Chiến lược quản trị tri thức cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
CHIẾN LƯỢC QUẢN TRỊ TRI THỨC CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA  
TẠI VIỆT NAM  
KNOWLEDGE MANAGEMENT STRATEGIES FOR SMALL AND MEDIUM  
ENTERPRISES IN VIETNAM  
Nguyễn Đắc Thành  
Trường Đại học Thương mại  
TÓM TẮT  
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa ngày càng sâu sắc thì các doanh nghiệp khó có thể đạt  
tới lợi thế cạnh tranh bền vững nếu vẫn chỉ theo đuổi chiến lược dựa trên sản phẩm hay chiến lược dựa trên  
nguồn vốn. Loài người đang ở trong nền kinh tế tri thức, doanh nghiệp cần phải nhận thức được tri thức đang  
và sẽ trở thành nguồn lực quan trọng bậc nhất thay thế các nguồn lực truyền thống. Điều này thúc đẩy một  
hướng nghiên cứu mới về mặt lý luận và thực tiễn của khoa học quản trị, đó là quản trị tri thức. Hiện nay  
doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) ở nước ta còn gặp khó khăn trong nắm bắt về nguồn lực này để quản trị  
doanh nghiệp. Mục đích của bài viết này muốn giới thiệu về một lý thuyết mới - Chiến lược quản trị tri thức,  
làm rõ nội hàm và ngoại diên về chiến lược quản trị tri thức, phân tích sự cần thiết mà các DNNVV phải quan  
tâm đến chiến lược quản trị tri thức, sau cùng là đưa ra định hướng triển khai chiến lược quản trị tri thức cho  
các DNNVV ở Việt Nam.  
Từ khóa: Tri thức; chiến lược; quản trị tri thức; chiến lược quản trị tri thức; doanh nghiệp nhỏ và vừa.  
ABSTRACT  
Nowaday, international integration and globalization are becoming more and more extensive. Therefore, if  
enterprises develop their business by pursuing the strategies which are based on product or capital, they  
would hardly achieve sustainable competitive advantage. Knowledge economy plays an important role in  
human life, and businesses need to aware that knowledge will become the most important resource to replace  
traditional resource managements, namely land and capital. This promotes a new research trend in theory and  
practice of management science - Knowledge management. Currently, in our country the small and medium  
enterprises (SMEs) are likely to have difficulty in capturing the knowledge resources to manage the business.  
In this article, the author aims to introduce a new theory of knowledge management strategy, clarify internal  
and external factors on knowledge management strategies, state out the importance of paying attention to the  
knowledge management strategies for SMEs and propose the solutions to improve their competitiveness.  
Keywords: Knowledge; strategy; knowledge management; knowledge management strategies; small and  
medium enterprises.  
sẽ thiếu tính bền vững. Toàn cầu hóa làm cho  
việc tìm kiếm và mở rộng thị trường kinh  
doanh trở nên đơn giản hơn, các doanh nghiệp  
có được thuận lợi hơn trong tiếp cận các nguồn  
lực tốt nhất và rẻ nhất, mặt khác toàn cầu hóa  
cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học –  
công nghệ sẽ làm thay đổi lớn trong cách thức  
điều hành, quản trị doanh nghiệp. Peter  
Drucker, người được ví như là cha đẻ của khoa  
học quản trị kinh doanh hiện đại đã đưa ra  
nhận định rằng: “ Chúng ta đang đi vào xã hội  
tri thức trong đó nguồn lực kinh tế cơ bản  
không phải là vốn mà là và sẽ là tri thức, tri  
1. Đặt vấn đề  
Xu thế toàn cầu hóa và hội nhập là tất yếu  
khách quan, đã và đang ảnh hưởng trực diện  
đến hoạt động sản xuất – kinh doanh của  
ngành, nhóm doanh nghiệp. Các doanh nghiệp,  
đặc biệt là DNNVV, nếu như trước đây phát  
triển chủ yếu dựa vào nguồn lực truyền thống  
như nguồn vốn, nguồn tài nguyên thiên  
nhiên,… thì nhiều nhà khoa học kinh tế nhận ra  
rằng tất cả các nguồn lực này đều không có  
tính lâu dài, dễ dàng bị đối thủ cạnh tranh bắt  
chước và do vậy nếu xây dựng chiến lược dựa  
trên các nguồn lực cơ bản đó thì sự phát triển  
30  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
thức đã và đang trở thành một nguồn lực kinh  
và các cộng sự của ông về tập bài giảng tổ  
chức kiến tạo tri thức. Website của hiệp hội  
doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam, website  
của cục phát triển doanh nghiệp, thuộc Bộ Kế  
hoạch và Đầu tư, website tổng cục thống kê  
trong 3 năm 2010, 2011 và 2012.  
tế chủ yếu và là một nguồn lực thống trị và có  
thể là duy nhất của lợi thế cạnh tranh”. Thực  
tiễn cho thấy các DNNVV cũng đã bắt đầu  
quan tâm tới loại tài sản vô hình “tri thức” tuy  
nhiên vận dụng và phát huy nguồn lực này thì  
còn hạn chế và kém hiệu quả ở các doanh  
nghiệp. Nguyên do sâu xa đó là những người  
chủ doanh nghiệp thiếu nhận thức, hiểu biết về  
tri thức, chính vì thế trước tiên bản thân lãnh  
đạo doanh nghiệp cần phải nghiên cứu và áp  
dụng mô hình chiến lược quản trị hiện đại như  
chiến lược dựa trên tri thức. Qua bài viết này  
tác giả muốn đưa ra một số vấn đề lý luận cơ  
bản về chiến lược quản trị tri thức và định  
hướng cho các DNNVV để tìm thấy con đường  
thành công.  
3. Kết quả nghiên cứu và bình luận  
3.1. Cơ sở lý luận về chiến lược quản trị tri  
thức  
Trước khi quan điểm quản trị dựa trên tri  
thức, học thuyết quản trị chiến lược dựa trên  
các nguồn lực (RBV) được nhấn mạnh, quan  
điểm này cho rằng phân tích môi trường bên  
trong để nhận diện điểm mạnh, điểm yếu của  
doanh nghiệp, phân tích môi trường bên ngoài  
để xác định cơ hội và thách thức đối với doanh  
nghiệp. Theo M.E Porter tập trung phân tích  
ngành và thị trường mà công ty đang hoạt động  
nhằm nhận dạng những lực lượng điều tiết  
cạnh tranh cũng như cơ hội và thách thức ở  
môi trường bên ngoài. Quan điểm này tập  
trung vào những nguồn lực như: Tài sản, năng  
lực, thông tin hay quy trình. Theo đó lợi thế  
cạnh tranh có được khi công ty khai thác năng  
lực cốt lõi có tính hiếm, khó bắt chước được,  
song hầu hết các nguồn lực hữu hình lại không  
có những đặc tính đó nên các công ty cần phải  
tập trung vào các nguồn lực vô hình trong đó  
có “tri thức”. Sự chuyển đổi của quan điểm dựa  
trên nguồn lực đã khiến cho một lý thuyết về  
chiến lược mới được ra đời, đó là quản trị dựa  
trên tri thức. Nội dung căn bản của nó biểu  
hiện rằng lợi thế cạnh tranh xuất phát từ nguồn  
lực vô hình là tri thức (tri thức ngầm của con  
người và khả năng sáng tạo tri thức). Chiến  
lược quản trị tri thức đòi hỏi doanh nghiệp phải  
phát triển đồng bộ các hoạt động quản trị chức  
năng phù hợp với trình độ phát triển nền kinh  
tế tri thức, khai thác tối đa các yếu tố hiện thực  
quản trị tri thức như quản trị các cấp độ, quản  
trị các quá trình, các năng lực quản trị tri thức  
và nguồn lực tri thức của doanh nghiệp. Khung  
chiến lược quản trị tri thức của doanh nghiệp  
tổng quát được thể hiện qua hình 1 sau đây:  
2. Giải quyết vấn đề  
2.1. Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp luận: Đề tài sử dụng  
phương pháp duy vật biện chứng, đi từ nghiên  
cứu một số vấn đề lý luận cơ bản về chiến lược  
quản trị dựa trên tri thức, đến phân tích sự cần  
thiết phải quan tâm đến chiến lược quản trị dựa  
trên tri thức từ đó đưa ra những định hướng  
cho các DNNVV của nước ta trong thời gian  
tới.  
- Phương pháp tổng hợp, phân tích: Bài  
viết tổng hợp một số vấn đề lý luận cơ bản về  
khung chiến lược quản trị tri thức của doanh  
nghiệp, mô hình sáng tạo tri thức SCEI, phân  
tích tình thế của DNNVV, sau cùng bài viết đi  
tới đề xuất quy trình 4 bước thực thi chiến lược  
quản trị tri thức cho các DNNVV tại Việt Nam.  
2.2. Phương tiện nghiên cứu  
Các sách ngoại văn đã được liệt kê trong  
danh mục tài liệu tham khảo như cuốn  
“Knowledge management strategies for  
business development” của tác giả Meir Rus  
viết năm 2010, Strategic management Meets  
knowledge Management: a literature review  
and theoretical framework của tác giả Paul  
James viết năm 2004, đặc biệt là Ikujio Nonaka  
31  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Hình 1. Khung chiến lược quản trị tri thức của doanh nghiệp Nguồn: [3]  
Từ việc nhận thức vai trò của tri thức, học  
cá nhân được chia sẻ khi cùng nhau trải  
nghiệm trong tương tác xã hội hàng ngày để  
tạo ra tri thức ẩn mới. Tuy nhiên, bởi đặc thù  
khó khái quát hóa và thường có nét đặc trưng  
liên quan tới thời gian và không gian cụ thể, tri  
thức ẩn chỉ được chia sẻ giữa những cá nhân có  
cùng trải nghiệm trực tiếp bằng năm thứ giác  
quan. Vì vậy, sự trải nghiệm và cùng nhau hòa  
nhập trong cùng một môi trường là cách tốt  
nhất để các cá nhân chia sẻ và tích lũy tri thức  
ẩn về thế giới xung quanh họ. Trong DN đó có  
thể là sự chia sẻ những thông tin, kinh nghiệm  
chăm sóc đối với một khách hàng cá biệt, về  
nhà cung ứng hay một đối thủ cạnh tranh,…  
Sau cùng những chia sẻ này sẽ giúp các nhân  
viên của doanh nghiệp đạt được một tầm nhận  
thức mới mẻ.  
thuyết về quản trị dựa trên tri thức ra đời với  
mục đích là sáng tạo, thu thập và chuyển hóa  
tri thức cá nhân thành tri thức tổ chức. Quá  
trình đó đã được thể hiển trong mô hình sáng  
tạo tri thức (SCEI) dựa trên thực tế của các  
công ty kinh doanh của Nhật Bản.  
Mô hình SECI chỉ ra 4 quá trình tạo dựng  
tri thức trong doanh nghiệp bao gồm: quá trình  
xã hội hóa (Socialiazation), quá trình ngoại hóa  
(Externalization), quá trình kết hợp  
(Combination) và quá trình nội nhập  
(Internalization)  
- Quá trình xã hội hóa (Socialiazation):  
Quá trình chia sẻ những kinh nghiệm và tạo ra  
tri thức ẩn, ở giai đoạn này tri thức ẩn của các  
32  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
Hình 2. Mô hình sáng tạo tri thức (SECI) Nguồn: [1]  
- Quá trình ngoại hóa (Externalization:  
tạp và có hệ thống hơn. Tri thức hiện sau đó  
được phổ biến trong toàn bộ tổ chức, đối với  
giai đoạn này công nghệ thông tin được coi là  
công cụ vô cùng hữu hiệu giúp các thành viên  
của tổ chức kết hợp tri thức của họ nhanh hơn  
và hiệu quả hơn.  
đây là quá trình nối kết các tri thức ẩn tàng  
thành các khái niệm rõ ràng; trong khi quá  
trình xã hội hóa thúc đẩy sự sáng tạo tri thức  
qua việc trực tiếp chia sẻ cùng một trải nghiệm  
thì trong quá trình ngoại hóa, tri thức ẩn của  
các cá nhân trở nên rõ ràng, hiển hiện thông  
qua ngôn ngữ, hình ảnh, mô hình và các hình  
thức diễn đạt khác tiếp sau đó tri thức này được  
chia sẻ trong tập thể. Trong doanh nghiệp quá  
trình ngoại hóa có thể được thực hiện thông  
qua các hoạt động như là Bộ phận nghiên cứu  
và phát triển (R&D) cố gắng thuyết trình về  
một dự án mới, các nhân viên thảo luận về một  
vấn đề đang gặp phải hay đề xuất lên ban quản  
trị về cải tiến,… Qua quá trình này, doanh  
nghiệp có thể truyền đạt những tri thức thu  
được một cách hiệu quả hơn cho nhiều người  
hơn so với tri thức khi vẫn ở dạng ẩn. Ngoài ra,  
quá trình ngoại hóa mang lại những nhận thức  
mới, qua đó tiếp tục tạo ra những tri thức mới.  
- Quá trình nội nhập (Internalization): Quá  
trình biến các tri thức hiện hữu thành tri thức  
ẩn. Tri thức hiện được tạo ra và chia sẻ trong  
toàn tổ chức sau đó được chuyển hóa thành tri  
thức ẩn trong quá trình tiếp thu. Giai đoạn này  
cũng có thể hiểu là một tập quán trong đó tri  
thức được áp dụng và sử dụng trong những tình  
huống thực tế, trở thành cơ sở cho những qui  
trình mới. Chẳng hạn như các chương trình đào  
tạo có thể giúp các học viên tiếp thu những  
kiến thức, kinh nghiệm của những người đi  
trước để bổ sung cho tri thức ẩn của bản thân.  
Nguồn tri thức ẩn này sau đó lại trải qua quá  
trình tương tác liên tục với các đối tượng như  
khách hàng, đối thủ cạnh tranh,… sẽ làm  
phong phú tri thức ẩn của toàn bộ nhóm. Tri  
thức ẩn đã được bổ sung và tiếp thu có thể tiếp  
tục được chia sẻ thông qua quá trình xã hội  
hóa, bắt đầu một quá trình SECI mới khác. Kết  
quả cuối cùng là nguồn tri thức của doanh  
nghiệp bao gồm cả tri thức ẩn và tri thức hiện  
- Quá trình kết hợp (Combination): Đây là  
quá trình phân loại và hội nhập thành các tri  
thức hiện hữu, trong quá trình này tri thức hiện  
được thu thập từ bên trong lẫn bên ngoài tổ  
chức sau đó được kết hợp, sắp xếp hoặc xử lý  
để hình thành một hệ thống tri thức hiện phức  
33  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
sẽ ngày càng được phát triển lên một tầm cao  
hơn.  
Chúng ta cũng cần hiểu rằng sự vận động  
của 4 hình thức chuyển biến tri thức tiến triển  
theo hình xoắn ốc chứ không phải là vòng tròn.  
Sáng tạo tri thức là hoạt động sáng tạo tương  
lai mà tương lai thì luôn rộng mở, hiểu rõ bản  
chất, đưa ra những quyết định hợp lý nhằm xây  
dựng và phát triển nguồn tri thức của doanh  
nghiệp sẽ là sự đảm bảo thành công cho doanh  
nghiệp trong dài hạn.  
tảng cho tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững của  
doanh nghiệp.  
3.2. Chiến lược quản trị tri thức tại DNNVV  
của Việt Nam  
Trên thế giới có những quan niệm khác  
nhau về DNNVV, mỗi nước lại có những tiêu  
thức phân loại khác nhau, song phổ biến hơn cả  
là đa phần các nước đều sử dụng 2 tiêu thức cơ  
bản đó là tổng số lao động và tổng nguồn vốn  
(hoặc giá trị tài sản) của doanh nghiệp  
Đến ngày 31/12/2011 nước ta hiện có trên  
500.000 DNNVV chiếm đến 98% số lượng  
doanh nghiệp, với số vốn đăng ký lên tới  
2.313.857 tỷ đồng ( tương đương khoảng 121  
tỷ USD). Đây là một lực lượng to lớn trong  
việc tạo ra giá trị gia tăng quốc gia, nhất là góp  
phần quan trọng trong việc ổn định kinh tế xã  
hội, tạo việc làm trong giai đoạn suy thoái kinh  
tế toàn cầu. Năm ngoái, các DNNVV đóng góp  
trên 40% GDP cả nước, 30% giá trị tổng sản  
lượng công nghiệp, 80% tổng mức bán lẻ, 64%  
tổng lượng vận chuyển hàng hóa và 98% giá trị  
sản lượng hàng hóa. Nếu tính cả 133.000 hợp  
tác xã, trang trại và các hộ kinh doanh cá thể  
thì khu vực này đóng góp vào tăng trưởng tới  
60% GDP. Những năm vừa qua, các DNNVV  
không chỉ đóng góp đáng kể vào sự phát triển  
kinh tế của đất nước mà còn giúp tạo ra hơn  
một triệu việc làm mới mỗi năm (trên 50% lao  
động xã hội).  
Nguồn gốc xuất phát yêu cầu quản trị chiến  
lược dựa trên tri thức chính là đặc điểm thay  
đổi của môi trường, tính năng động của tri thức  
và vai trò chủ chốt của quản trị chiến lược  
trong việc thích ứng, tích hợp và tái cấu trúc  
nguồn lực, năng lực hướng tới môi trường thay  
đổi đó để tạo lập và duy trì lợi thế cạnh tranh  
bền vững.  
Mối quan hệ giữa chiến lược kinh doanh,  
quản trị tri thức và lợi thế cạnh tranh thể hiện  
trong mô hình dưới đây:  
Tuy vậy các DNNVV nước ta đang đối  
diện với nhiều vấn đề, tính đến hết ngày  
31/12/2012 cả nước có trên 50.000 DNNVV  
phá sản, giải thể (cứ 10 DNNVV hoạt động thì  
có 1 DNNVV tuyên bố phá sản, giải thể),  
nguyên nhân sâu xa nằm ở năng lực điều hành,  
quản trị doanh nghiệp đặc biệt là vấn đề quản  
trị tri thức. Ở các quốc gia đang phát triển  
trong đó có Việt Nam thì các DNNVV vẫn  
chưa hiểu một cách toàn diện về vai trò của tri  
thức với chiến lược cạnh tranh của tổ chức.  
Nhiều nhà quản trị kiêm chủ sở hữu của doanh  
nghiệp chưa hiểu rõ về quản trị tri thức và  
không biết về lợi ích của nó cũng như cách áp  
dụng tri thức trong chiến lược cạnh tranh của  
doanh nghiệp. Rào cản văn hóa như thiếu lòng  
Hình 3. Mối quan hệ giữa chiến lược kinh doanh,  
tri thức và lợi thế cạnh tranh Nguồn:[4]  
Qua hình 3 cho thấy khoảng trống tri thức  
là những tri thức mà hiện hữu chưa có, cần  
phải tích hợp, chuyển đổi, sáng tạo và cải tiến  
thông qua hoạt động quản trị tri thức để tạo ra  
hoạt động quản trị chiến lược đạt được mục  
tiêu, để lấp đầy khoảng trống tri thức đó thì mô  
hình SECI là một giải pháp hữu ích. Kết hợp  
giữa chiến lược kinh doanh với quản trị tri thức  
sẽ tạo ra chiến lược quản trị tri thức, đây là nền  
34  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
tin, thiếu sự công nhận và giao tiếp ảnh hưởng  
nó, do đó làm giảm khoảng cách kiến thức tồn  
tại giữa các thực thể mà công ty cần phải biết  
để thực hiện chiến lược. Việc theo đuổi chiến  
lược của các doanh nghiệp để kết hợp được tri  
thức trong hoạt động của quản trị chiến lược  
kinh doanh là không giống nhau, bao gồm:  
đến sự chia sẻ kiến thức hiệu quả. Văn hóa tổ  
chức/doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng  
trong việc áp dụng và thực hiện thành công  
quản trị tri thức của DNNVV. Phát triển chiến  
lược quản trị tri thức giúp mọi người chia sẻ ý  
tưởng, thông tin và tri thức. Những thách thức  
chủ yếu mà DNNVV của Việt Nam phải đối  
mặt là:  
- Chiến lược hệ thống hóa/ mã hóa: là  
chiến lược nhằm mục đích tự động hóa và đề  
cao sự áp dụng công nghệ thông tin.  
- DNNVV ít có những chính sách quản trị  
tri thức ở cấp độ chiến lược  
- Chiến lược doanh nghiệp hiệu quả: là  
chiến lược trong đó doanh nghiệp sẽ chỉ áp  
dụng tri thức sẵn có vì lợi ích cao nhất của  
doanh nghiệp.  
- Người đứng đầu tổ chức có quyền ra  
quyết định và ảnh hưởng lớn đến văn hóa  
doanh nghiệp  
- Chiến lược cá nhân hóa: Chiến lược này  
nhằm xây dựng chiến lược học tập hiệu quả.  
- Sự thiếu năng lực quản trị tri thức và tầm  
nhìn tri thức khiến các DNNVV gặp khó khăn  
khi áp dụng các công cụ tinh vi của quản trị tri  
thức.  
Xét tính chất, đặc trưng, yêu cầu cũng như  
tình hình hoạt động của DNNVV tại Việt Nam  
thì trong số 3 chiến lược liệt kê ở trên thì chiến  
lược cá nhân hóa được đề xuất để quản trị tri  
thức. Đây là chiến lược quản trị thông qua và  
tập trung vào sự giao tiếp của con người, là  
phương pháp tiếp cận trực tiếp giữa người với  
người để kiến thức không chỉ được chia sẻ mặt  
đối mặt mà còn bởi giao tiếp công nghệ điện  
tử, từ đó xây dựng mạng lưới con người. Mặt  
khác, phương pháp này còn cung cấp một  
phương tiện truyền thông hữu ích có liên quan  
đến việc sử dụng con người như một cơ chế  
chia sẻ tri thức. Nếu chiến lược kinh doanh tập  
trung vào việc đưa ra lựa chọn hay khách hàng  
mới hay cải tiến sản phẩm thì chiến lược cá  
nhân hóa sẽ được chọn hơn là chiến lược cổ  
điển và thích hợp cho DNNVV hơn để thực thi  
nhiệm vụ đó một cách tự nhiên hơn. Thông qua  
chiến lược quản trị tri thức dựa trên cá nhân  
hóa, DNNVV sẽ tận dụng tài sản hữu hình và  
vô hình để học hỏi kinh nghiệm từ quá khứ,  
cho dù thành công hay không thì vẫn tạo ra tri  
thức mới.  
- Thu hút tài năng, tri thức trẻ và giữ tri  
thức  
Tóm lại các DNNVV cần hiểu và tận dụng  
những tiềm năng, lợi thế so với các doanh  
nghiệp lớn để tận dụng lợi ích to lớn mà chiến  
lược quản trị tri thức mang lại cho tổ chức  
mình, cụ thể là đem lại lợi thế cạnh tranh bền  
vững, nâng cao tính thích ứng với môi trường  
cạnh tranh khốc liệt. Kết hợp hài hòa, đồng bộ  
giữa chiến lược kinh doanh với quản trị tri thức  
giúp tạo dựng lợi thế cạnh tranh bền vững  
thông qua việc sáng tạo tri thức liên tục để thực  
hiện mục tiêu chiến lược đề ra.  
3.3. Định hướng triển khai chiến lược quản  
trị tri thức cho các DNNVV tại Việt Nam  
Thực tế trong các DNNVV tại Việt Nam  
chưa quan tâm đến chiến lược quản trị tri thức  
vì họ vẫn bị tư tưởng tối ưu hóa những mục  
đích cụ thể mà không định hướng đổi mới và  
tương lai. Thêm vào đó còn có một số thách  
thức mà đã nêu ở mục trước, trong mục này sẽ  
đưa ra định hướng chiến lược quản trị tri thức  
cho DNNVV.  
Trong DNNVV luôn tồn tại mối quan hệ ở  
các cấp độ cơ bản từ cá nhân đến tổ chức và có  
sự hỗ trợ của kỹ thuật công nghệ trong các hoạt  
động của DNNVV. Vì vậy, chiến lược quản trị  
tri thức được thực hiện ở 3 cấp độ của DNNVV  
gồm: Cấp độ con người, cấp độ tổ chức và cấp  
độ công nghệ.  
Chiến lược quản trị tri thức miêu tả  
phương pháp tiếp cận chung tới mục đích của  
tổ chức để gắn kết nguồn tri thức với khả năng  
của những yêu cầu trí tuệ trong chiến lược của  
35  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
+ Ở cấp độ con người quản trị tri thức cần  
nhấn mạnh vào năng lực, giáo dục và khả năng  
học hỏi của các thành viên trong tổ chức để tạo  
ra nhận thức quản lý tri thức và làm cho họ  
sáng tạo và năng động hơn.  
+ Ở cấp độ tổ chức, quản trị tri thức có liên  
quan đến sự phát triển tầm nhìn lãnh đạo và  
văn hóa tổ chức để đảm bảo tối đa hóa sự chia  
sẻ tri thức sáng tạo và cải tiến. Trong đó hành  
vi lãnh đạo có vai trò quan trọng trong việc  
quản trị tri thức.  
+ Ở cấp độ công nghệ: Công nghệ, hiệu  
quả quản trị tri thức yêu cầu tổ chức công nghệ  
giao tiếp phù hợp với cơ sở hạ tầng thông tin  
chẳng hạn như intranet dựa trên phân loại kho  
tri thức phù hợp.  
Hình 4. Đề xuất quy trình triển khai chiến lược  
quản trị tri thức trong DNNVV  
Nguồn: Tổng hợp từ nghiên cứu của tác giả  
Bước 2: Sáng tạo tầm nhìn tri thức: Tầm  
nhìn tri thức sẽ quy định loại hình tương lai mà  
tổ chức/ công ty hướng tới và quyết định sứ  
mệnh và phạm trù lý tưởng phù hợp, cho doanh  
nghiệp phương hướng và trọng tâm liên quan  
đến loại tri thức được tạo ra ngoài sản phẩm,  
thị trường, cấu trúc tổ chức hiện có của doanh  
nghiệp. Hạn chế cố hữu trong các DNNVV ở  
Việt Nam là hiểu biết về vai trò của tri thức và  
quản trị tri thức trong doanh nghiệp còn hạn  
chế nên tầm nhìn tri thức chưa đúng đắn. Vì  
vậy, để tránh hiểu sai và áp dụng không đúng  
thì nhiệm vụ quan trọng đầu tiên là tạo dựng  
hiểu biết đúng về quản trị tri thức. Cần quan  
niệm rằng quản trị tri thức không phải là phát  
kiến về công nghệ thông tin hay cái gì đó đảm  
bảo sự thành công nhưng đó là hoạt động trung  
tâm và diễn ra hàng ngày trong doanh nghiệp,  
đó là cơ sở tạo lợi thế cạnh tranh bền vững cho  
doanh nghiệp. Quản trị tri thức là một quá trình  
nhấn mạnh vào sự tập trung tri thức ẩn và tri  
thức hiện, như một công cụ quản lý hiệu quả  
nhằm chia sẻ, thu nhận, lưu giữ, sáng tạo tri  
thức, cung cấp đúng người, đúng lúc, đúng nơi  
nhằm nâng cao hiệu quả quyết định, thực thi,  
đạt được mục tiêu chiến lược đề ra và sự năng  
động của tổ chức.  
Lý do lựa chọn chiến lược cá nhân hóa vì  
chiến lược này không đòi hỏi đầu tư mạnh vào  
công nghệ thông tin để hệ thống hóa/ mã hóa,  
lưu trữ tri thức mà chỉ cần đầu tư ở mức độ phù  
hợp để tạo thuận lợi cho tương tác giữa cá nhân  
trong doanh nghiệp, phù hợp với năng lực của  
DNNVV bởi nguyên do các DNNVV có cấu  
trúc gọn nhẹ, phẳng hơn so với doanh nghiệp  
lớn, sự tương tác giữa các cá nhân được diễn ra  
thường xuyên hơn và tận dụng tính hiệu quả  
hơn. Mặt khác, chiến lược sử dụng tri thức  
trong doanh nghiệp phải phù hợp với cách thức  
sáng tạo, chuyển hóa tri thức của cá nhân mà  
vai trò của bối cảnh sáng tạo tri thức, nơi tri  
thức được chuyển hóa được tạo ra và chia sẻ  
thoải mái đã và đang thể hiện tính ưu việt của  
nó tại nhiều doanh nghiệp ở các nước phát triển  
và hoàn toàn phù hợp với DNNVV ở các nước  
đang phát triển, trong đó có Việt Nam.  
Bước 1: Thiết lập các mục tiêu chiến lược  
kinh doanh: Tài sản tri thức đang tồn tại của  
DNNVV sẽ có ảnh hưởng đến chiến lược của  
tổ chức, một số công ty có thể giới hạn chiến  
lược của họ vào nguồn tri thức mà họ có, trong  
khi những công ty năng động sẽ quan tâm  
nhiều hơn đến việc lấp khoảng trống những tri  
thức họ đang có và tri thức yêu cầu theo chiến  
lược mới. Chiến lược của doanh nghiệp sẽ xác  
định sản phẩm/ dịch vụ cung ứng và phạm vi  
hoạt động tức là xác định mục tiêu chiến lược  
kinh doanh mà công ty sẽ theo đuổi là gì?  
Bước 3: Tích hợp chiến lược kinh doanh  
với chiến lược quản trị tri thức: Nhiệm vụ  
quan trọng này bao gồm việc xác định vị trí  
của DNNVV, xem xét động lực quản trị tri  
thức và xác định những yêu cầu đặt ra đối với  
doanh nghiệp. Đó có thể là yêu cầu tối thiểu rủi  
36  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
ro (hướng quản trị tri thức dựa vào việc nắm  
truyền thông trong tổ chức? Mô hình sáng tạo  
tri thức SECI (Nonaka & Toyama) đã được  
nhiều doanh nghiệp Nhật Bản áp dụng thành  
công và mô hình đó hoàn toàn có thể áp dụng  
cho các DNNVV tại Việt Nam.  
bắt và định vị tri thức giá trị của doanh  
nghiệp), nâng cao hiệu quả (sử dụng tối đa tri  
thức hiện đại thông qua hoạt động chia sẻ và  
chuyển hóa) và đổi mới (tập trung vào tri thức  
mới và quá trình cần thiết cho phép sáng tạo,  
đổi mới thành công). Việc tích hợp chiến lược  
kinh doanh với chiến lược quản trị tri thức sẽ  
giúp doanh nghiệp xác định được tri thức cần  
có, cần sáng tạo để đạt được mục tiêu chiến  
lược đề ra. Căn cứ vào kho tri thức hiện tại của  
tổ chức, tiến hành phân tích điểm mạnh và  
điểm yếu một cách công khai và suy nghĩ, xác  
định loại tri thức mà doanh nghiệp đang có và  
vị trí của nó trong doanh nghiệp. DNNVV có  
thể xác định nó từ nhân sự, cấu trúc, quy trình  
và quan hệ với khách hàng để có thiết kế thích  
hợp với tri thức quan trọng đó để kết nối các kỹ  
năng của cá nhân hay lưu trữ trong các chỉ dẫn,  
tài liệu, cơ sở dữ liệu và là cơ sở để thiết lập ra  
bối cảnh sáng tạo tri thức hiệu quả. So với các  
doanh nghiệp lớn, sự thành công trong quản trị  
tri thức của DNNVV có sự khác biệt vì xu  
hướng linh hoạt, tích hợp tốt với môi trường  
quốc gia và quốc tế, sẵn sàng học hỏi từ khách  
hàng, đối thủ cạnh tranh và nhà cung ứng. Một  
chiến lược kinh doanh rõ ràng sẽ thành công  
nếu quản trị tri thức hiệu quả.  
Kết luận  
Ngày nay, các DNNVV của Việt Nam  
vẫn chưa thực sự phát triển gắn kết các hoạt  
động quản trị chiến lược dựa trên tri thức trong  
tổ chức của họ. Tất cả các DNNVV không nhất  
thiết là phải áp dụng quản trị tri thức để giải  
quyết tất cả các vấn đề nhưng DNNVV sẽ phải  
giải quyết tốt nhu cầu của thời đại cạnh tranh  
ngày nay bằng việc quản trị tri thức cá nhân và  
tổ chức, cần phải làm cho nguồn tri thức hiệu  
quả hơn với sự hỗ trợ của chiến lược quản trị  
tri thức. Do đó, bài học cho các DNNVV của  
nước ta là cần tạo ra môi trường để thúc đẩy  
tương tác giữa các cá nhân, nhóm và đảm bảo  
tối đa hóa sự tham gia và dịch chuyển ở mức  
độ cao trở nên hiệu quả hơn, cải tiến hơn, sáng  
tạo hơn và cạnh tranh hơn. Tóm lại phương  
pháp tiếp cận chiến lược tri thức cá nhân hóa là  
phù hợp nhất với các DNNVV ở nước ta bởi  
nó đem lại khả năng lớn nhất để chia sẻ, lưu trữ  
và chuyển hóa tri thức ẩn và sáng tạo tri thức  
mới giá trị của công ty. Ngoài ra chính phủ,  
các bộ ban ngành cần sớm đưa ra những chính  
sách cụ thể, quan tâm hơn nữa để giúp các  
DNNVV xây dựng hiểu biết về quản trị tri thức  
một cách đầy đủ và đúng đắn cũng như triển  
khai hiệu quả hơn. Nhà quản trị doanh nghiệp  
cần thay đổi tư duy, có thái độ tích cực để thích  
nghi với sự đổi mới, áp dụng tri thức hiệu quả  
để thực hiện chiến lược cạnh tranh bền vững  
trong bối cảnh hội nhập toàn cầu ./.  
Bước 4: Kiến tạo, cung ứng và truyền  
thông tri thức trong tổ chức: Sau khi tích hợp  
chiến lược kinh doanh với chiến lược quản trị  
tri thức, doanh nghiệp đã xác định được tri  
thức cần phải có, cần phải sáng tạo ra. Mặt  
khác, phần lớn các tri thức trong DNNVV ở  
dạng ẩn tức là nằm trong suy nghĩ các cá nhân.  
Vậy làm thế nào để kiến tạo, cung ứng và  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Ikujio Nonaka, Toru Hirata, Ryoko Toyama (2010), Quản trị dựa trên tri thức  
[2] Ikujio Nonaka (2010), Tổ chức kiến tạo tri thức, Tập bài giảng tại Việt Nam  
[3] Meir Rus (2010), Knowledge management strategies for business development, Business  
science reference, New York  
[4] Paul James (2004), Strategic management Meets knowledge Management: a literature review  
and theoretical framework  
37  
pdf 8 trang Thùy Anh 16520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chiến lược quản trị tri thức cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchien_luoc_quan_tri_tri_thuc_cho_doanh_nghiep_nho_va_vua_tai.pdf