Mối quan hệ giữa hấp dẫn thương hiệu nhà tuyển dụng và hiệu suất công việc của nhân viên: Nghiên cứu các doanh nghiệp ngành dịch vụ tại thành phố Hồ Chí Minh

Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Số 46, 2020  
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ  
HIỆU SUẤT CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH  
NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
NGUYỄN TẤN MINH  
Khoa Quản trị kinh doanh, Trường Đại học Công nghiệp Tp.HCM  
TÓM TẮT  
Bài viết này nghiên cứu mối quan hệ giữa hấp dẫn thương hiệu nhà tuyển dụng (Employer Brand  
Attractiveness - EBA) và hiệu suất công việc của nhân viên. Mẫu nghiên cứu gồm 412 nhân viên đang làm  
việc ở các doanh nghiệp ngành dịch vụ tại Tp.HCM, khảo sát bằng bảng câu hỏi từ tháng 8/2019 đến tháng  
01/2020. Từ dữ liệu thu thập, tiến hành xử lý, phân tích Cronbach's Alpha, EFA, CFA, SEM và kiểm định  
các giả thuyết của mô hình. Kết quả nghiên cứu cho thấy những thành phần giá trị của EBA được đo lường  
bằng giá trị kinh tế, giá trị phát triển, giá trị xã hội, giá trị thích thú và giá trị ứng dụng. Kết quả cũng cho  
thấy các thành phần của EBA có tác động cùng chiều đến hiệu suất công việc của nhân viên. Tuy nhiên, giá  
trị kinh tế của EBA tác động rất thấp đến hiệu suất. EBA là một chiến lược dài hạn, với mục tiêu để quản  
lý nâng cao thái độ và hành vi của nhân viên, chiến lược này có thể được điều chỉnh để thúc đẩy các nỗ lực  
trong quá trình quản lý nguồn lực của tổ chức.  
Từ khóa: thương hiệu nhà tuyển dụng, hiệu suất công việc, EB, EBA.  
RELATIONSHIP BETWEEN EMPLOYER BRAND ATTRACTIVENESS  
AND EMPLOYEE PERFORMANCE IN THE SERVICE SECTOR IN HCM  
CITY ABSTRACT  
Abstract: This article explores the relationship between employer brand attractiveness (EBA) and  
employee performance. The sample consisted of 412 employees working in service businesses in Ho Chi  
Minh City. Data were collected through surveys from questionnaires and conducted from August, 2018 to  
January, 2020. From data collected, the study is conducted to process and analysis of Cronbach's Alpha,  
EFA, CFA, SEM to test the scales and hypothesis in the research model. Research results show that the  
valuable components of EBA are measured by economic value, development value, social value, interest  
value and application value. The research also found that the valuable components of EBA have a positive  
impact on employee performance. However, the economic value of EBA has a very low impact on  
employee performance. The EBA is a long-term strategy, with the goal of management to improve  
employee attitudes and behaviors, which can be adapted to promote organizational resources management  
efforts.  
Keywords: employer brand attractiveness, employee performance, EB, EBA.  
1. GIỚI THIỆU  
Thương hiệu nhà tuyển dụng (EB - Employer Brand) được Ambler và Barrow nghiên cứu lần đầu vào năm  
1996, tác giả đã sử dụng khung lý thuyết marketing nội bộ (IM - Internal Marketing) và lý thuyết nguồn  
lực (HR - Human Resources) làm nền tảng trong nghiên cứu của mình về EB. Từ đây, hình thành một  
hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực thương hiệu. Những nghiên cứu học thuật về EB và các mối quan hệ  
liên quan đến EB tập trung thành ba hướng nghiên cứu chính. Thứ nhất, nghiên cứu khám phá khái niệm  
về EB, bao gồm những nghiên cứu về EB và xây dựng EB từ góc độ khái niệm và lý thuyết [1-5]. Thứ hai,  
nghiên cứu về quản trị và xây dựng thương hiệu nhà tuyển dụng, trong đó bao gồm những nghiên cứu đánh  
giá thực nghiệm các hoạt động, phương pháp và chiến lược tiếp thị nhằm nâng cao những hiểu biết về EB  
của các bên liên quan với tổ chức [6-8]. Thứ ba, những nghiên cứu thực nghiệm về tài sản thương hiệu nhà  
tuyển dụng. Những nghiên cứu này xác định các yếu tố của tài sản thương hiệu nhà tuyển dụng dựa trên  
nền tảng lý thuyết IM và mối quan hệ giữa chúng với nhân viên hiện hữu và nhân viên tiềm năng [9-14].  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
191  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
Nhà tuyển dụng có tài sản EB mạnh sẽ làm tăng sức hấp dẫn của thương hiệu nhà tuyển dụng [9]. Nhiều  
nghiên cứu khẳng định hấp dẫn thương hiệu nhà tuyển dụng (EBA- Employer Brand Attractiveness) cũng  
chính là hấp dẫn của tổ chức [11, 15, 16]. Sự liên quan giữa EB, EBA và các khái niệm về sức hấp dẫn của  
tổ chức đã được ghi nhận cụ thể và thể hiện rõ qua nhiều nghiên cứu [10, 11, 15, 17]. EBA là tiền đề của  
tài sản thương hiệu nhà tuyển dụng [10, 17]. EBA là tài sản vô hình của tổ chức, các tổ chức sử dụng EBA  
như một chiến lược hiệu quả để hấp dẫn và động viên người lao động trong quá trình hoạt động của tổ chức  
[8, 9]. EBA được định nghĩa là những lợi ích được hình dung mà một nhân viên tiềm năng nhận ra khi làm  
việc cho một tổ chức cụ thể [10].  
Để được coi là nhà tuyển dụng hấp dẫn bởi những người tìm việc và nhân viên, các tổ chức đã bắt đầu phân  
biệt mình với các đối thủ cạnh tranh bằng những giá trị của EBA [15]. Một số nghiên cứu tập trung khám  
phá giá trị đo lường giá trị của EBA [10, 11, 15, 18, 19] trong đó những thành phần giá trị của EBA trong  
nghiên cứu của Berthon và cộng sự (2005) được trích dẫn nhiều nhất trong các nghiên cứu liên quan đến  
EBA. Thang đo hấp dẫn nhà tuyển dụng (EmpAt - Employer Attractiveness scale) của Berthon và cộng sự  
(2005) gồm 26 biến quan sát chia thành 05 thang đo gồm (1) giá trị thích thú, (2) giá trị xã hội, (3) giá trị  
kinh tế, (4) giá trị phát triển và (5) giá trị ứng dụng. Những nghiên cứu về sau thường sử dụng EmpAt trong  
ngữ cảnh khác nhau để khám phá thêm một số thang đo mới bổ sung vào EmpAt. Đồng thời mở rộng nghiên  
cứu sang ảnh hưởng của EBA đến hành vi, thái độ, kết quả hoạt động của nhân viên trong tổ chức [19-22]  
Trong mô hình chuỗi lợi ích dịch vụ của Heskett và cộng sự (1994) đã khẳng định chất lượng dịch vụ nội  
bộ sẽ ảnh hưởng đến hài lòng của nhân viên từ đó sẽ giữ chân được nhân viên và làm tăng hiệu suất lao  
động của nhân viên. Khi nhân viên yêu quý công việc, họ sẽ làm việc hết sức mình thì hiệu suất công việc  
sẽ cao nhất. Từ đó sẽ làm cho chất lượng dịch vụ của tổ chức ngày một tăng, đáp ứng nhu cầu của khách  
hàng [23]. Hiệu suất công việc của nhân viên là quá trình nhân viên tham gia vào công việc, họ đáp ứng  
được hoặc vượt quá tiêu chuẩn thực hiện theo yêu cầu của tổ chức, thực hiệc công việc một cách sáng tạo  
và tự phát vượt ra ngoài các yêu cầu để thực hiện các hành động và hợp tác với các thành viên khác, bảo vệ  
tổ chức khỏi bị tổn hại và đưa ra các đề xuất cải tiến và phát triển tổ chức, họ là người đại diện cho tổ chức  
trước khách hàng [24]. Nghiên cứu của Punjaisri và Wilson (2011) trong lĩnh vực thương hiệu nội bộ (IB -  
Internal Brand) cho rằng khi nhân viên nhận diện được thương hiệu, trung thành với thương hiệu và gắn bó  
với thương hiệu thì hiệu suất lao động của họ sẽ tăng. Trong nghiên cứu của Backhaus và Tikoo (2004) về  
mối quan hệ giữa EB và thái độ của người lao động, nhóm tác giả khẳng định có mối quan hệ giữa EB với  
trung thành thương hiệu và hiệu suất công việc của nhân viên. EB ảnh hưởng đến năng suất lao động của  
nhân viên và của tổ chức. Vì thế một tổ chức có chiến lược phát triển EB tốt sẽ có năng suất cao hơn so với  
các tổ chức thiếu hoặc ít chú trọng đến chiến lược phát triển EB [25]. Giữa EB và hiệu suất công việc của  
nhân viên có quan hệ với nhau [26].  
Mặc dù EBA đã được nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, nhưng EBA và những mối  
quan hệ của nó vẫn là một xu hướng mới cần được nghiên cứu nhiều hơn trong từng ngữ cảnh khác nhau  
[9, 14, 27, 28]. Các nghiên cứu trước đây đã nhận ra tầm quan trọng của nhân viên trong tổ chức dịch vụ  
và khẳng định rằng khách hàng cảm nhận được hành vi và thái độ của nhân viên trong quá trình tương tác  
cung cấp dịch vụ [29-31].  
Với xu hướng trên, nghiên cứu này áp dụng EBA sang ngữ cảnh nhân viên ngành dịch vụ, những người đã  
từng biết rõ và đã trải nghiệm về giá trị EBA, dựa trên lý thuyết IM, HR, IB và EB. Đồng thời nghiên cứu  
cũng khám phá mối quan hệ giữa EBA và hiệu suất công việc của nhân viên. Nghiên cứu này với mục tiêu  
kiểm định mối quan hệ giữa EBA và hiệu suất công việc của nhân viên. Đối tượng khảo sát của nghiên cứu  
là nhân viên đang làm việc ở các doanh nghiệp ngành dịch vụ tại Tp.HCM, Việt Nam. Nghiên cứu này gồm  
5 phần: (1) giới thiệu các nghiên cứu liên quan để xác định nghiên cứu này là cần thiết; (2) cơ sở lý thuyết  
về IM, HR, IB, EB, EBA và hiệu suất công việc từ đó xác định mô hình và xây dựng các giả thuyết cần  
phải kiểm định; (3) phương pháp nghiên cứu; (4) kết quả nghiên cứu; (5) kết luận và hàm ý quản trị.  
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
2.1. Khái niệm EBA  
Khả năng thu hút, lựa chọn và giữ chân nhân tài là chìa khóa thành công trong thị trường cạnh tranh hiện  
nay. Để được coi là nhà tuyển dụng hấp dẫn bởi những người tìm việc, các tổ chức đã bắt đầu phân biệt  
mình với các đối thủ cạnh tranh bằng EBA [15]. EBA được định nghĩa là những lợi ích được hình dung mà  
một nhân viên tiềm năng sẽ nhận được khi làm việc cho một tổ chức [10]. EBA cũng là mức độ mà các ứng  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
192  
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
viên tiềm năng và nhân viên hiện tại cảm nhận được một cách có lợi về một tổ chức, nơi đây sẽ trở thành  
một nơi tuyệt vời đáng để làm việc và chúng giúp tổ chức vượt trội so với các đối thủ cạnh tranh [17].  
Theo Jiang và Iles (2011) EBA là cấu trúc hai chiều, trong đó sức hấp dẫn bên trong thể hiện nhận thức của  
nhân viên hiện tại và sức hấp dẫn bên ngoài thể hiện nhận thức của ứng viên bên ngoài. Điều này xuất phát  
từ việc xây dựng EB, EB sử dụng những nguyên tắc trong xây dựng thương hiệu áp dụng vào quá trình  
quản lý nhân lực của tổ chức [9] hay thương hiệu hướng đến khách hàng là thương hiệu của tổ chức hay  
thương hiệu sản phẩm, còn thương hiệu hướng đến người lao động là IB và EB [4]. Nghiên cứu về EBA  
thường được nghiên cứu trong ngữ cảnh là nhân viên tiềm năng ít có nghiên cứu trong ngữ cảnh của nhân  
viên hiện hữu. Tại Việt Nam, nghiên cứu EBA còn ít, thường chỉ dừng lại ở nghiên cứu IB. Ở ngữ cảnh  
Việt Nam, IB là những nỗ lực chung của cả tổ chức nhằm truyền đạt và định hướng cho nhân viên để từ đó  
họ truyền thông điệp thương hiệu ra bên ngoài [32, 33]. Theo Nguyen và Nguyen (2018) EBA được các  
ứng viên tiềm năng xem là lợi ích của tổ chức sẽ cung cấp cho họ khi họ trở thành thành viên chính thức  
của tổ chức. Cũng trong nghiên cứu này, nhóm tác giả khẳng định EBA rất quan trọng đối với tổ chức và  
các bên liên quan nên cần phải nghiên cứu ở ngữ cảnh Việt Nam.  
Nghiên cứu EBA thường hướng đến mục tiêu tuyển dụng với đối tượng là nhân viên tiềm năng, có rất ít  
nghiên cứu về EBA với nhân viên hiện hữu [18, 20]. Theo Theurer và cộng sự (2018) mặc dù hầu hết các  
khái niệm mô tả sự tập trung vào nhân viên nhưng phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm lại tập trung vào  
nhân viên tiềm năng và công tác tuyển dụng chưa đề cập đến nhân viên hiện hữu. Hơn nữa, các nghiên cứu  
chủ yếu tập trung vào các khái niệm EBA và thang đo EBA. Việc áp dụng EBA vào thực tế các mối quan  
hệ giữa EBA và những thành phần khác ở những ngữ cảnh khác nhau vẫn còn hạn chế [19, 34].  
2.2. Hiệu suất công việc  
Hiệu suất công việc được định nghĩa là các hoạt động và hành vi có thể đo lường được trong những quyết  
định của nhân viên. Trong đó nhân viên tham gia hoặc liên kết hoặc hỗ trợ cùng đồng nghiệp nhằm đạt  
được mục tiêu chung của tổ chức [35, 36]. Hiệu suất công việc (job performance) bao gồm (a) tham gia và  
ở lại trong tổ chức, (b) đáp ứng được hoặc vượt quá tiêu chuẩn thực hiện theo yêu cầu của tổ chức, (c) thực  
hiệc công việc một cách sáng tạo và tự phát vượt ra ngoài các yêu cầu được quy định để thực hiện các công  
việc và (d) hợp tác với các thành viên khác, bảo vệ tổ chức khỏi bị tổn hại, đưa ra các đề xuất cải tiến, thực  
hiện phát triển bản thân và đại diện cho tổ chức trước khách hàng [24]. Hiệu suất công việc bao gồm hiệu  
suất nhiệm vụ (task performance) và hiệu suất ngữ cảnh (contextual performance) [37].  
Hiệu suất nhiệm vụ là nhân viên thực hiện các nhiệm vụ của mình với trách nhiệm cao nhất trong bảng mô  
tả công việc của mình trong tổ chức [38]. Đồng quan điểm trên, Motowidlo và cộng sự (1997) cho rằng  
hiệu suất nhiệm vụ là hiệu quả của công việc mà nhân viên thực hiện các hoạt động đóng góp cho tổ chức.  
Hiệu suất nhiệm vụ bao gồm hai dạng hành vi. Thứ nhất, các hoạt động tổ chức sản xuất, trực tiếp biến đổi  
nguyên liệu thô thành hàng hóa và dịch vụ, ví dụ như các hoạt động: bán hàng hóa trong một cửa hàng bán  
lẻ, vận hành máy móc sản xuất trong nhà máy sản xuất, giảng dạy trong trường học, thực hiện phẫu thuật  
trong bệnh viện, kiểm tra tiền mặt trong ngân hàng… Thứ hai, các hoạt động phục vụ và duy trì kỹ thuật,  
ví dụ như: bổ sung nguồn cung cấp nguyên liệu thô, phân phối thành phẩm, cung cấp các chức năng lập kế  
hoạch, phối hợp, giám sát để hoạt động hiệu quả... Do đó, các hành vi thực hiện nhiệm vụ có mối quan hệ  
trực tiếp với phương pháp quản lý của tổ chức, bằng cách thực hiện các quy trình kỹ thuật của tổ chức hoặc  
bằng cách duy trì và phục vụ các yêu cầu kỹ thuật của tổ chức [24].  
Hiệu suất ngữ cảnh là các hành vi thực hiện theo ngữ cảnh như hỗ trợ kỹ thuật, môi trường, tổ chức, xã hội  
và tâm lý [24]. Xa hơn nghiên cứu khác lại cho rằng hiệu suất ngữ cảnh được xem như hiệu suất vai trò,  
được thực hiện bởi chính nhân viên, vượt xa những gì được yêu cầu trong bảng phân công công việc của  
họ hay một yêu cầu bên ngoài công việc chính thức của họ [39]. Hiệu suất ngữ cảnh có năm loại: (a) tình  
nguyện để thực hiện các hoạt động nhiệm vụ không phải là một phần chính thức của công việc; (b) kiên trì  
với sự nhiệt tình hơn mức cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ của mình; (c) giúp đỡ và hợp tác với những  
người khác hoàn thành nhiệm vụ; (d) tuân theo các quy tắc và thủ tục tổ chức ngay cả khi nó bất tiện cho  
cá nhân; và (e) chứng thực, hỗ trợ và bảo vệ các mục tiêu của tổ chức [40].  
Những nghiên cứu hiệu suất công việc sau này tùy theo mục tiêu nghiên cứu mà sử dụng khái niệm hiệu  
suất hoạt động hay hiệu suất ngữ cảnh, có khi kết hợp cả hai [41]. Trong ngành dịch vụ hiệu suất công việc  
cũng được nghiên cứu với nhiều tên gọi khác nhau tùy theo mục tiêu nghiên cứu và ngữ cảnh nghiên cứu  
như đa phần là hiệu suất nhiệm vụ [23, 30, 42].  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
193  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
Các nghiên cứu về hiệu suất công việc của nhân viên thường nghiên cứu nguyên nhân hình thành hiệu suất  
công việc hơn là nghiên cứu các thành phần tạo nên chúng [42, 43]. Nhiều nghiên cứu trong những năm  
qua đã nhấn mạnh mối quan hệ tích cực giữa hiệu suất của nhân viên và sự hài lòng, trung thành hoặc gắn  
bó công việc [38]. Hiệu suất công việc của mỗi nhân viên được hình thành từ nhiều nhân tố từ các bên liên  
quan với tổ chức và từ chính bản thân của nhân viên. Khi nhân viên hài lòng với công việc thì hiệu suất  
công việc của họ sẽ tăng [30]. Nhân viên cam kết với nhà quản lý về chất lượng dịch vụ mà mình làm ra  
ngày càng tốt hơn để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng thì hiệu suất công việc sẽ tăng [44].  
Khi nhân viên gắn bó và chia sẻ những nhận thức về chất lượng dịch vụ thì họ sẽ làm việc rất tốt, khi ấy  
hiệu suất công việc của họ sẽ tăng [43, 45, 46]. Một số nghiên cứu cho rằng khi nhân viên trung thành với  
thương hiệu thì hiệu suất công việc của nhân viên sẽ tăng [31, 47, 48]. Nhà tuyển dụng xây dựng được  
những thành phần giá trị thương hiệu nhà tuyển dụng tốt sẽ giữ chân được những nhân viên giỏi, từ đó năng  
suất lao động của họ sẽ tăng [9, 34].  
2.3.Phát triển giả thuyết và mô hình nghiên cứu  
Mối quan hệ giữa giá trị kinh tế của EBA và hiệu suất công việc của nhân viên: giá trị kinh tế của EBA  
bao gồm tiền lương, phần thưởng và những động viên kịp thời từ nhà quản lý [10]. Mỗi tổ chức tùy theo  
khả năng tài chính và chiến lược thu hút nhân tài của mình mà trả mức lương, thưởng cho phù hợp. Tiền  
lương và thưởng có vai trò rất quan trọng đối với người lao động, chúng phải đảm bảo trang trãi chi phí  
cuộc sống cho nhân viên kể cả gia đình của họ, chúng cũng là thước đo sự thành công hay thất bại của một  
cá nhân. Khi tổ chức trả mức lương thấp không đồng nghĩa với việc tiết kiệm chi phí, mà ngược lại tổ chức  
sẽ tốn nhiều chi phí hơn do nhân viên làm việc với hiệu suất thấp [45]. Người lao động thường lấy mức  
lương của mình ở công việc hiện tại so sánh với vị trí tương đương ở tổ chức đối thủ từ đó họ sẽ thể hiện  
thái độ và hành vi của mình thông qua năng suất lao động và hiệu suất công việc [49]. Nếu tổ chức trả lương  
cao hơn đối thủ và cao hơn mặt bằng lương hiện hành ở thị trường thì nhân viên sẽ gắn bó nhiều hơn với tổ  
chức và họ làm việc hết sức mình với hiệu suất cao nhất [50]. Như vậy, giá trị kinh tế của EBA có khả năng  
tác động cùng chiều đến hiệu suất công việc của nhân viên, nên giả thuyết H1 được phát biểu như sau:  
H1: Giá trị kinh tế của EBA có tác động cùng chiều đến hiệu suất công việc của nhân viên.  
Mối quan hệ giữa giá trị phát triển của EBA và hiệu suất công việc của nhân viên: tổ chức tạo cơ hội  
để nhân viên phát triển bản thân, phát triển nghề nghiệp và kể cả phát triển trí tuệ một cách bền vững, đó  
chính là giá trị phát triển của EBA [10]. Các tổ chức ngành dịch vụ đầu tư nhiều vào phát triển cá nhân,  
phát triển nghề nghiệp cho nhân viên sẽ tạo ra đội ngũ lao động có chất lượng cao, đây chính là lợi thế cạnh  
tranh trên thị trường. Đội ngũ nhân viên chất lượng cao sẽ tạo ra những dịch vụ chất lượng cao đáp ứng nhu  
cầu của khách hàng [30]. Việc đào tạo phát triển cá nhân và cơ hội thăng tiến trong công việc có vai trò rất  
quan trọng đối với nhân viên, chúng định vị được giá trị cá nhân trong tổ chức thậm chí còn ở thị trường  
lao động [51]. Cơ hội phát triển nghề nghiệp và phát triển cá nhân là động lực để nhân viên toàn tâm toàn  
ý làm việc hết mình cho tổ chức, từ đó làm gia tăng năng suất và hiệu suất công việc của họ [50]. Vì vậy,  
giá trị phát triển của EBA có tác động đến hiệu suất công việc của nhân viên, giả thuyết H2 được phát biểu  
như sau:  
H2: Giá trị phát triển của EBA có tác động cùng chiều đến hiệu suất công việc của nhân viên.  
Mối quan hệ giữa giá trị xã hội của EBA và hiệu suất công việc của nhân viên: các mối quan hệ xã hội  
trong tổ chức luôn được nhân viên quan tâm bởi vì đây là môi trường làm việc liên quan đến sự thuận tiện  
của từng cá nhân, chúng cũng là những điều kiện để nhân viên hoàn thành tốt công việc [10]. Trong nghiên  
cứu chuỗi cung ứng dịch vụ Heskett và cộng sự (1994) cho rằng trong ngành dịch vụ việc tạo ra những mối  
quan hệ tốt trong tổ chức sẽ giúp nhân viên nâng cao được chất lượng công việc, chất lượng của dịch vụ và  
nâng cao năng suất lao động. Một tổ chức có mối quan hệ tốt giữa nhân viên với nhau sẽ tạo điều kiện cho  
từng cá nhân phát huy được khả năng của mình, từ đó hiệu suất công việc sẽ gia tăng [52]. Nhà quản lý  
quan tâm đến đời sống vật chất tinh thần của nhân viên, đặc biệt là công việc của họ từ đó tạo điều kiện  
môi trường tốt cho nhân viên làm việc, cống hiến. Bên cạnh đó, nhà quản lý sẵn sàng giúp đỡ nhân viên khi  
họ gặp khó khăn trong cuộc sống và trong công việc từ đó họ sẽ gắn bó và làm việc hết mình, hiệu suất  
công việc sẽ được nâng cao [51]. Vì vậy, giả thuyết H3 được phát biểu như sau:  
H3: Giá trị xã hội của EBA có tác động cùng chiều đến hiệu suất công việc của nhân viên.  
Mối quan hệ giữa giá trị thích thú của EBA và hiệu suất công việc của nhân viên: Theo Berthon và  
cộng sự (2005) giá trị thích thú của EBA là những giá trị mà cá nhân bị thu hút bởi một tổ chức cung cấp  
công việc thật sự thú vị, thật sự sáng tạo để họ tạo ra những sản phẩm và dịch vụ vừa có chất lượng cao vừa  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
194  
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
có tính sáng tạo. Một số nghiên cứu cho rằng khi thực hiện công việc ngoài các phương tiện công công cụ,  
dụng cụ, máy móc thiết bị hỗ trợ cho công việc một phần không thể thiếu là công việc đang làm có hấp dẫn  
họ không. Nhà quản lý phải tạo ra môi trường để nhân viên cảm thấy công việc họ đang làm rất thú vị, rất  
hấp dẫn sẽ kích thích họ say mê trong công việc, từ đó thì hiệu suất công việc của họ sẽ gia tăng [53]. Trong  
quá trình làm việc nhà quản lý tạo điều kiện để nhân viên tự do sáng tạo, họ sẽ rất tự hào về công việc của  
mình, họ sẽ hào hứng và say mê trong công việc, từ đó tạo ra những sản phẩm sáng tạo đáp ứng nhu cầu  
của người tiêu dùng [54]. Trong nghiên cứu này kỳ vọng có mối quan hệ đồng biến giữa giá trị thích thú  
của EBA và hiệu suất công việc của nhân viên. Nên giả thuyết H4 có thể phát biểu như sau:  
H4: Giá trị thích thú của EBA có tác động cùng chiều đến hiệu suất công việc của nhân viên.  
Mối quan hệ giữa giá trị ứng dụng của EBA và hiệu suất công việc của nhân viên:  
Nhà quản lý tạo cơ hội cho nhân viên áp dụng những gì họ đã học và kinh nghiệm thực tế vào công việc  
hằng ngày truyền lại cho người khác tại tổ chức, trong môi trường được định hướng và nhân văn đó chính  
là giá trị của EBA [10]. Người lao động lúc nào cũng mong muốn được làm những công việc mà chính  
mình đã được đào tạo ở trường học hoặc kinh nghiệm từ thực tế bởi vì chúng giúp họ tự tin để thực hiện  
công việc và kết quả sẽ đúng như kỳ vọng của họ. Nhân viên cũng rất muốn chia sẽ những gì đã học, những  
kinh nghiệm của bản thân cho đồng nghiệp khác để họ cùng mình phát huy tốt trong công việc. Một số  
nghiên cứu cho rằng tổ chức tạo điều kiện cho nhân viên phát huy hết những gì đã được học áp dụng vào  
thực tế công việc thì hiệu suất công việc của nhân viên đó sẽ cao [39]. Vì vậy có giả thuyết H5 như sau:  
H5: Giá trị ứng dụng của EBA có tác động cùng chiều đến hiệu suất công việc của nhân viên.  
Mô hình nghiên cứu: Từ lý thuyết và giả thuyết nghiên cứu ở trên mô hình nghiên cứu được tác giả đề  
xuất như sau:  
H1  
H2  
Giá trị kinh tế  
Giá trị phát triển  
Giá trị xã hội  
H3  
H4  
Hiệu suất công  
việc  
Giá trị thích thú  
Giá trị ứng dụng  
H5  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
3.1. Thang đo trong nghiên cứu  
Tất cả các thang đo trong nghiên cứu đều sử dụng thang cấp độ 5 điểm của Likert với các biến quan sát  
được thừa kế từ những nghiên cứu trước. Các khái niệm trong nghiên cứu tham khảo từ các nước tiên tiến,  
khi áp dụng vào ngữ cảnh Việt Nam cần phải nghiên cứu sơ bộ để hoàn chỉnh thang đo và nghiên cứu chính  
thức nhằm kiểm định các giả thuyết. Giai đoạn nghiên cứu sơ bộ gồm thảo luận nhóm tập trung (8 nhân  
viên) và kiểm định sơ bộ thang đo với 90 mẫu bằng phân tích Cronbach’s Alpha và EFA nhằm loại hay giữ  
biến quan sát. Giai đoạn nghiên cứu chính thức khảo sát 412 mẫu và phân tích CFA, SEM.  
Thang đo của EBA: nghiên cứu xây dựng thang đo EBA được nhiều nghiên cứu đề cập đến [10, 11, 15, 18,  
19], nhưng thang đo hấp dẫn nhà tuyển dụng (EmpAt - Employer Attractiveness scale) của Berthon và  
cộng sự (2005) được trích dẫn nhiều nhất trong các nghiên cứu liên quan đến EBA. EmpAt gồm 26 biến  
quan sát chia thành 05 thang đo gồm (1) giá trị thích thú (IT), (2) giá trị xã hội (SV), (3) giá trị kinh tế (EV),  
(4) giá trị phát triển (DV) và (5) giá trị ứng dụng (AP). Giá trị kinh tế là đánh giá mức độ nhân viên bị thu  
hút bởi nhà tuyển dụng mà ở đó nhân viên được nhà tuyển dụng trả một mức lương trên mức trung bình  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
195  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
của xã hội, nhà tuyển dụng phải đảm bảo việc làm ổn định và chế độ bảo hiểm cho nhân viên. Giá trị phát  
triển là đánh giá mức độ mà nhân viên bị thu hút bởi nhà tuyển dụng mà ở đó nhân viên được nhà tuyển  
dụng công nhận những thành quả công việc của mình, nhân viên được quyền tự tạo giá trị công việc của  
mình, tự tin trong giao tiếp với nhà quản lý, được nâng cao trình độ, kinh nghiệm và luôn thấy được lộ  
trình phát triển sự nghiệp một cách rõ ràng. Giá trị xã hội là đánh giá mức độ nhân viên bị thu hút bởi một  
nhà tuyển dụng cung cấp một môi trường làm việc vui vẻ, các mối quan hệ giữa nhân viên với đồng nghiệp  
và cấp quản lý rất tốt, môi trường làm việc thân thiện cởi mở. Giá trị thích thú là đánh giá mức độ nhân  
viên bị thu hút bởi một nhà tuyển dụng mà ở đó cung cấp nơi làm việc thật sự thú vị cho nhân viên, công  
việc hấp dẫn, nhân viên có thể sử dụng tính sáng tạo của mình, nơi tổ chức quá trình sản xuất chất lượng  
cao và có sáng tạo trong việc tổ chức quá trình sản xuất. Giá trị ứng dụng là đánh giá mức độ nhân viên bị  
thu hút bởi nhà tuyển dụng mà ở đó nhà tuyển dụng tạo cơ hội cho nhân viên áp dụng và truyền đạt lại cho  
người khác ở công ty những gì họ đã được học ở trường và những kinh nghiệm thực tế.  
Thang đo hiệu suất công việc (PF): nghiên cứu này sử dụng thang đo hiệu suất công việc của Punjaisri và  
Wilson (2009) bởi vì nhóm tác giả nghiên cứu về IB rất gần với nghiên cứu EB và EBA đều nghiên cứu  
thương hiệu dựa vào nhân viên, trong đó có đo lường hiệu suất của nhân viên.  
Kết quả nghiên cứu từ việc thảo luận nhóm tập trung, tất cả các ứng viên đều đồng ý với thang đo trong  
nghiên cứu chỉ điều chỉnh ngữ nghĩa để phù hợp với ngữ cảnh Việt Nam. Kết quả kiểm định sơ bộ 06 thang  
đo trong mô hình nghiên cứu đều cho hệ số Cronbach's Alpha > 0,6 nên các thang đo này đều đáng tin cậy.  
Trong đó, biến quan sát EV3 (công ty có những phần thưởng hấp dẫn ngoài lương để khuyến khích nhân  
viên làm việc tốt) có hệ số tương quan với biến tổng bằng 0,259 < 0,3 và hệ số Cronbach’s alpha loại biến  
lớn hơn hệ số Cronbach's Alpha của thang đo (0,871 > 0,803) nên biến này bị loại khỏi mô hình [55]. Tương  
tự biến quan sát SV2 (nhân viên cảm thấy hạnh phúc với môi trường làm việc của công ty) và AP4 (công  
ty là nơi tổ chức định hướng cho khách hàng), có hệ số tương quan với biến tổng lần lượt là 0,061 và 0,262  
đều nhỏ hơn 0,3 đồng thời hệ số Cronbach’s alpha loại biến lớn hơn hệ số Cronbach's Alpha của thang đo  
nên 2 biến này cũng bị loại khỏi mô hình. Kết quả phân tích EFA với hệ số KMO = 0,842 lớn hơn 0,5 và  
mức ý nghĩa trong kiểm định Bartlett có Sig = 0,00 nhỏ hơn 0,05 chứng tỏ các thang đo phù hợp. Đồng thời  
tất cả hệ số Eigenvalues của các thang đo đều lớn hơn 1, các chỉ số tổng phương sai trích đạt 56,832% lớn  
hơn 50%, hệ số tải nhân tố của các biến quan sát đều lớn hơn 0,5 nên tất cả các thang đo có giá trị hội tụ và  
phân biệt [55].  
3.2. Thu thập số liệu và mẫu nghiên cứu  
Thời gian thực hiện khảo sát từ tháng 08/2019 đến tháng 01/2020, mẫu nghiên cứu 460 nhân viên đang làm  
việc tại các công ty thuộc lĩnh vực dịch vụ trên địa bàn Tp.HCM. Nghiên cứu này sử dụng phương pháp  
chọn mẫu phi xác xuất, cụ thể là phương pháp chọn mẫu thuận tiện. Để làm tăng mức đại diện của mẫu  
nghiên cứu, tác giả đã cố gắng thu thập dữ liệu đa dạng các dạng nghề nghiệp, lĩnh vực hoạt động của đối  
tượng nghiên cứu với các độ tuổi, vị trí, thu nhập và giới tính.  
3.3. Phương pháp đánh giá  
Dữ liệu thu thập mẫu từ thị trường nên các thang đo cần được đo lường đánh giá về giá trị trước khi kiểm  
định mô hình lý thuyết. Phân tích bằng hệ số tin cậy Cronbach’s alpha và nhân tố khám phá (EFA) để hoàn  
chỉnh thang đo của mô hình nghiên cứu. Hệ số Cronbach's Alpha lớn hơn hoặc bằng 0,6 thì thang đo đáng  
tin cậy, những biến quan sát có hệ số tương quan với biến tổng lớn hơn 0,3 thì biến quan sát này đáng tin  
cậy [55]. Phương pháp phân tích EFA sẽ đánh giá được giá trị tin cậy, giá trị hội tụ và giá trị phân biệt của  
thang đo, với kết quả hệ số KMO lớn hơn 0,5 và mức ý nghĩa trong kiểm định Bartlett có Sig nhỏ hơn 0,05  
chứng tỏ các thang đo phù hợp. Chỉ số tổng phương sai trích lớn hơn 50%, hệ số Eigenvalues lớn hơn 1 và  
hệ số tải nhân tố của các biến quan sát đều lớn hơn 0,5 thì tất cả các thang đo có giá trị hội tụ và phân biệt  
[55]. Phân tích nhân tố khẳng định (CFA) cho từng thang đo và mô hình tới hạn với có kết quả χ2 với (p)  
< 0,05; χ2 điều chỉnh theo bậc tự do CMIN/df <3; GFI > 0,9; chỉ số TLI > 0,9; CFI > 0,9 và RMSEA < 0,08  
thì thang đo hay mô hình tới hạn đó phù hợp với dữ liệu thị trường [56]. Hệ số tương quan với biến tổng  
của các biến quan sát trong từng thang đo > 0,3, độ tin cậy tổng hợp (ρc) > 0,5 và phương sai trích (ρvc) >  
0,5 các thang đo đạt giá trị và đáng tin cậy [57, 58]. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để xem  
các thang đo và mô hình nghiên cứu có phù hợp với dữ liệu thị trường hay không và cuối cùng kiểm định  
05 giả thuyết của mô hình nghiên cứu đã đưa ra.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
196  
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
4.1. Kết quả nghiên cứu  
4.1.1. Kết quả thống kê mẫu nghiên cứu  
Trong 412 mẫu nghiên cứu hợp lệ có tỷ lệ nam và nữ đồng đều nhau, trong đó nam có 197 mẫu chiếm tỷ lệ  
47,8% và nữ có 215 mẫu chiếm 52,2%, trong khi đó trình độ lại chênh lệch khá cao với đại học có 300 mẫu  
chiếm 72,8% và trình độ khác có 112 mẫu chiếm 27,2% chứng tỏ số nhân viên trong ngành dịch vụ có trình  
độ tương đối cao. Số liệu thống kê cũng cho thấy nhân viên có kinh nghiệm từ 2 đến 5 năm chiếm tỷ lệ khá  
cao có 199 mẫu chiếm 48,3%, còn lại dưới 2 năm có 127 mẫu chiếm 30,8% và trên 5 năm là 86 mẫu chiếm  
20,9 %.  
4.1.2. CFA từng thang đo  
Phân tích CFA cho 06 thang đo đơn hướng cho kết quả ở bảng 1: với χ2 của các thang đo đều có ý nghĩa  
thống kê p < 0,05; GFI > 0,9; TLI > 0,9; CFI > 0,9 và RMSEA < 0,08 nên các thang đo phù hợp với dữ liệu  
thị trường. Các biến quan sát đều có trọng số (chuẩn hóa) > 0,5 nên các thang đo đạt giá trị hội tụ. Tương  
quan giữa các biến quan sát trong cùng một thang đo có hệ số r < 0,5, Se thấp và p < 0,05 nên các thang đo  
đạt giá trị phân biệt. Đồng thời hệ số tương quan với biến tổng của các biến quan sát trong từng thang đo >  
0,3, độ tin cậy tổng hợp (ρc) > 0,5 và phương sai trích (ρvc ) > 0,5 nên các thang đo đạt giá trị và đáng tin  
cậy.  
Bảng 1: Kết quả kiểm định từng thang đo bằng phân tích CFA  
Độ tin cậy và giá trị  
Giá trị  
khác  
biệt  
(p)  
Tương  
quan  
biến  
Thang đo  
ρc  
ρvc  
tổng  
Giá trị kinh tế: p=0,036; CMIN/df =3,332; GFI =0,992; TLI=0,984; CFI=0,995; RMSEA=0,075  
EV1 Cơ hội thăng tiến tốt  
0,865  
0,789  
0,627  
0,683  
0,804  
EV2 Trả lương cơ bản cao hơn mức trung bình 0,681  
0,871 0,874 0,638 0,000  
EV4 Có chế độ bảo đảm công việc  
EV5 Có chế độ bảo hiểm tốt  
0,884  
0,749  
Giá trị phát triển: p=0,001, CMIN/df =3,107; GFI =0,977; TLI=0,977 CFI=0,986; RMSEA=0,072  
DV1 Được đánh giá cao từ các cấp quản lý  
DV2 Lộ trình phát triển sự nghiệp rõ ràng  
DV3 Cảm thấy rất tốt về bản thân  
DV4 Tự tin về bản thân  
0,843  
0,787  
0.883  
0,751  
0,564  
0,758  
0,783  
0,722  
0,828  
0,719  
0,531  
0,708  
0,893 0,896 0,594 0,000  
DV5 Đạt được sự nghiệp trong tương lai  
DV6 Nâng cao được kinh nghiệm  
Giá trị xã hội: p=0,069; CMIN/df =2,677; GFI =0,994; TLI=0,976; CFI=0,992; RMSEA=0,064  
SV1 Môi trường làm việc vui vẻ và cởi mở  
0,857  
0,675  
0,475  
0,553  
0,539  
SV3 Quan hệ tốt giữa các nhân viên với nhau 0,523  
0,760 0,767 0,560 0,000  
SV4 Có hỗ trợ và khuyến khích  
0,646  
0,646  
SV5 Quan hệ tốt giữa nhân viên với cấp trên  
Giá trị thích thú: p=0,011; CMIN/df =2,968; GFI =0,985; TLI=0,973; CFI=0,986; RMSEA=0,069  
IT1 Nơi làm việc rất thú vị 0,790 0,696 0,834 0,835 0,506 0,000  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
197  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
IT2  
IT3  
IT4  
Sử dụng lao động một cách sáng tạo  
Có đánh giá và sử dụng những sáng tạo  
0,735  
0,700  
0,665  
0,634  
0,540  
Tổ chức sản xuất một cách có chất lượng 0,591  
Sáng tạo trong việc tổ chức quá trình sản  
xuất  
IT5  
0,727  
0,638  
Giá trị ứng dụng: p=0,029; CMIN/df =3,534; GFI =0,991; TLI=0,983; CFI=0,994; RMSEA=0,078  
AP1 Được áp dụng những gì đã được học  
AP2 Được truyền đạt lại cho người khác  
AP3 Chấp nhận và phụ thuộc vào tổ chức  
0,914  
0,661  
0,545  
0,789  
0,638  
0,535  
0,849 0,856 0,609 0,000  
Thường làm từ thiện nhân đạo và công  
tác xã hội  
AP5  
0,931  
0,801  
Hiệu suất: p=0,012; CMIN/df =2,946; GFI =0,986; TLI=0,977; CFI=0,989; RMSEA=0,069  
Chất lượng công việc đáp ứng được các  
tiêu chuẩn quy định của tổ chức  
PF1  
0,892  
0,742  
Thực hiện thành công các nhiệm vụ  
được chỉ định trong bảng mô tả công  
việc  
PF2  
0,684  
0,733  
0,595  
Luôn xử lý các yêu cầu cụ thể của khách  
hàng theo quy định của tổ chức  
PF3  
PF4  
0,648 0,826 0,853 0,543 0,000  
0,404  
Kiên trì vượt qua những trở ngại để  
hoàn thành tốt nhiệm vụ  
0,404  
0,798  
Luôn tự nguyện làm nhiều hơn công  
việc đòi hỏi phải giúp đỡ người khác  
hoặc đóng góp cho hiệu quả của tổ chức  
PF5  
0,759  
4.1.3. CFA mô hình tới hạn  
Kết quả CFA cho mô hình tới hạn đồng thời 06 thang đo cho kết quả: χ2 có giá trị thống kê  
p = 0,000 < 0,05; CMIN/df = 2,213 < 3; GFI = 0,892 > 0,8; TLI = 0,920 > 0,9; CFI =  
0,929 > 0,9 và RMSEA = 0,054 < 0,08 (xem hình 2) nên mô hình tới hạn phù hợp với dữ  
liệu thị trường.  
Bảng 2: Kết quả phân tích CFA mô hình tới hạn  
Độ tin cậy  
Tổng  
phương sai  
trích (ρvc)  
Số biến  
quan sát  
Giá trị và  
độ tin cậy  
TT  
Khái niệm  
Giá trị kinh tế  
Cronbach's  
Tổng hợp  
Alpha  
0,871  
0,893  
(ρc)  
0,874  
0,896  
0,767  
0,835  
0,856  
0,853  
0,638  
0,594  
0,560  
0,506  
0,609  
0,543  
Phù hợp  
Phù hợp  
Phù hợp  
Phù hợp  
Phù hợp  
Phù hợp  
1
2
3
4
5
6
4
6
4
5
4
5
Giá trị phát triển  
Giá trị xã hội  
Giá trị thích thú  
Giá trị ứng dụng  
Hiệu suất  
0,760  
0,834  
0,849  
0,826  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
198  
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
Hình 2. CFA mô hình tới hạn  
Theo kết quả bảng 2, độ tin cậy tổng hợp có giá trị từ 0,767 đến 0,896 (> 0,5) và tổng phương sai  
trích có giá trị từ 0,506 đến 0,638 cũng lớn hơn 0,5, đồng thời các hệ số Cronbach's Alpha cho tất cả các  
thang đo sau khi CFA mô hình tới hạn đều lớn hơn 0,7 chứng tỏ các thang đo đạt giá trị và độ tin cậy. Phân  
tích hệ số tương quan giữa các thang đo dao động trong khoảng 0,028 đến 0,183 < 0,5, các sai số chuẩn  
cũng rất thấp và dao động từ 0,017 đến 0,023 và mức ý nghĩa thống kê p < 0,05, chứng tỏ những thang đo  
trong mô hình tới hạn đạt giá trị phân biệt (bảng 3).  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
199  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
Bảng 3: Kết quả tương quan giữa các thang đo trong mô hình tới hạn  
Tương quan  
Giá trị kinh tế  
R
S.E.  
C.R.  
p
Giá trị xã hội  
Giá trị thích thú  
Giá trị ứng dụng  
Hiệu suất  
<-->  
<-->  
<-->  
<-->  
<-->  
<-->  
<-->  
<-->  
<-->  
<-->  
<-->  
<-->  
<-->  
<-->  
<-->  
0,080  
0,083  
0,049  
0,080  
0,068  
0,048  
0,028  
0,183  
0,140  
0,087  
0,058  
0,069  
0,036  
0,169  
0,064  
0,017  
0,020  
0,017  
0,018  
0,019  
0,019  
0,017  
0,022  
0,023  
0,018  
0,019  
0,019  
0,019  
0,022  
0,017  
4,596  
4,117  
2,869  
4,499  
3,621  
2,489  
1,684  
8,379  
5,974  
4,928  
3,104  
3,619  
1,836  
7,567  
3,683  
0,000  
Giá trị kinh tế  
Giá trị kinh tế  
Giá trị kinh tế  
Giá trị phát triển  
Giá trị thích thú  
Giá trị ứng dụng  
Giá trị phát triển  
Giá trị phát triển  
Hiệu suất  
0,000  
0,004  
0,000  
0,000  
0,013  
0,092  
0,000  
0,000  
0,000  
0,002  
0,000  
0,066  
0,000  
0,000  
Giá trị xã hội  
Giá trị xã hội  
Giá trị xã hội  
Hiệu suất  
Giá trị thích thú  
Giá trị xã hội  
Giá trị ứng dụng  
Giá trị kinh tế  
Giá trị thích thú  
Giá trị thích thú  
Giá trị ứng dụng  
Giá trị phát triển  
Giá trị phát triển  
Giá trị ứng dụng  
Hiệu suất  
Hiệu suất  
Nguồn: kết quả tính toán của tác giả  
4.1.4. Mô hình SEM  
Kết quả phân tích SEM (hình 3) với χ2 có giá trị thống kê p = 0,000 < 0,05; CMIN/df = 2,213 < 3; CFI =  
0,929 > 0,9; TLI = 0,920 > 0,9; RMSEA = 0,054 < 0,08 và chỉ số thích hợp tốt GFI = 0,892 > 0,8. Kết quả  
này mô hình phân tích SEM phù hợp với dữ liệu thị trường.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
200  
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
Hình 3. Mô hình SEM đã chuẩn hóa  
4.1.5. Kiểm định các giả thuyết  
Kết quả kiểm định các giả thuyết ở bảng 4 với giả thuyết H2, H3, H4, H5 với hệ số hồi quy có dấu  
trùng với kỳ vọng, kết hợp với độ lệch chuẩn thấp và ý nghĩa thống kê p < 0,05 nên chấp nhận những giả  
thuyết. Riêng giả thuyết H1, mặc dù có dấu trùng với kỳ vọng nhưng ý nghĩa thống kê p = 0,111 > 0,05 giả  
thuyết này không được chấp nhận, đồng nghĩa với giá trị kinh tế của EA không ảnh hưởng đến hiệu suất  
công việc của nhân viên.  
Bảng 4: Kết quả kiểm định giả thuyết  
Hệ số  
chuẩn hóa  
Giả  
thuyết  
Phát biểu các giả  
thuyết  
Hệ số chưa  
chuẩn hóa  
Ý nghĩa thống kê  
Kỳ vọng  
Kết quả  
(p)  
H1  
Giá trị kinh tế  
+
0,032  
0,078  
0,111 Không chấp nhận  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
201  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
→ Hiệu suất  
Giá trị phát triển  
0,147  
0,072  
0,125  
0,041  
0,402  
0,168  
0,344  
0,103  
0,000  
0,003  
0,000  
0,037  
Chấp nhận  
H2  
H3  
H4  
H5  
→ Hiệu suất  
Giá trị xã hội  
→ Hiệu suất  
Giá trị thích thú  
→ Hiệu suất  
Giá trị ứng dụng  
→ Hiệu suất  
+
+
+
+
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Nguồn: kết quả tính toán của tác giả  
5. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ  
5.1. Thảo luận kết quả nghiên cứu  
Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ mối quan hệ giữa thành phần của EBA và hiệu suất công việc của nhân  
viên. Cụ thể, giả thuyết H2 được chấp nhận với hệ số β chuẩn hóa cao nhất, đồng nghĩa với giá trị phát triển  
của EBA tác động trực tiếp và mạnh nhất lên hiệu suất công việc của nhân viên. Phát hiện này phù hợp với  
nghiên cứu trước đây cho rằng khi tổ chức tạo cơ hội để nhân viên phát triển bản thân, phát triển nghề  
nghiệp kể cả phát triển trí tuệ một cách bền vững thì xu hướng nhân viên sẽ làm việc hết mình thì lúc đó  
hiệu suất công việc của họ sẽ tăng [50]. Kết quả giả thuyết H3 được chấp nhận, chứng tỏ giá trị xã hội của  
EBA ảnh hưởng đến hiệu suất công việc của nhân viên, đồng nghĩa với việc nhà tuyển dụng tạo mối quan  
hệ tốt giữa nhân viên với nhà quản lý và giữa nhân viên với nhau thì hiệu suất công việc của nhân viên sẽ  
tăng, kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Kahn (1990) và nghiên cứu của Saks (2006). Tương tự với  
giả thuyết H4 được chấp nhận và hệ số chuẩn hóa cũng tương đối cao, phù hợp với nghiên cứu của May và  
cộng sự (2004) và nghiên cứu của Mone và cộng sự (2011), một khi nhân viên cảm thấy yêu mến, thích thú  
và tự hào về tổ chức thì kỳ vọng hiệu suất công việc của nhân viên sẽ cải thiện. Giả thuyết H5 cũng được  
chấp nhận chứng tỏ một khi nhân viên nhận được sự hỗ trợ từ tổ chức về việc tiếp cận đào tạo hữu ích cho  
công việc và để họ chuyển tải những giá trị bản thân họ có được từ việc học cho những nhân viên khác sẽ  
làm gắn bó của nhân viên càng cao, từ đó hiệu suất công việc sẽ cao; kết quả này phù hợp với nghiên cứu  
của George và Bettenhausen (1990). Tuy nhiên, kết quả giả thuyết H1 bị từ chối đồng nghĩa với giá trị kinh  
tế của EBA không tác động đến hiệu suất công việc của nhân viên. Kết quả này đi ngược với những nghiên  
cứu của Markos và Sridevi (2010) cho rằng giá trị kinh tế gồm mức lương, thưởng, chế độ bảo hiểm và bảo  
đảm công việc sẽ làm gia tăng hiệu suất công việc của nhân viên.  
5.2. Hàm ý quản trị  
Kết quả nghiên cứu này giúp nhà quản trị các doanh nghiệp dịch vụ thấy được sự tác động rất mạnh những  
thành phần giá trị của EBA đến hiệu suất công việc của nhân viên. Từ đó, nhà quản trị sẽ sử dụng những  
giá trị của EBA này nhằm tăng hiệu suất công việc của nhân viên:  
Thứ nhất, giá trị phát triển có hệ số β chuẩn hóa cao nhất (0,402) chứng tỏ chúng tác động mạnh nhất đến  
hiệu suất công việc của nhân viên. Vì vậy, trong quá trình hoạt động nhà quản trị nên quan tâm đến giá trị  
phát triển cá nhân của nhân viên. Nhà quản trị phải đánh giá cao nhân viên của mình để họ luôn thấy tự tin  
về bản thân và cho họ thấy được lộ trình phát triển sự nghiệp rõ ràng, từ đó họ sẽ tự nâng cao hiệu suất công  
việc của họ.  
Thứ hai, giá trị thích thú với hệ số β chuẩn hóa cũng rất cao (0,344), giá trị này cũng tác động mạnh đến  
hiệu suất công việc của nhân viên. Nhà quản trị phải chứng tỏ tổ chức chính là nơi làm việc rất thú vị, nơi  
sử dụng lao động một cách khoa học, sáng tạo, đánh giá công việc của nhân viên một cách công bằng, từ  
đó nhân viên sẽ tạo ra những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao và hiệu suất công việc sẽ gia tăng.  
Thứ ba, giá trị xã hội tác động mạnh đến hiệu suất công việc của nhân viên với hệ số β chuẩn hóa (0,168)  
chứng tỏ môi trường xã hội trong tổ chức dịch vụ rất quan trọng đối với nhân viên. Nhà quả trị tạo môi  
trường làm việc vui vẻ, cởi mở, có mối quan hệ tốt giữa nhân viên với cấp trên, có mối quan hệ tốt giữa các  
nhân viên với đồng nghiệp, có sự hỗ trợ và khuyến khích nhân viên trong quá trình làm việc thì hiệu suất  
công việc của nhân viên sẽ cao.  
Cuối cùng, giá trị ứng dụng tác động thấp nhất đến hiệu suất công việc của nhân viên với hệ số β chuẩn hóa  
(0,103). Hiệu suất công việc của nhân viên được nâng lên khi nhà quản trị trao cơ hội cho nhân viên, để họ  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
202  
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
chia sẽ với đồng nghiệp những gì đã học, những gì đã được trãi nghiệm. Họ sẽ xem công việc của tổ chức  
chính là công việc của mình.  
6. HẠN CHẾ CỦA NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu này vẫn còn một số hạn chế: Thứ nhất, nghiên cứu này chỉ tập trung nghiên cứu các doanh  
nghiệp trong lĩnh vực dịch vụ tại Tp.HCM, nên việc chọn mẫu chưa có tính đại diện sẽ xuất hiện tính đồng  
nhất cao trong phân tích thống kê dẫn đến sự biến thiên thấp. Thứ hai, nghiên cứu này nghiên cứu mối quan  
hệ giữa giá trị EBA với hiệu suất công việc của nhân viên, những mối quan hệ khác với EBA chưa được  
nghiên cứu đến. Trong nghiên cứu này, giả thuyết H1 không được chấp nhận vì p = 0,111, ở đây có thể có  
vai trò của biến điều tiết nào đó nhưng trong nghiên cứu vẫn chưa phân tích đến.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]  
T. Ambler and S. Barrow, "The employer brand," The Journal of Brand Management, vol. 4, pp.  
85-206, 1996.  
[2]  
F. Lievens, "Employer branding in the belgian army: the importance of instrumental and  
symbolic beliefs for potential applicants, actual applicants, and military employees," Human  
Resource Management, vol. 46, pp. 51-69, 2007.  
[3]  
[4]  
[5]  
[6]  
[7]  
G. Martin, P. Beaumont, R. Doig, and J. Pate, "Branding: A new performance discourse for  
HR?," European Management Journal, vol. 23, pp. 76-88, 2005.  
R. Mosley, "Customer experience, organisational culture and the employer brand," Journal of  
Brand Management, vol. 15, pp. 123-134, 2007.  
J. Sullivan, "The eight Elements of a Successful Employment Brand," ERE Daily, pp. Retrieved  
L. Moroko and M. D. Uncles, "Employer branding and market segmentation," Journal of Brand  
Management, vol. 17, pp. 181-196, 2009.  
T. M. Gardner, N. L. Erhardt, and C. Martin-Rios, "Rebranding employment branding:  
establishing a new research agenda to explore the attributes, antecedents, and consequences of  
workers’ employment brand knowledge," Research in Personnel and Human Resources  
Management, vol. 30, pp. 253-304, 2011.  
[8]  
H. Gilani and L. Cunningham, "Employer branding and its influence on employee retention: A  
literature review," The Marketing Review, vol. 17, pp. 239-256, 2017.  
K. Backhaus and S. Tikoo, "Conceptualizing and researching employer branding," Career  
Development International, vol. 9, pp. 501-517, 2004.  
[9]  
[10]  
[11]  
P. Berthon, M. Ewing, and L. L. Hah, "Captivating company: dimensions of attractiveness in  
employer branding," International Journal of Advertising, vol. 24, pp. 151-172, 2005.  
D. B. Turban, "Organizational attractiveness as an employer on college campuses: An  
examination of the applicant population," Journal of Vocational Behavior, vol. 58, pp. 293-312,  
2001.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
             
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
203  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
[12]  
F. Lievens, G. V. Hoye, and F. Anseel, "Organizational identity and employer image: Towards a  
unifying framework," British Journal of Management, vol. 18, pp. 45-59, 2007.  
L. Moroko and M. D. Uncles, "Characteristics of successful employer brands," Journal of Brand  
Management, vol. 16, pp. 160-175, 2008.  
[13]  
[14]  
C. P. Theurer, A. Tumasjan, I. M. Welpe, and F. Lievens, "Employer branding: A brand  
equitybased literature review and research agenda," International Journal of Management  
Reviews, vol. 20, pp. 155-179, 2018.  
[15]  
[16]  
F. Lievens and S. Highhouse, "The relation of instrumental and symbolic attributes to a  
company’s attractiveness as an employer," Personnel Psychology, vol. 56, pp. 75-102, 2003.  
F. Lievens, G. V. Hoye, and B. Schreurs, "Examining the relationship between employer  
knowledge dimensions and organizational attractiveness: An application in a military context,"  
Journal of Occupational and Organizational Psychology, vol. 78, pp. 553-572, 2005.  
T. T. Jiang and P. Iles, "Employer-brand equity, organizational attractiveness and talent  
management in the Zhejiang private sector, China," Journal of Technology Management in  
China, vol. 6, pp. 97-110, 2011.  
[17]  
[18]  
[19]  
[20]  
R. Maxwell and S. Knox, "Motivating employees to “live the brand”: a comparative case study of  
employer brand attractiveness within the firm," Journal of Marketing Management, vol. 25, pp. 1-  
16, 2009.  
A. M. Sivertzen, E. R. Nilsen, and A. H. Olafsen, "Employer branding: employer attractiveness  
and the use of social media," Journal of Product & Brand Management, vol. 22, pp. 473-483,  
2013.  
M. Bodderas, J. L. Cachelin, P. Maas, and T. Schlager, "The influence of the employer brand on  
employee attitudes relevant for service branding: An empirical investigation," Journal of Services  
Marketing, vol. 57, pp. 497-508, 2011.  
[21]  
[22]  
[23]  
[24]  
A. Dabirian, J. Kietzmann, and H. Diba, "A great place to work!? Understanding crowdsourced  
employer branding," Business Horizons, vol. 60, pp. 197-205, 2017.  
C. Xie, R. P. Bagozzi, and K. V. Meland, "The impact of reputation and identity congruence on  
employer brand attractiveness," Marketing Intelligence & Planning, vol. 33, pp. 124-146, 2015.  
J. Singh, "Performance Productivity and Quality of Frontline Employees in Service  
Organizations," Journal of Marketing, vol. 64, 2000.  
S. J. Motowidlo and J. R. Van Scotter, "Evidence That Task Performance Should Be  
Distinguished From Contextual Performance," Journal of Applied Psychology, vol. 79, pp. 475-  
480, 1994.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
                   
204  
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
[25]  
A. A. Aldousari, A. Robertson, M. S. Ab Yajidb, and Z. U. Ahmed, "Impact of employer  
branding on organization’s performance," Journal of Transnational Management, vol. 22, pp.  
153-170, 2017.  
[26]  
[27]  
[28]  
H. Xia and L. Yang, "The employer branding and employee performance," 3rd International  
Conference on Information Management, Innovation Management and Industrial Engineering,  
vol. Kunming, pp. 536-558, 2010.  
I. Bakanauskienė, R. Bendaravičienė, R. Krikštolaitis, and Z. Lydeka, "Discovering an employer  
branding: identifying dimensions of employer’s attractiveness in University. ," Organizaciju  
Vadyba: SisteminiaiTyrimai, vol. 59, pp. 7-22, 2011.  
B. Piyachat, K. Chanongkorn, and M. Panisa, "The Mediate Eff ect of Employee Engagement on  
the Relatonship between Perceived Employer Branding and Discretonary Eff ort," Business &  
Economics Review, vol. 24, pp. 59-72, 2014.  
[29]  
[30]  
[31]  
[32]  
P. Boselie and T. Van der Wiele, "Employee perceptions of HRM and TQM, and the effects on  
satisfaction and intention to leave," Managing Service Quality, vol. 12, pp. 165-172, 2002.  
J. L. Heskett, T. O. Jones, G. W. Loveman, W. E. Sasser, and L. A. Schlesinger, "Putting the  
service profit chain to work," Harvard Business Review, vol. 72, pp. 164-170, 1994.  
K. Punjaisri and A. M. Wilson, "Internal branding process: key mechanisms, outcomes and  
moderating factors," European Journal of Marketing, vol. 45, pp. 1521-1537, 2011.  
T. T. H. Pham and K. Q. D. Dinh, "The influence of branding management on business  
performance: An empirical evidence from Vietnamese food and beverage industry," International  
Journal of Business Administration, vol. 7, pp. 36-43, 2016.  
[33]  
N. T. Nguyen and Y. Fassin, "The impact of internal corporate social responsibility on  
organization commitment: evidence from Vietnamese service firms," International Business  
Managemnet, vol. 10, pp. 784-792, 2016.  
[34]  
[35]  
M. K. Biswas and D. Suar, "Antecedents and onsequences of Employer Branding," Journal of  
Business Ethics, vol. 136, pp. 57-72, 2016.  
M. Rotundo and P. R. Sackett, "The relative importance of task, citizenship, and  
counterproductive performance to global ratings of job performance: A policy capturing  
approach," Journal of Applied Psychology, vol. 87, pp. 66-80, 2002.  
[36]  
[37]  
C. Viswesvaran and D. Ones, "Perspectives on models of job performance," International  
Journal of Selection and Assessment, vol. 8, pp. 216-226, 2000.  
S. J. Motowidlo, W. C. Borman, and M. J. Schmit, "A theory of individual differences in task  
performance and contextual performance," Human Performance, vol. 10, pp. 71-83, 1997.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
                         
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
205  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
[38]  
L. Williams and S. Anderson, "Job satisfaction and organizational commitment as predictors of  
organizational citizenship and in-role behaviours," Journal of Management, vol. 17, pp. 601-617,  
1991.  
[39]  
J. M. George and K. Bettenhausen, "Understanding prosocial behavior, sales performance, and  
turnover: A group level analysis in a service context," Journal of Applied Psychology, vol. 75, pp.  
698-709, 1990.  
[40]  
[41]  
[42]  
J. R. Van Scotter and S. J. Motowidlo, "Interpersonal facilitation and job dedication as separate  
facets of contextual performance," Journal or Applied Psychology, vol. 81, pp. 525-531, 1996.  
J. R. Van Scotter, S. Motowidlo, and T. Cross, "Effects of task performance and contextual  
performance on systemic rewards," Journal of Applied Psychology, vol. 85, pp. 526-535, 2000.  
L. L. Price, E. Amould, and P. Tierney, "Going to extremes: Managing service encounters and  
assessing provider  
Performance," Journal of Marketing, vol. 59, pp. 83-97, 1995.  
[43]  
A. B. Bakker and E. Demerouti, "The job demands-resources model: state of the art," Journal of  
Managerial Psychology, vol. 22, pp. 209-328, 2017.  
[44]  
E. Babakus, U. Yavas, O. M. Karatepe, and T. Avci, "The effect of management commitment to  
service quality on employees’ affective and performance outcomes " Journal of the Academy of  
Marketing Science, vol. 31, pp. 272-286, 2003.  
[45]  
M. Salanova, S. Agut, and J. M. Jose M. Peiro, "Linking organizational resources and work  
engagement to employee performance and customer loyalty: the mediation of service climate,"  
Journal of Applied Psychology, vol. 90, pp. 1217-1227, 2005.  
[46]  
[47]  
A. B. Bakker and M. P. Leiter, Work engagement. NY: Taylor & Francis 2010.  
S. Henkel, T. Tomczak, M. Heitmann, and A. Herrmann, "Managing brand consistent employee  
behaviour: relevance and managerial control of behavioural branding," Journal of Product &  
Brand Management, vol. 16, pp. 310-320, 2007.  
[48]  
K. Punjaisri, H. Evanschitzky, and A. M. Wilson, "Internal branding an enabler of  
employees’brand-supporting behaviours," Journal of Service Management, vol. 20, pp. 209-226,  
2009.  
[49]  
[50]  
[51]  
A. B. Bakker and E. Demerouti, "Towards a model of work engagement," Career Development  
International. , vol. 13, pp. 209-223, 2008.  
S. Markos and M. S. Sridevi, "Employee engagement: The key to improving performance,"  
International Journal of Business and Management, vol. 5, pp. 89-96, 2010.  
A. M. Saks, "Antecedents and consequences of employee engagement," Journal of Managerial  
Psychology, vol. 21, pp. 600-619, 2006.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
                           
206  
MỐI QUAN HỆ GIỮA HẤP DẪN THƯƠNG HIỆU NHÀ TUYỂN DỤNG VÀ HIỆU SUẤT  
CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN: NGHIÊN CỨU CÁC DOANH NGHIỆP NGÀNH DỊCH VỤ TẠI TP.HCM  
[52]  
W. Kahn, "Psychological conditions of personal engagement and disengagement at work,"  
Academy of Management Journal, vol. 33, pp. 692-724, 1990.  
[53]  
[54]  
D. R. May, R. L. Gilson, and L. M. Harter, "Psychological conditions of meaningfulness, safety  
and availability and the engagement of the human spirit at work," Journal of Occupational &  
Organizational Psychology, vol. 77, pp. 11-37, 2004.  
E. Mone, C. Eisinger, K. Guggenheim, B. Price, and C. Stine, "Performance management at the  
wheel: Driving employee engagement in organizations," Journal of Business and Psychology,  
vol. 26, pp. 205-212, 2011.  
[55]  
[56]  
[57]  
[58]  
J. F. Hair, C. Ringle, M., and M. Sarstedt, "PLS-SEM: Indeed a silver bullet," Journal of  
Marketing Theory and Practice, vol. 19, pp. 139-152, 2011.  
C. Fornell and F. L. Bookstein, "Two Structural Equation Models: LISREL and PLS Applied to  
Consumer Exit-Voice Theory," Journal of Marketing Research, vol. 19, pp. 440-452, 1982.  
C. Fornell and D. F. Larcker, "Evaluating structural equation models with unobservable variables  
and measurement error," Journal of Marketing Research, vol. 18, pp. 39-50, 1981.  
B. O. Muthen and D. Kaplan, "A comparison of some methodologies for the factor analysis of  
non - normal Likert variables: A note on the size of the model," British Journal of Mathematical  
and Statistical Psychological, vol. 38, pp. 171-198, 1985.  
Ngày nhận bài: 17/04/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 22/10/2020  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh  
             
pdf 17 trang Thùy Anh 16260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Mối quan hệ giữa hấp dẫn thương hiệu nhà tuyển dụng và hiệu suất công việc của nhân viên: Nghiên cứu các doanh nghiệp ngành dịch vụ tại thành phố Hồ Chí Minh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmoi_quan_he_giua_hap_dan_thuong_hieu_nha_tuyen_dung_va_hieu.pdf