái niệm ngôn ngữ  
truyền đi bất cứ loại thông tin nào như diễn tả tình cảm, ám chỉ, miêu tả sự  
vật, hiện tượng…  
Phân loại ngôn ngữ  
Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ có hai hình thức là  
ngôn ngữ nói trực tiếp và ngôn ngữ gián tiếp.  
o Giao tiếp bằng ngôn ngữ nói trực tiếp: Là loại hình  
thông dụng nhất trong mọi hoạt động của con  
người, trong đó các đối tượng của giao tiếp trực tiếp  
gặp gỡ nhau, dùng ngôn ngữ nói và biểu cảm để  
truyền cho nhau những ý nghĩ và tình cảm của mình.  
o Giao tiếp bằng ngôn ngữ gián tiếp là thông qua  
một phương tiện trung gian khác như thư từ,  
điện thoại,…  
Những yêu cầu cần thiết của phương tiện giao tiếp  
bằng ngôn ngữ  
Phân loại ngôn ngữ  
o Nội dung của ngôn ngữ: Là ý nghĩa của lời nói, của từ, của câu trong giao tiếp.  
Một từ hay một tập hợp từ đều có một vài ý nghĩa. Ý nghĩa của ngôn ngữ có hai  
hình thức tồn tại: khách quan và chủ quan. Khách quan bởi nó không phụ thuộc  
vào sở thích, ý muốn của cá nhân nào. Ví dụ: không ai dùng cái xe để chỉ cái mũ  
và ngược lại. Tính chủ quan thể hiện ở chỗ, có những từ chung nhưng trong quá  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
113  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
trình sử dụng có thể gây ra những phản  
ứng, cảm xúc tích cực và tiêu cực nào  
đấy. Ví dụ: Từ “ma túy” với những người  
nghiện hút, buôn bán ma túy là bình  
thường, không gợi cảm giác tiêu cực.  
Nhưng đối với những người lương thiện  
thì gợi lên cảm giác ghê sợ, cần xa lánh.  
Trong một số nhóm người, đôi khi có  
những quy định ý nghĩa riêng cho một số  
từ. Ví dụ: Vé có nghĩa là 100 USD…  
Ngoài ra mỗi cá nhân, mỗi nhóm người  
từ cộng đồng địa phương đến đẳng cấp,  
dân tộc đều có sắc thái riêng trong phong  
cách sử dụng ngôn ngữ. Hiểu được ý cá  
Những yêu cầu cần thiết của phương  
tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ  
nhân là cơ sở tạo nên sự đồng điệu trong giao tiếp, hay còn được gọi là khả  
năng đồng cảm.  
o Tính chất của ngôn ngữ: Là nhịp điệu, âm điệu, ngữ điệu... của giọng nói giúp  
chúng ta phân biệt được giới tính, tuổi tác, nghề nghiệp, sức khỏe, tâm trạng,  
nghị lực, nền văn hóa… muốn điều khiển giọng nói tốt cần chú ý đến cường độ  
(cao, thấp, to, nhỏ), cách nhấn giọng, nhấn mạnh những điều quan trọng, giọng  
nói lúc lên, lúc xuống cho phù hợp. Lời nói cần rõ ràng, khúc triết…  
o
Điệu bộ khi nói: Là những cử chỉ của tay chân và vẻ mặt khi nói. Có khi vừa  
nói vừa chỉ, vừa nói vừa nhìn chằm chằm, vừa nói vừa liếc,… Điệu bộ thường  
phụ họa theo lời nói để giúp thêm ý nghĩa cho nó. Cần chú ý việc sử dụng điệu  
bộ khi nói cũng phải phù hợp với phong tục, tập quán, nền văn hóa. Nên có  
những cử chỉ, điệu bộ tự nhiên lịch thiệp, tránh gò ép, bắt chước điệu bộ của  
người khác, không phù hợp.  
Nhận xét của cấp trên?  
Sau khi trao đổi thẳng thắn về cách ăn mặc của cô nhân viên văn phòng mới  
được tuyển, vào phút chót, trưởng phòng nhân sự của một công ty kinh doanh  
điện tử nói: “Tóm lại, khi làm việc ở công ty bạn phải ăn mặc nghiêm túc”.  
Hôm sau nhân viên đi làm với trang phục quần jean, áo thun, giầy Nike.  
Trưởng phòng nhìn cô với vẻ không hài lòng và hỏi: “Cô đi làm hay đi chơi  
thể thao vậy?”  
Bạn nhận xét gì về câu nói trên của trưởng phòng?  
114  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
Nguyên tắc khi giao tiếp bằng ngôn ngữ  
o Lời nói phải đúng vai: Trong giao tiếp lời nói  
phải phù hợp với vai trò, vị trí của chủ thể giao  
tiếp thể hiện qua cách xưng hô, giọng nói.  
Nếu A ngang hàng với B ngôn ngữ thể hiện sẽ  
thân mật, bình đẳng.  
Nếu A nhỏ hơn B: Tôn kính, lễ phép.  
Nếu A lớn hơn B thì khi nói sẽ có giọng nói độ  
lượng, nhường nhịn, có sự giúp đỡ.  
Nguyên tắc khi giao tiếp  
bằng ngôn ngữ  
o Lời nói phải phù hợp với người nghe.  
o Nội dung rõ ràng, mạch lạc, tránh hiểu theo nhiều nghĩa.  
o Cách nói phải khéo léo, tế nhị.  
Giao tiếp qua điện thoại, thư  
So với ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết đòi hỏi chặt chẽ  
hơn về văn phạm, cấu trúc câu, từ ngữ… để tránh  
những sai sót và hiểu lầm đáng tiếc. Giao tiếp bằng  
ngôn ngữ viết cần chú ý đến đối tượng, trình độ  
chuyên môn, trình độ giáo dục và trình độ dân trí để  
sử dụng từ ngữ thích hợp với từng đối tượng. Tuyệt  
đối tránh tình trạng dùng lối diễn đạt vòng vo, phức  
tạp, lượng thông tin nghèo nàn và thiếu chính xác.  
Giao tiếp qua điện thoại, thư  
5.2.2.2. Giao tiếp phi ngôn ngữ  
Trong quá trình giao tiếp, con người không chỉ dùng lời nói mà còn sử dụng nét mặt,  
cử chỉ, nụ cười, ánh mắt, diện mạo… để thể hiện thái độ, cảm xúc và phản ứng của họ,  
do đó đòi hỏi người giao tiếp phải quan sát nhạy bén, tế nhị.  
Nét mặt  
Trong giao tiếp nét mặt biểu lộ thái độ, cảm xúc  
của con người. Mỗi người có thể biểu hiện nhiều  
nét mặt khác nhau. Theo Đac−uyn, nét mặt biểu  
hiện 6 loại tình cảm: Vui mừng, buồn, ngạc nhiên,  
sợ hãi, tức giận, ghê tởm.  
Ngoài tính biểu cảm, nét mặt cho ta biết cá tính  
của con người:  
Nét mặt  
o Nét mặt căng thẳng là người có cá tính dứt  
khoát, căng thẳng.  
o Nét mặt mềm mại là người hiền lành hòa nhã,  
thân mật, dễ thích nghi trong giao tiếp.  
Nụ cười  
Trong giao tiếp người ta dùng nụ cười để biểu hiện  
tình cảm, thái độ của mình. Con người có bao nhiêu  
kiểu cười thì có bấy nhiêu cá tính. Có kiểu cười tươi  
tắn, hồn nhiên, đôn hậu, có kiểu cười chua chát miễn  
Giao tiếp phi ngôn ngữ qua  
nụ cười  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
115  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
cưỡng, đanh ác, có kiểu cười đồng tình, thông cảm nhưng cũng có kiểu cười chế diễu,  
khinh bỉ…  
Mỗi kiểu cười đều biểu hiện một thái độ nào đó, cho nên trong giao tiếp, chúng  
ta phải tinh nhạy quan sát nụ cười của đối tượng giao tiếp để biết được thái độ  
của họ.  
Một số biểu hiện của nụ cười:  
o Cười mỉm: Người tế nhị, kín đáo.  
o Cười thoải mái: Độ lượng, rộng rãi.  
o Cười nhếch mép: Khinh thường, ngạo mạn.  
o Cười giòn tan: Vui vẻ, sôi nổi.  
o Cười tươi tắn: Dễ gần, dễ mến.  
o Cười gằn: Người khó chịu.  
o Cười chua chát: Thừa nhận sự thất bại.  
Ánh mắt  
Người ta thường nói “ánh mắt là cửa sổ của tâm hồn” vì qua ánh mắt phản ánh  
trạng thái cảm xúc, bộc lộ tình cảm, tâm trạng và ước nguyện của con người.  
Các nhà nghiên cứu cho rằng, hình thái của mắt thể hiện tâm tính, tâm trạng của  
con người:  
o Mắt sâu: Có đời sống nội tâm dồi dào, sâu kín, hay suy tư.  
o Mắt tròn: Dễ nổi giận.  
o Mắt lim dim: Ích kỷ, hay phản bội.  
o Mắt luôn mở lớn: Dễ hoảng hốt, dễ lo sợ.  
Ánh mắt thể hiện cá tính của con người:  
o Nhìn lạnh lùng: Người có đầu óc thực tế.  
o Nhìn thẳng và trực diện: Người ngay thẳng  
và nhân hậu.  
o Nhìn soi mói: Là người đa nghi, nham hiểm.  
Giao tiếp phi ngôn ngữ qua  
ánh mắt  
o Nhìn lấm lét: Người không chân thành, có ý  
gian.  
o Nhìn đắm đuối: Người đa tình, dễ xúc động.  
Diện mạo  
Là những đặc điểm tự nhiên, ít thay đổi được:  
o Tạng người: Cao hay thấp, mập hay ốm.  
o Khuôn mặt: Tròn vuông, trái xoan, dài.  
o Sắc da: Trắng hay đen, ngăm ngăm hay xanh  
xao, vàng vọt, tai tái…  
Ngoài ra còn có các đặc điểm khác như tai, mũi,  
miệng, tóc, râu, cách trang điểm, trang sức, trang  
phục… Diện mạo có thể gây ấn tượng mạnh nhất  
là lần đầu tiên. Ngoài ra cách trang sức, ăn mặc  
cũng nói lên nhiều cá tính, văn hóa, nghề nghiệp,  
địa vị, lứa tuổi của mỗi con người…  
Giao tiếp phi ngôn ngữ  
diện mạo  
116  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
Cử chỉ:  
Những cử chỉ khi giao tiếp thường thấy là:  
o Các chuyển động của đầu: Gật đầu, lắc đầu,  
hất đầu…  
o Các chuyển động của tay: Vẫy, chào, khua  
tay, vỗ tay…  
o Các chuyển động của chân: Dậm chân, rung  
đùi, vỗ đùi…  
Các cử chỉ có ý nghĩa nhất định trong giao tiếp.  
Chuyển động của đầu cho ta biết họ đồng ý hay  
không đồng ý. Cử động của bàn tay là lời mời,  
lời từ chối, sự chống đối hay cầu xin,...  
Giao tiếp phi ngôn ngữ  
c
ử
ch
ỉ  
Ngôn ngữ của hành vi  
Mỗi một hành vi đều hàm chứa một thái độ nhất định. Theo bạn hành vi đó thể  
hiện thái độ nào?  
Thái độ  
Hung  
hăng  
Quyết  
đoán  
Yếu đuối  
Hành Vi  
Chỉ ngón tay về phía ai đó khi  
đang hướng dẫn  
Ngồi gập người xuống bàn và  
nghịch giấy trong tay khi đang  
khiển trách một nhân viên  
Cười và hướng người về ứng viên  
trong một buổi phỏng vấn tuyển  
dụng.  
Đấm mạnh tay xuống bàn trong  
khi giải thích về một chi tiết kỹ  
thuật  
Tư thế và không gian giao tiếp  
Tư thế cũng là phương tiện giao tiếp rất cần thiết. Nó có liên quan trực tiếp với  
vai trò và vị trí xã hội của cá nhân. Một số biểu hiện như:  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
117  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
o Tư thế ngồi thoải mái, đầu hơi ngả về phía sau  
là tư thế của người bề trên, người lãnh đạo.  
o Tư thế ngồi hơi cúi về phía trước, lắng nghe  
là tư thế của người phục tùng, cấp dưới.  
o Tư thế ngồi gác chân lên nhau, khoanh tay  
trước ngực: Sẵn sàng nói chuyện.  
o Tư thế lóng ngóng vụng về: Thể hiện sự  
lúng túng, thiếu tự tin…  
Giao tiếp phi ngôn ngữ - tư thế và  
không gian giao tiếp  
Khoảng cách giữa hai người giao tiếp nói lên mức  
độ quan hệ giữa họ. Những người thân thiết trong gia đình, bạn thân có thể ngồi gần,  
đứng gần nhau. Người lạ, người mới quen hay quan hệ không thân thiết người ta thường  
giữ một khoảng cách nhất định.  
Thông điệp của cử chỉ  
Nhân viên thư ký đến phòng của Giám đốc  
và đưa ra một đề nghị thay đổi phương  
pháp làm việc.  
Giám đốc nói với cô ấy: “Tôi nghĩ rằng ý  
tưởng của cô rất hay. Tôi nhất định sẽ suy nghĩ  
một cách nghiêm túc về việc áp dụng nó”.  
Điệu bộ của Giám đốc thì:  
Tránh nhìn thẳng vào mắt cô ấy.  
Thông điệp của cử chỉ  
Rờ tay vuốt lại cổ áo.  
Mắt nhìn ra cửa sổ.  
Sau đó đứng lên và quay lưng lại khi cô ấy đang nói.  
Thông điệp mà cô thư ký nhận được từ các cử chỉ của Giám đốc là gì?  
5.2.3.  
Phong cách giao tiếp  
5.2.3.1. Khái niệm phong cách giao tiếp  
Phong cách giao tiếp là hệ thống phương thức mà con người sử dụng khi giao tiếp và  
quan hệ với nhau. Nó bao gồm một hệ thống các hành vi, cử chỉ, lời nói được sử dụng  
trong quá trình giao tiếp.  
5.2.3.2. Đặc trưng của phong cách giao tiếp  
Phong cách giao tiếp của con người có những nét  
đặc trưng sau:  
Mang tính ổn định cá nhân: Tức là tính khí  
bẩm sinh, học tập, bắt chước ở người khác mà  
tạo thành cái riêng của cá nhân.  
Đặc trưng của phong cách  
Mang tính ổn định xã hội: Mang dấu ấn thời  
giao tiếp  
đại, truyền thống dân tộc và gia đình.  
118  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
Mang tính linh hoạt và mềm dẻo: Đó là những hành vi, cử chỉ, sự khôn khéo,  
linh hoạt, mềm dẻo… được cá nhân sử dụng một cách linh hoạt phù hợp với những  
trường hợp cụ thể.  
5.2.3.3. Cấu trúc của phong cách giao tiếp  
Phần cứng bao gồm những hành vi, cử chỉ, lời nói… được hình thành trong cuộc  
sống, trở thành thói quen khó sửa. Ví dụ: Thói quen ăn uống, đi đứng, nói năng…  
có thể văn minh, lịch sự hoặc thô lỗ kiêu căng.  
Phần mềm biểu hiện ở trình độ văn hóa, học vấn,  
kinh nghiệm, trạng thái tâm lý, độ tuổi, giới tính,  
đặc điểm nghề nghiệp, truyền thống gia đình… nhờ  
khả năng ứng xử linh hoạt, cơ động mà giúp con  
người mau chóng thích ứng với sự biến động của  
hoàn cảnh và môi trường giao tiếp.  
Trong xã hội tồn tại nhiều loại phong cách giao  
tiếp: Phong cách độc đoán, phong cách dân chủ,  
phong cách tự do… tùy thuộc vào thời đại, hoàn  
cảnh, nghề nghiệp mà các chủ thể lựa chọn phong  
cách giao tiếp cho thích hợp, đem lại hiệu quả cao.  
Do đặc thù của hoạt động kinh doanh, phong cách  
Cấu trúc của phong cách  
giao tiếp  
dân chủ, văn minh, lịch sự pha chút tự do được sử dụng phổ biến trong giao  
tiếp vì:  
o Trong kinh doanh luôn thực hiện nguyên tắc thuận mua vừa bán, quan hệ hai  
bên cùng có lợi, bình đẳng trên mọi phương diện.  
o Kinh doanh đòi hỏi các bên phải có sự thỏa hiệp với nhau trong giao tiếp,  
không được đặt mình lên trên người khác, tôn trọng người đối thoại, luôn chú ý  
lắng nghe, gây được thiện cảm…  
5.3.  
Một số yếu tố tâm lý ảnh hưởng tới giao tiếp  
Nhận thức trong giao tiếp  
5.3.1.  
Khi giao tiếp với nhau, chúng ta nhận thức về nhau.  
Trước hết là các chủ thể giao tiếp tri giác lẫn nhau như:  
Quan sát vẻ mặt, tướng mạo, tư thế, tác phong, dáng  
điệu, cách ăn mặc, trang điểm, ánh mắt, lời nói, nụ  
cười. Những hình ảnh tri giác này sẽ ảnh hưởng rất lớn  
đến việc đánh giá nhân cách, trình độ văn hóa và tình  
cảm của nhau. Khi bắt đầu giao tiếp dù với mục đích gì  
thì những hình ảnh ban đầu về diện mạo bên ngoài,  
cách ăn mặc để lại nhiều ảnh hưởng trong giao tiếp về  
sau. Tuy nhiên cần lưu ý rằng những thông tin cảm  
tính ban đầu không phải lúc nào cũng chính xác, chúng  
bị nhiều yếu tố chi phối như ấn tượng ban đầu, các  
định kiến... nên thường dẫn đến chủ quan, thiếu  
Nhận thức trong giao tiếp  
chính xác. Cho nên muốn hiểu bản chất bên trong (phẩm chất nhân cách) của đối  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
119  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
tượng giao tiếp, chúng ta phải dùng tư duy, tưởng tượng để suy xét, đánh giá, nhận  
định một cách đầy đủ chính xác hơn.  
Trong suốt quá trình giao tiếp, chúng ta luôn luôn tri giác lẫn nhau và trên cơ sở  
những tài liệu tri giác đem lại tư duy giúp chúng ta phán đoán tình hình để lựa chọn  
phương án giao tiếp. Ví dụ: trong quá trình giao tiếp, một người có một cử chỉ, một  
hành động nào đó thì phía bên kia phải có những cử chỉ và hành động đáp lại. Trong  
tình huống đó đòi hỏi phía bên kia phải có tư duy thật nhanh để quyết định sẽ có cử  
chỉ và hành động cho đúng và hợp lý,...  
Trong giao tiếp, tư duy còn giúp chúng ta nắm được bản chất của câu nói, của hành  
động, nắm được những hàm ý sâu xa tiềm ẩn trong chúng. Trong thực tế có những khi  
người ta nói với rất nhiều hàm ý buộc chúng ta phải suy nghĩ, phải phán đoán mới  
hiểu được ý nghĩa đích thực của câu nói.  
Như vậy, trong giao tiếp các bên tham gia phải nhận thức về nhau. Trong giao tiếp  
mỗi chúng ta vừa là chủ thể, nhưng cũng là khách thể của quá trình nhận thức, nên ta  
phải thận trọng trong từng câu nói, từ cử chỉ, phải tập nhận thức về người khác (tập  
khả năng quan sát, tập tính nhạy cảm, phản ứng nhanh và có khả năng phán đoán).  
5.3.2.  
Tình cảm và xúc cảm trong giao tiếp  
Trên cơ sở của nhận thức, cảm xúc và tình cảm  
được nảy sinh và biểu lộ trong giao tiếp giữa các  
bên. Những cảm xúc đó có thể là tích cực (vui  
mừng, phấn khởi, sung sướng, khâm phục,...), có  
thể là tiêu cực (lo lắng, sợ hãi, tức giận,...) và chúng  
có thể ảnh hưởng đến sự nhận thức hoặc đến các  
vấn đề tâm lý khác. Ví dụ, do xúc động quá mà ta  
có thể không kiểm soát được hành vi của mình.  
Nếu những cảm xúc nhất định được lặp đi lặp lại  
qua những lần giao tiếp khác nhau thì sẽ dần dần  
hình thành nên những tình cảm tương ứng. Mặt  
khác, trên cơ sở những tình cảm đã có từ trước  
với nhau, mỗi lần giao tiếp giữa hai người lại nảy  
Tình cảm và xúc cảm trong  
sinh những cảm xúc như sự rung động, thể  
nghiệm những tình cảm đó. Những tình cảm tích  
giao tiếp  
cực, dương tính (như yêu thương, quý trọng,...) đối với nhau và những cảm xúc dễ  
chịu nảy sinh trên cơ sở những tình cảm đó làm cho hai người có nhu cầu gặp  
nhau, giao tiếp với nhau. Ngược lại, những tình cảm tiêu cực, âm tính (như ghét,  
căm thù, khinh bỉ,...) và những cảm xúc khó chịu nảy sinh trên cơ sở những tình  
cảm đó làm cho hai người xa lánh nhau, ngại giao tiếp với nhau.  
Để giao tiếp tốt chúng ta cần phải biết kiềm chế những cảm xúc của mình, tránh  
không cho chúng lấn lướt lý trí của chúng ta và phải biết tác động vào cảm xúc của  
đối tượng giao tiếp.  
5.3.3.  
Ấn tượng ban đầu  
Trong giao tiếp, những ấn tượng ban đầu là rất quan trọng, chúng được hình thành  
trong đầu óc của chúng ta ngay và không nhất thiết chịu sự chi phối của lý trí. Ấn  
tượng ban đầu thường là sự đánh giá, một hình ảnh, một nhận xét, một thái độ về đối  
120  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
tượng giao tiếp và được hình thành ngay từ giây phút  
đầu gặp gỡ, hay lần đầu tiên gặp gỡ. Ấn tượng ban đầu  
có khi là toàn bộ hình ảnh tâm lý của một con người  
hoặc cũng có khi chỉ là một khía cạnh nào đó.  
Cấu trúc của ấn tượng ban đầu bao gồm:  
Thành phần cảm tính: Bao gồm những dấu hiệu bề  
ngoài như hình thức, diện mạo, trang phục, giọng  
nói. Đây là phần chiếm ưu thế.  
Thành phần lý tính: Bao gồm những dấu hiệu về  
phẩm chất cá nhân như: tính cách, năng lực, tính  
khí,...  
Thành phần cảm xúc: Bao gồm các dấu hiệu biểu  
hiện tình cảm (yêu, ghét) tùy thuộc vào mức độ hấp  
dẫn thẩm mỹ bên ngoài.  
Ấn tượng ban đầu  
Ấn tượng ban đầu là những nhìn nhận, đánh giá sơ khởi thiên về cảm tính, nên chúng  
có thể đúng hoặc có thể là sai, chúng dần dần được hoàn chỉnh và chính xác hóa trong  
quá trình giao tiếp.  
Ấn tượng ban đầu có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình giao tiếp về sau, nó có thể làm  
biến đổi cả thái độ, cả hành vi của các bên trong giao tiếp. Trong giao tiếp cần tạo ra  
những ấn tượng ban đầu tốt đẹp với phía bên kia, vì chính nó sẽ là chìa khóa cho  
những thành công cho các giai đoạn tiếp theo. Tuy nhiên, cũng không nên để ấn tượng  
ban đầu chi phối hành vi và thái độ của chúng ta trong giao tiếp.  
5.3.4.  
Trạng thái bản ngã trong giao tiếp  
Trong quá trình giao tiếp, cá tính con người có ba trạng  
thái là trạng thái bản ngã phụ mẫu, trạng thái bản ngã  
thành niên và trạng thái bản ngã nhi đồng. Và các trạng  
thái này có thể chuyển đổi từ trạng thái này sang trạng  
thái khác trong các môi trường giao tiếp.  
Trạng thái bản ngã phụ mẫu: Là đặc trưng cá  
tính nhận biết được quyền hạn và thế mạnh của  
mình và thể hiện trong khi giao tiếp. Biểu hiện  
trong giao tiếp là hay ra lệnh hoặc huấn thị. Ở  
trạng thái này, nếu đối tượng giao tiếp là cấp dưới  
có thể làm tăng vẻ uy nghiêm, nhưng nếu đối  
tượng giao tiếp là những người đồng cấp có thể  
Trạng thái bản ngã trong  
giao tiếp  
gây ra những phản ứng tiêu cực.  
Trạng thái bản ngã thành niên: Là đặc trưng cá  
tính biết bình tĩnh và khách quan phân tích sự việc một cách có lý trí trong quá  
trình giao tiếp.  
Trạng thái bản ngã nhi đồng: Là đặc trưng cá tính hay xúc động và hành động  
theo sự xui khiến của tình cảm trong quá trình giao tiếp.  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
121  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
Trong giao tiếp chúng ta cần phân tích trạng thái bản ngã của mình cũng như các đối  
tượng giao tiếp, phải phân tích trạng thái bản ngã nào được lặp lại thường xuyên nhất  
để loại bỏ trạng thái vô ý thức và vô lý trí. Bên cạnh đó phải kiềm chế trạng thái  
bản ngã của mình, trong mọi trường hợp đều cần phải duy trì trạng thái bản ngã  
thành niên.  
5.3.5.  
Sự hoà hợp tâm lý giữa các bên trong giao tiếp  
Kết quả của quá trình giao tiếp phụ thuộc vào những  
người tham gia giao tiếp. Nếu các bên không hợp nhau  
sẽ rất khó nói chuyện, bàn bạc, giải quyết công việc  
chung với nhau và ngược lại.  
Sự hòa hợp về tâm lý có thể là tương hợp về các mặt  
như: Nhu cầu, sở thích, lý tưởng, thế giới quan, tính  
cách... Những sự tương hợp này sẽ tạo điều kiện thuận  
lợi dễ dàng trong giao tiếp ban đầu và lâu dài.  
Sự khác nhau hoặc hơn kém nhau về năng lực cũng có  
Sự hoà hợp trong tâm lý giữa  
thể gây khó khăn trong sự hợp tác hay đối tác với nhau  
trong công việc. Tuy nhiên trong một số trường hợp  
các bên trong giao tiếp  
(như quan hệ thầy – trò, cấp trên – cấp dưới) sự khác nhau này là chuyện bình thường,  
thậm chí là cần thiết để người này chỉ huy, hướng dẫn và dìu dắt người kia.  
Hai người hợp nhau thường có tính khí khác nhau, nhưng bù trừ cho nhau, ví dụ  
như người sôi nổi và người ưu tư (nóng – lạnh), người linh hoạt và người điềm  
tĩnh (nhanh – chậm)...  
5.4.  
Nghệ thuật giao tiếp và ứng xử trong kinh doanh  
Những cản trở trong giao tiếp  
5.4.1.  
Giao tiếp là một quá trình đối thoại hai chiều giữa các chủ thể nhằm trao đổi, truyền  
đạt những thông tin theo mục đích đã định. Tuy nhiên vì nhiều nguyên nhân khác  
nhau mà cùng một thông tin có thể làm cho người ta hiểu nghĩa khác nhau. Trong quá  
trình giao tiếp luôn có những yếu tố làm cản trở như sau:  
5.4.1.1. Cản trở về mặt tâm lý  
Những cản trở tâm lý bao gồm: Cảm xúc, nhận thức và sự lựa chọn.  
Cảm xúc là dạng rào cản về mặt tâm lý xảy ra trong các tình huống:  
o Khi thông báo một chính sách hoặc thông tin mới mà không được mọi người  
hưởng ứng.  
o Mất bình tĩnh, không chủ động khi lần đầu tiên trình bày nội dung công việc  
quan trọng trước quần chúng.  
o Viết thư cho người mà ta không thích làm mất hứng thú.  
o Người nhận tin không có cảm tình hoặc phản ứng với người truyền đạt thông tin.  
o Người nhận tin mặc cảm với người truyền đạt thông tin.  
Nhận thức: Là sự khác biệt về trình độ, kinh nghiệm và nghề nghiệp của mỗi  
người. Cùng một loại thông tin nhưng mỗi người hiểu và tiếp nhận, giải thích và  
đáp ứng khác nhau.  
122  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
Tính chọn lọc: Trong thời đại bùng nổ thông tin, mỗi ngày chúng ta sẽ tiếp xúc  
với nhiều thông tin khác nhau, ta không thể tiếp thu hết mà chỉ tiếp thu có chọn lọc  
các thông tin phù hợp với các nhu cầu hiện thời. Chính vì vậy sẽ có rất nhiều thông  
tin không được quan tâm hoặc bị bỏ rơi.  
5.4.1.2. Những cản trở về ngữ nghĩa  
Từ ngữ là những ký hiệu chứa đựng những nội dung  
thông tin, nó bao hàm cả nghĩa rộng hay nghĩa hẹp,  
nghĩa đen hay nghĩa bóng. Một từ có thể bị hiểu lầm  
nếu người truyền đạt thông tin không chọn lọc hoặc  
không chú ý đến đối tượng, hoặc sử dụng những từ  
trừu tượng hoặc những từ bất định, có nội dung thiếu  
chính xác trong ngữ cảnh cụ thể.  
Những cản trở trong giao tiếp  
5.4.1.3. Những cản trở vật chất  
Người trình bày đứt quãng, nói nhanh hoặc quá nhỏ, trong phòng có nhiều tiếng  
ồn, hệ thống âm thanh kém, ánh sáng không đảm bảo, chỗ ngồi không thoải mái…  
gây khó khăn trong quá trình giao tiếp.  
Tài liệu không rõ ràng, tẩy xóa nhiều…  
5.4.2.  
Một số nguyên tắc cơ bản của giao tiếp kinh doanh  
5.4.2.1. Trong kinh doanh ai cũng quan trọng  
Giao tiếp kinh doanh có một số nguyên tắc cơ bản  
Trong kinh doanh cần phải tôn trọng mọi khách hàng, hãy đối xử với họ giống như  
mình muốn họ đối xử với mình. Trong quan hệ với bạn hàng, luôn nhớ hai mặt của  
vấn đề cạnh tranh và hợp tác, họ cần được bình đẳng trong giao tiếp, không nên coi  
thường mối quan hệ nào.  
5.4.2.2. Phải nghiêm túc trong công việc và giao tiếp  
Nhà kinh doanh thành đạt trước hết phải là con người nghiêm túc trong công việc và  
giao tiếp. Những cuộc giao tiếp trong môi trường làm việc cần giữ thái độ nghiêm túc,  
không để các mối quan hệ thân quen hay gia đình len lỏi vào các cuộc giao tiếp có liên  
quan đến công việc kinh doanh. Mọi cuộc giao tiếp trong kinh doanh phải dựa trên các  
chuẩn mực của xã hội và của nhóm.  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
123  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
5.4.2.3. Kín đáo thận trọng  
Mục đích chủ yếu của các cuộc giao tiếp trong kinh doanh là trao đổi, bàn bạc thảo  
luận về những vấn đề có liên quan đến công việc kinh doanh. Vì vậy, không nên tiết lộ  
các chi tiết về đời tư của mình, vì có thể các câu chuyện riêng tư vô bổ đó có thể trở  
thành rào cản bất lợi cho bản thân và công việc. Một câu châm ngôn rất có ý nghĩa là  
“ta biết địch mà địch chẳng biết ta”. Để đánh giá đúng người đối thoại nên tìm cách  
gợi chuyện cho họ nói, nhưng chúng ta tránh nói nhiều, nhất là nói nhiều về bản thân.  
Biết lắng nghe và khêu gợi người đối thoại là một nghệ thuật vừa tìm hiểu, vừa thu  
phục cảm tình của họ.  
Trong giao tiếp, phải thực hiện nguyên tắc: “nói ít, nghe nhiều”. Tuyệt đối tránh khoe  
khoang sự hiểu biết, sành đời của mình nhưng lại biết rất ít về đối thủ vì không lắng  
nghe họ nói. Người thông minh, có kinh nghiệm là người không khoe khoang, biết  
ngưỡng mộ tài trí của những người đối thoại, cố tìm những ưu điểm, những thành  
công của họ trên thương trường để khen ngợi, tán thưởng.  
Một đức tính quan trọng trong giao tiếp kinh doanh là thận trọng khi tâm sự với bạn  
bè hoặc người thân về công việc kinh doanh của mình. Bởi vì những thông tin đó có  
thể lọt vào tai của đối thủ qua nhiều kênh khác nhau, sẽ gây ra nhiều hậu quả khôn  
lường, có thể dẫn tới thất bại đau đớn. Nguyên tắc thận trọng có nghĩa là giữ bí mật,  
thận trọng trong từng câu, từng chữ khi bàn bạc về công việc kinh doanh lẫn bản thân.  
5.4.2.4. Không phung phí thời gian của mình và của người khác  
Trong kinh doanh hiện đại, thời gian là tiền bạc, vì vậy trong giao tiếp các nhà kinh  
doanh thường có tác phong rất khẩn trương, tiết kiệm thời gian. Một thống kê về sử  
dụng thời gian làm việc của các nhà quản trị cho thấy họ đã dành thời gian cho các  
công việc sau:  
Những cuộc họp hành và gặp gỡ theo kế hoạch:  
Làm việc với giấy tờ:  
57%  
23%  
11%  
6%  
Các cuộc gặp gỡ ngoài kế hoạch:  
Nói chuyện qua điện thoại:  
Các cuộc đi tham quan khảo sát:  
3%  
Nhà kinh doanh có kinh nghiệm, khôn ngoan không những biết quý thời gian của  
mình mà còn phải tôn trọng thời gian của người khác. Một cuộc họp, một mệnh lệnh,  
một cuộc đàm phán ký kết hợp đồng… đều phải được chuẩn bị kỹ càng, nghiêm túc cả  
về nội dung, cách thức trình bày, diễn đạt để không mất thời gian mà vẫn đạt được kết  
quả như ý.  
Tiết kiệm thời gian trong giao tiếp là tôn trọng người khác và ngược lại họ sẽ tôn  
trọng và kính nể mình. Phải phân chia thời gian một cách khoa học và tận dụng hết  
thời gian làm việc, phải thực hiện “giờ nào, việc nấy”.  
5.4.2.5. Phải duy trì chữ tín  
Một nhà kinh doanh muốn thành đạt phải giữ gìn chữ tín. Sự tin cậy của cấp dưới, của  
bạn hàng, của cấp trên với nhà lãnh đạo sẽ tạo cơ hội thuận lợi trong kinh doanh.  
124  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
Muốn duy trì chữ tín thì người quản lý phải không ngừng nâng cao trình độ, đạo đức,  
lối sống, phải biết tiết kiệm tiền bạc và thời gian, phải kiên trì và dũng cảm…  
5.4.3.  
Rèn luyện các kỹ năng giao tiếp  
5.4.3.1. Khái niệm và phân loại kỹ năng giao tiếp  
Kỹ năng giao tiếp được hiểu là khả năng nhận biết  
nhanh chóng những biểu hiện bên ngoài, để đoán biết  
tâm lý đang diễn ra bên trong của đối tượng giao tiếp,  
đồng thời biết cách sử dụng hợp lý các công cụ giao  
tiếp và có khả năng điều khiển quá trình giao tiếp để  
cuộc giao tiếp đạt được mục đích đề ra.  
Kỹ năng giao tiếp bao gồm các loại sau:  
Kỹ năng định hướng: Là khả năng dựa vào tri  
giác ban đầu để nhận biết các biểu hiện bên ngoài  
(hình thức, diện mạo, cử chỉ điệu bộ, hoạt động,  
Khái niệm và phân loại kỹ năng  
giao tiếp  
ngôn ngữ và các sắc thái biểu cảm…) trong thời gian và không gian giao tiếp, từ  
đó đoán biết một cách tương đối chính xác diễn biến tâm lý bên trong của đối  
tượng giao tiếp (nhu cầu, mục đích, sở thích, tính cách…). Trên cơ sở đó định  
hướng một cách hợp lý cho cuộc giao tiếp.  
Kỹ năng định vị: Là khả năng xác định đúng vị trí giao tiếp (quan hệ vai trò trong  
giao tiếp giữa bản thân và đối tượng), từ đó chủ động trong giao tiếp và sử dụng  
các công cụ giao tiếp phù hợp.  
Kỹ năng điều khiển: Là khả năng lôi cuốn, thu hút sự chú ý và duy trì sự hứng  
thú của đối tượng tham gia vào các nội dung giao tiếp có chủ định của bản thân,  
nhằm đạt được mục đích của giao tiếp.  
5.4.3.2. Rèn luyện các kỹ năng giao tiếp  
Rèn luyện kỹ năng định hướng: Để có thể có  
được khả năng nắm bắt nhanh các biểu hiện  
bên ngoài và có thể phán đoán chính xác tâm lý  
bên trong của đối tượng giao tiếp, cần rèn luyện  
cách quan sát, đúc rút kinh nghiệm từ bản thân  
và tham khảo kinh nghiệm dân gian, kinh  
nghiệm của người khác.  
Trong giao tiếp người ta sử dụng các công cụ  
Rèn luyện kỹ năng giao tiếp  
ngôn ngữ (nói, viết) và công cụ phi ngôn ngữ  
(ngôn ngữ biểu cảm). Thực tế cho thấy, ngôn  
ngữ cơ thể diễn ra trong điều kiện tự nhiên bình thường (không bị sự kiểm soát của  
lý trí) bao giờ cũng thật hơn ngôn ngữ nói của đối tượng. Khai thác một cách tinh  
tế đặc điểm này sẽ cho phép nắm bắt nhanh và chính xác đặc điểm và trạng thái  
tâm lý của đối tượng, tức là nâng cao được định hướng trong giao tiếp.  
Rèn luyện kỹ năng định vị: Để có khả năng nhanh chóng xác định đúng vị trí của  
đối tượng trong các cuộc giao tiếp, cần phải rèn luyện tính chủ động, tỉnh táo trong  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
125  
Bài 5: Giao tiếp trong Quản trị kinh doanh  
giao tiếp giữa các đối tượng khác nhau, trong các hoàn cảnh khác nhau, phải biết  
điều tiết, thay đổi các đặc điểm tâm lý vốn có của mình cho phù hợp với đối tượng  
giao tiếp.  
Rèn luyện kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp: Để có khả năng thu hút sự  
chú ý, duy trì sự hứng thú của đối tượng tham  
gia tích cực vào quá trình giao tiếp có ý định  
của mình, nhà quản trị phải rèn luyện tốt kỹ  
năng điều khiển theo các nội dung sau:  
o Rèn luyện khả năng kiềm chế bản thân:  
Tránh bộc lộ tình cảm, thói quen, sở thích  
của mình.  
o Rèn luyện khả năng quyến rũ: Muốn quyến  
rũ được đối tượng giao tiếp, người giao tiếp  
phải: có trình độ, hiểu biết sâu sắc về lĩnh  
Rèn luyện kỹ năng điều khiển  
vực đang trao đổi; chân thành, trung thực và cầu thị trong giao tiếp, phải biết sử  
dụng thành thạo, kết hợp khéo léo các công cụ giao tiếp cho phù hợp với các  
đối tượng, sử dụng ngôn từ chuẩn xác, sử dụng khéo léo các ngôn ngữ biểu  
cảm trong giao tiếp.  
5.5.  
Các loại giao tiếp chủ yếu trong kinh doanh  
Hội họp  
5.5.1.  
Hội họp là một trong những hình thức giao  
tiếp quan trọng và thường xuyên trong kinh  
doanh bao gồm: Họp giao ban, truyền đạt chủ  
trương, chỉ thị, nghị quyết, họp ban giám đốc,  
họp sơ kết, tổng kết, đại hội công nhân viên  
chức, hội thảo…  
Để cho các cuộc họp thu được kết quả tốt  
nhằm sử dụng hợp lý thời gian của mọi người,  
cần phải chú ý những vấn đề sau:  
Hội họp  
Lập chương trình, kế hoạch của cuộc họp  
một cách cụ thể: Trong đó ghi rõ mục đích của cuộc họp, các nội dung cần bàn  
bạc, danh sách những người tham dự, địa điểm, giờ giấc…  
Phải cử người ghi biên bản rõ ràng, ngắn gọn, nhất là nội dung các quyết định,  
những hoạt động tiến hành, những người chịu trách nhiệm và thời hạn hoàn thành  
đã được hội nghị nhất trí.  
Chỗ ngồi trong cuộc họp cũng cần được chú ý: Người chủ tọa luôn ngồi đầu bàn,  
có nhiều cách tổ chức chỗ ngồi khác nhau…  
Nếu thấy nội dung cuộc họp đưa ra chưa đúng lúc, chưa được bàn bạc kỹ,… thì  
không nên tổ chức.  
5.6.  
Tiếp khách  
Là loại hình giao tiếp thường xuyên trong kinh doanh. Khi tiếp khách, dù cấp trên hay  
cấp dưới cũng cần bày tỏ sự ân cần, quan tâm thực sự, không nên bắt khách phải chờ  
126  
MAN303_Bai5_v2.0013106227  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 24 trang Thùy Anh 13560 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Quản trị kinh kinh doanh - Bài 5: Giao tiếp trong quản trị kinh doanh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_quan_tri_kinh_kinh_doanh_bai_5_giao_tiep_trong_qu.pdf