Hộ kinh doanh ở Thành phố Hồ Chí Minh trong định hướng “chính thức hóa”: Tổng quan nghiên cứu

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
45  
HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
TRONG ĐỊNH HƯỚNG “CHÍNH THỨC HÓA”:  
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU  
HOÀNG THỊ THU HUYỀN*  
Hộ kinh doanh (hay hộ kinh doanh cá thể(1)) hiện nay đang là một chủ đề được  
quan tâm từ nhiều khía cạnh khác nhau. Hộ kinh doanh được hiểu bao gồm cả  
hộ kinh doanh có giấy phép kinh doanh (hộ kinh doanh thuộc khu vực chính  
thức) và hộ kinh doanh không có giấy phép kinh doanh (hộ kinh doanh thuộc  
khu vực phi chính thức(2)). Trên thực tế ở Việt Nam, dường như không có nhiều  
sự khác biệt giữa hộ kinh doanh phi chính thức và hộ kinh doanh chính thức. Đó  
cũng là lý do những nghiên cứu về hộ kinh doanh thường gắn với khu vực phi  
chính thức và gần đây xuất hiện ngày càng nhiều những tranh luận về việc  
“chính thức hóa” hộ kinh doanh, nhất là ở những thành phố lớn như TPHCM. Bài  
viết tổng quan về tình hình nghiên cứu hộ kinh doanh và khía cạnh “chính thức  
hóa” hộ kinh doanh tại Việt Nam; qua đó xác định những khoảng trống cần được  
tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này.  
Từ khóa: hộ kinh doanh, khu vực phi chính thức, “chính thức hóa”  
Nhận bài ngày: 26/7/2021; đưa vào biên tập: 01/8/2021; phản biện: 4/8/2021; duyệt  
đăng: 9/9/2021  
1. DẪN NHẬP  
tế ngày càng sâu rộng, những biến  
động của kinh tế, chính trị thế giới tác  
động mạnh mẽ đến kinh tế trong nước,  
thì hộ kinh doanh vẫn hoạt động khá  
hiệu quả. Tuy nhiên, ở một khía cạnh  
khác, bản chất pháp lý của hộ kinh  
doanh chưa thật sự rõ ràng, với gần  
5,2 triệu hộ kinh doanh năm 2018  
(Tổng cục Thống kê, 2019) nhưng  
chưa được điều chỉnh trong luật riêng  
và nhiều vấn đề về phát sinh trên thực  
tế như hạn chế về quy mô kinh doanh,  
thất thu thuế, không đăng ký kinh  
doanh theo quy định, tính dễ tổn  
thương, tính công bằng/cơ hội so với  
doanh nghiệp đang gây ra một số khó  
Ở Việt Nam, hộ kinh doanh đã tồn tại  
từ khá lâu và đóng một vai trò quan  
trọng trong nền kinh tế. Nếu năm 2015  
hộ kinh doanh đóng góp khoảng  
22,6% GDP (Oudin, 2017) thì năm  
2019 đã tăng lên đến khoảng 32%  
GDP (Phương Nhung - Thanh Nhân,  
2019). Không chỉ đóng góp cho tăng  
trưởng, hộ kinh doanh cũng là nơi giải  
quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập  
cho hàng triệu lao động. Bên cạnh đó,  
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…  
46  
khăn trong quản lý và định hướng tranh luận và phát triển, các nghiên  
phát triển cho khu vực này. Chính vì  
thế mà gần đây vấn đề “chính thức  
hóa” hộ kinh doanh được đặt ra trong  
nhiều công trình nghiên cứu, cũng  
như trong nhiều chương trình nghị sự  
của Chính phủ, Quốc hội.  
cứu về kinh tế phi chính thức chủ yếu  
chia làm 3 khung lý thuyết tiếp cận  
khác nhau gồm: trường phái “nhị  
nguyên”, trường phái “cấu trúc chủ  
nghĩa” và trường phái “pháp gia”(3).  
Ngày nay, hoạt động kinh tế phi chính  
thức là một hiện tượng rất phổ biến ở  
Việt Nam cũng như nhiều nước đang  
phát triển khác. Thuật ngữ “Khu vực  
phi chính thức” được Hart (1973) đề  
cập lần đầu tiên, và được mô tả là  
“một khu vực kinh tế truyền thống ở  
các nước đang phát triển”. Trên thực  
tế, định nghĩa chính xác về tên gọi khu  
vực phi chính thức còn gặp nhiều vấn  
đề xuất phát từ sự khác biệt giữa  
những đặc trưng văn hóa - xã hội cụ  
thể của từng quốc gia và vùng lãnh  
thổ cũng như sự bất cập giữa các  
khung lý thuyết khác nhau. Do đó, có  
một số bài viết (như của Sindzingre,  
2006) chất vấn giá trị của khái niệm  
phi chính thức này do sự thiếu đồng  
nhất trong việc định nghĩa cụ thể khái  
niệm phi chính thức tại nhiều hoàn  
cảnh khác nhau.  
Tại TPHCM, địa phương có quy mô  
kinh tế lớn nhất nước, có khoảng  
459.000 hộ kinh doanh năm 2018  
(Tổng cục Thống kê, 2019) đã và  
đang đóng góp quan trọng cho tăng  
trưởng của Thành phố. Hộ kinh doanh  
ở TPHCM không chỉ mang những đặc  
trưng riêng mà còn có thể mang tính  
đại diện cho hộ kinh doanh của cả  
nước. Bài viết tổng quan tình hình  
nghiên cứu về khu vực kinh tế phi  
chính thức và hộ kinh doanh trong  
định hướng “chính thức hóa” ở Việt  
Nam; đồng thời dành một phần để tìm  
hiểu vấn đề này riêng ở TPHCM.  
Nghiên cứu nhằm tìm ra các khoảng  
trống để tiếp tục tìm hiểu trong các  
nghiên cứu tiếp theo, giúp đưa ra  
những khuyến nghị chính sách có ý  
nghĩa đối với khu vực hộ kinh doanh ở  
Việt Nam nói chung và TPHCM nói  
riêng.  
Tại Hội nghị cộng đồng các nhà thống  
kê lao động quốc tế lần thứ 15 (ILO,  
1993), khái niệm khu vực phi chính  
thức (Informal Sector) được đưa ra và  
đã được Tổ chức Lao động Quốc tế  
(ILO) khuyến nghị sử dụng: Khu vực  
phi chính thức được hiểu bao gồm  
các đơn vị tham gia sản xuất hàng  
hóa hoặc dịch vụ với mục đích tạo  
việc làm và thu nhập cho những  
người liên quan. Các đơn vị này  
thường hoạt động với quy mô nhỏ,  
2. KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC VÀ HỘ  
KINH DOANH Ở VIỆT NAM – KHÁI  
NIỆM VÀ VAI TRÒ  
Các khung lý thuyết nghiên cứu về  
khu vực phi chính thức bắt đầu xuất  
hiện từ những năm 1970. Hầu hết các  
công trình nghiên cứu quan trọng về  
kinh tế phi chính thức được hoàn  
thiện và tranh luận nhiều nhất ở các  
nước Châu Mỹ Latin. Trong quá trình  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
47  
quan hệ lao động chủ yếu dựa trên và việc làm cho phép phân loại số liệu  
lao động không thường xuyên, quan  
hệ họ hàng hoặc quan hệ cá nhân  
hơn là những quan hệ qua hợp đồng  
với những đảm bảo chính thức. Các  
tiêu chí để xác định đơn vị này thuộc  
khu vực phi chính thức là: không  
được thành lập như một thực thể  
pháp lý tách biệt với chủ sở hữu của  
nó; được sở hữu và kiểm soát bởi  
thành viên của hộ gia đình; không có  
sổ sách kế toán hoàn chỉnh, bao gồm  
bảng cân đối kế toán; ít nhất một phần  
sản phẩm, dịch vụ được đưa ra thị  
trường; số người tham gia lao động  
ít hơn một ngưỡng nhất định; không  
đăng ký theo yêu cầu của pháp luật.  
lao động theo khu vực thể chế và  
phân tách riêng số liệu về khu vực phi  
chính thức. Cuộc điều tra chuyên biệt  
về Khu vực phi chính thức được thực  
hiện ở Hà Nội và TPHCM được gắn  
kết với Điều tra lao động và việc làm  
2007 nhằm tìm hiểu thêm về đặc tính  
của các hộ sản xuất kinh doanh nói  
chung và đặc biệt là của khu vực kinh  
tế phi chính thức. Hai năm sau những  
kết quả tương đối thành công này,  
Điều tra lao động và việc làm lại được  
thực hiện ở cấp độ quốc gia vào cuối  
năm 2009, bao gồm thông tin về khu  
vực kinh tế phi chính thức nhằm hỗ  
trợ cho dự án.  
Tại nhiều nước đang phát triển, phần  
lớn công ăn việc làm được tạo ra đều  
tập trung ở khu vực phi chính thức,  
khu vực đóng vai trò chủ chốt trong  
nền kinh tế quốc gia, nhưng khu vực  
này vẫn chưa được nhiều nhà nghiên  
cứu quan tâm cũng như chưa được  
tính đến nhiều trong các chính sách  
(Cling và nnk., 2013).  
Bên cạnh đó, điều tra hộ sản xuất kinh  
doanh và khu vực phi chính thức cũng  
được triển khai lặp lại ở Hà Nội và  
TPHCM dựa trên hai mẫu bao gồm:  
mẫu điều tra lặp lại đối với các hộ đã  
được điều tra năm 2007; mẫu các hộ  
mới được điều tra lần đầu năm 2009.  
Cụ thể, cỡ mẫu của cuộc điều tra này  
là 2.638 hộ, với 1.305 hộ ở Hà Nội  
(992 hộ phi chính thức và 313 hộ  
chính thức) và 1.333 hộ ở TPHCM  
(962 hộ phi chính thức và 371 hộ  
chính thức). Cuốn sách The Informal  
Sector in Vietnam: A Focus on Hanoi  
and Ho Chi Minh City (Khu vực kinh tế  
phi chính thức ở hai thành phố lớn  
của Việt Nam: Hà Nội và TPHCM) của  
nhóm tác giả Cling Jean-Pierre, Nguyễn  
Ở Việt Nam, nghiên cứu quy mô đáng  
chú ý đầu tiên về khu vực phi chính  
thức là nghiên cứu trong khuôn khổ  
dự án hợp tác giữa Tổng cục Thống  
kê Việt Nam (GSO) và Viện Nghiên  
cứu Phát triển Pháp (IDD-DIAL) từ  
năm 2006 đến năm 2011. Trong  
nghiên cứu này có hai cuộc điều tra  
liên quan được thực hiện năm 2007  
bao gồm Điều tra lao động và việc làm Thị Thu Huyền, Nguyễn Hữu Chí,  
quốc gia và điều tra chuyên biệt về Phan Thị Ngọc Trâm, Razafindrakoto  
Mireille, Roubaud Francois (2010), là  
Khu vực phi chính thức. Đây là lần  
đầu tiên ở Việt Nam, Điều tra lao động  
kết quả nghiên cứu từ cuộc khảo sát  
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…  
48  
này. Trong đó, dựa trên cơ sở khuyến nhập của khu vực phi chính thức  
nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế  
(ILO, 2002), nhóm tác giả đã thống  
nhất khái niệm: “Khu vực phi chính  
thức được định nghĩa là tất cả các  
doanh nghiệp không có tư cách pháp  
nhân sản xuất ít nhất một hoặc vài  
sản phẩm và dịch vụ để bán hoặc trao  
đổi, không đăng ký kinh doanh (không  
có giấy phép kinh doanh) và không  
thuộc ngành nông, lâm nghiệp và thủy  
sản”. Kết quả nghiên cứu còn cho  
thấy khu vực phi chính thức là nơi  
cung cấp khoảng 1/3 số việc làm cho  
người lao động ở hai thành phố, đóng  
góp khoảng 12% giá trị gia tăng, cho  
thấy vai trò quan trọng của khu vực  
này đối với nền kinh tế. Tuy có đóng  
góp đáng kể cho GDP nhưng khu vực  
này chỉ được coi là hoạt động bên lề  
của nền kinh tế vì nó có ít mối quan  
hệ với các khu vực kinh tế khác.  
nhưng trên thực tế các kết quả thu  
được dường như không đồng nhất,  
trong khi thu nhập bình quân của khu  
vực này ở TPHCM giảm thì ở Hà Nội  
tăng. Từ đây, Nguyễn Thị Thu Huyền,  
Axel Demenet, Mireille Razafindrakoto  
và François Roubaud (2010) đã có  
những kết luận về sự năng động và  
sự tồn tại của khu vực phi chính thức:  
“Kết quả thực tế cho thấy khu vực phi  
chính thức là một bộ phận cấu thành  
lớn, thậm chí đã mở rộng thêm quy  
mô trong thời kỳ khủng hoảng, trong  
nền kinh tế Việt Nam. Bất kể giả  
thuyết mà chúng ta đặt ra về sự phát  
triển trong những năm tới như thế nào,  
khu vực này sẽ vẫn tồn tại”.  
Tiếp sau đó, cuối năm 2014 đầu năm  
2015, Viện Nghiên cứu Phát triển  
Pháp với Viện Hàn lâm Khoa học xã  
hội Việt Nam (VASS) điều tra về hộ  
kinh doanh cá thể và khu vực phi  
chính thức. Đây là cuộc điều tra đầu  
tiên về khu vực này ở Việt Nam với  
đầy đủ các hợp phần khác nhau và có  
tính đại diện ở cấp quốc gia. Ở cuộc  
điều tra này, khái niệm khu vực phi  
chính thức được lấy theo khái niệm  
của Tổng cục Thống kê: “Cơ sở kinh  
tế thuộc sở hữu tư nhân, sản xuất một  
phần hàng hóa và dịch vụ để mua bán  
hoặc trao đổi, chưa đăng ký (không có  
giấy đăng ký kinh doanh) và tham gia  
vào các hoạt động phi nông nghiệp”,  
đồng thời xác định: “...khu vực phi  
chính thức bao gồm toàn bộ các hộ  
sản xuất kinh doanh cá thể không có  
giấy phép kinh doanh”. Mẫu điều tra  
Đặc biệt, khi đánh giá về tác động của  
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu  
năm 2008 đến Việt Nam, dựa vào  
khảo sát hộ kinh doanh cá thể và khu  
vực phi chính thức ở Hà Nội và  
TPHCM năm 2007 và 2009, Jean-Pierre  
Cling, Nguyễn Hữu Chí, Razafindrakoto  
Mireille, Roubaud Francois (2010) đã  
chỉ ra sự tồn tại mạnh mẽ của khu vực  
phi chính thức. Trong thời gian giữa  
hai năm 2007 và 2009, số việc làm  
trong khu vực phi chính thức đã tăng  
56.000 việc làm ở Hà Nội (tương ứng  
tăng 6%) và 206.000 việc làm ở  
TPHCM (tương ứng tăng 19%). Cuộc  
khủng hoảng kinh tế năm 2008 được  
dự báo là có tác động tiêu cực đến thu  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
49  
cuối cùng là 3.411 hộ, trong đó hộ phi kinh doanh cá thể tạo ra nhiều việc  
chính thức là 2.382, hộ chính thức là làm, đứng thứ hai ngay sau khu vực  
1.029, 57% số hộ ở khu vực thành thị, nông nghiệp; (2) Các hộ sản xuất kinh  
43% khu vực nông thôn. Cỡ mẫu lớn doanh cá thể và khu vực phi chính  
nhất thuộc về Hà Nội và TPHCM, còn thức là một yếu tố tạo ra sự dẻo dai  
lại là 12 tỉnh thành khác đại diện cho của nền kinh tế Việt Nam; (3) Hộ sản  
các vùng hành chính của Việt Nam xuất kinh doanh cá thể đóng một vai  
(Doumer và nnk., 2017).  
trò quan trọng trong nền kinh tế Việt  
Nam và vai trò nay sẽ tiếp tục duy trì  
trong trung hạn.  
Như vậy so với cuộc khảo sát hộ kinh  
doanh cá thể và khu vực phi chính  
thức năm 2007 của dự án hợp tác  
giữa Tổng cục Thống kê và Viện  
Nghiên cứu Phát triển Pháp, thì ở  
cuộc khảo sát 2014-2015, khái niệm  
khu vực phi chính thức gần như  
tương đồng với khái niệm trước  
nhưng được cụ thể hóa hơn, thuận  
tiện hơn trong việc xác định và thống  
kê. Mẫu khảo sát cũng mang tính đại  
diện hơn, nhiều nội dung được bổ  
sung vào bản câu hỏi khảo sát; đó là  
các nội dung mới về tiếp cận tín dụng,  
mạng lưới xã hội và phát triển hơn nội  
dung về bảo trợ xã hội.  
Đến năm 2016, ngoài các ấn phẩm về  
kết quả điều tra lao động việc làm  
được xuất bản hàng năm, lần đầu tiên  
Tổng cục Thống kê xuất bản ấn phẩm  
chuyên sâu: Lao động phi chính thức  
ở Việt Nam (Tổng cục Thống kê,  
2017). Ở đây, một lần nữa khái niệm  
về khu vực phi chính thức được nhắc  
lại, theo đó: Khu vực kinh tế phi chính  
thức được định nghĩa là khu vực hoạt  
động của tất cả các cơ sở sản xuất  
kinh doanh không có tư cách pháp  
nhân, sản xuất ít nhất một hoặc một  
vài sản phẩm và dịch vụ để bán hoặc  
trao đổi, không đăng ký kinh doanh  
(không có giấy phép kinh doanh). Ở  
Việt Nam, các cơ sở sản xuất kinh  
doanh hoạt động trong khu vực này  
chủ yếu là hộ sản xuất kinh doanh cá  
thể phi nông nghiệp và các tổ hợp tác.  
Kết quả của dự án được thể hiện đầy  
đủ nhất trong báo cáo được in sách  
chuyên khảo Vai trò của hộ sản xuất  
kinh doanh cá thể và khu vực phi  
chính thức trong tăng trưởng bao trùm  
ở Việt Nam (Doumer và nnk., 2017).  
Kết quả nghiên cứu cho thấy, năm  
2014 hộ sản xuất kinh doanh cá thể  
và khu vực phi chính thức tạo ra gần  
1/3 GDP phi nông nghiệp, 57% việc  
làm phi nông nghiệp và 23% tổng  
GDP. Các phát hiện nghiên cứu về vai  
trò của hộ kinh doanh và khu vực phi  
chính thức cũng được khẳng định  
mạnh mẽ hơn đó là: (1) Hộ sản xuất  
Gần đây nhất, nhằm đánh giá kết quả  
sản xuất kinh doanh của khu vực kinh  
tế chưa được quan sát, phản ánh đầy  
đủ, toàn diện hơn phạm vi, quy mô  
nền kinh tế, đề án “Thống kê khu vực  
kinh tế chưa được quan sát” (NOE) đã  
được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết  
định số 146/QĐ-TTg ngày 01/02/2019.  
Trong đó, “Khu vực kinh tế chưa được  
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…  
50  
quan sát bao gồm 5 thành tố: (1) kinh đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có kết  
tế ngầm, (2) kinh tế phi pháp, (3) kinh  
tế phi chính thức chưa được quan sát,  
(4) hoạt động kinh tế tự sản, tự tiêu, (5)  
hoạt động kinh tế bị bỏ sót do chương  
trình thu thập dữ liệu cơ bản (Tổng  
cục Thống kê, 2018).  
quả chính thức cuối cùng của đề án.  
Tóm lại, có nhiều quan điểm về khái  
niệm, cách xác định khu vực phi chính  
thức. Các nghiên cứu của Việt Nam  
dường như ngày càng tiến đến thống  
nhất chung về khái niệm, đặc biệt là  
tiêu chí để xác định, trong đó căn cứ  
mang tính chất quan trọng được đưa  
ra bởi Tổng cục Thống kê Việt Nam  
(trước khi có đề án NOE). Theo các  
tiêu chí thống nhất đến thời điểm  
trước đề án NOE thì toàn bộ hộ kinh  
Năm 2019, khi triển khai thực hiện đề  
án này, Tổng cục Thống kê đã xây  
dựng và hướng dẫn sử dụng khái  
niệm khu vực phi chính thức và hoạt  
động tự sản, tự tiêu của hộ gia đình  
tại Công văn số 1127/TCTK-TKQG  
ngày 13/9/2019. Theo đó “Khu vực phi doanh không có giấy phép kinh doanh  
(do không đăng ký hay được miễn  
đăng ký) thuộc về khu vực phi chính  
thức. Cùng với đó, vai trò của khu vực  
phi chính thức và hộ kinh doanh đã  
được khẳng định trong thời gian qua  
cũng như ít nhất là trong tương lai  
trung hạn. Việc tiếp tục nghiên cứu về  
khu vực phi chính thức và hộ kinh  
doanh nhằm góp phần xác định tiêu  
chí thống kê chính xác, phù hợp với  
thông lệ quốc tế và trong điều kiện  
của Việt Nam, đồng thời xem xét về  
sự tồn tại, cách thức tồn tại trong  
tương lai của khu vực này là những  
vấn đề hết sức cần thiết trong bối  
cảnh của Việt Nam hiện nay.  
chính thức bao gồm các cơ sở sản  
xuất kinh doanh phi nông, lâm nghiệp  
và thủy sản và sản xuất ra các sản  
phẩm (vật chất, dịch vụ) để bán trao  
đổi và không phải đăng ký kinh doanh”.  
Với khái niệm này cho thấy có một sự  
thay đổi rất đáng kể từ phía cơ quan  
thống kê trong khái niệm về “khu vực  
phi chính thức” so với khái niệm được  
đưa ra năm 2016. Nếu như khu vực  
phi chính thức trong khái niệm năm  
2016 bao gồm “Tất cả các cơ sở sản  
xuất kinh doanh không có tư cách  
pháp nhân, sản xuất ít nhất một hoặc  
một vài sản phẩm và dịch vụ để bán  
hoặc trao đổi, không đăng ký kinh  
doanh (không có giấy phép kinh  
doanh)” thì theo khái niệm mới này  
khu vực phi chính thức đã thu hẹp rất  
nhiều chỉ còn là các cơ sở sản xuất  
kinh doanh không phải đăng ký kinh  
doanh, còn những cơ sở nào dù  
không có giấy phép kinh doanh nhưng  
thuộc diện phải đăng ký thì không tính  
vào khu vực phi chính thức. Tuy nhiên,  
3. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ SỰ TỒN TẠI  
VÀ PHÁT TRIỂN HỘ KINH DOANH  
Ở VIỆT NAM TRONG ĐỊNH HƯỚNG  
“CHÍNH THỨC HÓA”  
Hộ kinh doanh là một cách gọi riêng  
có của Việt Nam và là một thực thể  
kinh doanh đã tồn tại từ khá lâu.  
Trước năm 1986 (trước Đổi mới), hộ  
kinh doanh được gọi bằng các tên  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
51  
khác nhau như: tổ chức tiểu sản xuất hóa” chỉ nổi lên từ thời điểm Luật  
hàng hóa; hộ kinh tế cá thể, tiểu chủ;  
hộ tiểu thủ công nghiệp… Năm 1988  
tại Nghị định số 27-HĐBT ngày  
09/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng  
(nay là Chính phủ) chính thức công  
nhận hộ kinh doanh dưới hình thức hộ  
kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản  
xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp,  
xây dựng, vận tải. Bắt đầu từ Luật  
Doanh nghiệp 2005 hộ kinh doanh cá  
thể được đổi tên thành hộ kinh doanh  
và quy định yêu cầu hộ kinh doanh sử  
dụng từ 10 lao động phải đăng ký  
doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp.  
Doanh nghiệp 2005.  
Dự án nghiên cứu của Tổng cục  
Thống kê Việt Nam và Viện Nghiên  
cứu Phát triển Pháp 2006-2011 (nêu  
trên) đã thực hiện một cuộc điều tra  
chuyên biệt về khu vực phi chính thức  
vào năm 2007 và 2009, đối tượng  
điều tra chính là hộ kinh doanh (bao  
gồm cả chính thức và không chính  
thức). Cling Jean-Pierre, Nguyễn Hữu  
Trí, Razafindrakoto Mireille, Roubaud  
Francois (2010) phân tích từ dữ liệu  
điều tra cho thấy giữa năm 2007-2009  
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã  
thúc đẩy mở rộng quy mô khu vực phi  
chính thức, tương ứng với việc làm  
cho tỷ lệ “chính thức hóa” hộ kinh  
doanh giảm đi. Nếu như năm 2007 tỷ  
trọng hộ sản xuất kinh doanh chính  
thức (có giấy phép kinh doanh) trong  
tổng số hộ ở Hà Nội và TPHCM tương  
ứng là 19,5% và 25,4% thì đến năm  
2009 tỷ trọng này chỉ còn là 14,3% ở  
Hà Nội (Hà Nội trước khi mở rộng) và  
17,6% ở TPHCM. Một bộ phận lớn  
chiếm đến 31% hộ sản xuất kinh  
doanh chính thức ở Hà Nội và 15% hộ  
sản xuất kinh doanh chính thức ở  
TPHCM đã gia nhập khu vực phi  
chính thức, trong khi ở cả hai thành  
phố chỉ có khoảng 1/10 hộ sản xuất  
kinh doanh phi chính thức đã chuyển  
đổi chính thức hóa.  
Các Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày  
3/2/2000 của Chính phủ về đăng ký  
kinh doanh và Nghị định số  
109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2004 đã  
lần lượt quy định hộ kinh doanh tồn tại  
như hình thức kinh tế sản xuất hàng  
hóa nhỏ gia đình (gồm các thợ thủ  
công, người làm dịch vụ nhỏ) được  
phép kinh doanh sau khi cơ quan nhà  
nước có thẩm quyền cấp giấy phép  
kinh doanh (giấy môn bài), trừ một số  
hộ được miễn không phải đăng ký  
kinh doanh tùy theo quy mô, địa điểm,  
ngành nghề… được quy định cụ thể.  
Có nghĩa là, vấn đề các hộ kinh doanh  
phải đăng ký kinh doanh một cách  
chính thức đã được quy định khá lâu  
nhưng với những diễn biến trên thực  
tế, cụm từ “chính thức hóa” vẫn được  
đặt ra trong các cuộc bàn luận, nghiên  
cứu về thành phần kinh tế này.  
Quá trình “chính thức hóa” được  
nghiên cứu sâu hơn trong dự án giữa  
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt  
Có thể thấy, nghiên cứu về hộ kinh  
doanh khá nhiều, nhưng những nghiên Nam và Viện Nghiên cứu Phát triển  
Pháp về chủ đề “Khu vực phi chính  
cứu liên quan đến vấn đề “chính thức  
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…  
52  
thức và vai trò của mạng lưới xã hội” Việt Nam giai đoạn 2007-2017. Mặc  
(đã nêu trên). Trong cuốn sách dù tác giả đã tính toán được việc giảm  
chuyên khảo (kết quả của dự án) Vai về quy mô khu vực hộ kinh doanh phi  
trò của hộ sản xuất kinh doanh cá thể chính thức và cho rằng sự giảm sút  
và khu vực phi chính thức đối với tăng này chủ yếu do sự dịch chuyển hộ sản  
trưởng bao trùm ở Việt Nam do xuất kinh doanh cá thể phi chính thức  
Doumer, L.P., Oudin, X. và Nguyễn sang chính thức mà chưa tính đến  
Thắng chủ biên (2017), ở Chương 2 một lý do khác là có những hộ phi  
“Sự phát triển của khu vực phi chính chính thức đã chuyển thành doanh  
thức và hộ sản xuất kinh doanh cá thể nghiệp theo quy định về quy mô lao  
ở Việt Nam trong thời kỳ tăng trưởng động. Đồng thời tác giả cũng không  
và tự do hóa thương mại”, Phạm Minh có cơ sở để xem xét đến các yếu tố  
Thái và Doumer (2017) đã dựa vào số ảnh hưởng đến việc “chính thức hóa”.  
liệu của cuộc điều tra Lao động việc  
Ở Chương 3 “Đặc điểm của hộ sản  
làm của Tổng cục Thống kê 2007 và  
xuất kinh doanh cá thể và khu vực phi  
2014 để đánh giá về xu hướng chính  
chính thức” của cuốn sách trên, dựa  
thức hóa khu vực phi chính thức.  
vào dữ liệu cuộc điều tra về hộ kinh  
Theo đó số lượng hộ sản xuất kinh  
doanh cá thể và khu vực phi chính  
doanh cá thể phi chính thức đã giảm  
thức năm 2014 đầu 2015 của dự án,  
nhẹ từ 7,25 triệu hộ năm 2007 xuống  
nhóm tác giả Phạm Thị Kim Thái,  
6,44 triệu hộ năm 2014, tương ứng  
Oudin. X, Doumer, L.P, Vũ Văn Ngọc  
giảm từ 80% trên tổng số hộ xuống  
(2017) đã giải thích được phần nào  
72%; và hộ sản xuất kinh doanh cá  
các yếu tố ảnh hưởng đến việc “chính  
thể chính thức tăng từ 1,82 triệu hộ  
thức hóa”. Cụ thể nguyên nhân hộ cá  
lên 2,45 triệu hộ, tương ứng tăng từ  
thể phi chính thức không đăng ký kinh  
20% lên 28%. Sau đó, cũng chính tác  
doanh thì tới 68% số hộ cho biết họ  
giả Phạm Minh Thái (2019) trong một  
không phải đăng ký kinh doanh (bất  
bài nghiên cứu khác, đã bổ sung thêm  
kể quy mô, loại hình hoạt động), 12%  
số liệu năm 2017 và so sánh trong  
cho biết không có lợi ích gì khi chính  
vòng 10 năm thì khu vực hộ sản xuất  
thức hóa, 10% cho biết do thu nhập  
kinh doanh cá thể phi chính thức đã  
không ổn định… và chỉ có 23% số hộ  
giảm từ hơn 7,2 triệu hộ năm 2007  
xuống còn 6,4 triệu hộ vào năm 2017  
phi chính thức trả lời sẵn sàng chính  
thức hóa hoạt động kinh doanh của  
(giảm khoảng 8% như giai đoạn 2007-  
mình. Từ đây các tác giả có khuyến  
nghị tới việc để thúc đẩy hộ sản xuất  
kinh doanh phi chính thức sang chính  
thức cần tuyên truyền phổ biến rộng  
rãi thông tin, quy định, cần chuẩn hóa  
ở cấp huyện để tăng tính minh bạch,  
2014), số hộ chính thức đã tăng từ 1,8  
triệu hộ lên 5,4 triệu hộ (tăng khoảng  
8% như giai đoạn 2007-2014) và kết  
luận dù tốc độ giảm chậm nhưng đã  
có xu hướng chính thức hóa trong khu  
vực hộ sản xuất kinh doanh cá thể ở  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
53  
phát triển các động lực nhằm khuyến đều do một cá nhân làm chủ; đều  
không có tư cách pháp nhân; đều chịu  
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của  
mình về các hoạt động của hộ/doanh  
nghiệp; đều không được phát hành  
chứng khoán; đều không bị hạn chế  
quy mô vốn; trong khi đó, loại hình hộ  
kinh doanh có chủ là một nhóm người,  
hộ gia đình và loại công ty hợp danh  
có một số đặc điểm tương đồng: đều  
do một nhóm người làm chủ; các  
thành viên hợp danh và các cá nhân  
là chủ hộ kinh doanh đều chịu trách  
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình  
về các hoạt động của hộ/công ty.  
khích quá trình chính thức hóa. Như  
vậy theo các tác giả thì quá trình  
chính thức hóa hộ kinh doanh chậm  
và không rõ nét, tuy nhiên về nguyên  
nhân thì chủ yếu mới được phân tích  
từ phía chính bản thân các chủ hộ  
kinh doanh.  
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế  
Trung ương (CIEM, 2017) trong Dự  
án “Sáng kiến hỗ trợ khu vực tư nhân  
vùng Mê Kông (MBI)”, đã hỗ trợ thực  
hiện Báo cáo Chính thức hóa hộ kinh  
doanh: thực trạng và khuyến nghị  
chính sách. Điểm khác biệt là nghiên  
cứu này các tiếp cận “chính thức hóa”  
đó là chuyển hộ kinh doanh sang  
thành lập, đăng ký hoạt động theo các  
hình thức doanh nghiệp quy định tại  
Luật Doanh nghiệp (gồm công ty cổ  
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,  
công ty hợp danh và doanh nghiệp tư  
nhân) và là ở cấp độ “chính quy hóa”  
hộ kinh doanh. Trong khi các nghiên  
cứu đề cập trên lại tiếp cận “chính  
thức hóa” là quá trình hộ kinh doanh  
chuyển từ phi chính thức sang chính  
thức (đăng ký kinh doanh). Và để luận  
giải tại sao hộ kinh doanh chưa “mặn  
mà” trong việc chuyển sang đăng ký  
thành lập doanh nghiệp, nghiên cứu  
này không chỉ nghiên cứu, đánh giá  
cảm nhận của hộ kinh doanh, doanh  
nghiệp còn nghiên cứu, đánh giá cả  
khía cạnh pháp lý.  
Cũng theo kết quả nghiên cứu thì có  
đến 80% số doanh nghiệp điều tra  
được thành lập mới hoàn toàn và chỉ  
có khoảng 17,8% số doanh nghiệp  
điều tra được hình thành (có nguồn  
gốc) từ các hộ kinh doanh. Thêm nữa,  
có đến 11,3% hộ kinh doanh điều tra  
thuộc diện phải đăng ký và chuyển  
sang hoạt động dưới các hình thức  
doanh nghiệp theo quy định của Luật  
Doanh nghiệp (sử dụng lao động  
thường xuyên từ 10 lao động trở lên),  
nhưng chỉ có 5,63% số hộ kinh doanh  
này dự kiến sẽ chuyển sang các loại  
hình doanh nghiệp theo quy định tại  
Luật Doanh nghiệp. Tính chung thì có  
đến 88,35% hộ kinh doanh cho rằng,  
họ không muốn đăng ký kinh doanh  
theo các loại hình doanh nghiệp do  
chưa có nhu cầu vì đang kinh doanh  
ổn định và không muốn thay đổi.  
Theo kết quả của nghiên cứu này thì  
loại hình hộ kinh doanh có chủ là cá  
nhân và loại hình doanh nghiệp tư  
nhân có một số đặc điểm tương đồng:  
Cảm nhận của các hộ kinh doanh là  
hoạt động dưới các hình thức doanh  
nghiệp có nhiều bất lợi hơn so với  
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…  
54  
hình thức hộ kinh doanh và phần lớn doanh nghiệp tư nhân tại cơ quan  
đăng ký kinh doanh); việc chuyển hộ  
kinh doanh thành công ty trách nhiệm  
hữu hạn được thực hiện tương tự như  
chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân quy  
định tại Luật Doanh nghiệp; ngoài ra,  
nếu hộ kinh doanh do nhóm người  
làm chủ muốn chuyển thành công ty  
hợp danh thì nguyên tắc chuyển đổi  
được thực hiện tương tự như chuyển  
hộ kinh doanh thành doanh nghiệp tư  
nhân.  
hộ kinh doanh quen với tập quán kinh  
doanh nhỏ, lẻ, sản xuất gia truyền nên  
ngại thay đổi. Nhìn từ khung pháp luật  
hiện hành, dù hộ kinh doanh có nhiều  
bất lợi về quyền kinh doanh; góp vốn  
thành lập, mua cổ phần, phần vốn góp  
trong các công ty… nhưng nhìn tổng  
thể hộ kinh doanh đang có nhiều lợi  
thế hơn so với các loại hình doanh  
nghiệp về các khía cạnh như đối  
tượng thành lập; hồ sơ, thủ tục thành  
lập; tổ chức quản lý; chế độ kế toán,  
tài chính, nộp thuế; chế độ công bố  
thông tin. Trong khi, khung pháp luật  
liên quan chưa quy định nhất quán về  
đối tượng thuộc diện chuyển đổi, thiếu  
chế tài thực hiện chuyển đổi; chính  
sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa  
chưa thực sự hiệu quả, chưa đủ  
khuyến khích hộ kinh doanh đủ điều  
kiện đăng ký thành lập doanh nghiệp.  
Quan điểm tiếp cận “chính thức hóa”  
của mỗi nghiên cứu đều có những lý  
lẽ riêng, từ đó đưa đến những khuyến  
nghị chính sách khác nhau. Hiện nay,  
hộ kinh doanh cá thể có nhiều vấn đề  
khá khó để đưa ra giải pháp thỏa  
đáng, vì thế việc tiếp cận nghiên cứu  
“chính thức hóa” hộ kinh doanh theo  
cả hai cách: (1) chính thức hóa bằng  
cách chuyển hộ kinh doanh phi chính  
thức (không đăng ký kinh doanh) sang  
chính thức bằng việc đăng ký kinh  
doanh; (2) chính thức hóa chuyển hộ  
kinh doanh sang thành lập, đăng ký  
hoạt động theo các hình thức doanh  
nghiệp quy định tại Luật Doanh nghiệp,  
có lẽ bao quát được nhiều khía cạnh  
của việc “chính thức hóa”, từ đó có  
được cái nhìn toàn diện hơn, góp  
phần khuyến nghị những chính sách  
phù hợp.  
Nhiều khuyến nghị chính sách được  
nghiên cứu này đưa ra, trong đó có  
khuyến nghị đáng chú ý về chuyển hộ  
kinh doanh thành doanh nghiệp, cụ  
thể: việc chuyển hộ kinh doanh do cá  
nhân làm chủ thành doanh nghiệp tư  
nhân được thực hiện theo nguyên tắc  
chuyển đổi nguyên trạng sang hình  
thức doanh nghiệp tư nhân (chủ hộ  
kinh doanh chuyển thành chủ doanh  
nghiệp tư nhân; doanh nghiệp tư nhân  
kế thừa toàn bộ các quyền và lợi ích  
hợp pháp; các khoản nợ chưa thanh  
4. NGHIÊN CỨU VỀ HỘ KINH DOANH  
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  
toán, các hợp đồng lao động và các TPHCM và Hà Nội là hai thành phố có  
số lượng hộ kinh doanh lớn nhất cả  
nước, vì vậy trong nhiều nghiên cứu  
nghĩa vụ khác của hộ kinh doanh  
được chuyển đổi; chủ hộ đăng ký  
chuyển đổi hộ kinh doanh thành về khu vực phi chính thức và hộ kinh  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
55  
doanh TPHCM thường được chọn là hầu như không đáng kể, ở TPHCM  
một địa bàn nghiên cứu chủ yếu.  
chỉ 5,3% khối lượng sản phẩm. Sản  
phẩm chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu  
của các hộ gia đình (khoảng 80% khối  
lượng sản phẩm). Sự chuyển đổi từ  
khu vực hộ sản xuất kinh doanh chính  
thức sang phi chính thức trong 2 năm  
2007-2009 là 15% (thấp hơn tỷ lệ 31%  
ở Hà Nội). Kết quả phân tích số liệu  
điều tra lặp lại cũng cho thấy, những  
hộ sản xuất kinh doanh chính thức đã  
chuyển đổi thành phi chính thức  
dường như chịu ảnh hưởng của  
khủng hoảng ít hơn so với những hộ  
vẫn duy trình hoạt động trong khu vực  
chính thức. Trái lại, những hộ sản  
xuất kinh doanh phi chính thức đã  
chuyển đổi chính thức có tốc độ tăng  
trưởng cao nhất, đặc biệt hiệu quả  
sản xuất kinh doanh của những hộ  
này cao hơn rất nhiều so với những  
hộ phi chính thức không chuyển đổi.  
Ở đây dường như có sự mâu thuẫn,  
cần có sự tìm hiểu rõ hơn mới có thể  
lý giải được (Nguyễn Thị Thu Huyền  
và nnk., 2010).  
Trong hầu hết những dự án nghiên  
cứu lớn về khu vực phi chính thức đã  
trình bày ở trên, hộ kinh doanh (cơ sở  
sản xuất kinh doanh cá thể/hộ kinh  
doanh cá thể, tùy theo cách gọi của  
mỗi nghiên cứu) ở TPHCM đã được  
phân tích, đánh giá dựa trên số liệu  
thứ cấp cũng như các cuộc khảo sát  
riêng biệt. Dự án của GSO và IRD-  
DIAL 2006-2011, đã tiến hành hai  
cuộc khảo sát hộ sản xuất kinh doanh  
ở TPHCM năm 2007 và năm 2009.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy một bức  
tranh tổng thể về cơ sở sản xuất kinh  
doanh cá thể ở TPHCM cùng sự biến  
đổi sau khoảng thời gian gần 2 năm  
của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới.  
Trong 2 năm 2007-2009, số lượng  
đơn vị sản xuất tăng thêm khoảng  
29%, số việc làm ở khu vực hộ sản  
xuất kinh doanh phi chính thức tăng  
19%, chiếm 34% trong tổng số việc  
làm, giữ vị trí dẫn đầu trong việc cung  
cấp việc làm ở TPHCM. Với nhịp độ  
tăng tương đối nhanh như vậy, không  
thể phủ nhận về tính chất thích hợp và  
sự năng động của khu vực hộ kinh  
doanh cá thể (Nguyễn Thị Thu Huyền  
và nnk., 2010).  
Dự án của VASS và IRD-DIAL 2014-  
2015 cũng tiến hành điều tra hộ sản  
xuất kinh doanh cá thể TPHCM.  
Những kết quả nghiên cứu được đưa  
ra bởi Doumer, L.P., Oudin, X. và  
Nguyễn Thắng (2017) không chỉ phản  
ánh thực trạng hộ sản xuất kinh doanh  
ở TPHCM trên nhiều mặt hoạt động  
mà còn có sự so sánh với các kết quả  
khảo sát của năm 2007. Tuy nhiên,  
một số kết quả cho thấy sự thay đổi  
không đáng kể của khu vực này như  
bình quân lao động hộ, tỷ lệ tham gia  
Nghiên cứu này cũng tìm hiểu sự hòa  
nhập của hộ sản xuất kinh doanh khu  
vực phi chính thức vào nền kinh tế,  
cho thấy khu vực này hoạt động tách  
rời, với rất ít những mối liên hệ trực  
tiếp với khu vực kinh tế chính thức.  
Khối lượng sản phẩm mà khu vực này  
cung cấp cho các doanh nghiệp lớn  
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…  
56  
bảo hiểm xã hội… Hơn thế nữa, một kinh doanh nhỏ lẻ ở Quận 1 và Quận  
2 TPHCM và phỏng vấn sâu lãnh đạo  
địa phương ở hai quận này về hộ kinh  
doanh phi chính thức tại địa bàn. Tuy  
quy mô phỏng vấn nhỏ nhưng một số  
phát hiện của nghiên cứu này cũng  
đáng lưu tâm và cần nghiên cứu thêm,  
như: đối với nhiều hộ kinh doanh phi  
chính thức, việc tiếp cận tín dụng là  
rất quan trọng trong việc duy trì hoạt  
động kinh doanh của họ. Trong tổng  
số 20 trường hợp được khảo sát, có 9  
trường hợp là hộ phải vay mượn để  
duy trì hoạt động kinh doanh, trong đó  
có 5 trường hợp phải vay mượn ở  
bên ngoài, có khi vay mượn với mức  
lãi suất từ 10-20%/tháng. Cho thấy  
rằng việc thiếu hụt những giải pháp tín  
dụng lãi suất thấp là một trong những  
vấn đề quan trọng đối với những  
người hoạt động trong khu vực phi  
chính thức. Mặc dù mạng lưới xã hội  
của cá nhân, các tổ chức dân sự như  
Hội Phụ nữ, các chương trình hỗ trợ  
xóa đói giảm nghèo, các chương trình  
Ngân hàng Nhà nước cũng có một vai  
trò quan trọng trong việc cung cấp vốn  
và tín dụng lãi suất thấp cho những  
người hoạt động trong khu vực phi  
chính thức, nhưng các nguồn này  
thường không đủ, và không đến được  
một số người lao động phi chính thức  
là dân nhập cư, không có hộ khẩu tại  
địa phương. Đặc biệt, nghiên cứu này  
còn mạnh dạn đưa ra nhận định: Định  
nghĩa của ILO về khu vực phi chính  
số chỉ tiêu thống kê tăng không đáng  
kể hoặc giảm sút cho thấy hầu như  
không có sự thay đổi của xu hướng  
“chính thức hóa” trong giai đoạn này.  
Đó là: về tỷ lệ đăng ký mã số thuế,  
năm 2014, hộ sản xuất kinh doanh  
chính thức có 75,4% có mã số thuế, tỷ  
lệ này thấp hơn năm 2007 (86,3%), hộ  
sản xuất kinh doanh phi chính thức thì  
100% không có mã số thuế; về sự sẵn  
sàng đăng ký kinh doanh của hộ sản  
xuất kinh doanh phi chính thức, có  
21,8% hộ phi chính thức năm 2014  
sẵn sàng đăng ký, tăng không đáng  
kể so với tỷ lệ 19,4% của năm 2007.  
Mặc dù vậy đã có một sự thay đổi từ  
phía hộ sản xuất kinh doanh thể hiện  
ít nhiều xu hướng “chính thức hóa”  
trong tương lai, đó là nhận thức về  
việc đăng ký kinh doanh của hộ sản  
xuất kinh doanh phi chính thức. Theo  
đó, nhận thức về lợi ích tiếp cận các  
khoản vốn vay được đánh giá cao  
nhất với tỷ lệ 45,6% năm 2014 (tăng  
rất nhiều so với năm 2007 chỉ 6,1%);  
tiếp đến là nhận thức về lợi ích bán  
sản phẩm cho các công ty lớn có tỷ lệ  
37,7% năm 2014 (cũng tăng rất cao  
so với năm 2007 chỉ 4,9%).  
Ở quy mô nhỏ hơn và theo chủ đề  
hẹp, có một số nghiên cứu riêng về hộ  
kinh doanh và khu vực phi chính thức  
(hộ kinh doanh phi chính thức) ở  
TPHCM.  
Vài nét về khu vực kinh tế phi chính thức tại các khu vực đô thị nội và  
thức tại TPHCM của Nguyễn Tuấn Vũ ngoại thành TPHCM là chưa hoàn  
(2014), là một nghiên cứu dựa trên dữ toàn hợp lý. Lý do: (1) gần một nửa  
liệu sẵn có kết hợp phỏng vấn các hộ các hộ kinh doanh phi chính thức có  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
57  
quan hệ với chính quyền địa phương, đẩy hộ kinh doanh tham gia vào khu  
các cơ quan kiểm định hoặc được sự  
hậu thuẫn của các tổ chức thuộc Mặt  
trận Tổ quốc như Hội Phụ nữ; (2)  
mặc dù không giấy phép kinh doanh  
là một yếu tố quyết định trong việc  
xác định các hộ kinh doanh thuộc khu  
vực phi chính thức, điều này có lẽ chỉ  
là yếu tố tương liên (correlate) chứ  
không phải là yếu tố quyết định vì  
thực tế hoạt động của các hộ này  
thường là quy mô nhỏ, cho nên việc  
đăng ký kinh doanh không đem lại lợi  
ích gì nhiều cho họ, và cũng không  
thay đổi tính chất hoạt động kinh  
doanh của họ. Tuy nhiên, nhận định  
này của tác giả có lẽ cần có cơ sở và  
căn cứ khoa học về mặt pháp lý,  
cũng như cần đặt trong điều kiện của  
Việt Nam và bối cảnh hội nhập quốc  
tế.  
vực phi chính thức: động lực lớn nhất  
là thu nhập, bên cạnh đó còn có một  
số động lực khác như tìm kiếm niềm  
vui, sức khỏe trong lao động, gìn giữ  
nghề truyền thống của gia đình…  
nhưng đều không phải là động lực  
chính. Và tại sao hộ kinh doanh lại  
không tham gia vào khu vực chính  
thức để tìm kiếm thu nhập: Về mặt  
chủ quan, bản thân các chủ hộ  
thường có những đặc điểm khó có thể  
tham gia vào khu vực chính thức, như:  
trình độ học vấn, chuyên môn thấp; đã  
thất nghiệp ở khu vực chính thức, sức  
khỏe không còn tốt hoặc do di cư từ  
nông thôn lên thành phố không có chỗ  
ở ổn định… Tâm lý của chủ hộ  
thường không muốn chuyển sang khu  
vực chính thức vì cho rằng không có  
thêm lợi ích từ đăng ký kinh doanh,  
thậm chí không đăng ký kinh doanh  
Báo cáo Điều tra khảo sát định tính  
khu vực TPHCM cho đề tài Khu vực để tránh đóng thuế; e ngại rủi ro khi  
phi chính thức và vai trò của mạng đầu tư mở rộng kinh doanh. Về mặt  
lưới xã hội thuộc Dự án hợp tác giữa khách quan, việc có giấy phép đăng  
VASS và IDR-DIAL (Hoàng Thị Thu ký kinh doanh không mang lại những  
Huyền, 2013) cũng là kết quả của một lợi ích thiết thực cho hộ kinh doanh  
khảo sát quy mô nhỏ tại 2 quận nội hoặc chỉ mang lại lợi ích ở một thời  
thành (Quận 1, Quận 3) và 1 quận  
ngoại thành (Quận 8). Cuộc khảo sát  
tiến hành phỏng vấn sâu 22 chủ hộ  
điểm nào đó. Vì tính chất kinh doanh  
nhỏ lẻ, cũng không cần dùng giấy  
phép kinh doanh để tiếp cận nguồn tín  
kinh doanh phi chính thức với kết quả dụng chính thức, xin cấp điện, nước,  
khảo sát khá cụ thể. Về lý do hộ kinh điện thoại... do đó một số hộ kinh  
doanh tham gia vào khu vực phi chính doanh sau khi đăng ký kinh doanh đã  
thức, có ba nhóm lý do chính: một là xin hủy để quay lại khu vực phi chính  
nhóm lý do mang tính kế thừa, hai là thức. Việc đăng ký kinh doanh gắn  
nhóm lý do mang tính tự phát và ba là liền với nghĩa vụ đóng thuế và cơ  
lý do được giới thiệu, giúp đỡ qua quan thuế có cơ sở để quản lý thuế  
mạng lưới xã hội. Về động lực thúc chặt chẽ hơn, do đó các hộ kinh  
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…  
58  
doanh hạn chế đăng ký kinh doanh để Gò Vấp có tới 68,34% hộ thuộc diện  
phải đăng ký kinh doanh nhưng chưa  
đăng ký kinh doanh. Đặc biệt, năm  
2018, Ủy ban nhân dân quận cấp  
2.417 giấy chứng nhận đăng ký hộ  
kinh doanh, thì cũng có 1.138 hộ trả  
giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh  
doanh. Nguyên nhân được chỉ ra là do  
các hộ kinh doanh chưa nghiêm túc  
thực hiện theo quy định pháp luật, cán  
bộ chuyên trách quản lý kinh tế cấp  
phường còn buông lỏng địa bàn, chưa  
dành nhiều thời gian đi địa bàn, khảo  
sát, kiểm tra hộ kinh doanh, vận động  
hộ kinh doanh thực hiện theo quy định  
và đưa vào diện quản lý. Tuy nhiên,  
còn một số nguyên nhân cơ bản chưa  
được tác giả nêu lên ở đây, đặc biệt là  
những nguyên nhân liên quan đến  
bản chất pháp lý và chính sách đối với  
hộ kinh doanh. Ngoài ra nghiên cứu  
này còn đề cập đến vấn đề chuyển đổi  
hộ kinh doanh cá thể lên doanh  
nghiệp bắt buộc (sử dụng thường  
xuyên 10 lao động trở lên) theo Luật  
Doanh nghiệp 2014. Năm 2018, số hộ  
kinh doanh cá thể có đủ điều kiện  
chuyển đổi mô hình của quận Gò Vấp  
là 242 hộ, nhưng chỉ có 191 hộ kinh  
doanh xin tư vấn làm thủ tục chuyển  
tránh đóng thuế.  
Báo cáo này cũng cân nhắc về tiêu  
chí để xác định hộ kinh doanh thuộc  
khu vực phi chính thức, thực tế cho  
thấy không đăng ký kinh doanh có lẽ  
là tiêu chí hàng đầu để xác định hộ  
kinh doanh thuộc khu vực chính thức  
hay phi chính thức. Loại kinh doanh  
nhỏ (quy mô vốn và lao động), thu  
nhập thấp và cách thức hoạt động  
không chuyên nghiệp (như không có  
tên cơ sở sản xuất kinh doanh, không  
có tài khoản của cơ sở sản xuất kinh  
doanh, không ghi chép kế toán) mới là  
những tiêu chí quan trọng để xác định  
hộ kinh doanh thuộc khu vực phi  
chính thức. Báo cáo cũng kiến nghị để  
có thể hiểu rõ hơn về khu vực này,  
nhất là để có thể đưa ra được các  
khuyến nghị chính sách thì ngoài việc  
khảo sát định lượng với mẫu lớn cần  
phải nghiên cứu trường hợp đối với  
một số doanh nghiệp hộ gia đình đặc  
thù như: nhóm hộ có quy mô lớn nhất,  
nhóm hộ có quy mô nhỏ nhất, nhóm  
hộ đã phá sản, hộ chuyển từ khu vực  
phi chính thức sang chính thức và  
ngược lại.  
Gần đây, nghiên cứu Quản lý nhà đổi lên doanh nghiệp sau khi được tư  
nước về hộ kinh doanh cá thể trên địa vấn; ý kiến chung cho thấy họ rất cân  
bàn quận Gò Vấp TPHCM của Nguyễn nhắc, thận trọng khi chuyển đổi mô  
Thị Thanh Nguyệt (2019) là một hình vì lo ngại phát sinh những vấn đề  
nghiên cứu sâu về vấn đề quản lý hộ phức tạp. Ở đây tác giả chưa đề cập  
kinh doanh cá thể trên địa bàn một tới vấn đề công tác quản lý, khi mà  
quận của TPHCM, do đó cho ra việc chuyển đổi là bắt buộc với doanh  
những kết quả khá cụ thể về nhiều nghiệp đủ điều kiện nhưng chính  
vấn đề của hộ kinh doanh cá thể. quyền địa phương lại phải vận động  
Nghiên cứu cho thấy, năm 2017 quận chuyển đổi. Mặt khác, nghiên cứu này  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
59  
cũng chưa có những phân tích cụ thể dụng nguồn dữ liệu rất lớn của Tổng  
vì được tiến hành ở thời điểm chưa có  
kết quả chính thức về số lượng hộ  
kinh doanh đã chuyển đổi thành công  
lên doanh nghiệp và quan trọng hơn  
là sau khi chuyển đổi họ đã hoạt động  
như thế nào.  
điều tra kinh tế do Tổng cục Thống kê  
thực hiện 5 năm một lần, mới nhất  
được thực hiện năm 2017. Đây là cơ  
sở dữ liệu từ điều tra tổng thể, bao  
gồm toàn bộ hộ kinh doanh cả nước,  
trong đó có TPHCM. Cuộc Tổng điều  
tra năm 2017 với bản câu hỏi khảo sát  
chứa đựng khá nhiều nội dung đáp  
ứng yêu cầu phân tích đánh giá thực  
trạng hộ kinh doanh và một số nội  
dung liên quan đến vấn đề “chính thức  
hóa”. Do đó cần có nghiên cứu sử  
dụng bộ số liệu này, không chỉ đáp  
ứng mục tiêu nghiên cứu của chủ đề  
hộ kinh doanh mà còn có độ tin cậy về  
mặt thống kê tốt hơn so với các khảo  
sát trước đó (với các chỉ tiêu tương  
ứng). Ngoài ra, cũng cần có khảo sát  
riêng đối với các hộ kinh doanh đã  
chuyển thành doanh nghiệp (đây là  
nhóm hộ chưa được khảo sát ở các  
nghiên cứu trước). Dựa trên hai cơ sở  
dữ liệu quan trọng này các nghiên cứu  
tiếp theo có khả năng đạt được các  
mục tiêu của chủ đề nghiên cứu nêu  
trên.  
Nhìn chung, chưa thực sự có nhiều  
nghiên cứu riêng về hộ kinh doanh ở  
TPHCM, nhất là trong định hướng  
“chính thức hóa”. Trong khi đó, khu  
vực này vẫn đang phát triển mạnh mẽ  
và cần có những thông tin và dữ liệu  
phân tích mới, tiếp cận theo nhiều góc  
độ, đặt trong những bối cảnh mới  
(như khủng hoảng kinh tế do đại dịch  
COVID-19) để đảm bảo giải quyết vấn  
đề toàn diện, khách quan, hiệu quả  
nhất. “Chính thức hóa” hộ kinh doanh  
hiện đang là vấn đề cần thiết cần có  
sự hồi đáp về mặt chính sách cũng  
như định hướng phát triển của khu  
vực kinh tế này trong tương lai. Hơn  
nữa, về thực tiễn áp dụng chính sách  
liên quan đến định hướng “chính thức  
hóa” như chính sách hỗ trợ hộ kinh  
doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp,  
chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa  
và nhỏ (loại hình doanh nghiệp mà đa  
số hộ kinh doanh chuyển lên) cũng  
cần được đánh giá về mặt thực tiễn.  
5. KẾT LUẬN  
Mặc dù những quan điểm, khái niệm  
và cách xác định khu vực phi chính  
thức đang tiến đến sự thống nhất  
chung trong các nghiên cứu và quy  
định chính sách ở Việt Nam, nhưng  
việc tiếp tục nghiên cứu về khu vực  
phi chính thức và hộ kinh doanh vẫn  
có nhiều ý nghĩa trong việc góp phần  
xác định tiêu chí thống kê chính xác,  
phù hợp với thông lệ quốc tế và trong  
điều kiện của Việt Nam.  
Xét về cơ sở dữ liệu nghiên cứu về hộ  
kinh doanh ở Việt Nam nói chung và  
TPHCM nói riêng, các nghiên cứu đa  
số sử dụng hai nguồn dữ liệu chính là  
dữ liệu thứ cấp của Tổng cục Thống  
kê (Niên giám Thống kê, Điều tra lao  
động việc làm) và dữ liệu tự điều tra  
(quy mô vừa hoặc nhỏ), mà chưa sử  
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…  
60  
Vai trò của khu vực phi chính thức và lý và phát triển. Do đó, việc hiểu đúng  
hộ kinh doanh cũng được khẳng định bản chất và đưa hộ kinh doanh về  
ở hầu hết các nghiên cứu đã đề cập. khu vực “chính thức” đến mức độ nào  
Mặt khác, trên thực tế, sự tồn tại khá để có những ứng xử pháp lý phù hợp  
lâu với số lượng rất lớn hộ kinh là rất cần thiết, để vừa đạt hiệu quả  
doanh cho thấy sức sống riêng của quản lý vừa để hộ kinh doanh phát  
khu vực này trong quá khứ, hiện tại huy những mặt tích cực, đóng góp  
và ít nhất là trong tương lai trung hạn. vào sự phát triển chung của khu vực  
Hiện nay quan điểm tiếp cận “chính kinh tế tư nhân, nhất là trong bối  
thức hóa” cũng đang còn nhiều tranh cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam  
luận, từ các khía cạnh pháp lý, quản hiện nay.  
CHÚ THÍCH  
(1) Kể từ Luật Doanh nghiệp 2005, hộ kinh doanh cá thể được gọi là hộ kinh doanh.  
(2) Theo Tổng cục Thống kê (2016): “Khu vực kinh tế phi chính thức được định nghĩa là khu  
vực hoạt động của tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh không có tư cách pháp nhân, sản  
xuất ít nhất một hoặc một vài sản phẩm và dịch vụ để bán hoặc trao đổi, không đăng ký kinh  
doanh (không có giấy phép kinh doanh)” (Báo cáo Lao động phi chính thức năm 2016).  
(3) Trường phái “nhị nguyên”, vốn xuất thân từ các chương trình nghiên cứu của Lewis (1954)  
và Harris - Todaro (1970), đây cũng là trường phái lâu đời nhất. Trường phái lý luận này cho  
rằng hiện tượng kinh tế phi chính thức là một nền kinh tế phụ luôn xuất hiện ở bất kỳ xã hội  
nào vì nền kinh tế chính thức không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu việc làm của người lao  
động. Trên cơ sở đó, kinh tế phi chính thức được xem là một thực thể tự nhiên của thị  
trường và không có quan hệ gì nhiều với kinh tế chính thức.  
Trường phái “cấu trúc chủ nghĩa”, xuất phát từ nghiên cứu của một số học giả Marxist  
(Moser, 1978; Portes, 1989). Trường phái này phủ nhận mặc định của trường phái “nhị  
nguyên” và cho rằng có sự phụ thuộc chặt chẽ giữa hai khu vực phi chính thức và chính  
thức. Theo quan điểm của trường phái “cấu trúc chủ nghĩa”, khu vực phi chính thức là một  
phần phụ trợ chuyên cung cấp hàng hóa và lao động rẻ cho hệ thống kinh tế tư bản chính  
thức. Chính vì thế, tính cạnh tranh và độ mềm dẻo của một nền kinh tế cũng phần nào phụ  
thuộc vào khu vực phi chính thức.  
Trường phái “pháp gia” còn được gọi là trường phái “chính thống” vốn dựa vào các nghiên  
cứu của nhà kinh tế De Soto (1989). Trường phái này lý luận rằng khu vực phi chính thức  
xuất hiện do chi phí hành chính cho việc gia nhập khu vực kinh tế chính thức quá cao dẫn  
đến việc nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ phải hoạt động một cách “phi chính  
thức.” Dựa trên quan điểm này, sự xuất hiện của một khu vực phi chính thức thường phản  
ánh sự bất cập của hệ thống pháp lý và hành chính vốn tạo ra nhiều rào cản cho việc tham  
gia vào khu vực chính thức của các cơ sở sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ. Trường phái  
“pháp gia” có sự tương phản mạnh mẽ về hàm ý chính sách với trường phái “cấu trúc chủ  
nghĩa”. Trong khi trường phái “cấu trúc chủ nghĩa” nhấn mạnh việc đặt ra các chính sách  
thống nhất để đảm bảo phúc lợi cho người lao động trong khu vực phi chính thức, thì ngược  
lại, trường phái “pháp gia” hướng đến việc tạo điều kiện cho sự phát triển của các cơ sở sản  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021  
61  
xuất trong khu vực phi chính thức bằng cách tư nhân hóa và giảm thiểu các quy định pháp lý  
thừa thãi (Cling Jean-Pierre, Nguyễn Thị Thu Huyền, Nguyễn Hữu Chí, Phan Thị Ngọc Trâm,  
Razafindrakoto Mireille, Roubaud Francois, 2010).  
Đây là những luận điểm rất đáng chú ý để nhìn nhận về khu vực phi chính thức và hộ kinh  
doanh, cũng như trong xây dựng chính sách cho khu vực kinh tế này.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. CIEM. 2017. Chính thức hóa hộ kinh doanh, thực trạng và khuyến nghị chính chính  
sách. Hà Nội: Nxb. Hồng Đức.  
2. Cling, Jean-Pierre, Nguyễn Hữu Chí, Razafindrakoto Mireille, Roubaud Francois.  
2010. Cuộc khủng hoảng kinh tế đã tác động đến Việt Nam ở mức độ nào: Phân tích  
trọng tâm về khu vực phi chính thức ở Hà Nội và TPHCM. TCTK /IRD-DIAL. Hà Nội.  
3. Cling, Jean-Pierre, Nguyễn Thị Thu Huyền, Nguyễn Hữu Chí, Phan T. Ngọc Trâm,  
Razafindrakoto M. and Roubaud F. 2010a. Khu vực kinh tế phi chính thức ở hai thành  
phố lớn của Việt Nam: Hà Nội và TPHCM. Hà Nội: Nxb. Viện Khoa học Thống kê.  
4. Cling, Jean-Pierre, Đỗ Hoài Nam, Stephane Lagree, Mireille Razafindrakoto, Francois  
Roubaud. 2013. Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển. Hà Nội: Nxb. Tri  
thức.  
5. Demenet, A. 2017. “Tìm hiểu tính dễ bị tổn thương của hộ sản xuất kinh doanh cá thể  
và thách thức đối với an sinh xã hội”, trong Vai trò của hộ sản xuất kinh doanh cá thể và  
khu vực phi chính thức đối với tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam do Doumer, L.P., Oudin,  
X. và Nguyễn Thắng chủ biên. Hà Nội: Nxb. Thế giới.  
6. Doumer, L.P., Oudin, X., và Nguyễn Thắng. 2017. Vai trò của hộ sản xuất kinh doanh  
cá thể và khu vực phi chính thức đối với tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb.  
Thế giới.  
7. Hart, K. 1973. “Informal Income Opportunities and Urban Employment in Ghana”.  
Journal of Modern African Studies, 11(1), pp. 61-89.  
8. Hoàng Thị Thu Huyền. 2013. “Báo cáo Điều tra khảo sát định tính khu vực TP.HCM”,  
đề tài Khu vực phi chính thức và vai trò của mạng lưới xã hội thuộc Dự án hợp tác giữa  
VASS và IDR-DIAL.  
9. ILO. 1993. Resolution Concerning Statistics of Employment in the Informal Sector,  
Fifteenth International Conference of Labour Office, ILO January 1993.  
10. Nguyễn Thị Thanh Nguyệt. 2019. Quản lý nhà nước về hộ kinh doanh cá thể trên  
địa bàn quận Gò Vấp TPHCM. Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học Xã hội.  
11. Nguyễn Thị Thu Huyền, Axel Demenet, Mireille Razafindrakoto và François  
Roubaud. 2010. Sự năng động của khu vực phi chính thức ở Hà Nội và TPHCM giai  
đoạn 2007-2009: Một số phát hiện chính từ Điều tra hộ sản xuất kinh doanh và khu vực  
phi chính thức. Tổng cục Thống kê/IRD-DIAL. Hà Nội.  
12. Nguyễn Tuấn Vũ. 2014. Vài nét về khu vực kinh tế phi chính thức tại TPHCM. Đề tài  
nghiên cứu, cơ quan chủ trì Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
13. Oudin, X. 2017. “Đóng góp cho nền kinh tế của các hộ sản xuất kinh doanh cá thể và  
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…  
62  
khu vực kinh tế phi chính thức”, trong Doumer, L.P., Oudin, X., và Nguyễn Thắng (chủ  
biên). Vai trò của hộ sản xuất kinh doanh cá thể và khu vực phi chính thức đối với tăng  
trưởng bao trùm ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Thế giới.  
14. Phạm Minh Thái, Doumer, L.P. 2017. “Sự phát triển của khu vực phi chính thức và  
hộ sản xuất kinh doanh cá thể ở Việt Nam trong thời kỳ tăng trưởng và tự do hóa  
thương mại”, trong Doumer, L.P., Oudin, X., và Nguyễn Thắng (chủ biên). Vai trò của hộ  
sản xuất kinh doanh cá thể và khu vực phi chính thức đối với tăng trưởng bao trùm ở  
Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Thế giới.  
15. Phạm Thị Kim Thái, Oudin. X, Doumer, L.P, Vũ Văn Ngọc. 2017. “Đặc điểm của hộ  
sản xuất kinh doanh cá thể và khu vực phi chính thức”, trong Doumer, L.P., Oudin, X.,  
và Nguyễn Thắng (chủ biên). Vai trò của hộ sản xuất kinh doanh cá thể và khu vực phi  
chính thức đối với tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Thế giới.  
16. Phương Nhung - Thanh Nhân. 2019. “Quản hộ kinh doanh cá thể bằng luật để giảm  
thu-thue-2019122221060633.htm, truy cập ngày 15/2/2020.  
17. Sindzingre, Alice. 2006. The Relevance of the Concepts of Formality and Informality:  
A Theoretical Appraisal, Pub. in Linking the Formal and Informal Economy: Concepts  
and Policies,. Basudeb Guha-Khasnobis, Ravi Kanbur, and Elinor Ostrom eds., Oxford.  
18. Tổng cục Thống kê. 2017. Báo cáo Điều tra lao động việc làm năm 2016. Hà  
Nội: Nxb. Thống kê.  
19. Tổng cục Thống kê. 2018. Đề án “Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát”  
(NOE). Hà Nội: Nxb. Thống kê.  
20. Tổng cục Thống kê. 2019. Công văn 1127/TCTK-TKQG ngày 13/9/2019 về Hướng  
dẫn sử dụng khái niệm về khu vực phi chính thức và hoạt động tự sản tự tiêu của hộ  
gia đình. Hà Nội.  
21. Tổng cục Thống kê. 2019. Niên giám Thống kê 2018. Hà Nội: Nxb. Thống kê.  
pdf 18 trang Thùy Anh 17700 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hộ kinh doanh ở Thành phố Hồ Chí Minh trong định hướng “chính thức hóa”: Tổng quan nghiên cứu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfho_kinh_doanh_o_thanh_pho_ho_chi_minh_trong_dinh_huong_chinh.pdf