Ban kiểm soát và quản trị lợi nhuận: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam
Journal of Finance – Marketing; Vol. 64, No. 4; 2021
ISSN: 1859-3690
ISSN: 1859-3690
T
ẠP CH Í
NGHIÊN CỨU
TÀI CHÍNH - MARKETING
Số 64 - Tháng 08 Năm 2021
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING
Journal of Finance – Marketing
AUDIT COMMITTEE AND EARNINGS MANAGEMENT:
EMPIRICAL EVIDENCE IN VIETNAM
Ngo Nhat Phuong Diem1*, Tran Nguyen Ngoc Anh u1, Duong Hoang Ngoc Khue1,
Chu i uong1, Truong ao Nghi1, Nguyen i Bich Nhi1
1University of Finance – Marketing
ARTICLE INFO
ABSTRACT
DOI:
e study used data samples of 174 listed companies from 2015 to 2019
to eaxmine the impact of audit committee on earnings management in
Vietnam. e study uses Dechow et al (1995) to measure the abnormal
accual representing earning management. e mutivariate regresssion
results show that there are three variables having an impact on earnings
management. e audit committee size has opposite effects with earnings
management. Meanwhile, audit committee independent and meeting have
a possitive relationship with earnings management. At the same time,
research results have not found any evidence to prove a correlation between
the expertise of audit committee and earnings management. In additon,
this study also admitted that company size has a positive correlation with
earnings management, but the debt ratio and net cash flow from operating
have an inverse correlation with earnings management.
10.52932/jfm.vi64.191
Received:
September 07, 2020
Accepted:
October 08, 2020
Published:
August 25, 2021
Keywords:
Audit committee,
accrual anomaly,
earnings management.
*Corresponding author:
Email: [email protected]
103
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 64 – áng 8 Năm 2021
ISSN: 1859-3690
T
ẠP CH Í
NGHIÊN CỨU
TÀI CHÍNH - MARKETING
Số 64 - Tháng 08 Năm 2021
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
BAN KIỂM SOÁT VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN:
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM
Ngô Nhật Phương Diễm1*, Trần Nguyễn Ngọc Anh ư1, Dương Hoàng Ngọc Khuê1,
Chu ị ương1, Trương ảo Nghi1, Nguyễn ị Bích Nhi1
1Trường Đại học Tài chính – Marketing
THÔNG TIN
TÓM TẮT
DOI:
Nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu của 174 công ty niêm yết trong giai đoạn
2015 đến năm 2019 để xem xét tác động của ban kiểm soát đến hành vi
quản trị lợi nhuận tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng mô hình Dechow
và cộng sự (1995) đo lường mức dồn tích bất thường đại diện cho hành vi
quản trị lợi nhuận. Kết quả hồi quy đa biến cho thấy có 3 biến thuộc ban
kiểm soát có tác động đến quản trị lợi nhuận: quy mô ban kiểm soát có tác
động ngược chiều với quản trị lợi nhuận, thành viên độc lập, tần suất họp
của ban kiểm soát có tác động cùng chiều với quản trị lợi nhuận. Đồng thời
kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy bằng chứng chứng minh mối tương quan
giữa trình độ chuyên môn ban kiểm soát với quản trị lợi nhuận. Ngoài ra,
nghiên cứu này cũng thừa nhận quy mô công ty có mối tương quan cùng
chiều với quản trị lợi nhuận nhưng hệ số nợ, dòng tiền thuần từ hoạt động
kinh doanh có mối tương quan ngược chiều với quản trị lợi nhuận.
10.52932/jfm.vi64.191
Ngày nhận:
22/09/2020
Ngày nhận lại:
15/10/2020
Ngày đăng:
25/08/2021
Từ khóa:
Ban kiểm soát,
dồn tích bất thường,
quản trị lợi nhuận.
1. Giới thiệu
giám sát phù hợp để hạn chế hành vi này, và
đây cũng là nội dung chủ chốt trong quản trị
Nhà quản lý với mục đích tối đa hóa giá trị
công ty để đạt được lợi ích cá nhân đã thực
hiện hành vi quản trị lợi nhuận thông qua áp
dụng các chính sách kế toán được chấp nhận
và hành vi này làm giảm độ tin cậy về thông tin
lợi nhuận và có thể làm ảnh hưởng đến quyết
định của người sử dụng thông tin từ báo cáo tài
chính của công ty. Chính vì vậy, cần một cơ chế
hiện đại (Anderson và cộng sự, 1993). Đặc biệt,
sau các sự kiện liên quan đến bê bối số liệu kế
toán như Enron, Worldcom, Xerox,… có khá
nhiều nghiên cứu về mô hình nhận diện hành
vi quản trị lợi nhuận (Healy, 1985; Jones, 1991;
Dechow và cộng sự, 1995; Kothari và cộng
sự, 2005; Roychowdhury, 2006;…) cũng như
nghiên cứu về các nhân tố tác động đến quản trị
lợi nhuận hay nghiên cứu về ban kiểm soát (ban
kiểm soát) có vai trò như thế nào đối với quản
*Tác giả liên hệ:
Email: [email protected]
104
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 64 – áng 8 Năm 2021
& Weir, 1999), do đó, ban kiểm soát sẽ có động
lực để cải thiện hiệu quả hoạt động và các nhà
đầu tư sẽ tin tưởng hơn vào giá trị của các báo
cáo tài chính của công ty. Khá nhiều nghiên cứu
thừa nhận vai trò của ban kiểm soát trong việc
đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính (Fama
& Jensen, 1983; Abbott và cộng sự, 2000). Do
đó, ban kiểm soát với chức năng nâng cao chất
lượng và độ chính xác của thông tin tài chính
thông qua vai trò giám sát nhà quản lý, ban
kiểm soát được xem như một cơ chế giám sát
để giảm sự bất cân xứng thông tin giữa ban lãnh
đạo và các bên liên quan (Klein, 2002; Davidson
và cộng sự, 2005; Dhaliwal và cộng sự, 2010; Li
và cộng sự, 2012).
trị lợi nhuận (Dezoort và cộng sự, 2002; Klein,
2002; Davidson và cộng sự, 2005; Dhaliwal và
cộng sự, 2010; Li và cộng sự, 2012)...
Tại Việt Nam, khoảng thời gian 10 năm gần
đây, có nhiều nghiên cứu tập trung vào chất
lượng lợi nhuận, quản trị lợi nhuận với mong
muốn tìm hiểu những nhân tố tác động đến
chất lượng lợi nhuận, đến quản trị lợi nhuận
nhằm gia tăng chất lượng thông tin trên báo
cáo tài chính. Nhiều nghiên cứu sử dụng mô
hình Jones (1991) và các mô hình điều chỉnh
của Jones (1991) để nghiên cứu về quản trị lợi
nhuận. Các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra có
tồn tại hành vi quản trị lợi nhuận cũng như các
nhân tố thuộc quản trị công ty, đặc điểm công
ty tác động đến quản trị lợi nhuận, chất lượng
lợi nhuận (Hoang và cộng sự, 2016; Bùi Văn
Dương & Ngô Hoàng Điệp, 2017). Như vậy,
mặc dù tại Việt Nam cũng có khá nhiều các
nghiên cứu về các nhân tố tác động đến quản
trị lợi nhuận nhưng vẫn chưa tập trung nghiên
cứu về các đặc điểm của ban kiểm soát có vai
trò như thế nào đối với chức năng giám sát và
hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà
quản lý. Trong khi đó, trong xu thế hội nhập
nhu cầu thông tin tài chính đáng tin cậy rất
quan trọng đối với nhà đầu tư trong việc ra các
quyết định phù hợp. Chính vì thế bài báo này
muốn tìm hiểu liệu rằng ban kiểm soát thật sự
tác động đến quản trị lợi nhuận hay không và
có làm hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận.
Tổng lược các nghiên cứu về ban kiểm soát
đã gợi ý rằng ban kiểm soát sẽ hoạt động hiệu
quả khi kiểm soát viên thực hiện đầy đủ các
chức năng của mình (Person, 2009; Dhaliwal
và cộng sự, 2010; Li và cộng sự, 2012). Do đó,
ban kiểm soát với quy mô phù hợp và sự kết
hợp giữa các kỹ năng và kinh nghiệm sẽ giúp
ban kiểm soát thực hiện chức năng phát hiện
và ngăn ngừa quản lý thu nhập. Xie và cộng
sự (2003) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các
đặc điểm của ban kiểm soát và các khoản dồn
tích bất thường đại diện cho việc quản lý thu
nhập và nghiên cứu thừa nhận rằng việc quản
trị lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích ít
xảy ra ở các công ty có ban kiểm soát với đa số
thành viên độc lập. Trong khi đó, các nghiên
cứu khác đã thừa nhận rằng các công ty có số
lượng cuộc họp lớn ít bị phạt vì gian lận hoặc
sai sót kế toán (Abbott và cộng sự, 2000) hoặc
nghiên cứu Klein (2002) cho thấy quy mô của
ban kiểm soát và chuyên môn về tài chính và
kế toán của các thành viên của ban kiểm soát
có thể sẽ hạn chế quản trị lợi nhuận.
2. Tổng quan nghiên cứu và giả thuyết
nghiên cứu
2.1. Tổng quan nghiên cứu
Các nhà quản lý với áp lực tối đa hóa giá trị
công ty, cũng như lợi ích của chính họ đã tác
động đến lợi nhuận thông qua các biến dồn tích,
điều này dẫn đến vấn đề đại diện. Tuy nhiên, cả
hai lợi ích thỏa mãn hai đối tượng khác nhau
đều dẫn đến xung đột (Jensen, 2005; Leuz và
cộng sự, 2003). Trong cơ chế QTCT, ban kiểm
soát chịu trách nhiệm giám sát cuộc kiểm toán
độc lập, giám sát hoạt động của hội đồng quản
trị, giám sát hoạt động của nhà quản lý (Laing
2.2. Giả thuyết nghiên cứu
Quy mô ban kiểm soát: Có nhiều ý kiến
tranh cãi về số lượng thành viên trong ban
kiểm soát, có ý kiến cho rằng ban kiểm soát có
ít hơn ba thành viên thì ban kiểm soát không
thực hiện tốt vai trò giám sát của mình (Menon
& Williams, 1994). Trong khi đó, số lượng
105
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 64 – áng 8 Năm 2021
thành viên được cho là hoàn hảo dao động từ quan trọng của tính độc lập của ban kiểm soát
ba đến bốn (Abbott và cộng sự, 2004). Cũng có đối với việc giám sát báo cáo tài chính và một
ý kiến cho rằng nếu quy mô của ban kiểm soát ban kiểm soát hoàn toàn độc lập làm gia tăng
quá nhỏ thì ban kiểm soát không có đủ thành hiệu quả giám sát báo cáo tài chính (Klein,
viên để thực hiện các chức năng nên hiệu quả 2002) cũng như bảo vệ tốt lợi ích cổ đông
của hoạt động giám sát sẽ giảm (Vafeas, 2005). và thực hiện tốt vai trò giám sát của mình vì
Các nghiên cứu khác cho thấy rằng ban kiểm tính khách quan của thành viên ban kiểm soát
soát quy mô lớn sẽ hiệu quả hơn trong việc (Bédard và cộng sự, 2004; Abbott và cộng sự,
giám sát và nó có thể đóng vai trò quan trọng 2004; Yang & Krishnan, 2005). Các nghiên cứu
trong việc hạn chế sự xuất hiện của quản trị lợi thừa nhận mối quan hệ tiêu cực giữa thành viên
nhuận (Yang & Krishnan, 2005; Lin và cộng độc lập ban kiểm soát với quản trị lợi nhuận
sự, 2006; Lin & Hwang, 2010). Tuy nhiên, một (Klein, 2002; Xie và cộng sự, 2003; Davidson và
số nghiên cứu không thừa nhận mối quan hệ cộng sự, 2005; Lin & Hwang, 2010; Soliman &
đáng kể giữa quy mô của ban kiểm soát và mức Ragab, 2014). Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã
độ quản trị lợi nhuận (Xie và cộng sự, 2003; tìm thấy mối quan hệ không đáng kể giữa tính
Bédard và cộng sự, 2004; Abbott và cộng sự, độc lập của ban kiểm soát và quản trị lợi nhuận
2004; Soliman & Ragab, 2014). Tuy có nhiều (Lin và cộng sự, 2006; Sirega & Utama, 2008;
quan điểm khác nhau nhưng nghiên cứu này Waweru & Rio, 2013). Do đó, mặc dù kết quả
giả định mối tương quan ngược chiều giữa quy nghiên cứu thể hiện ở trên không nhất quán
mô ban kiểm soát và quản trị lợi nhuận.
H1: Quy mô ban kiểm soát có mối tương
quan ngược chiều với quản trị lợi nhuận.
Trình độ chuyên môn của ban kiểm soát:
ban kiểm soát có vai trò chính là giám sát quá
trình lập báo cáo tài chính nhằm mục đích nâng
nhưng trong nghiên cứu này đề xuất một giả
thuyết như sau:
H3: ành viên độc lập của ban kiểm soát
có mối tương quan ngược chiều với quản trị
lợi nhuận.
Tần suất họp của ban kiểm soát: Mục tiêu
cao chất lượng báo cáo tài chính. Do đó, ban quan trọng của ban kiểm soát là các thành
kiểm soát với các thành viên có kinh nghiệm viên có đủ thời gian để đảm nhận nhiệm vụ
trong lĩnh vực kế toán và tài chính sẽ nâng cao giám sát quá trình lập báo cáo tài chính (Lin
hiệu quả về khả năng phát hiện và ngăn chặn & Hwang, 2010). Karamanou và Vafeas (2005)
việc quản trị lợi nhuận. Đạo luật Sarbanes – cũng cho rằng thành viên ban kiểm soát gặp gỡ
Oxley năm 2002 nhấn mạnh rằng ban kiểm soát thường xuyên hơn có khả năng thực hiện hiệu
phải có ít nhất một thành viên có chuyên môn quả vai trò giám sát của mình. Nghiên cứu
về tài chính và kế toán. Các nghiên cứu đã phát khác thì thừa nhận ban kiểm soát với các thành
hiện ra mối tương quan ngược chiều có ý nghĩa viên họp thường xuyên trong năm sẽ tạo ra cơ
giữa ban kiểm soát với ít nhất một thành viên có hội được thảo luận và đánh giá các vấn đề liên
chuyên môn về tài chính kế toán và quản trị lợi quan đến các dữ liệu trên báo cáo tài chính (Li
nhuận (Xie và cộng sự, 2003; Bédard và cộng sự, và cộng sự, 2012) hay các thành viên ban kiểm
2004; Soliman & Ragab, 2014). Dựa trên tổng soát họp thường xuyên có tác động tích cực
quan nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này đến hiệu quả giám sát báo cáo tài chính (Xie và
cũng đề xuất giả thuyết sau:
cộng sự, 2003; Soliman & Ragab, 2014). Abbott
và cộng sự (2004) chỉ ra rằng ban kiểm soát
họp ít nhất bốn lần trong năm thì có mối quan
hệ tiêu cực với quản trị lợi nhuận. Tuy nhiên,
có những nghiên cứu không tìm thấy bằng
chứng thể hiện mối quan hệ ý nghĩa giữa tần
suất họp của ban kiểm soát và mức độ quản trị
H : Trình độ chuyên môn của ban kiểm
soát 2có mối tương quan ngược chiều với quản
trị lợi nhuận.
Tính độc lập của ban kiểm soát: Đạo luật
Sarbanes-Oxley năm 2002 nhấn mạnh tầm
106
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 64 – áng 8 Năm 2021
lợi nhuận (Bédard và cộng sự, 2004; Davidson 3.3. Đo lường các biến trong mô hình
và cộng sự, 2005; Lin và cộng sự, 2006). Dù kết nghiên cứu
quả nghiên cứu trước không nhất quán nghiên
Đo lường biến phụ thuộc đại diện quản trị
cứu này đề xuất giả thuyết như sau:
lợi nhuận
H4: Tần suất họp của ban kiểm soát có mối
ông qua lược khảo các nghiên cứu trước,
tương quan ngược chiều với quản trị lợi nhuận.
có thể thừa nhận rằng hầu hết các nghiên cứu
đều đo lường các khoản dồn tích bất thường
3. Phương pháp nghiên cứu
3.1. Mẫu dữ liệu
đại diện quản trị lợi nhuận. Mô hình đo lường
phổ biến nhất là mô hình Jones và Jones điều
chỉnh (Dechow và cộng sự, 1995; Beneish &
Press, 1998). Tuy nhiên, dựa trên các tài liệu
trước đây, có thể nhận thấy rằng mô hình Jones
điều chỉnh là mô hình nổi tiếng nhất và được
sử dụng thường xuyên nhất để phát hiện các
khoản dồn tích bất thường nên trong nghiên
cứu này mô hình Dechow và cộng sự (1995)
được sử dụng:
Mẫu dự kiến là 745 công ty niêm yết trên hai
sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 2015-2019.
Sau khi loại trừ các công ty hoạt động trong
lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản,
quỹ đầu tư, công ty chứng khoán và các công ty
không có đủ thông tin về các đặc điểm của ban
kiểm soát, mẫu cuối cùng được sử dụng trong
nghiên cứu này bao gồm 174 công ty niêm yết
từ năm 2015 đến 2019 với tổng số quan sát 870.
Từ năm 2015, các quy định về quản trị công
ty sẽ được áp dụng cho các công ty niêm yết
nên thông tin về các công ty niêm yết trong
ban kiểm soát tương đối đầy đủ nên đây là thời
điểm thích hợp nhất để thu thập số liệu phục
vụ nghiên cứu. Điểm cuối cùng trong thời gian
nghiên cứu là năm 2019 vì đây là năm tài chính
cuối cùng được công bố bởi các công ty niêm
yết tại thời điểm nghiên cứu.
Bước 1: Sử dụng công thức (1) tính tổng giá
trị dồn tích cho từng doanh nghiệp:
Tổng giá trị dồn tích (TA ) = Lợi nhuận kế
toán sau thuếit – Dòng tiềnitthuần từ hoạt động
kinh doanhit
(1)
Bước 2: Căn cứ vào công thức (2) tính các
tham số α, β của mô hình:
TAit
Ait–1
1
NDAit
Ait–1
]
=
= αi[
Ait – 1
3.2. Mô hình nghiên cứu
ΔREVit – ΔARit
DA = α0 + β1ACSIZEit + β2ACEXPit
+ β3iAt CINDit + β4CMEETit +β5SIZEit
+ β6LEVit+ β7CFOit + £it
+ β1[
]
Ait–1
PPEit
] + εit
Ait–1
+ β2i[
(2)
Trong đó:
Với:
– DAit: Mức dồn tích bất thường đại diện cho
quản trị lợi nhuận thông qua đo lường dồn – Ait-1: Tổng tài sản của doanh nghiệp i tại
năm t–1,
tích bất thường theo mô hình Dechow và
cộng sự (1995);
– ΔREVit: Doanh thu năm t trừ cho doanh thu
năm t–1 của doanh nghiệp i,
– α0: Hệ số chặn;
– ΔAR : Khoản phải thu năm t trừ cho khoản
phải itthu năm t–1 của doanh nghiệp i,
– β1, β2, β3,β4, β5, β6, β7: Các hệ số hồi quy;
– ACSIZE, ACEXP, ACIND, ACMEET là các – PPEit: Giá trị tài sản cố định hữu hình của
doanh nghiệp i năm t,
biến độc lập trong mô hình nghiên cứu.
– i = 1, 2, 3,… n: Số lượng doanh nghiệp
– SIZE, LEV, CFO là các biến kiểm soát
khảo sát.
107
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 64 – áng 8 Năm 2021
Bước 3: ế các tham số vừa tính ở bước 2 nghiên cứu để kiểm soát các yếu tố khác ảnh
hưởng đến quản lý thu nhập. Các nghiên cứu
trước đây cho thấy có mối tương quan ngược
chiều giữa quy mô doanh nghiệp và quản trị lợi
nhuận (Xie và cộng sự, 2003). Ngoài ra, nghiên
cứu này sử dụng hệ số nợ (LEV) là biến kiểm
soát với dự kiến rằng các công ty có LEV cao
có thể giảm quản trị lợi nhuận (Bédard và cộng
sự, 2004). Đồng thời sử dụng dòng tiền thuần
từ hoạt động kinh doanh (OCF) cho biến kiểm
soát vì rất nhiều nghiên cứu như Moradi và
cộng sự (2012), Peasnell và cộng sự (2005),
Bowen và cộng sự (2008) cho rằng OCF hạn
chế hành vi quản trị lợi nhuận.
vào công thức (3) để tính dồn tích bình thường:
1
ΔREVit – ΔARit
NDAit
Ait–1
]
= αi[
] + β1i[
Ait–1
PPEit
Ait–1
Ait–1
+ β2i[
]
(3)
Bước 4: Tính khoản dồn tích bất thường
DAit = TAit – NDAit
Đo lường biến độc lập và biến kiểm soát
Ba biến kiểm soát được sử dụng trong
Bảng 1. Đo lường các biến nghiên cứu trong mô hình hồi quy
Định nghĩa và đo lường
Các biến
Biến phụ thuộc
DA
Quản trị lợi nhuận, đo lường dồn tích bất thường theo mô hình Dechow
và cộng sự (1995)
Các biến độc lập
ACSIZE
Quy mô ban kiểm soát, đo lường theo số lượng thành viên ban kiểm soát
ACIND
Tính độc lập ban kiểm soát, đo lường theo tỷ lệ thành viên độc lập/ tổng số
thành viên trong ban kiểm soát;
ACEXP
trình độ chuyên môn của ban kiểm soát, là biến nhị phân, nhận giá trị là 1
nếu có ít nhất một thành viên có chuyên môn về tài chính – kế toán trong
ban kiểm soát, ngược lại nhận giá trị là 0.
ACMEET
Tần suất họp ban kiểm soát, đo lường theo số lượng cuộc họp ban kiểm
soát thực hiện trong năm tài chính.
Các biến kiểm soát
SIZE
LEV
OCF
Quy mô công ty, đo lường theo logarit tổng giá trị tài sản
Hệ số nợ, đo lường bằng tỷ số giữa nợ phải trả trên tổng tài sản
Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, đo lường bằng tỷ số dòng tiền
thuần từ hoạt động kinh doanh / tổng tài sản.
4. Kết quả nghiên cứu
các biến trong phương trình hồi quy thể hiện
tại bảng 2.
Kết quả thống kê mô tả cho thấy giá trị trung
bình, giá trị lớn nhất cũng như giá trị nhỏ nhất
108
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 64 – áng 8 Năm 2021
Bảng 2. ống kê mô tả các biến trong mô hình hồi quy
Giá trị
trung bình
Giá trị
thấp nhất
Giá trị
cao nhất
Biến
Số quan sát
Độ lệch chuẩn
DA
870
870
870
870
870
870
870
-0,0003491
3,158
0,1243929
0,5407559
0,2205679
0,4798714
1,689282
-0,5922756
2
0,2
0
0,6212492
5
1
1
ACSIZE
ACIND
ACEXP
ACMEET
SIZE
0,839387
0,6413793
3,291954
11,90081
0,465089
1
17
0,6157929
0,2140183
10,26529
0,0472276
13,52149
0,9669253
LEV
CFO
870
0,0927712
0,1364336
-0,3902872
1,189263
Để mô hình hồi quy đủ giá trị dự đoán, biến trong mô hình hồi quy không có mối
nghiên cứu tiến hành kiểm định mối tương tương quan mật thiết (hệ số tương quan <0,8)
quan giữa các biến và hiện tượng đa cộng và không bị hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm
tuyến, kết quả thể hiện bảng 3 cho thấy các trọng (Vif < 10).
Bảng 3. Kiểm định mối tương quan giữa các biến và hiện tượng đa cộng tuyến
DA
ACSIZE ACIND ACEXP ACMEET SIZE
LEV
VIF
1,27
1,11
1,09
1,13
1,29
1,13
ACSIZE
ACIND
ACEXP
ACMEET
SIZE
-0,0835 1
0,0157 -0,2763
0,0141 0,1796
-0,0433 -0,1377
0,0567 0,3738
-0,0563 0,1428
-0,7651 0,0414
1
0,0379
-0,0698
-0,1442
-0,089
-0,0229
1
-0,0368
0,2285
-0,082
0,0711
1
0,0845
-0,1557
0,1714
1
LEV
0,1983
1
CF0
0,0156 -0,2064 1,08
Ngoài ra, để căn cứ vào mô hình hồi quy để không thay đổi và không tồn tại hiện tượng tự
tương quan.
biện luận thì nghiên cứu tiến hành kiểm định
phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương
quan. Nghiên cứu sử dụng hai kiểm định
White và kiểm định Woolridge với kết quả
lần lượt Prob>chi2 = 0,4789 > mức ý nghĩa 5%
(0,05) và Prob>F = 0,8885 > 5% (lớn hơn mức
ý nghĩa 5%), có nghĩa là mô hình có phương sai
Cuối cùng, sau khi thực hiện các kiểm định
F (Prob>F=0,000), kiểm định LM (Prob >
chibar2 = 0,000), kiểm định Hausman (Prob >
chibar2 = 0,000) thì mô hình tối ưu là mô hình
ảnh hưởng cố định (FEM) với kết quả thể hiện
ở bảng 4.
109
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 64 – áng 8 Năm 2021
Bảng 4. Kết quả hồi quy theo các mô hình Pooled OLS, FEM, REM
PoolOLS
Coef
FEM
Coef
REM
Coef
DA
P-value
P-value
P-value
ACSIZE -0,0131931 0,011**
-0,020764 0,019**
-0,0133761 0,016**
ACIND
ACEXP
-0,0041077 0,255
0,0075006 0,015**
0,0179979 0,048**
0,0023419 0,747
-0,0031415 0,432
0,0071826
0,0034603
0,0255162
0,035**
0,033**
0,000***
ACMEET 0,0031296
0,044**
0,000***
0,000***
0,0062129 0,006***
0,0464583 0,045**
-0,0903698 0,003***
-0,8351839 0,000***
-0,4378344 0,12
Prob > F = 0,000
R2 (overall) = 0,6274
SIZE
LEV
CFO
0,0249583
-0,137407
-0,1378153 0,000***
-0,7697296 0,000***
-0,1361043 0,016**
Prob > F = 0,000
-0,7491968 0,000***
-0,1288185 0,01**
R2 điều chỉnh = 0,6521
Prob > F = 0,000
_cons
R2 (overall) = 65,48%
Ghi chú: Biến phụ thuộc: DA đo lường theo mô hình Dechow và cộng sự (1995).
Ký hiệu *, **,*** lần lượt tại mức ý nghĩa 10%; 5%; 1%.
Số quan sát: 870; Prob > F = 0,000.
Kết quả hồi quy tại bảng 4 thể hiện các biến & Hwang, 2010) nhưng nghiên cứu không
độc lập có thể giải thích 62,74% sự biến thiên ủng hộ giả thuyết H2 khi kết quả không tìm
của dồn tích bất thường đại diện quản trị lợi thấy bằng chứng về tác động của thành viên
nhuận. Đồng thời với hệ số Prob>F = 0,000 có ban kiểm soát có chuyên môn về tài chính kế
nghĩa mô hình đủ độ tin cậy để cung cấp bằng toán đến quản trị lợi nhuận. Kết quả nghiên
chứng về sự tác động của các biến trong mô cứu không đồng thuận với các nghiên cứu
hình đến quản trị lợi nhuận.
(Chtourou và cộng sự, 2001; Abbott và cộng
sự, 2004). Tuy nhiên nghiên cứu của nhóm tác
giả có kết quả tương đồng với các nghiên cứu
khác (Xie và cộng sự, 2003; Bédard và cộng
sự, 2004; Bùi Văn Dương & Ngô Hoàng Điệp,
2017) khi không tìm thấy bằng chứng về tác
động của thành viên ban kiểm soát có chuyên
môn về tài chính kế toán.
Kết quả hồi quy cho thấy mối tương quan
ngược chiều và có ý nghĩa ở mức 5% giữa quản
trị lợi nhuận và ACSIZE. Phát hiện này ủng hộ
giả thuyết 1 và thừa nhận rằng những công ty
niêm yết có ban kiểm soát với nhiều thành viên
thì hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản
lý giảm đáng kể. Ngoài ra, kết quả kiểm tra
thống kê mô tả trong Bảng 2 cho thấy ACSIZE
Kết quả nghiên cứu cũng thể hiện mối
trung bình hoàn hảo là 3,158 nghĩa là quy mô tương quan cùng chiều giữa thành viên độc
ban kiểm soát trung bình khoảng 3 thành viên lập ban kiểm soát, tần suất họp với quản trị lợi
tại các công ty niêm yết của Việt Nam. Kết quả nhuận. Kết quả nghiên cứu này không ủng hộ
này khẳng định giả định rằng ban kiểm soát kỳ vọng tại giả thuyết H và H4 khi thừa nhận
với quy mô từ 3 đến 4 thành viên (Abbot và thành viên độc lập, họ3p thường xuyên làm
cộng sự, 2004; Xie và cộng sự, 2003) thì vai trò gia tăng hành vi quản trị lợi nhuận cũng như
giám sát của ban kiểm soát là tốt nhất. Nghiên không cùng quan điểm với các nghiên cứu đã
cứu này ủng hộ quan điểm quy mô ban kiểm được thực hiện trên thế giới khi cho rằng thành
soát có mối tương quan ngược chiều với quản viên độc lập trong ban kiểm soát thực hiện tốt
trị lợi nhuận (Yang & Krishnan, 2005; Lin vai trò giám sát nên hạn chế hành vi quản trị
110
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 64 – áng 8 Năm 2021
lợi nhuận của các nhà quản lý (Abbott và cộng 5. Kết luận
sự, 2004; Xie và cộng sự, 2003; Ebrahim, 2007)
Các vụ bê bối kế toán gần đây đã nhấn mạnh
vai trò hiệu quả của ban kiểm soát trong việc
phát hiện các sai sót trọng yếu, do đó hạn chế
quản trị lợi nhuận. Nghiên cứu này đã cung cấp
bằng chứng về mối quan hệ giữa đặc điểm ban
kiểm soát và quản trị lợi nhuận tại các công ty
niêm yết ở Việt Nam. Cụ thể kết quả hồi quy đa
biến thừa nhận có mối quan hệ ngược chiều có
ý nghĩa giữa các khoản dồn tích bất thường và
quy mô ban kiểm soát, mối tương quan cùng
chiều giữa thành viên độc lập, tần suất họp của
ban kiểm soát với quản trị lợi nhuận. Bên cạnh
đó, kết quả cũng thừa nhận quy mô công ty
làm gia tăng quản trị lợi nhuận, hệ số nợ và
dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh càng
lớn càng hạn chế quản trị lợi nhuận.
hay họp càng nhiều càng giám sát tốt hoạt
động của nhà quản lý (Xie và cộng sự, 2003;
Abbott và cộng sự, 2004). Đồng thời kết quả
nghiên cứu cũng không ủng hộ lý thuyết đại
diện, lý thuyết phụ thuộc nguồn nhân lực hay
lý thuyết hành vi khi cho rằng ban kiểm soát
với các thành viên độc lập, đầy đủ các thành
phần, tham gia họp thường xuyên sẽ gia tăng
vai trò giám sát, giảm xung đột lợi ích giữa chủ
sỡ hữu và nhà quản lý.
Liên quan đến các biến kiểm soát, kết quả
cho thấy mối tương quan ngược chiều giữa
hệ số nợ, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh
doanh với quản trị lợi nhuận và mối tương
quan cùng chiều giữa quy mô công ty với quản
trị lợi nhuận. Có nghĩa hệ số nợ và dòng tiền
thuần từ hoạt động kinh doanh làm hạn chế
hành vi quản trị lợi nhuận, giảm mức dồn tích
có điều chỉnh nhưng quy mô công ty càng lớn
thì các công ty niêm yết có xu hướng gia tăng
hành vi quản trị lợi nhuận nhằm duy trì tín
hiệu tốt đến các đối tượng sử dụng thông tin,
tương đồng với nghiên cứu (Xie và cộng sự,
2003; Soliman & Ragab, 2014).
Tóm lại nghiên cứu này cung cấp một số
đóng góp: (1) cung cấp cấp bằng chứng về quan
hệ giữa các đặc điểm ban kiểm soát và quản
trị lợi nhuận thông qua đó hỗ trợ các công ty
niêm yết thiết lập cơ chế QTCT với ban kiểm
soát hoạt động hiệu quả, gia tăng vai trò giám
sát hoạt động của nhà quản lý, (2) đóng góp
vào nền tảng lý thuyết về mối quan hệ giữa ban
kiểm soát và quản trị lợi nhuận làm hoàn chỉnh
hơn bức tranh về nghiên cứu quản trị lợi nhuận.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Abbott, L.J. Park, Y. & Parker, S. (2000). e effect of audit committee activity and independence on corporate
fraud. Managerial Finance, 26(11), 55-68.
Abbott, L. J., Parker, S., & Peters, G. F. (2004). Audit committee characteristics and restatements. Auditing: A
journal of practice & theory, 23(1), 69-87.
Anderson, D., Francis, J.R., & Stokes, D.J. (1993). Auditing, directorships, and the demand for monitoring.
Journal of Accounting and Public Policy, 12(4), 353-375.
Be´dard, J., Chtourou, S. M., & Courteau, L. (2004). e effect of audit committee expertise, independence, and
activity on aggressive earnings management. Auditing: A journal of practice & theory, 23(2), 13-35.
Beneish, M. D. (1998). Discussion of “Are accruals during initial public offerings opportunistic?”. Review of
accounting studies, 3(1), 209-221.
Bowen, R. M., Rajgopal, S., & Venkatachalam, M. (2008). Accounting discretion, corporate governance, and
firm performance. Contemporary accounting research, 25(2), 351-405.
Bùi Văn Dương và Ngô Hoàng Điệp (2017). Đặc điểm Hội đồng quản trị và hành vi QTLN của các công ty
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tạp chí Khoa học Đại học Mở TPHCM – Kinh tế và
Quản trị kinh doanh, 12(2), 113-126.
111
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 64 – áng 8 Năm 2021
Davidson, R., Goodwin – Stewart, J., & Kent, P. (2005). Internal governance structures and earnings
management. Accounting & Finance, 45(2), 241-267.
Dechow, P. M., Sloan, R. G., & Sweeney, A. P. (1995). Detecting Earnings Management. e Accounting
Review, 70(2), 193-225.
DeZoort, F. T, Hermanson, D.R., Archambeault,D.S & Reed,A.S. (2002). Audit committee effectiveness: a
synthesis of the empirical audit committee literature. Jounal of Accounting Literature, 21, 38-75.
Dhaliwal, D. A. N., Naiker, V. I. C., & Navissi, F. (2010). e association between accruals quality and the
characteristics of accounting experts and mix of expertise on audit committees. Contemporary
Accounting Research, 27(3), 787-827.
Ebrahim, A. (2007). Earnings management and board activity: an additional evidence. Review of Accounting
and Finance, 6(1), 42-58.
Fama, E.F. & Jensen, M.C. (1983). Separation of ownership and control. Journal of Law and Economics, 26(2),
301-325.
Hoang, T. C., Abeysekera, I., & Ma, S. (2017). e effect of board diversity on earnings quality: An empirical
study of listed firms in Vietnam. Australian Accounting Review, 27(2), 146-163.
Healy, P.M. (1985). e effect of bonus schemes on accounting decisions. Journal of accounting and economics,
7(1), 85-107.
Jensen, M. C. (2005). Agency costs of overvalued equity. Financial management, 34(1), 5-19.
Jones, J. J. (1991). Earnings management during import relief investigations. Journal of accounting
research, 29(2), 193-228.
Karamanou, I., & Vafeas, N. (2005). e association between corporate boards, audit committees, and
management earnings forecasts: An empirical analysis. Journal of Accounting research, 43(3), 453-486.
Klein, A. (2002). Audit committee, board of director characteristics, and earnings management. Journal of
accounting and economics, 33(3), 375-400.
Kothari, S. P., Leone, A. J., &Wasley, C. E. (2005). Performancematcheddiscretionaryaccrualmeasures.Journal
of accounting and economics, 39(1), 163-197.
Laing, D. & Weir, C. (1999) Governance structures, size and corporate performance in UK firms. Management
Decision, 37(5), 457-464.
Leuz, C., Nada, D. & Wysocki P.D. (2003). Earnings management and investor protection: An international
comparison. Journal of Financial Economics, 69(3), 505-527.
Li, J., Mangena, M. & Pike, R. (2012). e effect of audit committee Characteristics on intellectual Capital
Disclosure. e British Accounting Review, 44(2), 98-110.
Lin, J. W., & Hwang, M. I. (2010). Audit quality, corporate governance, and earnings management: A meta‐
analysis. International journal of auditing, 14(1), 57-77.
Lin,J.W.,Li,J.F.,&Yang,J.S.(2006).eeffectofauditcommitteeperformanceonearningsquality.Managerial
Auditing Journal, 21(9), 921-933.
Marrakchi, C. S., Bedard, J., & Courteau, L. (2001). Corporate governance and earnings management. Available
Menon, K., & Williams, J.D. (1994). e use of audit committees for monitoring, Journal of Accounting and
Public Policy, 13(2), 121-139.
Moradi, M., Salehi, M., Bighi, S. J. H., & Najari, M. (2012). A Study of relationship between board
characteristics and earning management: Iranian scenario. Universal Journal of Management and Social
Sciences, 2(3),12-29.
Peasnell, K. V., Pope, P. F., & Young, S. (2005). Board monitoring and earnings management: do outside
directors influence abnormal accruals?. Journal of Business Finance & Accounting, 32(7‐8), 1311-1346.
112
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing
Số 64 – áng 8 Năm 2021
Persons, O. S. (2009). Audit committee characteristics and earlier voluntary ethics disclosure among fraud and
no-fraud firms. International journal of disclosure and governance, 6(4), 284-297.
Roychowdhury, S. (2006). Earning Management through Real Activities Manipulation. Journal of Accounting
and Economics, 42(3), 335-370.
Siregar, S.V., and Utama, S. (2008). Type of earnings management and the effect of ownership structure,
firm size and corporate governance practices: Evidence from Indonesia. e international Journal of
Accounting, 43(1), 1-27.
Soliman, M. M., & Ragab, A. A. (2014). Audit committee effectiveness, audit quality and earnings management:
an empirical study of the listed companies in Egypt. Research journal of finance and accounting, 5(2),
155-166.
Waweru, N. M., & Riro, G. K. (2013). Corporate governance, firm characteristics and earnings management in
an emerging economy. Journal of Applied Management Accounting Research, 11(1), 43.
Xie, B., Davidson III, W. N., & DaDalt, P. J. (2003). Earnings management and corporate governance: the role
of the board and the audit committee. Journal of corporate finance, 9(3), 295-316.
Vafeas, N. (2005). Audit committees, boards, and the quality of reported earnings. Contemporary accounting
research, 22(4), 1093-1122.
Yang, J. S., & Krishnan, J. (2005). Audit committees and quarterly earnings management. International journal
of auditing, 9(3), 201-219.
113
Bạn đang xem tài liệu "Ban kiểm soát và quản trị lợi nhuận: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
audit_committee_and_earnings_management_empirical_evidence_i.pdf

