Các yếu tố cơ bản để phát triển hệ thống sản xuất bền vững

HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
CÁC YẾU TỐ CƠ BẢN ĐỂ PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG SẢN XUẤT BỀN VỮNG  
FUNDAMENTALS OF SUSTAINABLE PRODUCTION SYSTEM DEVELOPMENT  
TS. Nguyễn Thanh Liêm, ThS. Bùi Trung Hiệp  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
TÓM TẮT  
Phát triển hệ thống sản xuất bền vững sẽ đem lại những lợi ích lâu dài cho nền kinh tế, môi trường và xã  
hội. Bài báo trình bày các yếu tố cơ bản trong hệ thống sản xuất bền vững, từ đó giúp cho nhà quản trị hình  
thành được quan điểm hệ thống khi xây dựng những kế hoạch sản xuất dài hạn cũng như có được các gợi ý  
chiến lược trước những yêu cầu mới liên quan đến vấn đề phát triển bền vững.  
Từ khóa: Hệ thống sản xuất bền vững; lợi ích lâu dài; gợi ý chiến lược; phát triển bển vững.  
ABSTRACT  
Developing sustainable production systems will bring durable benefits for the economy, environment and  
society. This article presents the basic elements of sustainable production systems, which helps the  
administrators to form the systematical view when building the long-term production plans as well as the  
strategical suggestions against the new requirements related to sustainable development issues.  
Keywords: sustainable production system; durable benefits;  
strategical suggestions; sustainable  
development.  
đảm bảo hiệu quả kinh tế” [1]. Cách tiếp cận  
sản xuất bền vững đó làm hình thành xu hướng  
nghiên cứu và phát triển các tiêu chuẩn bền  
vững cho quá trình sản xuất, tạo ra nhiều tập  
hợp các chỉ số bền vững khác nhau như trong  
bảng 1.  
1. Tổng quan về khái niệm sản xuất bền  
vững  
“Sản xuất bền vững được định nghĩa là  
việc tạo ra các sản phẩm thông qua qui trình  
có sự tối thiểu hóa những ảnh hưởng tiêu cực  
đến môi trường, có sự an toàn cho người lao  
động, cộng đồng và người tiêu dùng mà vẫn  
Bảng 1. Các nhóm chỉ số bền vững/ sản xuất bền vững phổ biến [2]  
T
T
Số lượng  
chỉ số  
Nhóm chỉ số bền vững  
Dạng  
Mục đích  
Khởi đầu báo cáo toàn cầu  
(GRI)  
Các chỉ số bền vững Dow  
Jones (DJSJ)  
Chỉ số  
riêng  
Hướng dẫn báo cáo về tính bền  
vững  
Chỉ số bền vững doanh nghiệp  
cho các công ty đầu tư  
Thang đo của ban quản lý môi  
trường quốc gia  
Chỉ số của báo cáo bảo vệ môi  
trường quốc gia  
1
2
3
4
5
70  
Chỉ số  
hỗn hợp  
Chỉ số  
hỗn hợp  
Chỉ số  
hỗn hợp  
Chỉ số  
riêng  
12  
68  
19  
96  
Chỉ số bền vững môi trường  
Chỉ số hiệu quả môi trường  
Chỉ số UNCSD của phát  
triển bền vững  
Chỉ số phát triển bền vững ở tầm  
quốc gia  
Các chỉ số của hiệu quả chính  
sách môi trường quốc gia hướng  
đến phát triển bền vững  
Chỉ số bền vững của sản phẩm  
dựa trên đánh giá vòng đời  
Đo lường việc sản xuất bền vững  
trong General Motors  
Chỉ số môi trường quan  
trọng (OECD)  
Chỉ số  
riêng  
6
46  
8
Chỉ số bền vững của sản  
phẩm Ford  
Thang đo GM để sản xuất  
bền vững  
Chỉ số  
hỗn hợp  
Chỉ số  
riêng  
7
8
30 thang  
đo  
99  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Hướng dẫn thiết kế và sử dụng  
các đánh giá hiệu quả môi trường  
bên trong tổ chức  
ISO 14031 đánh giá hiệu  
quả môi trường  
155 tiêu  
chí mẫu  
Chỉ số  
riêng  
9
Wal-Mart chỉ số sản phẩm  
bền vững  
Chỉ số áp lực lên môi trường  
của Liên minh Châu Âu  
Chỉ số  
riêng  
Chỉ số  
riêng  
Chỉ số sản phẩm bền vững cho  
nhà cung cấp  
Chỉ số áp lực lên môi trường bởi  
hoạt động con người  
10  
11  
15 câu hỏi  
60  
Những tiêu chí trên đã tạo áp lực nhất định  
đối với nhà quản trị sản xuất, khiến họ phải  
quan tâm đến những ảnh hưởng khác ngoài chi  
phí tài chính khi tiến hành sản xuất. Đã có  
nhiều công ty đạt được bước tiến đáng kể trong  
quá trình tổ chức sản xuất bền vững; tuy nhiên  
thực tế đa số công ty vẫn gặp khó khăn, ví dụ  
như khả năng thiết đặt những kế hoạch bền  
vững để dịch chuyển sự tập trung từ lợi nhuận  
ngắn hạn sang lợi ích dài hạn, và cũng như  
nhiều công ty không hiểu được đầy đủ ý nghĩa  
của hệ thống sản xuất bền vững. Trước đây, sự  
bền vững chủ yếu hướng vào yếu tố môi  
trường, nghĩa là hoạt động sản xuất phải đảm  
bảo không ảnh hưởng xấu đến môi trường. Đến  
nay khi sự bền vững được hiểu rộng hơn theo 3  
khía cạnh: xã hội, môi trường, kinh tế, đã làm  
hình thành những quan điểm mới như: trách  
nhiệm xã hội, doanh nghiệp bền vững, đạo đức  
kinh doanh… Để đáp ứng những yêu cầu liên  
quan đến sự bền vững đó thì đặc điểm hệ thống  
sản xuất của công ty luôn được quan tâm hàng  
đầu do có vai trò thiết yếu: sử dụng phần lớn  
tài nguyên, năng lượng của tự nhiên; cung cấp  
toàn bộ sản phẩm, dịch vụ cho đời sống xã hội  
và có những ảnh hưởng trực tiếp, lâu dài tới  
môi trường. Ngoài ra, hệ thống sản xuất muốn  
trở nên bền vững phải được thiết kế với sự  
quan tâm căn bản đến công nghệ và giáo dục  
(hình 1). Thực tế cho thấy không một quá trình  
sản xuất nào có thể bền vững nếu thiếu sự đóng  
góp của một nhóm người được đào tạo về cách  
sử dụng sản phẩm một cách thông minh, có  
nhận thức về những công nghệ hữu ích và kiến  
thức thực thi hiệu quả.  
Hình 1: Các vấn đề căn bản liên quan đến việc đảm  
bảo hệ thống sản xuất bền vững  
Như vậy, sản xuất bền vững được định  
nghĩa lại là “khả năng sử dụng các nguồn tài  
nguyên tự nhiên một cách thông minh để tạo ra  
các sản phẩm, giải pháp sản xuất dựa vào công  
nghệ mới, thước đo chuẩn hóa và hành vi xã  
hội minh bạch nhằm thỏa mãn mục tiêu kinh  
tế, môi trường, xã hội; từ đó vừa duy trì được  
môi trường vừa cải thiện chất lượng đời sống  
con người” [3]  
Mỗi ngành kinh doanh có những yêu cầu  
riêng đối với hệ thống sản xuất để đảm bảo  
tính bền vững, tuy nhiên vẫn có những điểm  
chung như sau [4]:  
• Nhận thức về môi trường phải được đề  
cập trong văn hóa của toàn bộ tổ chức.  
• Thiết kế sản phẩm, qui trình mới phải  
đảm bảo những tiêu chí bền vững và có thể tích  
hợp được với các phương thức thiết kế có sẵn.  
• Tối đa việc tận dụng và tái sử dụng  
nguyên vật liệu, các thành phần sản xuất.  
• Khái niệm về đánh giá vòng đời sản  
phẩm phải được ứng dụng vào toàn bộ hệ  
thống sản xuất.  
• Tổ chức sản xuất tinh gọn, hiệu quả.  
• Tái thiết kế tổ chức, hệ thống đo lường  
hiệu quả phải định hướng vào vấn đề thân thiện  
với môi trường.  
100  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
So sánh những yêu cầu đó với thực trạng  
• Sử dụng công nghệ xanh, sạch.  
hiện nay, khi các công ty, doanh nghiệp vẫn  
đang thu được lợi nhuận khả quan theo phương  
cách sản xuất thông thường thì việc đề xuất  
một mô hình hệ thống sản xuất bền vững phải  
đáp ứng được yêu cầu phát triển chiến lược,  
đồng thời tạo nên nền tảng khuyến khích  
những thay đổi hướng đến sự bền vững thông  
qua việc hoạch định sản xuất tinh gọn (lean  
production), tùy biến đại chúng (mass  
customization) và kiểm soát vòng đời sản  
phẩm để đảm bảo tiêu chuẩn môi trường – kinh  
tế và xã hội.  
Những thay đổi của môi trường kinh doanh  
đã tác động đến hệ thống sản xuất ở các mức  
độ khác nhau, dưới những hình thức như [5]:  
• Ảnh hưởng phức tạp từ quá trình toàn  
cầu hóa nhanh chóng và tự do hóa thương mại  
ở những thị trường bảo thủ.  
• Tiềm năng rõ rệt của các công nghệ  
sản xuất có thể tạo ưu thế cạnh tranh.  
• Ứng dụng trực tiếp những nguồn lực  
xã hội mới phát triển dựa trên hệ thống thông  
tin toàn cầu và những thay đổi trong hệ thống  
giá trị.  
2. Các yếu tố cơ bản của hệ thống sản xuất  
bền vững  
• Gia tăng nhu cầu đối với các sản phẩm  
thân thiện với môi trường và áp lực từ các thay  
đổi của hệ sinh thái liên quan đến việc xả thải  
khi sản xuất.  
• Gia tăng yêu cầu khai thác hiệu quả,  
đúng đắn các nguồn tài nguyên, năng lượng.  
Hình 2. Mô hình hệ thống sản xuất bền vững  
Mô hình hệ thống sản xuất bền vững không  
những phải đảm bảo hiệu suất sản xuất vượt  
trội mà còn góp phần tối ưu hóa quá trình sử  
dụng/tiêu thụ sản phẩm và hỗ trợ phát triển các  
mạng giá trị (value networks) - nơi mà nhà sản  
xuất, nhà cung cấp và khách hàng cùng tham  
gia cấu trúc hệ thống sản phẩm-dịch vụ hoàn  
thiện. Hệ thống đó phải được xây dựng để đáp  
ứng những yêu cầu về: thiết kế sản phẩm bền  
vững, chuỗi cung ứng bền vững, quản trị vòng  
101  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
đời sản phẩm, quản trị công nghệ - đổi mới  
(hình 2)  
Thiết kế sản phẩm. Hiện nay, các công ty  
sẻ kiến thức (knowledge-sharing network), nơi  
các cụm hợp tác (cooperative clusters) được kì  
vọng sẽ phát huy hiệu quả đầy đủ hơn [3]. Cải  
thiện chuỗi cung ứng đang được mở rộng từ  
việc tập trung vào kiểm soát chất lượng sang  
các tiêu chuẩn xã hội khác. Để kiểm soát nhà  
cung cấp, công ty cần thường xuyên thanh tra  
báo cáo hoạt động nội bộ và bên ngoài của họ.  
Tiếp đó, cần phải yêu cầu nhà cung cấp thực  
hiện các cam kết phù hợp với mục tiêu phát  
triển bền vững của mình. Để hoàn thiện chuỗi  
cung ứng, công ty cần tham gia vào các liên  
đoàn và hiệp hội trong ngành nghề kinh doanh  
để chia sẻ, học hỏi những phương pháp hướng  
dẫn đào tạo, cách thức phối hợp với nhà cung  
cấp hợp lý hơn. Hình 3 mô tả lộ trình phát triển  
chuỗi cung ứng trước yêu cầu sản xuất bền  
vững.  
có xu hướng cam kết về việc qui trình thiết kế  
sản phẩm đã cân nhắc những khía cạnh môi  
trường và các quan điểm bền vững từ xã hội.  
Giai đoạn thiết kế chính là điểm nhấn đầu tiên  
cho sự đảm bảo về tính bền vững vì các quyết  
định đó sẽ liên quan đến hơn 70% chi phí phát  
triển sản phẩm, sản xuất và sử dụng, cũng như  
tạo ra ảnh hưởng lớn đến việc quản trị vòng  
đời sản phẩm sau này [6]. Quá trình thiết kế  
sản phẩm truyền thống thường phải xử lý 3 vấn  
đề chính: Đặc tính ưu thế của sản phẩm;  
Những yêu cầu về chi phí, tiến độ, nguyên vật  
liệu hiện hữu và các cân nhắc của thị trường;  
Kiến thức, kinh nghiệm của nhà thiết kế sản  
phẩm. Và thiết kế sản phẩm bền vững thông  
qua khả năng tùy biến đại chúng sẽ chính là  
giải pháp cho các vấn đề trên khi tạo thành hệ  
thống sản xuất mới giúp công ty định hướng  
khách hàng tốt hơn nhờ đáp ứng nhu cầu riêng  
thông qua cấu trúc sản phẩm đa dạng.  
Hình 3.Phát triển chuỗi cung ứng bền vững  
Quản trị vòng đời sản phẩm. Đã có nhiều  
nghiên cứu về quản trị hệ thống sản xuất theo  
quan điểm đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA),  
nghĩa là cân nhắc tính bền vững của sản phẩm,  
qui trình xuyên suốt toàn bộ vòng đời, bắt đầu  
từ việc mua sắm nguyên vật liệu đến sản xuất,  
phân phối, sử dụng đều phải được cân nhắc  
dưới nhiều phương án công nghệ khác nhau để  
đánh giá tác động đến môi trường-xã hội-kinh  
tế, cũng như tìm kiếm chiến lược sản xuất hoàn  
thiện hơn. Theo cách tiếp cận trên, nhà quản trị  
sản xuất có thể sử dụng những phương tiện hỗ  
trợ như mô phỏng, mô hình hóa vòng đời sản  
phẩm có tính đến hành vi tương tác của các bộ  
phận liên quan (nhà cung cấp, nhân lực, khách  
hàng) hoặc các phương pháp đánh giá vòng đời  
theo thời gian thực tế (real-time life-cycle  
assessment) cho phép xem xét chính xác những  
ảnh hưởng và chi phí của sản phẩm dựa trên  
việc thu thập những thông tin của sản phẩm  
khác đã tồn tại. Quản trị vòng đời sản phẩm  
càng được kiện toàn nhờ định nghĩa sản phẩm  
thông minh – là những sản phẩm được tích hợp  
vào mạng lưới gồm những đối tượng tự động  
tương tác, trao đổi thông tin với nhau thông  
Tùy biến đại chúng là kỹ thuật sản xuất sở  
hữu tính linh hoạt và khả năng giảm thiểu chi  
phí đơn vị do kế thừa đặc điểm của hệ thống  
sản xuất hàng loạt. Đó chính là nhân tố thiết  
yếu cho sự thành công của hệ thống sản xuất  
bền vững vì nền kinh tế ‘xanh- sạch’ ngày nay  
đặc biệt lưu tâm đến khả năng tái tạo sản phẩm  
sau khi sử dụng và đây chính là ưu thế của hệ  
thống sản xuất với khả năng tùy biến đại chúng  
bởi thành phẩm được tạo ra từ những bộ phận  
hoàn thiện riêng lẻ đã được kiểm soát chặt chẽ  
về các yêu cầu như: mục đích sản xuất, cấu  
trúc, khả năng tích hợp, mức độ tái tạo sau sử  
dụng.  
Chuỗi cung ứng bền vững – là nhân tố  
quan trọng trong kế hoạch tối đa hóa hiệu quả  
hoạt động, giá trị khách hàng và chất lượng sản  
phẩm. Đa số các công ty hiện nay đều đồng  
thời nằm trong nhiều mạng lưới sản xuất và  
điều đó làm cho việc hoạch định, quản trị, tối  
ưu hóa mạng lưới trở nên phức tạp hơn. Mô  
hình chuỗi giá trị gia tăng (value-adding chain)  
đang dần được thay đổi thành mạng lưới chia  
102  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
qua công nghệ vô tuyến (ví dụ RFID). Sản  
hiệu quả chi phí và độ tin cậy; đồng thời việc  
trang bị các thiết bị thông minh vào máy móc  
(embedded smart devices) để kiểm soát theo  
thời gian thực thông qua hệ thống thông minh  
sẽ giúp cho công tác phân tích thông tin sản  
xuất trở nên hiệu quả hơn, nâng cao hiệu quả  
quản lý chất lượng sản xuất, tạo ra những tiền  
đề mới để phát triển công nghệ với khả năng  
giảm thiểu tác động xấu lên môi trường.  
phẩm thông minh đáp ứng yêu cầu chính của  
quản trị vòng đời sản phẩm khi theo dõi được  
tuyến trình của sản phẩm, cung cấp khả năng  
chia sẻ thông tin, kiến thức giữa nhà sản xuất  
và khách hàng một cách thuận lợi.  
Ngoài ra, một khi có thông tin về vòng đời  
sản phẩm, nhà quản trị sản xuất chủ động được  
kế hoạch bảo trì hệ thống sản xuất, làm tăng  
mức độ bền vững thông qua áp dụng phương  
pháp đo lường dự báo và khai thác những tiềm  
năng từ các công nghệ khả thi, nhờ đó sẽ làm  
tăng tuổi thọ thiết bị, máy móc, đảm bảo chất  
lượng sản xuất lâu dài, tránh được những sai  
lỗi bất thường và tối ưu hiệu suất, đem lại cho  
công ty lợi ích kinh tế lẫn hạn chế các tác động  
tiêu cực đến môi trường thường hình thành do  
sự bất ổn định của hệ thống sản xuất.  
Bên cạnh những thành tố cơ bản để xây  
dựng hệ thống sản xuất bền vững được đề cập  
ở trên, việc quản trị hệ thống đó còn phải thực  
hiện công tác định chuẩn (theo các tiêu chí:  
môi trường, tăng trường, công nghệ ưu thế, xã  
hội); hướng dẫn, đào tạo và phân tích, đánh giá  
hiệu quả bền vững.  
Hoạt động chuẩn hóa rất cần thiết để thực  
thi chính sách sản xuất hiệu quả. Ví dụ khi đo  
lường hiệu quả năng lượng sản xuất, các chỉ  
tiêu hiệu quả năng lượng chính (EKPIs) rất  
thích hợp để được các phân xưởng sử dụng,  
qua đó đưa ra những quyết định nhanh chóng  
cũng như các kế hoạch sản xuất phù hợp hơn.  
Mỗi hệ thống sản xuất có thể phát triển chuẩn  
EKPIs tương thích với những tiêu chuẩn hiện  
hành như ISO 14001, EN 16001 và chuẩn ISO  
50001 trong tương lai. Để đảm bảo cho hệ  
thống sản xuất bền vững, nhà quản trị sản xuất  
còn cần xây dựng các tiêu chuẩn về truyền  
thông, về tính minh bạch của chuỗi cung ứng  
và dữ liệu vòng đời sản phẩm.  
Quản trị công nghệ-đổi mới trong hệ  
thống sản xuất. Những đổi mới cải tiến  
(incremental innovations) trong hệ thống sản  
xuất chỉ có thể mang đến các cải thiện nhỏ cho  
môi trường và rõ ràng không thể đạt được mục  
tiêu trở thành hệ thống hoàn toàn không gây  
hại đến môi trường. Những công nghệ tái tạo  
(recycling technologies) mới kết hợp với các  
hệ thống tổng hợp (collecting systems) hiệu  
quả hơn cần được nghiên cứu, phát triển đồng  
bộ [7]. Hiện nay, quản trị công nghệ - đổi mới  
trong sản xuất cần làm tăng tính linh hoạt và  
trang bị khả năng tái thiết đặt (re-  
configurability) cho hệ thống sản xuất – thể  
hiện qua sự thích nghi nhanh và hiệu quả của  
hệ thống sản xuất với những điều kiện thay đổi  
phức tạp, đảm bảo cho công ty có thể tồn tại  
trước sức ép mới từ thị trường. Công ty cần  
tiếp cận thường xuyên với công nghệ và đổi  
mới trong sản xuất vì chúng ảnh hưởng lớn đến  
toàn bộ kết quả mức độ tác động đến môi  
trường-xã hội-kinh tế. Ví dụ như khả năng phát  
triển các công nghệ mới trong ngành khai  
khoáng, trong sản xuất nguyên vật liệu thô,  
trong sản xuất năng lượng hoặc vận tải, phân  
phối, bảo trì… có tầm quan trọng lớn lao đối  
với sự bền vững. Nổi bật hiện nay là xu hướng  
thu nhỏ và đa chức năng hóa công nghệ để tăng  
Vai trò của việc đào tạo, hướng dẫn đối với  
việc phát triển hệ thống sản xuất bền vững  
cũng cần được xem xét vì nền sản xuất hiện đại  
đòi hỏi những người tham gia phải được rèn  
luyện về quan điểm hòa hợp giữa sản xuất -  
kinh doanh – xã hội , có khả năng tư duy về  
toàn bộ vòng đời sản phẩm, cũng như có thể  
đáp ứng những nhu cầu xã hội đảm bảo tính  
bền vững và bảo vệ môi trường (IMS2020,  
2009). Việc đào tạo có thể thực hiện thông qua  
quá trình mô phỏng hoạt động sản xuất  
(teaching factory), kinh doanh nhằm thu hẹp  
khoảng cách giữa cách thức ra quyết định trong  
lý thuyết và trong thực tiễn.  
103  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Ngoài những yêu cầu cơ bản nêu trên, để  
giai đoạn có sự thanh tra, kiểm soát hoạt động,  
hiệu quả kinh doanh từ các cơ quan chức năng.  
Bài báo này tiếp cận vấn đề sản xuất bền vững  
ở một phương diện mang tính hệ thống hóa  
cao, xác định các thành phần cơ bản cấu thành  
hệ thống sản xuất bền vững. Bài báo sẽ là cơ sở  
cho các chủ đề nghiên cứu trong tương lai như:  
khả năng ứng dụng phần mềm mô phỏng hệ  
thống sản xuất để đánh giá mức độ bền vững;  
xây dựng mô hình hệ thống sản xuất bền vững  
cho từng ngành kinh doanh riêng (sắt thép,  
may mặc, lương thực-thực phẩm…), đặc biệt  
trong điều kiện ở Việt Nam; khả năng điều  
chỉnh hệ thống sản xuất hiện tại để đáp ứng  
những mục tiêu sản xuất bền vững mới./.  
xây dựng được hệ thống sản xuất bền vững,  
nhà quản trị còn cần có khả năng thích nghi với  
tính linh động của khái niệm sản xuất bền vững  
cũng như những nhân tố liên quan khác như  
các luật định mới, xu thế định hướng vào dịch  
vụ, vào sản phẩm có hàm lượng tri thức cao…  
3. Kết luận  
Để đảm bảo sản xuất bền vững, hiện tại  
trên thế giới thường chú trọng vào việc định ra  
các nhóm tiêu chí đo lường mức độ ảnh hưởng  
đến khả năng tồn tại bền vững, tuy nhiên chính  
cách tiếp cận đó đồng thời tạo ra mô hình sản  
xuất “ phát triển trước, thu dọn sau” (“grow  
first, clean up later”), được phản ánh rõ vào các  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] T. Lu, A.Gupta, A.D. Jayal, F. Badurdeen, S.C. Feng, O.W. Dillon, Jr., I. S. Jawahir (2011)  
“A Framework of Product and Process Metrics for Sustainable Manufacturing”, Advances in  
Sustainable Manufacturing: Proceedings of the 8th Global Conference on Sustainable  
Manufacturing  
[2] Shaw C.Feng, Che B. Joung, “A measurement infrastructure for sustainable manufacturing”,  
Int. J. Sustainable Manufacturing, Vol. 2, Nos. 2/3, 2011  
[3] Marco Garreti, Marrco Taisch ( 2011), “Sustainable manufacturing: trends and research  
challenges”, Production Planning & Control Vol 23. Nos 2-3, February-March 2012, 83-104.  
[4] Christopher O’Brien, “Sustainable production – a new paradigm for a new millennium”, Int.  
J. Production Economics, 60-61 (1999) 1-7  
[5] Jayantha P. Liyanage, “Operations and maintenance performance in production and  
manufacturing assets: The sustainability perspective”, Journal of Manufacturing Technology  
Management Vol. 18 No. 3, 2007 trang 304-314  
[6] National Research Council (NRC). “Improving engineering design: designing for competitive  
advantage”. Washington, DC: National Academy Press; 1991.  
[7] Dodbiba, G., et al., 2008. “The recycling of plastic wastes from discarded TV sets: comparing  
energy recovery with mechanical recycling in the context of life cycle assessment”, Journal of  
Cleaner Production, 16, 458–470.  
104  
pdf 6 trang Thùy Anh 14460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các yếu tố cơ bản để phát triển hệ thống sản xuất bền vững", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_yeu_to_co_ban_de_phat_trien_he_thong_san_xuat_ben_vung.pdf