Hộ kinh doanh ở Thành phố Hồ Chí Minh trong định hướng “chính thức hóa”: Tổng quan nghiên cứu
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021
45
HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRONG ĐỊNH HƯỚNG “CHÍNH THỨC HÓA”:
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
HOÀNG THỊ THU HUYỀN*
Hộ kinh doanh (hay hộ kinh doanh cá thể(1)) hiện nay đang là một chủ đề được
quan tâm từ nhiều khía cạnh khác nhau. Hộ kinh doanh được hiểu bao gồm cả
hộ kinh doanh có giấy phép kinh doanh (hộ kinh doanh thuộc khu vực chính
thức) và hộ kinh doanh không có giấy phép kinh doanh (hộ kinh doanh thuộc
khu vực phi chính thức(2)). Trên thực tế ở Việt Nam, dường như không có nhiều
sự khác biệt giữa hộ kinh doanh phi chính thức và hộ kinh doanh chính thức. Đó
cũng là lý do những nghiên cứu về hộ kinh doanh thường gắn với khu vực phi
chính thức và gần đây xuất hiện ngày càng nhiều những tranh luận về việc
“chính thức hóa” hộ kinh doanh, nhất là ở những thành phố lớn như TPHCM. Bài
viết tổng quan về tình hình nghiên cứu hộ kinh doanh và khía cạnh “chính thức
hóa” hộ kinh doanh tại Việt Nam; qua đó xác định những khoảng trống cần được
tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này.
Từ khóa: hộ kinh doanh, khu vực phi chính thức, “chính thức hóa”
Nhận bài ngày: 26/7/2021; đưa vào biên tập: 01/8/2021; phản biện: 4/8/2021; duyệt
đăng: 9/9/2021
1. DẪN NHẬP
tế ngày càng sâu rộng, những biến
động của kinh tế, chính trị thế giới tác
động mạnh mẽ đến kinh tế trong nước,
thì hộ kinh doanh vẫn hoạt động khá
hiệu quả. Tuy nhiên, ở một khía cạnh
khác, bản chất pháp lý của hộ kinh
doanh chưa thật sự rõ ràng, với gần
5,2 triệu hộ kinh doanh năm 2018
(Tổng cục Thống kê, 2019) nhưng
chưa được điều chỉnh trong luật riêng
và nhiều vấn đề về phát sinh trên thực
tế như hạn chế về quy mô kinh doanh,
thất thu thuế, không đăng ký kinh
doanh theo quy định, tính dễ tổn
thương, tính công bằng/cơ hội so với
doanh nghiệp đang gây ra một số khó
Ở Việt Nam, hộ kinh doanh đã tồn tại
từ khá lâu và đóng một vai trò quan
trọng trong nền kinh tế. Nếu năm 2015
hộ kinh doanh đóng góp khoảng
22,6% GDP (Oudin, 2017) thì năm
2019 đã tăng lên đến khoảng 32%
GDP (Phương Nhung - Thanh Nhân,
2019). Không chỉ đóng góp cho tăng
trưởng, hộ kinh doanh cũng là nơi giải
quyết công ăn việc làm, tạo thu nhập
cho hàng triệu lao động. Bên cạnh đó,
trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…
46
khăn trong quản lý và định hướng tranh luận và phát triển, các nghiên
phát triển cho khu vực này. Chính vì
thế mà gần đây vấn đề “chính thức
hóa” hộ kinh doanh được đặt ra trong
nhiều công trình nghiên cứu, cũng
như trong nhiều chương trình nghị sự
của Chính phủ, Quốc hội.
cứu về kinh tế phi chính thức chủ yếu
chia làm 3 khung lý thuyết tiếp cận
khác nhau gồm: trường phái “nhị
nguyên”, trường phái “cấu trúc chủ
nghĩa” và trường phái “pháp gia”(3).
Ngày nay, hoạt động kinh tế phi chính
thức là một hiện tượng rất phổ biến ở
Việt Nam cũng như nhiều nước đang
phát triển khác. Thuật ngữ “Khu vực
phi chính thức” được Hart (1973) đề
cập lần đầu tiên, và được mô tả là
“một khu vực kinh tế truyền thống ở
các nước đang phát triển”. Trên thực
tế, định nghĩa chính xác về tên gọi khu
vực phi chính thức còn gặp nhiều vấn
đề xuất phát từ sự khác biệt giữa
những đặc trưng văn hóa - xã hội cụ
thể của từng quốc gia và vùng lãnh
thổ cũng như sự bất cập giữa các
khung lý thuyết khác nhau. Do đó, có
một số bài viết (như của Sindzingre,
2006) chất vấn giá trị của khái niệm
phi chính thức này do sự thiếu đồng
nhất trong việc định nghĩa cụ thể khái
niệm phi chính thức tại nhiều hoàn
cảnh khác nhau.
Tại TPHCM, địa phương có quy mô
kinh tế lớn nhất nước, có khoảng
459.000 hộ kinh doanh năm 2018
(Tổng cục Thống kê, 2019) đã và
đang đóng góp quan trọng cho tăng
trưởng của Thành phố. Hộ kinh doanh
ở TPHCM không chỉ mang những đặc
trưng riêng mà còn có thể mang tính
đại diện cho hộ kinh doanh của cả
nước. Bài viết tổng quan tình hình
nghiên cứu về khu vực kinh tế phi
chính thức và hộ kinh doanh trong
định hướng “chính thức hóa” ở Việt
Nam; đồng thời dành một phần để tìm
hiểu vấn đề này riêng ở TPHCM.
Nghiên cứu nhằm tìm ra các khoảng
trống để tiếp tục tìm hiểu trong các
nghiên cứu tiếp theo, giúp đưa ra
những khuyến nghị chính sách có ý
nghĩa đối với khu vực hộ kinh doanh ở
Việt Nam nói chung và TPHCM nói
riêng.
Tại Hội nghị cộng đồng các nhà thống
kê lao động quốc tế lần thứ 15 (ILO,
1993), khái niệm khu vực phi chính
thức (Informal Sector) được đưa ra và
đã được Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO) khuyến nghị sử dụng: Khu vực
phi chính thức được hiểu bao gồm
các đơn vị tham gia sản xuất hàng
hóa hoặc dịch vụ với mục đích tạo
việc làm và thu nhập cho những
người liên quan. Các đơn vị này
thường hoạt động với quy mô nhỏ,
2. KINH TẾ PHI CHÍNH THỨC VÀ HỘ
KINH DOANH Ở VIỆT NAM – KHÁI
NIỆM VÀ VAI TRÒ
Các khung lý thuyết nghiên cứu về
khu vực phi chính thức bắt đầu xuất
hiện từ những năm 1970. Hầu hết các
công trình nghiên cứu quan trọng về
kinh tế phi chính thức được hoàn
thiện và tranh luận nhiều nhất ở các
nước Châu Mỹ Latin. Trong quá trình
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021
47
quan hệ lao động chủ yếu dựa trên và việc làm cho phép phân loại số liệu
lao động không thường xuyên, quan
hệ họ hàng hoặc quan hệ cá nhân
hơn là những quan hệ qua hợp đồng
với những đảm bảo chính thức. Các
tiêu chí để xác định đơn vị này thuộc
khu vực phi chính thức là: không
được thành lập như một thực thể
pháp lý tách biệt với chủ sở hữu của
nó; được sở hữu và kiểm soát bởi
thành viên của hộ gia đình; không có
sổ sách kế toán hoàn chỉnh, bao gồm
bảng cân đối kế toán; ít nhất một phần
sản phẩm, dịch vụ được đưa ra thị
trường; số người tham gia lao động
ít hơn một ngưỡng nhất định; không
đăng ký theo yêu cầu của pháp luật.
lao động theo khu vực thể chế và
phân tách riêng số liệu về khu vực phi
chính thức. Cuộc điều tra chuyên biệt
về Khu vực phi chính thức được thực
hiện ở Hà Nội và TPHCM được gắn
kết với Điều tra lao động và việc làm
2007 nhằm tìm hiểu thêm về đặc tính
của các hộ sản xuất kinh doanh nói
chung và đặc biệt là của khu vực kinh
tế phi chính thức. Hai năm sau những
kết quả tương đối thành công này,
Điều tra lao động và việc làm lại được
thực hiện ở cấp độ quốc gia vào cuối
năm 2009, bao gồm thông tin về khu
vực kinh tế phi chính thức nhằm hỗ
trợ cho dự án.
Tại nhiều nước đang phát triển, phần
lớn công ăn việc làm được tạo ra đều
tập trung ở khu vực phi chính thức,
khu vực đóng vai trò chủ chốt trong
nền kinh tế quốc gia, nhưng khu vực
này vẫn chưa được nhiều nhà nghiên
cứu quan tâm cũng như chưa được
tính đến nhiều trong các chính sách
(Cling và nnk., 2013).
Bên cạnh đó, điều tra hộ sản xuất kinh
doanh và khu vực phi chính thức cũng
được triển khai lặp lại ở Hà Nội và
TPHCM dựa trên hai mẫu bao gồm:
mẫu điều tra lặp lại đối với các hộ đã
được điều tra năm 2007; mẫu các hộ
mới được điều tra lần đầu năm 2009.
Cụ thể, cỡ mẫu của cuộc điều tra này
là 2.638 hộ, với 1.305 hộ ở Hà Nội
(992 hộ phi chính thức và 313 hộ
chính thức) và 1.333 hộ ở TPHCM
(962 hộ phi chính thức và 371 hộ
chính thức). Cuốn sách The Informal
Sector in Vietnam: A Focus on Hanoi
and Ho Chi Minh City (Khu vực kinh tế
phi chính thức ở hai thành phố lớn
của Việt Nam: Hà Nội và TPHCM) của
nhóm tác giả Cling Jean-Pierre, Nguyễn
Ở Việt Nam, nghiên cứu quy mô đáng
chú ý đầu tiên về khu vực phi chính
thức là nghiên cứu trong khuôn khổ
dự án hợp tác giữa Tổng cục Thống
kê Việt Nam (GSO) và Viện Nghiên
cứu Phát triển Pháp (IDD-DIAL) từ
năm 2006 đến năm 2011. Trong
nghiên cứu này có hai cuộc điều tra
liên quan được thực hiện năm 2007
bao gồm Điều tra lao động và việc làm Thị Thu Huyền, Nguyễn Hữu Chí,
quốc gia và điều tra chuyên biệt về Phan Thị Ngọc Trâm, Razafindrakoto
Mireille, Roubaud Francois (2010), là
Khu vực phi chính thức. Đây là lần
đầu tiên ở Việt Nam, Điều tra lao động
kết quả nghiên cứu từ cuộc khảo sát
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…
48
này. Trong đó, dựa trên cơ sở khuyến nhập của khu vực phi chính thức
nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế
(ILO, 2002), nhóm tác giả đã thống
nhất khái niệm: “Khu vực phi chính
thức được định nghĩa là tất cả các
doanh nghiệp không có tư cách pháp
nhân sản xuất ít nhất một hoặc vài
sản phẩm và dịch vụ để bán hoặc trao
đổi, không đăng ký kinh doanh (không
có giấy phép kinh doanh) và không
thuộc ngành nông, lâm nghiệp và thủy
sản”. Kết quả nghiên cứu còn cho
thấy khu vực phi chính thức là nơi
cung cấp khoảng 1/3 số việc làm cho
người lao động ở hai thành phố, đóng
góp khoảng 12% giá trị gia tăng, cho
thấy vai trò quan trọng của khu vực
này đối với nền kinh tế. Tuy có đóng
góp đáng kể cho GDP nhưng khu vực
này chỉ được coi là hoạt động bên lề
của nền kinh tế vì nó có ít mối quan
hệ với các khu vực kinh tế khác.
nhưng trên thực tế các kết quả thu
được dường như không đồng nhất,
trong khi thu nhập bình quân của khu
vực này ở TPHCM giảm thì ở Hà Nội
tăng. Từ đây, Nguyễn Thị Thu Huyền,
Axel Demenet, Mireille Razafindrakoto
và François Roubaud (2010) đã có
những kết luận về sự năng động và
sự tồn tại của khu vực phi chính thức:
“Kết quả thực tế cho thấy khu vực phi
chính thức là một bộ phận cấu thành
lớn, thậm chí đã mở rộng thêm quy
mô trong thời kỳ khủng hoảng, trong
nền kinh tế Việt Nam. Bất kể giả
thuyết mà chúng ta đặt ra về sự phát
triển trong những năm tới như thế nào,
khu vực này sẽ vẫn tồn tại”.
Tiếp sau đó, cuối năm 2014 đầu năm
2015, Viện Nghiên cứu Phát triển
Pháp với Viện Hàn lâm Khoa học xã
hội Việt Nam (VASS) điều tra về hộ
kinh doanh cá thể và khu vực phi
chính thức. Đây là cuộc điều tra đầu
tiên về khu vực này ở Việt Nam với
đầy đủ các hợp phần khác nhau và có
tính đại diện ở cấp quốc gia. Ở cuộc
điều tra này, khái niệm khu vực phi
chính thức được lấy theo khái niệm
của Tổng cục Thống kê: “Cơ sở kinh
tế thuộc sở hữu tư nhân, sản xuất một
phần hàng hóa và dịch vụ để mua bán
hoặc trao đổi, chưa đăng ký (không có
giấy đăng ký kinh doanh) và tham gia
vào các hoạt động phi nông nghiệp”,
đồng thời xác định: “...khu vực phi
chính thức bao gồm toàn bộ các hộ
sản xuất kinh doanh cá thể không có
giấy phép kinh doanh”. Mẫu điều tra
Đặc biệt, khi đánh giá về tác động của
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu
năm 2008 đến Việt Nam, dựa vào
khảo sát hộ kinh doanh cá thể và khu
vực phi chính thức ở Hà Nội và
TPHCM năm 2007 và 2009, Jean-Pierre
Cling, Nguyễn Hữu Chí, Razafindrakoto
Mireille, Roubaud Francois (2010) đã
chỉ ra sự tồn tại mạnh mẽ của khu vực
phi chính thức. Trong thời gian giữa
hai năm 2007 và 2009, số việc làm
trong khu vực phi chính thức đã tăng
56.000 việc làm ở Hà Nội (tương ứng
tăng 6%) và 206.000 việc làm ở
TPHCM (tương ứng tăng 19%). Cuộc
khủng hoảng kinh tế năm 2008 được
dự báo là có tác động tiêu cực đến thu
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021
49
cuối cùng là 3.411 hộ, trong đó hộ phi kinh doanh cá thể tạo ra nhiều việc
chính thức là 2.382, hộ chính thức là làm, đứng thứ hai ngay sau khu vực
1.029, 57% số hộ ở khu vực thành thị, nông nghiệp; (2) Các hộ sản xuất kinh
43% khu vực nông thôn. Cỡ mẫu lớn doanh cá thể và khu vực phi chính
nhất thuộc về Hà Nội và TPHCM, còn thức là một yếu tố tạo ra sự dẻo dai
lại là 12 tỉnh thành khác đại diện cho của nền kinh tế Việt Nam; (3) Hộ sản
các vùng hành chính của Việt Nam xuất kinh doanh cá thể đóng một vai
(Doumer và nnk., 2017).
trò quan trọng trong nền kinh tế Việt
Nam và vai trò nay sẽ tiếp tục duy trì
trong trung hạn.
Như vậy so với cuộc khảo sát hộ kinh
doanh cá thể và khu vực phi chính
thức năm 2007 của dự án hợp tác
giữa Tổng cục Thống kê và Viện
Nghiên cứu Phát triển Pháp, thì ở
cuộc khảo sát 2014-2015, khái niệm
khu vực phi chính thức gần như
tương đồng với khái niệm trước
nhưng được cụ thể hóa hơn, thuận
tiện hơn trong việc xác định và thống
kê. Mẫu khảo sát cũng mang tính đại
diện hơn, nhiều nội dung được bổ
sung vào bản câu hỏi khảo sát; đó là
các nội dung mới về tiếp cận tín dụng,
mạng lưới xã hội và phát triển hơn nội
dung về bảo trợ xã hội.
Đến năm 2016, ngoài các ấn phẩm về
kết quả điều tra lao động việc làm
được xuất bản hàng năm, lần đầu tiên
Tổng cục Thống kê xuất bản ấn phẩm
chuyên sâu: Lao động phi chính thức
ở Việt Nam (Tổng cục Thống kê,
2017). Ở đây, một lần nữa khái niệm
về khu vực phi chính thức được nhắc
lại, theo đó: Khu vực kinh tế phi chính
thức được định nghĩa là khu vực hoạt
động của tất cả các cơ sở sản xuất
kinh doanh không có tư cách pháp
nhân, sản xuất ít nhất một hoặc một
vài sản phẩm và dịch vụ để bán hoặc
trao đổi, không đăng ký kinh doanh
(không có giấy phép kinh doanh). Ở
Việt Nam, các cơ sở sản xuất kinh
doanh hoạt động trong khu vực này
chủ yếu là hộ sản xuất kinh doanh cá
thể phi nông nghiệp và các tổ hợp tác.
Kết quả của dự án được thể hiện đầy
đủ nhất trong báo cáo được in sách
chuyên khảo Vai trò của hộ sản xuất
kinh doanh cá thể và khu vực phi
chính thức trong tăng trưởng bao trùm
ở Việt Nam (Doumer và nnk., 2017).
Kết quả nghiên cứu cho thấy, năm
2014 hộ sản xuất kinh doanh cá thể
và khu vực phi chính thức tạo ra gần
1/3 GDP phi nông nghiệp, 57% việc
làm phi nông nghiệp và 23% tổng
GDP. Các phát hiện nghiên cứu về vai
trò của hộ kinh doanh và khu vực phi
chính thức cũng được khẳng định
mạnh mẽ hơn đó là: (1) Hộ sản xuất
Gần đây nhất, nhằm đánh giá kết quả
sản xuất kinh doanh của khu vực kinh
tế chưa được quan sát, phản ánh đầy
đủ, toàn diện hơn phạm vi, quy mô
nền kinh tế, đề án “Thống kê khu vực
kinh tế chưa được quan sát” (NOE) đã
được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết
định số 146/QĐ-TTg ngày 01/02/2019.
Trong đó, “Khu vực kinh tế chưa được
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…
50
quan sát bao gồm 5 thành tố: (1) kinh đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có kết
tế ngầm, (2) kinh tế phi pháp, (3) kinh
tế phi chính thức chưa được quan sát,
(4) hoạt động kinh tế tự sản, tự tiêu, (5)
hoạt động kinh tế bị bỏ sót do chương
trình thu thập dữ liệu cơ bản (Tổng
cục Thống kê, 2018).
quả chính thức cuối cùng của đề án.
Tóm lại, có nhiều quan điểm về khái
niệm, cách xác định khu vực phi chính
thức. Các nghiên cứu của Việt Nam
dường như ngày càng tiến đến thống
nhất chung về khái niệm, đặc biệt là
tiêu chí để xác định, trong đó căn cứ
mang tính chất quan trọng được đưa
ra bởi Tổng cục Thống kê Việt Nam
(trước khi có đề án NOE). Theo các
tiêu chí thống nhất đến thời điểm
trước đề án NOE thì toàn bộ hộ kinh
Năm 2019, khi triển khai thực hiện đề
án này, Tổng cục Thống kê đã xây
dựng và hướng dẫn sử dụng khái
niệm khu vực phi chính thức và hoạt
động tự sản, tự tiêu của hộ gia đình
tại Công văn số 1127/TCTK-TKQG
ngày 13/9/2019. Theo đó “Khu vực phi doanh không có giấy phép kinh doanh
(do không đăng ký hay được miễn
đăng ký) thuộc về khu vực phi chính
thức. Cùng với đó, vai trò của khu vực
phi chính thức và hộ kinh doanh đã
được khẳng định trong thời gian qua
cũng như ít nhất là trong tương lai
trung hạn. Việc tiếp tục nghiên cứu về
khu vực phi chính thức và hộ kinh
doanh nhằm góp phần xác định tiêu
chí thống kê chính xác, phù hợp với
thông lệ quốc tế và trong điều kiện
của Việt Nam, đồng thời xem xét về
sự tồn tại, cách thức tồn tại trong
tương lai của khu vực này là những
vấn đề hết sức cần thiết trong bối
cảnh của Việt Nam hiện nay.
chính thức bao gồm các cơ sở sản
xuất kinh doanh phi nông, lâm nghiệp
và thủy sản và sản xuất ra các sản
phẩm (vật chất, dịch vụ) để bán trao
đổi và không phải đăng ký kinh doanh”.
Với khái niệm này cho thấy có một sự
thay đổi rất đáng kể từ phía cơ quan
thống kê trong khái niệm về “khu vực
phi chính thức” so với khái niệm được
đưa ra năm 2016. Nếu như khu vực
phi chính thức trong khái niệm năm
2016 bao gồm “Tất cả các cơ sở sản
xuất kinh doanh không có tư cách
pháp nhân, sản xuất ít nhất một hoặc
một vài sản phẩm và dịch vụ để bán
hoặc trao đổi, không đăng ký kinh
doanh (không có giấy phép kinh
doanh)” thì theo khái niệm mới này
khu vực phi chính thức đã thu hẹp rất
nhiều chỉ còn là các cơ sở sản xuất
kinh doanh không phải đăng ký kinh
doanh, còn những cơ sở nào dù
không có giấy phép kinh doanh nhưng
thuộc diện phải đăng ký thì không tính
vào khu vực phi chính thức. Tuy nhiên,
3. NHỮNG VẤN ĐỀ VỀ SỰ TỒN TẠI
VÀ PHÁT TRIỂN HỘ KINH DOANH
Ở VIỆT NAM TRONG ĐỊNH HƯỚNG
“CHÍNH THỨC HÓA”
Hộ kinh doanh là một cách gọi riêng
có của Việt Nam và là một thực thể
kinh doanh đã tồn tại từ khá lâu.
Trước năm 1986 (trước Đổi mới), hộ
kinh doanh được gọi bằng các tên
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021
51
khác nhau như: tổ chức tiểu sản xuất hóa” chỉ nổi lên từ thời điểm Luật
hàng hóa; hộ kinh tế cá thể, tiểu chủ;
hộ tiểu thủ công nghiệp… Năm 1988
tại Nghị định số 27-HĐBT ngày
09/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng
(nay là Chính phủ) chính thức công
nhận hộ kinh doanh dưới hình thức hộ
kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh sản
xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp,
xây dựng, vận tải. Bắt đầu từ Luật
Doanh nghiệp 2005 hộ kinh doanh cá
thể được đổi tên thành hộ kinh doanh
và quy định yêu cầu hộ kinh doanh sử
dụng từ 10 lao động phải đăng ký
doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp.
Doanh nghiệp 2005.
Dự án nghiên cứu của Tổng cục
Thống kê Việt Nam và Viện Nghiên
cứu Phát triển Pháp 2006-2011 (nêu
trên) đã thực hiện một cuộc điều tra
chuyên biệt về khu vực phi chính thức
vào năm 2007 và 2009, đối tượng
điều tra chính là hộ kinh doanh (bao
gồm cả chính thức và không chính
thức). Cling Jean-Pierre, Nguyễn Hữu
Trí, Razafindrakoto Mireille, Roubaud
Francois (2010) phân tích từ dữ liệu
điều tra cho thấy giữa năm 2007-2009
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã
thúc đẩy mở rộng quy mô khu vực phi
chính thức, tương ứng với việc làm
cho tỷ lệ “chính thức hóa” hộ kinh
doanh giảm đi. Nếu như năm 2007 tỷ
trọng hộ sản xuất kinh doanh chính
thức (có giấy phép kinh doanh) trong
tổng số hộ ở Hà Nội và TPHCM tương
ứng là 19,5% và 25,4% thì đến năm
2009 tỷ trọng này chỉ còn là 14,3% ở
Hà Nội (Hà Nội trước khi mở rộng) và
17,6% ở TPHCM. Một bộ phận lớn
chiếm đến 31% hộ sản xuất kinh
doanh chính thức ở Hà Nội và 15% hộ
sản xuất kinh doanh chính thức ở
TPHCM đã gia nhập khu vực phi
chính thức, trong khi ở cả hai thành
phố chỉ có khoảng 1/10 hộ sản xuất
kinh doanh phi chính thức đã chuyển
đổi chính thức hóa.
Các Nghị định số 02/2000/NĐ-CP ngày
3/2/2000 của Chính phủ về đăng ký
kinh doanh và Nghị định số
109/2004/NĐ-CP ngày 2/4/2004 đã
lần lượt quy định hộ kinh doanh tồn tại
như hình thức kinh tế sản xuất hàng
hóa nhỏ gia đình (gồm các thợ thủ
công, người làm dịch vụ nhỏ) được
phép kinh doanh sau khi cơ quan nhà
nước có thẩm quyền cấp giấy phép
kinh doanh (giấy môn bài), trừ một số
hộ được miễn không phải đăng ký
kinh doanh tùy theo quy mô, địa điểm,
ngành nghề… được quy định cụ thể.
Có nghĩa là, vấn đề các hộ kinh doanh
phải đăng ký kinh doanh một cách
chính thức đã được quy định khá lâu
nhưng với những diễn biến trên thực
tế, cụm từ “chính thức hóa” vẫn được
đặt ra trong các cuộc bàn luận, nghiên
cứu về thành phần kinh tế này.
Quá trình “chính thức hóa” được
nghiên cứu sâu hơn trong dự án giữa
Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt
Có thể thấy, nghiên cứu về hộ kinh
doanh khá nhiều, nhưng những nghiên Nam và Viện Nghiên cứu Phát triển
Pháp về chủ đề “Khu vực phi chính
cứu liên quan đến vấn đề “chính thức
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…
52
thức và vai trò của mạng lưới xã hội” Việt Nam giai đoạn 2007-2017. Mặc
(đã nêu trên). Trong cuốn sách dù tác giả đã tính toán được việc giảm
chuyên khảo (kết quả của dự án) Vai về quy mô khu vực hộ kinh doanh phi
trò của hộ sản xuất kinh doanh cá thể chính thức và cho rằng sự giảm sút
và khu vực phi chính thức đối với tăng này chủ yếu do sự dịch chuyển hộ sản
trưởng bao trùm ở Việt Nam do xuất kinh doanh cá thể phi chính thức
Doumer, L.P., Oudin, X. và Nguyễn sang chính thức mà chưa tính đến
Thắng chủ biên (2017), ở Chương 2 một lý do khác là có những hộ phi
“Sự phát triển của khu vực phi chính chính thức đã chuyển thành doanh
thức và hộ sản xuất kinh doanh cá thể nghiệp theo quy định về quy mô lao
ở Việt Nam trong thời kỳ tăng trưởng động. Đồng thời tác giả cũng không
và tự do hóa thương mại”, Phạm Minh có cơ sở để xem xét đến các yếu tố
Thái và Doumer (2017) đã dựa vào số ảnh hưởng đến việc “chính thức hóa”.
liệu của cuộc điều tra Lao động việc
Ở Chương 3 “Đặc điểm của hộ sản
làm của Tổng cục Thống kê 2007 và
xuất kinh doanh cá thể và khu vực phi
2014 để đánh giá về xu hướng chính
chính thức” của cuốn sách trên, dựa
thức hóa khu vực phi chính thức.
vào dữ liệu cuộc điều tra về hộ kinh
Theo đó số lượng hộ sản xuất kinh
doanh cá thể và khu vực phi chính
doanh cá thể phi chính thức đã giảm
thức năm 2014 đầu 2015 của dự án,
nhẹ từ 7,25 triệu hộ năm 2007 xuống
nhóm tác giả Phạm Thị Kim Thái,
6,44 triệu hộ năm 2014, tương ứng
Oudin. X, Doumer, L.P, Vũ Văn Ngọc
giảm từ 80% trên tổng số hộ xuống
(2017) đã giải thích được phần nào
72%; và hộ sản xuất kinh doanh cá
các yếu tố ảnh hưởng đến việc “chính
thể chính thức tăng từ 1,82 triệu hộ
thức hóa”. Cụ thể nguyên nhân hộ cá
lên 2,45 triệu hộ, tương ứng tăng từ
thể phi chính thức không đăng ký kinh
20% lên 28%. Sau đó, cũng chính tác
doanh thì tới 68% số hộ cho biết họ
giả Phạm Minh Thái (2019) trong một
không phải đăng ký kinh doanh (bất
bài nghiên cứu khác, đã bổ sung thêm
kể quy mô, loại hình hoạt động), 12%
số liệu năm 2017 và so sánh trong
cho biết không có lợi ích gì khi chính
vòng 10 năm thì khu vực hộ sản xuất
thức hóa, 10% cho biết do thu nhập
kinh doanh cá thể phi chính thức đã
không ổn định… và chỉ có 23% số hộ
giảm từ hơn 7,2 triệu hộ năm 2007
xuống còn 6,4 triệu hộ vào năm 2017
phi chính thức trả lời sẵn sàng chính
thức hóa hoạt động kinh doanh của
(giảm khoảng 8% như giai đoạn 2007-
mình. Từ đây các tác giả có khuyến
nghị tới việc để thúc đẩy hộ sản xuất
kinh doanh phi chính thức sang chính
thức cần tuyên truyền phổ biến rộng
rãi thông tin, quy định, cần chuẩn hóa
ở cấp huyện để tăng tính minh bạch,
2014), số hộ chính thức đã tăng từ 1,8
triệu hộ lên 5,4 triệu hộ (tăng khoảng
8% như giai đoạn 2007-2014) và kết
luận dù tốc độ giảm chậm nhưng đã
có xu hướng chính thức hóa trong khu
vực hộ sản xuất kinh doanh cá thể ở
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021
53
phát triển các động lực nhằm khuyến đều do một cá nhân làm chủ; đều
không có tư cách pháp nhân; đều chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của
mình về các hoạt động của hộ/doanh
nghiệp; đều không được phát hành
chứng khoán; đều không bị hạn chế
quy mô vốn; trong khi đó, loại hình hộ
kinh doanh có chủ là một nhóm người,
hộ gia đình và loại công ty hợp danh
có một số đặc điểm tương đồng: đều
do một nhóm người làm chủ; các
thành viên hợp danh và các cá nhân
là chủ hộ kinh doanh đều chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình
về các hoạt động của hộ/công ty.
khích quá trình chính thức hóa. Như
vậy theo các tác giả thì quá trình
chính thức hóa hộ kinh doanh chậm
và không rõ nét, tuy nhiên về nguyên
nhân thì chủ yếu mới được phân tích
từ phía chính bản thân các chủ hộ
kinh doanh.
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế
Trung ương (CIEM, 2017) trong Dự
án “Sáng kiến hỗ trợ khu vực tư nhân
vùng Mê Kông (MBI)”, đã hỗ trợ thực
hiện Báo cáo Chính thức hóa hộ kinh
doanh: thực trạng và khuyến nghị
chính sách. Điểm khác biệt là nghiên
cứu này các tiếp cận “chính thức hóa”
đó là chuyển hộ kinh doanh sang
thành lập, đăng ký hoạt động theo các
hình thức doanh nghiệp quy định tại
Luật Doanh nghiệp (gồm công ty cổ
phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,
công ty hợp danh và doanh nghiệp tư
nhân) và là ở cấp độ “chính quy hóa”
hộ kinh doanh. Trong khi các nghiên
cứu đề cập trên lại tiếp cận “chính
thức hóa” là quá trình hộ kinh doanh
chuyển từ phi chính thức sang chính
thức (đăng ký kinh doanh). Và để luận
giải tại sao hộ kinh doanh chưa “mặn
mà” trong việc chuyển sang đăng ký
thành lập doanh nghiệp, nghiên cứu
này không chỉ nghiên cứu, đánh giá
cảm nhận của hộ kinh doanh, doanh
nghiệp còn nghiên cứu, đánh giá cả
khía cạnh pháp lý.
Cũng theo kết quả nghiên cứu thì có
đến 80% số doanh nghiệp điều tra
được thành lập mới hoàn toàn và chỉ
có khoảng 17,8% số doanh nghiệp
điều tra được hình thành (có nguồn
gốc) từ các hộ kinh doanh. Thêm nữa,
có đến 11,3% hộ kinh doanh điều tra
thuộc diện phải đăng ký và chuyển
sang hoạt động dưới các hình thức
doanh nghiệp theo quy định của Luật
Doanh nghiệp (sử dụng lao động
thường xuyên từ 10 lao động trở lên),
nhưng chỉ có 5,63% số hộ kinh doanh
này dự kiến sẽ chuyển sang các loại
hình doanh nghiệp theo quy định tại
Luật Doanh nghiệp. Tính chung thì có
đến 88,35% hộ kinh doanh cho rằng,
họ không muốn đăng ký kinh doanh
theo các loại hình doanh nghiệp do
chưa có nhu cầu vì đang kinh doanh
ổn định và không muốn thay đổi.
Theo kết quả của nghiên cứu này thì
loại hình hộ kinh doanh có chủ là cá
nhân và loại hình doanh nghiệp tư
nhân có một số đặc điểm tương đồng:
Cảm nhận của các hộ kinh doanh là
hoạt động dưới các hình thức doanh
nghiệp có nhiều bất lợi hơn so với
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…
54
hình thức hộ kinh doanh và phần lớn doanh nghiệp tư nhân tại cơ quan
đăng ký kinh doanh); việc chuyển hộ
kinh doanh thành công ty trách nhiệm
hữu hạn được thực hiện tương tự như
chuyển đổi doanh nghiệp tư nhân quy
định tại Luật Doanh nghiệp; ngoài ra,
nếu hộ kinh doanh do nhóm người
làm chủ muốn chuyển thành công ty
hợp danh thì nguyên tắc chuyển đổi
được thực hiện tương tự như chuyển
hộ kinh doanh thành doanh nghiệp tư
nhân.
hộ kinh doanh quen với tập quán kinh
doanh nhỏ, lẻ, sản xuất gia truyền nên
ngại thay đổi. Nhìn từ khung pháp luật
hiện hành, dù hộ kinh doanh có nhiều
bất lợi về quyền kinh doanh; góp vốn
thành lập, mua cổ phần, phần vốn góp
trong các công ty… nhưng nhìn tổng
thể hộ kinh doanh đang có nhiều lợi
thế hơn so với các loại hình doanh
nghiệp về các khía cạnh như đối
tượng thành lập; hồ sơ, thủ tục thành
lập; tổ chức quản lý; chế độ kế toán,
tài chính, nộp thuế; chế độ công bố
thông tin. Trong khi, khung pháp luật
liên quan chưa quy định nhất quán về
đối tượng thuộc diện chuyển đổi, thiếu
chế tài thực hiện chuyển đổi; chính
sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa
chưa thực sự hiệu quả, chưa đủ
khuyến khích hộ kinh doanh đủ điều
kiện đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Quan điểm tiếp cận “chính thức hóa”
của mỗi nghiên cứu đều có những lý
lẽ riêng, từ đó đưa đến những khuyến
nghị chính sách khác nhau. Hiện nay,
hộ kinh doanh cá thể có nhiều vấn đề
khá khó để đưa ra giải pháp thỏa
đáng, vì thế việc tiếp cận nghiên cứu
“chính thức hóa” hộ kinh doanh theo
cả hai cách: (1) chính thức hóa bằng
cách chuyển hộ kinh doanh phi chính
thức (không đăng ký kinh doanh) sang
chính thức bằng việc đăng ký kinh
doanh; (2) chính thức hóa chuyển hộ
kinh doanh sang thành lập, đăng ký
hoạt động theo các hình thức doanh
nghiệp quy định tại Luật Doanh nghiệp,
có lẽ bao quát được nhiều khía cạnh
của việc “chính thức hóa”, từ đó có
được cái nhìn toàn diện hơn, góp
phần khuyến nghị những chính sách
phù hợp.
Nhiều khuyến nghị chính sách được
nghiên cứu này đưa ra, trong đó có
khuyến nghị đáng chú ý về chuyển hộ
kinh doanh thành doanh nghiệp, cụ
thể: việc chuyển hộ kinh doanh do cá
nhân làm chủ thành doanh nghiệp tư
nhân được thực hiện theo nguyên tắc
chuyển đổi nguyên trạng sang hình
thức doanh nghiệp tư nhân (chủ hộ
kinh doanh chuyển thành chủ doanh
nghiệp tư nhân; doanh nghiệp tư nhân
kế thừa toàn bộ các quyền và lợi ích
hợp pháp; các khoản nợ chưa thanh
4. NGHIÊN CỨU VỀ HỘ KINH DOANH
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
toán, các hợp đồng lao động và các TPHCM và Hà Nội là hai thành phố có
số lượng hộ kinh doanh lớn nhất cả
nước, vì vậy trong nhiều nghiên cứu
nghĩa vụ khác của hộ kinh doanh
được chuyển đổi; chủ hộ đăng ký
chuyển đổi hộ kinh doanh thành về khu vực phi chính thức và hộ kinh
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021
55
doanh TPHCM thường được chọn là hầu như không đáng kể, ở TPHCM
một địa bàn nghiên cứu chủ yếu.
chỉ 5,3% khối lượng sản phẩm. Sản
phẩm chủ yếu nhằm đáp ứng nhu cầu
của các hộ gia đình (khoảng 80% khối
lượng sản phẩm). Sự chuyển đổi từ
khu vực hộ sản xuất kinh doanh chính
thức sang phi chính thức trong 2 năm
2007-2009 là 15% (thấp hơn tỷ lệ 31%
ở Hà Nội). Kết quả phân tích số liệu
điều tra lặp lại cũng cho thấy, những
hộ sản xuất kinh doanh chính thức đã
chuyển đổi thành phi chính thức
dường như chịu ảnh hưởng của
khủng hoảng ít hơn so với những hộ
vẫn duy trình hoạt động trong khu vực
chính thức. Trái lại, những hộ sản
xuất kinh doanh phi chính thức đã
chuyển đổi chính thức có tốc độ tăng
trưởng cao nhất, đặc biệt hiệu quả
sản xuất kinh doanh của những hộ
này cao hơn rất nhiều so với những
hộ phi chính thức không chuyển đổi.
Ở đây dường như có sự mâu thuẫn,
cần có sự tìm hiểu rõ hơn mới có thể
lý giải được (Nguyễn Thị Thu Huyền
và nnk., 2010).
Trong hầu hết những dự án nghiên
cứu lớn về khu vực phi chính thức đã
trình bày ở trên, hộ kinh doanh (cơ sở
sản xuất kinh doanh cá thể/hộ kinh
doanh cá thể, tùy theo cách gọi của
mỗi nghiên cứu) ở TPHCM đã được
phân tích, đánh giá dựa trên số liệu
thứ cấp cũng như các cuộc khảo sát
riêng biệt. Dự án của GSO và IRD-
DIAL 2006-2011, đã tiến hành hai
cuộc khảo sát hộ sản xuất kinh doanh
ở TPHCM năm 2007 và năm 2009.
Kết quả nghiên cứu cho thấy một bức
tranh tổng thể về cơ sở sản xuất kinh
doanh cá thể ở TPHCM cùng sự biến
đổi sau khoảng thời gian gần 2 năm
của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới.
Trong 2 năm 2007-2009, số lượng
đơn vị sản xuất tăng thêm khoảng
29%, số việc làm ở khu vực hộ sản
xuất kinh doanh phi chính thức tăng
19%, chiếm 34% trong tổng số việc
làm, giữ vị trí dẫn đầu trong việc cung
cấp việc làm ở TPHCM. Với nhịp độ
tăng tương đối nhanh như vậy, không
thể phủ nhận về tính chất thích hợp và
sự năng động của khu vực hộ kinh
doanh cá thể (Nguyễn Thị Thu Huyền
và nnk., 2010).
Dự án của VASS và IRD-DIAL 2014-
2015 cũng tiến hành điều tra hộ sản
xuất kinh doanh cá thể TPHCM.
Những kết quả nghiên cứu được đưa
ra bởi Doumer, L.P., Oudin, X. và
Nguyễn Thắng (2017) không chỉ phản
ánh thực trạng hộ sản xuất kinh doanh
ở TPHCM trên nhiều mặt hoạt động
mà còn có sự so sánh với các kết quả
khảo sát của năm 2007. Tuy nhiên,
một số kết quả cho thấy sự thay đổi
không đáng kể của khu vực này như
bình quân lao động hộ, tỷ lệ tham gia
Nghiên cứu này cũng tìm hiểu sự hòa
nhập của hộ sản xuất kinh doanh khu
vực phi chính thức vào nền kinh tế,
cho thấy khu vực này hoạt động tách
rời, với rất ít những mối liên hệ trực
tiếp với khu vực kinh tế chính thức.
Khối lượng sản phẩm mà khu vực này
cung cấp cho các doanh nghiệp lớn
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…
56
bảo hiểm xã hội… Hơn thế nữa, một kinh doanh nhỏ lẻ ở Quận 1 và Quận
2 TPHCM và phỏng vấn sâu lãnh đạo
địa phương ở hai quận này về hộ kinh
doanh phi chính thức tại địa bàn. Tuy
quy mô phỏng vấn nhỏ nhưng một số
phát hiện của nghiên cứu này cũng
đáng lưu tâm và cần nghiên cứu thêm,
như: đối với nhiều hộ kinh doanh phi
chính thức, việc tiếp cận tín dụng là
rất quan trọng trong việc duy trì hoạt
động kinh doanh của họ. Trong tổng
số 20 trường hợp được khảo sát, có 9
trường hợp là hộ phải vay mượn để
duy trì hoạt động kinh doanh, trong đó
có 5 trường hợp phải vay mượn ở
bên ngoài, có khi vay mượn với mức
lãi suất từ 10-20%/tháng. Cho thấy
rằng việc thiếu hụt những giải pháp tín
dụng lãi suất thấp là một trong những
vấn đề quan trọng đối với những
người hoạt động trong khu vực phi
chính thức. Mặc dù mạng lưới xã hội
của cá nhân, các tổ chức dân sự như
Hội Phụ nữ, các chương trình hỗ trợ
xóa đói giảm nghèo, các chương trình
Ngân hàng Nhà nước cũng có một vai
trò quan trọng trong việc cung cấp vốn
và tín dụng lãi suất thấp cho những
người hoạt động trong khu vực phi
chính thức, nhưng các nguồn này
thường không đủ, và không đến được
một số người lao động phi chính thức
là dân nhập cư, không có hộ khẩu tại
địa phương. Đặc biệt, nghiên cứu này
còn mạnh dạn đưa ra nhận định: Định
nghĩa của ILO về khu vực phi chính
số chỉ tiêu thống kê tăng không đáng
kể hoặc giảm sút cho thấy hầu như
không có sự thay đổi của xu hướng
“chính thức hóa” trong giai đoạn này.
Đó là: về tỷ lệ đăng ký mã số thuế,
năm 2014, hộ sản xuất kinh doanh
chính thức có 75,4% có mã số thuế, tỷ
lệ này thấp hơn năm 2007 (86,3%), hộ
sản xuất kinh doanh phi chính thức thì
100% không có mã số thuế; về sự sẵn
sàng đăng ký kinh doanh của hộ sản
xuất kinh doanh phi chính thức, có
21,8% hộ phi chính thức năm 2014
sẵn sàng đăng ký, tăng không đáng
kể so với tỷ lệ 19,4% của năm 2007.
Mặc dù vậy đã có một sự thay đổi từ
phía hộ sản xuất kinh doanh thể hiện
ít nhiều xu hướng “chính thức hóa”
trong tương lai, đó là nhận thức về
việc đăng ký kinh doanh của hộ sản
xuất kinh doanh phi chính thức. Theo
đó, nhận thức về lợi ích tiếp cận các
khoản vốn vay được đánh giá cao
nhất với tỷ lệ 45,6% năm 2014 (tăng
rất nhiều so với năm 2007 chỉ 6,1%);
tiếp đến là nhận thức về lợi ích bán
sản phẩm cho các công ty lớn có tỷ lệ
37,7% năm 2014 (cũng tăng rất cao
so với năm 2007 chỉ 4,9%).
Ở quy mô nhỏ hơn và theo chủ đề
hẹp, có một số nghiên cứu riêng về hộ
kinh doanh và khu vực phi chính thức
(hộ kinh doanh phi chính thức) ở
TPHCM.
Vài nét về khu vực kinh tế phi chính thức tại các khu vực đô thị nội và
thức tại TPHCM của Nguyễn Tuấn Vũ ngoại thành TPHCM là chưa hoàn
(2014), là một nghiên cứu dựa trên dữ toàn hợp lý. Lý do: (1) gần một nửa
liệu sẵn có kết hợp phỏng vấn các hộ các hộ kinh doanh phi chính thức có
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021
57
quan hệ với chính quyền địa phương, đẩy hộ kinh doanh tham gia vào khu
các cơ quan kiểm định hoặc được sự
hậu thuẫn của các tổ chức thuộc Mặt
trận Tổ quốc như Hội Phụ nữ; (2)
mặc dù không giấy phép kinh doanh
là một yếu tố quyết định trong việc
xác định các hộ kinh doanh thuộc khu
vực phi chính thức, điều này có lẽ chỉ
là yếu tố tương liên (correlate) chứ
không phải là yếu tố quyết định vì
thực tế hoạt động của các hộ này
thường là quy mô nhỏ, cho nên việc
đăng ký kinh doanh không đem lại lợi
ích gì nhiều cho họ, và cũng không
thay đổi tính chất hoạt động kinh
doanh của họ. Tuy nhiên, nhận định
này của tác giả có lẽ cần có cơ sở và
căn cứ khoa học về mặt pháp lý,
cũng như cần đặt trong điều kiện của
Việt Nam và bối cảnh hội nhập quốc
tế.
vực phi chính thức: động lực lớn nhất
là thu nhập, bên cạnh đó còn có một
số động lực khác như tìm kiếm niềm
vui, sức khỏe trong lao động, gìn giữ
nghề truyền thống của gia đình…
nhưng đều không phải là động lực
chính. Và tại sao hộ kinh doanh lại
không tham gia vào khu vực chính
thức để tìm kiếm thu nhập: Về mặt
chủ quan, bản thân các chủ hộ
thường có những đặc điểm khó có thể
tham gia vào khu vực chính thức, như:
trình độ học vấn, chuyên môn thấp; đã
thất nghiệp ở khu vực chính thức, sức
khỏe không còn tốt hoặc do di cư từ
nông thôn lên thành phố không có chỗ
ở ổn định… Tâm lý của chủ hộ
thường không muốn chuyển sang khu
vực chính thức vì cho rằng không có
thêm lợi ích từ đăng ký kinh doanh,
thậm chí không đăng ký kinh doanh
Báo cáo Điều tra khảo sát định tính
khu vực TPHCM cho đề tài Khu vực để tránh đóng thuế; e ngại rủi ro khi
phi chính thức và vai trò của mạng đầu tư mở rộng kinh doanh. Về mặt
lưới xã hội thuộc Dự án hợp tác giữa khách quan, việc có giấy phép đăng
VASS và IDR-DIAL (Hoàng Thị Thu ký kinh doanh không mang lại những
Huyền, 2013) cũng là kết quả của một lợi ích thiết thực cho hộ kinh doanh
khảo sát quy mô nhỏ tại 2 quận nội hoặc chỉ mang lại lợi ích ở một thời
thành (Quận 1, Quận 3) và 1 quận
ngoại thành (Quận 8). Cuộc khảo sát
tiến hành phỏng vấn sâu 22 chủ hộ
điểm nào đó. Vì tính chất kinh doanh
nhỏ lẻ, cũng không cần dùng giấy
phép kinh doanh để tiếp cận nguồn tín
kinh doanh phi chính thức với kết quả dụng chính thức, xin cấp điện, nước,
khảo sát khá cụ thể. Về lý do hộ kinh điện thoại... do đó một số hộ kinh
doanh tham gia vào khu vực phi chính doanh sau khi đăng ký kinh doanh đã
thức, có ba nhóm lý do chính: một là xin hủy để quay lại khu vực phi chính
nhóm lý do mang tính kế thừa, hai là thức. Việc đăng ký kinh doanh gắn
nhóm lý do mang tính tự phát và ba là liền với nghĩa vụ đóng thuế và cơ
lý do được giới thiệu, giúp đỡ qua quan thuế có cơ sở để quản lý thuế
mạng lưới xã hội. Về động lực thúc chặt chẽ hơn, do đó các hộ kinh
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…
58
doanh hạn chế đăng ký kinh doanh để Gò Vấp có tới 68,34% hộ thuộc diện
phải đăng ký kinh doanh nhưng chưa
đăng ký kinh doanh. Đặc biệt, năm
2018, Ủy ban nhân dân quận cấp
2.417 giấy chứng nhận đăng ký hộ
kinh doanh, thì cũng có 1.138 hộ trả
giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh
doanh. Nguyên nhân được chỉ ra là do
các hộ kinh doanh chưa nghiêm túc
thực hiện theo quy định pháp luật, cán
bộ chuyên trách quản lý kinh tế cấp
phường còn buông lỏng địa bàn, chưa
dành nhiều thời gian đi địa bàn, khảo
sát, kiểm tra hộ kinh doanh, vận động
hộ kinh doanh thực hiện theo quy định
và đưa vào diện quản lý. Tuy nhiên,
còn một số nguyên nhân cơ bản chưa
được tác giả nêu lên ở đây, đặc biệt là
những nguyên nhân liên quan đến
bản chất pháp lý và chính sách đối với
hộ kinh doanh. Ngoài ra nghiên cứu
này còn đề cập đến vấn đề chuyển đổi
hộ kinh doanh cá thể lên doanh
nghiệp bắt buộc (sử dụng thường
xuyên 10 lao động trở lên) theo Luật
Doanh nghiệp 2014. Năm 2018, số hộ
kinh doanh cá thể có đủ điều kiện
chuyển đổi mô hình của quận Gò Vấp
là 242 hộ, nhưng chỉ có 191 hộ kinh
doanh xin tư vấn làm thủ tục chuyển
tránh đóng thuế.
Báo cáo này cũng cân nhắc về tiêu
chí để xác định hộ kinh doanh thuộc
khu vực phi chính thức, thực tế cho
thấy không đăng ký kinh doanh có lẽ
là tiêu chí hàng đầu để xác định hộ
kinh doanh thuộc khu vực chính thức
hay phi chính thức. Loại kinh doanh
nhỏ (quy mô vốn và lao động), thu
nhập thấp và cách thức hoạt động
không chuyên nghiệp (như không có
tên cơ sở sản xuất kinh doanh, không
có tài khoản của cơ sở sản xuất kinh
doanh, không ghi chép kế toán) mới là
những tiêu chí quan trọng để xác định
hộ kinh doanh thuộc khu vực phi
chính thức. Báo cáo cũng kiến nghị để
có thể hiểu rõ hơn về khu vực này,
nhất là để có thể đưa ra được các
khuyến nghị chính sách thì ngoài việc
khảo sát định lượng với mẫu lớn cần
phải nghiên cứu trường hợp đối với
một số doanh nghiệp hộ gia đình đặc
thù như: nhóm hộ có quy mô lớn nhất,
nhóm hộ có quy mô nhỏ nhất, nhóm
hộ đã phá sản, hộ chuyển từ khu vực
phi chính thức sang chính thức và
ngược lại.
Gần đây, nghiên cứu Quản lý nhà đổi lên doanh nghiệp sau khi được tư
nước về hộ kinh doanh cá thể trên địa vấn; ý kiến chung cho thấy họ rất cân
bàn quận Gò Vấp TPHCM của Nguyễn nhắc, thận trọng khi chuyển đổi mô
Thị Thanh Nguyệt (2019) là một hình vì lo ngại phát sinh những vấn đề
nghiên cứu sâu về vấn đề quản lý hộ phức tạp. Ở đây tác giả chưa đề cập
kinh doanh cá thể trên địa bàn một tới vấn đề công tác quản lý, khi mà
quận của TPHCM, do đó cho ra việc chuyển đổi là bắt buộc với doanh
những kết quả khá cụ thể về nhiều nghiệp đủ điều kiện nhưng chính
vấn đề của hộ kinh doanh cá thể. quyền địa phương lại phải vận động
Nghiên cứu cho thấy, năm 2017 quận chuyển đổi. Mặt khác, nghiên cứu này
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021
59
cũng chưa có những phân tích cụ thể dụng nguồn dữ liệu rất lớn của Tổng
vì được tiến hành ở thời điểm chưa có
kết quả chính thức về số lượng hộ
kinh doanh đã chuyển đổi thành công
lên doanh nghiệp và quan trọng hơn
là sau khi chuyển đổi họ đã hoạt động
như thế nào.
điều tra kinh tế do Tổng cục Thống kê
thực hiện 5 năm một lần, mới nhất
được thực hiện năm 2017. Đây là cơ
sở dữ liệu từ điều tra tổng thể, bao
gồm toàn bộ hộ kinh doanh cả nước,
trong đó có TPHCM. Cuộc Tổng điều
tra năm 2017 với bản câu hỏi khảo sát
chứa đựng khá nhiều nội dung đáp
ứng yêu cầu phân tích đánh giá thực
trạng hộ kinh doanh và một số nội
dung liên quan đến vấn đề “chính thức
hóa”. Do đó cần có nghiên cứu sử
dụng bộ số liệu này, không chỉ đáp
ứng mục tiêu nghiên cứu của chủ đề
hộ kinh doanh mà còn có độ tin cậy về
mặt thống kê tốt hơn so với các khảo
sát trước đó (với các chỉ tiêu tương
ứng). Ngoài ra, cũng cần có khảo sát
riêng đối với các hộ kinh doanh đã
chuyển thành doanh nghiệp (đây là
nhóm hộ chưa được khảo sát ở các
nghiên cứu trước). Dựa trên hai cơ sở
dữ liệu quan trọng này các nghiên cứu
tiếp theo có khả năng đạt được các
mục tiêu của chủ đề nghiên cứu nêu
trên.
Nhìn chung, chưa thực sự có nhiều
nghiên cứu riêng về hộ kinh doanh ở
TPHCM, nhất là trong định hướng
“chính thức hóa”. Trong khi đó, khu
vực này vẫn đang phát triển mạnh mẽ
và cần có những thông tin và dữ liệu
phân tích mới, tiếp cận theo nhiều góc
độ, đặt trong những bối cảnh mới
(như khủng hoảng kinh tế do đại dịch
COVID-19) để đảm bảo giải quyết vấn
đề toàn diện, khách quan, hiệu quả
nhất. “Chính thức hóa” hộ kinh doanh
hiện đang là vấn đề cần thiết cần có
sự hồi đáp về mặt chính sách cũng
như định hướng phát triển của khu
vực kinh tế này trong tương lai. Hơn
nữa, về thực tiễn áp dụng chính sách
liên quan đến định hướng “chính thức
hóa” như chính sách hỗ trợ hộ kinh
doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp,
chính sách hỗ trợ doanh nghiệp vừa
và nhỏ (loại hình doanh nghiệp mà đa
số hộ kinh doanh chuyển lên) cũng
cần được đánh giá về mặt thực tiễn.
5. KẾT LUẬN
Mặc dù những quan điểm, khái niệm
và cách xác định khu vực phi chính
thức đang tiến đến sự thống nhất
chung trong các nghiên cứu và quy
định chính sách ở Việt Nam, nhưng
việc tiếp tục nghiên cứu về khu vực
phi chính thức và hộ kinh doanh vẫn
có nhiều ý nghĩa trong việc góp phần
xác định tiêu chí thống kê chính xác,
phù hợp với thông lệ quốc tế và trong
điều kiện của Việt Nam.
Xét về cơ sở dữ liệu nghiên cứu về hộ
kinh doanh ở Việt Nam nói chung và
TPHCM nói riêng, các nghiên cứu đa
số sử dụng hai nguồn dữ liệu chính là
dữ liệu thứ cấp của Tổng cục Thống
kê (Niên giám Thống kê, Điều tra lao
động việc làm) và dữ liệu tự điều tra
(quy mô vừa hoặc nhỏ), mà chưa sử
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…
60
Vai trò của khu vực phi chính thức và lý và phát triển. Do đó, việc hiểu đúng
hộ kinh doanh cũng được khẳng định bản chất và đưa hộ kinh doanh về
ở hầu hết các nghiên cứu đã đề cập. khu vực “chính thức” đến mức độ nào
Mặt khác, trên thực tế, sự tồn tại khá để có những ứng xử pháp lý phù hợp
lâu với số lượng rất lớn hộ kinh là rất cần thiết, để vừa đạt hiệu quả
doanh cho thấy sức sống riêng của quản lý vừa để hộ kinh doanh phát
khu vực này trong quá khứ, hiện tại huy những mặt tích cực, đóng góp
và ít nhất là trong tương lai trung hạn. vào sự phát triển chung của khu vực
Hiện nay quan điểm tiếp cận “chính kinh tế tư nhân, nhất là trong bối
thức hóa” cũng đang còn nhiều tranh cảnh kinh tế - xã hội của Việt Nam
luận, từ các khía cạnh pháp lý, quản hiện nay.
CHÚ THÍCH
(1) Kể từ Luật Doanh nghiệp 2005, hộ kinh doanh cá thể được gọi là hộ kinh doanh.
(2) Theo Tổng cục Thống kê (2016): “Khu vực kinh tế phi chính thức được định nghĩa là khu
vực hoạt động của tất cả các cơ sở sản xuất kinh doanh không có tư cách pháp nhân, sản
xuất ít nhất một hoặc một vài sản phẩm và dịch vụ để bán hoặc trao đổi, không đăng ký kinh
doanh (không có giấy phép kinh doanh)” (Báo cáo Lao động phi chính thức năm 2016).
(3) Trường phái “nhị nguyên”, vốn xuất thân từ các chương trình nghiên cứu của Lewis (1954)
và Harris - Todaro (1970), đây cũng là trường phái lâu đời nhất. Trường phái lý luận này cho
rằng hiện tượng kinh tế phi chính thức là một nền kinh tế phụ luôn xuất hiện ở bất kỳ xã hội
nào vì nền kinh tế chính thức không đủ khả năng đáp ứng nhu cầu việc làm của người lao
động. Trên cơ sở đó, kinh tế phi chính thức được xem là một thực thể tự nhiên của thị
trường và không có quan hệ gì nhiều với kinh tế chính thức.
Trường phái “cấu trúc chủ nghĩa”, xuất phát từ nghiên cứu của một số học giả Marxist
(Moser, 1978; Portes, 1989). Trường phái này phủ nhận mặc định của trường phái “nhị
nguyên” và cho rằng có sự phụ thuộc chặt chẽ giữa hai khu vực phi chính thức và chính
thức. Theo quan điểm của trường phái “cấu trúc chủ nghĩa”, khu vực phi chính thức là một
phần phụ trợ chuyên cung cấp hàng hóa và lao động rẻ cho hệ thống kinh tế tư bản chính
thức. Chính vì thế, tính cạnh tranh và độ mềm dẻo của một nền kinh tế cũng phần nào phụ
thuộc vào khu vực phi chính thức.
Trường phái “pháp gia” còn được gọi là trường phái “chính thống” vốn dựa vào các nghiên
cứu của nhà kinh tế De Soto (1989). Trường phái này lý luận rằng khu vực phi chính thức
xuất hiện do chi phí hành chính cho việc gia nhập khu vực kinh tế chính thức quá cao dẫn
đến việc nhiều đơn vị sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ phải hoạt động một cách “phi chính
thức.” Dựa trên quan điểm này, sự xuất hiện của một khu vực phi chính thức thường phản
ánh sự bất cập của hệ thống pháp lý và hành chính vốn tạo ra nhiều rào cản cho việc tham
gia vào khu vực chính thức của các cơ sở sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ. Trường phái
“pháp gia” có sự tương phản mạnh mẽ về hàm ý chính sách với trường phái “cấu trúc chủ
nghĩa”. Trong khi trường phái “cấu trúc chủ nghĩa” nhấn mạnh việc đặt ra các chính sách
thống nhất để đảm bảo phúc lợi cho người lao động trong khu vực phi chính thức, thì ngược
lại, trường phái “pháp gia” hướng đến việc tạo điều kiện cho sự phát triển của các cơ sở sản
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 9 (277) 2021
61
xuất trong khu vực phi chính thức bằng cách tư nhân hóa và giảm thiểu các quy định pháp lý
thừa thãi (Cling Jean-Pierre, Nguyễn Thị Thu Huyền, Nguyễn Hữu Chí, Phan Thị Ngọc Trâm,
Razafindrakoto Mireille, Roubaud Francois, 2010).
Đây là những luận điểm rất đáng chú ý để nhìn nhận về khu vực phi chính thức và hộ kinh
doanh, cũng như trong xây dựng chính sách cho khu vực kinh tế này.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. CIEM. 2017. Chính thức hóa hộ kinh doanh, thực trạng và khuyến nghị chính chính
sách. Hà Nội: Nxb. Hồng Đức.
2. Cling, Jean-Pierre, Nguyễn Hữu Chí, Razafindrakoto Mireille, Roubaud Francois.
2010. Cuộc khủng hoảng kinh tế đã tác động đến Việt Nam ở mức độ nào: Phân tích
trọng tâm về khu vực phi chính thức ở Hà Nội và TPHCM. TCTK /IRD-DIAL. Hà Nội.
3. Cling, Jean-Pierre, Nguyễn Thị Thu Huyền, Nguyễn Hữu Chí, Phan T. Ngọc Trâm,
Razafindrakoto M. and Roubaud F. 2010a. Khu vực kinh tế phi chính thức ở hai thành
phố lớn của Việt Nam: Hà Nội và TPHCM. Hà Nội: Nxb. Viện Khoa học Thống kê.
4. Cling, Jean-Pierre, Đỗ Hoài Nam, Stephane Lagree, Mireille Razafindrakoto, Francois
Roubaud. 2013. Kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển. Hà Nội: Nxb. Tri
thức.
5. Demenet, A. 2017. “Tìm hiểu tính dễ bị tổn thương của hộ sản xuất kinh doanh cá thể
và thách thức đối với an sinh xã hội”, trong Vai trò của hộ sản xuất kinh doanh cá thể và
khu vực phi chính thức đối với tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam do Doumer, L.P., Oudin,
X. và Nguyễn Thắng chủ biên. Hà Nội: Nxb. Thế giới.
6. Doumer, L.P., Oudin, X., và Nguyễn Thắng. 2017. Vai trò của hộ sản xuất kinh doanh
cá thể và khu vực phi chính thức đối với tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb.
Thế giới.
7. Hart, K. 1973. “Informal Income Opportunities and Urban Employment in Ghana”.
Journal of Modern African Studies, 11(1), pp. 61-89.
8. Hoàng Thị Thu Huyền. 2013. “Báo cáo Điều tra khảo sát định tính khu vực TP.HCM”,
đề tài Khu vực phi chính thức và vai trò của mạng lưới xã hội thuộc Dự án hợp tác giữa
VASS và IDR-DIAL.
9. ILO. 1993. Resolution Concerning Statistics of Employment in the Informal Sector,
Fifteenth International Conference of Labour Office, ILO January 1993.
10. Nguyễn Thị Thanh Nguyệt. 2019. Quản lý nhà nước về hộ kinh doanh cá thể trên
địa bàn quận Gò Vấp TPHCM. Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học Xã hội.
11. Nguyễn Thị Thu Huyền, Axel Demenet, Mireille Razafindrakoto và François
Roubaud. 2010. Sự năng động của khu vực phi chính thức ở Hà Nội và TPHCM giai
đoạn 2007-2009: Một số phát hiện chính từ Điều tra hộ sản xuất kinh doanh và khu vực
phi chính thức. Tổng cục Thống kê/IRD-DIAL. Hà Nội.
12. Nguyễn Tuấn Vũ. 2014. Vài nét về khu vực kinh tế phi chính thức tại TPHCM. Đề tài
nghiên cứu, cơ quan chủ trì Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.
13. Oudin, X. 2017. “Đóng góp cho nền kinh tế của các hộ sản xuất kinh doanh cá thể và
HOÀNG THỊ THU HUYỀN – HỘ KINH DOANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH…
62
khu vực kinh tế phi chính thức”, trong Doumer, L.P., Oudin, X., và Nguyễn Thắng (chủ
biên). Vai trò của hộ sản xuất kinh doanh cá thể và khu vực phi chính thức đối với tăng
trưởng bao trùm ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Thế giới.
14. Phạm Minh Thái, Doumer, L.P. 2017. “Sự phát triển của khu vực phi chính thức và
hộ sản xuất kinh doanh cá thể ở Việt Nam trong thời kỳ tăng trưởng và tự do hóa
thương mại”, trong Doumer, L.P., Oudin, X., và Nguyễn Thắng (chủ biên). Vai trò của hộ
sản xuất kinh doanh cá thể và khu vực phi chính thức đối với tăng trưởng bao trùm ở
Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Thế giới.
15. Phạm Thị Kim Thái, Oudin. X, Doumer, L.P, Vũ Văn Ngọc. 2017. “Đặc điểm của hộ
sản xuất kinh doanh cá thể và khu vực phi chính thức”, trong Doumer, L.P., Oudin, X.,
và Nguyễn Thắng (chủ biên). Vai trò của hộ sản xuất kinh doanh cá thể và khu vực phi
chính thức đối với tăng trưởng bao trùm ở Việt Nam. Hà Nội: Nxb. Thế giới.
16. Phương Nhung - Thanh Nhân. 2019. “Quản hộ kinh doanh cá thể bằng luật để giảm
thu-thue-2019122221060633.htm, truy cập ngày 15/2/2020.
17. Sindzingre, Alice. 2006. The Relevance of the Concepts of Formality and Informality:
A Theoretical Appraisal, Pub. in Linking the Formal and Informal Economy: Concepts
and Policies,. Basudeb Guha-Khasnobis, Ravi Kanbur, and Elinor Ostrom eds., Oxford.
18. Tổng cục Thống kê. 2017. Báo cáo Điều tra lao động việc làm năm 2016. Hà
Nội: Nxb. Thống kê.
19. Tổng cục Thống kê. 2018. Đề án “Thống kê khu vực kinh tế chưa được quan sát”
(NOE). Hà Nội: Nxb. Thống kê.
20. Tổng cục Thống kê. 2019. Công văn 1127/TCTK-TKQG ngày 13/9/2019 về Hướng
dẫn sử dụng khái niệm về khu vực phi chính thức và hoạt động tự sản tự tiêu của hộ
gia đình. Hà Nội.
21. Tổng cục Thống kê. 2019. Niên giám Thống kê 2018. Hà Nội: Nxb. Thống kê.
Bạn đang xem tài liệu "Hộ kinh doanh ở Thành phố Hồ Chí Minh trong định hướng “chính thức hóa”: Tổng quan nghiên cứu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ho_kinh_doanh_o_thanh_pho_ho_chi_minh_trong_dinh_huong_chinh.pdf

