Ban kiểm soát và quản trị lợi nhuận: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam

Journal of Finance – Marketing; Vol. 64, No. 4; 2021  
ISSN: 1859-3690  
ISSN: 1859-3690  
T
ẠP CH Í  
NGHIÊN CỨU  
TÀI CHÍNH - MARKETING  
Số 64 - Tháng 08 Năm 2021  
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING  
Journal of Finance – Marketing  
AUDIT COMMITTEE AND EARNINGS MANAGEMENT:  
EMPIRICAL EVIDENCE IN VIETNAM  
Ngo Nhat Phuong Diem1*, Tran Nguyen Ngoc Anh u1, Duong Hoang Ngoc Khue1,  
Chu i uong1, Truong ao Nghi1, Nguyen i Bich Nhi1  
1University of Finance – Marketing  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
DOI:  
e study used data samples of 174 listed companies from 2015 to 2019  
to eaxmine the impact of audit committee on earnings management in  
Vietnam. e study uses Dechow et al (1995) to measure the abnormal  
accual representing earning management. e mutivariate regresssion  
results show that there are three variables having an impact on earnings  
management. e audit committee size has opposite effects with earnings  
management. Meanwhile, audit committee independent and meeting have  
a possitive relationship with earnings management. At the same time,  
research results have not found any evidence to prove a correlation between  
the expertise of audit committee and earnings management. In additon,  
this study also admitted that company size has a positive correlation with  
earnings management, but the debt ratio and net cash flow from operating  
have an inverse correlation with earnings management.  
10.52932/jfm.vi64.191  
Received:  
September 07, 2020  
Accepted:  
October 08, 2020  
Published:  
August 25, 2021  
Keywords:  
Audit committee,  
accrual anomaly,  
earnings management.  
*Corresponding author:  
103  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 64 – áng 8 Năm 2021  
ISSN: 1859-3690  
T
ẠP CH Í  
NGHIÊN CỨU  
TÀI CHÍNH - MARKETING  
Số 64 - Tháng 08 Năm 2021  
JOURNAL OF FINANCE - MARKETING  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
BAN KIỂM SOÁT VÀ QUẢN TRỊ LỢI NHUẬN:  
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI VIỆT NAM  
Ngô Nhật Phương Diễm1*, Trần Nguyễn Ngọc Anh ư1, Dương Hoàng Ngọc Khuê1,  
Chu ị ương1, Trương ảo Nghi1, Nguyễn ị Bích Nhi1  
1Trường Đại học Tài chính – Marketing  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:  
Nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu của 174 công ty niêm yết trong giai đoạn  
2015 đến năm 2019 để xem xét tác động của ban kiểm soát đến hành vi  
quản trị lợi nhuận tại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng mô hình Dechow  
và cộng sự (1995) đo lường mức dồn tích bất thường đại diện cho hành vi  
quản trị lợi nhuận. Kết quả hồi quy đa biến cho thấy có 3 biến thuộc ban  
kiểm soát có tác động đến quản trị lợi nhuận: quy mô ban kiểm soát có tác  
động ngược chiều với quản trị lợi nhuận, thành viên độc lập, tần suất họp  
của ban kiểm soát có tác động cùng chiều với quản trị lợi nhuận. Đồng thời  
kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy bằng chứng chứng minh mối tương quan  
giữa trình độ chuyên môn ban kiểm soát với quản trị lợi nhuận. Ngoài ra,  
nghiên cứu này cũng thừa nhận quy mô công ty có mối tương quan cùng  
chiều với quản trị lợi nhuận nhưng hệ số nợ, dòng tiền thuần từ hoạt động  
kinh doanh có mối tương quan ngược chiều với quản trị lợi nhuận.  
10.52932/jfm.vi64.191  
Ngày nhận:  
22/09/2020  
Ngày nhận lại:  
15/10/2020  
Ngày đăng:  
25/08/2021  
Từ khóa:  
Ban kiểm soát,  
dồn tích bất thường,  
quản trị lợi nhuận.  
1. Giới thiệu  
giám sát phù hợp để hạn chế hành vi này, và  
đây cũng là nội dung chủ chốt trong quản trị  
Nhà quản lý với mục đích tối đa hóa giá trị  
công ty để đạt được lợi ích cá nhân đã thực  
hiện hành vi quản trị lợi nhuận thông qua áp  
dụng các chính sách kế toán được chấp nhận  
và hành vi này làm giảm độ tin cậy về thông tin  
lợi nhuận và có thể làm ảnh hưởng đến quyết  
định của người sử dụng thông tin từ báo cáo tài  
chính của công ty. Chính vì vậy, cần một cơ chế  
hiện đại (Anderson và cộng sự, 1993). Đặc biệt,  
sau các sự kiện liên quan đến bê bối số liệu kế  
toán như Enron, Worldcom, Xerox,… có khá  
nhiều nghiên cứu về mô hình nhận diện hành  
vi quản trị lợi nhuận (Healy, 1985; Jones, 1991;  
Dechow và cộng sự, 1995; Kothari và cộng  
sự, 2005; Roychowdhury, 2006;…) cũng như  
nghiên cứu về các nhân tố tác động đến quản trị  
lợi nhuận hay nghiên cứu về ban kiểm soát (ban  
kiểm soát) có vai trò như thế nào đối với quản  
*Tác giả liên hệ:  
104  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 64 – áng 8 Năm 2021  
& Weir, 1999), do đó, ban kiểm soát sẽ có động  
lực để cải thiện hiệu quả hoạt động và các nhà  
đầu tư sẽ tin tưởng hơn vào giá trị của các báo  
cáo tài chính của công ty. Khá nhiều nghiên cứu  
thừa nhận vai trò của ban kiểm soát trong việc  
đảm bảo độ tin cậy của báo cáo tài chính (Fama  
& Jensen, 1983; Abbott và cộng sự, 2000). Do  
đó, ban kiểm soát với chức năng nâng cao chất  
lượng và độ chính xác của thông tin tài chính  
thông qua vai trò giám sát nhà quản lý, ban  
kiểm soát được xem như một cơ chế giám sát  
để giảm sự bất cân xứng thông tin giữa ban lãnh  
đạo và các bên liên quan (Klein, 2002; Davidson  
và cộng sự, 2005; Dhaliwal và cộng sự, 2010; Li  
và cộng sự, 2012).  
trị lợi nhuận (Dezoort và cộng sự, 2002; Klein,  
2002; Davidson và cộng sự, 2005; Dhaliwal và  
cộng sự, 2010; Li và cộng sự, 2012)...  
Tại Việt Nam, khoảng thời gian 10 năm gần  
đây, có nhiều nghiên cứu tập trung vào chất  
lượng lợi nhuận, quản trị lợi nhuận với mong  
muốn tìm hiểu những nhân tố tác động đến  
chất lượng lợi nhuận, đến quản trị lợi nhuận  
nhằm gia tăng chất lượng thông tin trên báo  
cáo tài chính. Nhiều nghiên cứu sử dụng mô  
hình Jones (1991) và các mô hình điều chỉnh  
của Jones (1991) để nghiên cứu về quản trị lợi  
nhuận. Các kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra có  
tồn tại hành vi quản trị lợi nhuận cũng như các  
nhân tố thuộc quản trị công ty, đặc điểm công  
ty tác động đến quản trị lợi nhuận, chất lượng  
lợi nhuận (Hoang và cộng sự, 2016; Bùi Văn  
Dương & Ngô Hoàng Điệp, 2017). Như vậy,  
mặc dù tại Việt Nam cũng có khá nhiều các  
nghiên cứu về các nhân tố tác động đến quản  
trị lợi nhuận nhưng vẫn chưa tập trung nghiên  
cứu về các đặc điểm của ban kiểm soát có vai  
trò như thế nào đối với chức năng giám sát và  
hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà  
quản lý. Trong khi đó, trong xu thế hội nhập  
nhu cầu thông tin tài chính đáng tin cậy rất  
quan trọng đối với nhà đầu tư trong việc ra các  
quyết định phù hợp. Chính vì thế bài báo này  
muốn tìm hiểu liệu rằng ban kiểm soát thật sự  
tác động đến quản trị lợi nhuận hay không và  
có làm hạn chế hành vi quản trị lợi nhuận.  
Tổng lược các nghiên cứu về ban kiểm soát  
đã gợi ý rằng ban kiểm soát sẽ hoạt động hiệu  
quả khi kiểm soát viên thực hiện đầy đủ các  
chức năng của mình (Person, 2009; Dhaliwal  
và cộng sự, 2010; Li và cộng sự, 2012). Do đó,  
ban kiểm soát với quy mô phù hợp và sự kết  
hợp giữa các kỹ năng và kinh nghiệm sẽ giúp  
ban kiểm soát thực hiện chức năng phát hiện  
và ngăn ngừa quản lý thu nhập. Xie và cộng  
sự (2003) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa các  
đặc điểm của ban kiểm soát và các khoản dồn  
tích bất thường đại diện cho việc quản lý thu  
nhập và nghiên cứu thừa nhận rằng việc quản  
trị lợi nhuận thông qua các khoản dồn tích ít  
xảy ra ở các công ty có ban kiểm soát với đa số  
thành viên độc lập. Trong khi đó, các nghiên  
cứu khác đã thừa nhận rằng các công ty có số  
lượng cuộc họp lớn ít bị phạt vì gian lận hoặc  
sai sót kế toán (Abbott và cộng sự, 2000) hoặc  
nghiên cứu Klein (2002) cho thấy quy mô của  
ban kiểm soát và chuyên môn về tài chính và  
kế toán của các thành viên của ban kiểm soát  
có thể sẽ hạn chế quản trị lợi nhuận.  
2. Tổng quan nghiên cứu và giả thuyết  
nghiên cứu  
2.1. Tổng quan nghiên cứu  
Các nhà quản lý với áp lực tối đa hóa giá trị  
công ty, cũng như lợi ích của chính họ đã tác  
động đến lợi nhuận thông qua các biến dồn tích,  
điều này dẫn đến vấn đề đại diện. Tuy nhiên, cả  
hai lợi ích thỏa mãn hai đối tượng khác nhau  
đều dẫn đến xung đột (Jensen, 2005; Leuz và  
cộng sự, 2003). Trong cơ chế QTCT, ban kiểm  
soát chịu trách nhiệm giám sát cuộc kiểm toán  
độc lập, giám sát hoạt động của hội đồng quản  
trị, giám sát hoạt động của nhà quản lý (Laing  
2.2. Giả thuyết nghiên cứu  
Quy mô ban kiểm soát: Có nhiều ý kiến  
tranh cãi về số lượng thành viên trong ban  
kiểm soát, có ý kiến cho rằng ban kiểm soát có  
ít hơn ba thành viên thì ban kiểm soát không  
thực hiện tốt vai trò giám sát của mình (Menon  
& Williams, 1994). Trong khi đó, số lượng  
105  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 64 – áng 8 Năm 2021  
thành viên được cho là hoàn hảo dao động từ quan trọng của tính độc lập của ban kiểm soát  
ba đến bốn (Abbott và cộng sự, 2004). Cũng có đối với việc giám sát báo cáo tài chính và một  
ý kiến cho rằng nếu quy mô của ban kiểm soát ban kiểm soát hoàn toàn độc lập làm gia tăng  
quá nhỏ thì ban kiểm soát không có đủ thành hiệu quả giám sát báo cáo tài chính (Klein,  
viên để thực hiện các chức năng nên hiệu quả 2002) cũng như bảo vệ tốt lợi ích cổ đông  
của hoạt động giám sát sẽ giảm (Vafeas, 2005). và thực hiện tốt vai trò giám sát của mình vì  
Các nghiên cứu khác cho thấy rằng ban kiểm tính khách quan của thành viên ban kiểm soát  
soát quy mô lớn sẽ hiệu quả hơn trong việc (Bédard và cộng sự, 2004; Abbott và cộng sự,  
giám sát và nó có thể đóng vai trò quan trọng 2004; Yang & Krishnan, 2005). Các nghiên cứu  
trong việc hạn chế sự xuất hiện của quản trị lợi thừa nhận mối quan hệ tiêu cực giữa thành viên  
nhuận (Yang & Krishnan, 2005; Lin và cộng độc lập ban kiểm soát với quản trị lợi nhuận  
sự, 2006; Lin & Hwang, 2010). Tuy nhiên, một (Klein, 2002; Xie và cộng sự, 2003; Davidson và  
số nghiên cứu không thừa nhận mối quan hệ cộng sự, 2005; Lin & Hwang, 2010; Soliman &  
đáng kể giữa quy mô của ban kiểm soát và mức Ragab, 2014). Tuy nhiên, một số nghiên cứu đã  
độ quản trị lợi nhuận (Xie và cộng sự, 2003; tìm thấy mối quan hệ không đáng kể giữa tính  
Bédard và cộng sự, 2004; Abbott và cộng sự, độc lập của ban kiểm soát và quản trị lợi nhuận  
2004; Soliman & Ragab, 2014). Tuy có nhiều (Lin và cộng sự, 2006; Sirega & Utama, 2008;  
quan điểm khác nhau nhưng nghiên cứu này Waweru & Rio, 2013). Do đó, mặc dù kết quả  
giả định mối tương quan ngược chiều giữa quy nghiên cứu thể hiện ở trên không nhất quán  
mô ban kiểm soát và quản trị lợi nhuận.  
H1: Quy mô ban kiểm soát có mối tương  
quan ngược chiều với quản trị lợi nhuận.  
Trình độ chuyên môn của ban kiểm soát:  
ban kiểm soát có vai trò chính là giám sát quá  
trình lập báo cáo tài chính nhằm mục đích nâng  
nhưng trong nghiên cứu này đề xuất một giả  
thuyết như sau:  
H3: ành viên độc lập của ban kiểm soát  
có mối tương quan ngược chiều với quản trị  
lợi nhuận.  
Tần suất họp của ban kiểm soát: Mục tiêu  
cao chất lượng báo cáo tài chính. Do đó, ban quan trọng của ban kiểm soát là các thành  
kiểm soát với các thành viên có kinh nghiệm viên có đủ thời gian để đảm nhận nhiệm vụ  
trong lĩnh vực kế toán và tài chính sẽ nâng cao giám sát quá trình lập báo cáo tài chính (Lin  
hiệu quả về khả năng phát hiện và ngăn chặn & Hwang, 2010). Karamanou và Vafeas (2005)  
việc quản trị lợi nhuận. Đạo luật Sarbanes – cũng cho rằng thành viên ban kiểm soát gặp gỡ  
Oxley năm 2002 nhấn mạnh rằng ban kiểm soát thường xuyên hơn có khả năng thực hiện hiệu  
phải có ít nhất một thành viên có chuyên môn quả vai trò giám sát của mình. Nghiên cứu  
về tài chính và kế toán. Các nghiên cứu đã phát khác thì thừa nhận ban kiểm soát với các thành  
hiện ra mối tương quan ngược chiều có ý nghĩa viên họp thường xuyên trong năm sẽ tạo ra cơ  
giữa ban kiểm soát với ít nhất một thành viên có hội được thảo luận và đánh giá các vấn đề liên  
chuyên môn về tài chính kế toán và quản trị lợi quan đến các dữ liệu trên báo cáo tài chính (Li  
nhuận (Xie và cộng sự, 2003; Bédard và cộng sự, và cộng sự, 2012) hay các thành viên ban kiểm  
2004; Soliman & Ragab, 2014). Dựa trên tổng soát họp thường xuyên có tác động tích cực  
quan nghiên cứu trước đây, nghiên cứu này đến hiệu quả giám sát báo cáo tài chính (Xie và  
cũng đề xuất giả thuyết sau:  
cộng sự, 2003; Soliman & Ragab, 2014). Abbott  
và cộng sự (2004) chỉ ra rằng ban kiểm soát  
họp ít nhất bốn lần trong năm thì có mối quan  
hệ tiêu cực với quản trị lợi nhuận. Tuy nhiên,  
có những nghiên cứu không tìm thấy bằng  
chứng thể hiện mối quan hệ ý nghĩa giữa tần  
suất họp của ban kiểm soát và mức độ quản trị  
H : Trình độ chuyên môn của ban kiểm  
soát 2có mối tương quan ngược chiều với quản  
trị lợi nhuận.  
Tính độc lập của ban kiểm soát: Đạo luật  
Sarbanes-Oxley năm 2002 nhấn mạnh tầm  
106  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 64 – áng 8 Năm 2021  
lợi nhuận (Bédard và cộng sự, 2004; Davidson 3.3. Đo lường các biến trong mô hình  
và cộng sự, 2005; Lin và cộng sự, 2006). Dù kết nghiên cứu  
quả nghiên cứu trước không nhất quán nghiên  
Đo lường biến phụ thuộc đại diện quản trị  
cứu này đề xuất giả thuyết như sau:  
lợi nhuận  
H4: Tần suất họp của ban kiểm soát có mối  
ông qua lược khảo các nghiên cứu trước,  
tương quan ngược chiều với quản trị lợi nhuận.  
có thể thừa nhận rằng hầu hết các nghiên cứu  
đều đo lường các khoản dồn tích bất thường  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Mẫu dữ liệu  
đại diện quản trị lợi nhuận. Mô hình đo lường  
phổ biến nhất là mô hình Jones và Jones điều  
chỉnh (Dechow và cộng sự, 1995; Beneish &  
Press, 1998). Tuy nhiên, dựa trên các tài liệu  
trước đây, có thể nhận thấy rằng mô hình Jones  
điều chỉnh là mô hình nổi tiếng nhất và được  
sử dụng thường xuyên nhất để phát hiện các  
khoản dồn tích bất thường nên trong nghiên  
cứu này mô hình Dechow và cộng sự (1995)  
được sử dụng:  
Mẫu dự kiến là 745 công ty niêm yết trên hai  
sàn HOSE và HNX trong giai đoạn 2015-2019.  
Sau khi loại trừ các công ty hoạt động trong  
lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, bất động sản,  
quỹ đầu tư, công ty chứng khoán và các công ty  
không có đủ thông tin về các đặc điểm của ban  
kiểm soát, mẫu cuối cùng được sử dụng trong  
nghiên cứu này bao gồm 174 công ty niêm yết  
từ năm 2015 đến 2019 với tổng số quan sát 870.  
Từ năm 2015, các quy định về quản trị công  
ty sẽ được áp dụng cho các công ty niêm yết  
nên thông tin về các công ty niêm yết trong  
ban kiểm soát tương đối đầy đủ nên đây là thời  
điểm thích hợp nhất để thu thập số liệu phục  
vụ nghiên cứu. Điểm cuối cùng trong thời gian  
nghiên cứu là năm 2019 vì đây là năm tài chính  
cuối cùng được công bố bởi các công ty niêm  
yết tại thời điểm nghiên cứu.  
Bước 1: Sử dụng công thức (1) tính tổng giá  
trị dồn tích cho từng doanh nghiệp:  
Tổng giá trị dồn tích (TA ) = Lợi nhuận kế  
toán sau thuếit – Dòng tiềnitthuần từ hoạt động  
kinh doanhit  
(1)  
Bước 2: Căn cứ vào công thức (2) tính các  
tham số α, β của mô hình:  
TAit  
Ait–1  
1
NDAit  
Ait–1  
]
=
= αi[  
Ait – 1  
3.2. Mô hình nghiên cứu  
ΔREVit – ΔARit  
DA = α0 + β1ACSIZEit + β2ACEXPit  
+ β3iAt CINDit + β4CMEETit +β5SIZEit  
+ β6LEVit+ β7CFOit + £it  
+ β1[  
]
Ait–1  
PPEit  
] + εit  
Ait–1  
+ β2i[  
(2)  
Trong đó:  
Với:  
– DAit: Mức dồn tích bất thường đại diện cho  
quản trị lợi nhuận thông qua đo lường dồn – Ait-1: Tổng tài sản của doanh nghiệp i tại  
năm t–1,  
tích bất thường theo mô hình Dechow và  
cộng sự (1995);  
– ΔREVit: Doanh thu năm t trừ cho doanh thu  
năm t–1 của doanh nghiệp i,  
– α0: Hệ số chặn;  
– ΔAR : Khoản phải thu năm t trừ cho khoản  
phải itthu năm t–1 của doanh nghiệp i,  
– β1, β2, β3,β4, β5, β6, β7: Các hệ số hồi quy;  
– ACSIZE, ACEXP, ACIND, ACMEET là các – PPEit: Giá trị tài sản cố định hữu hình của  
doanh nghiệp i năm t,  
biến độc lập trong mô hình nghiên cứu.  
– i = 1, 2, 3,… n: Số lượng doanh nghiệp  
– SIZE, LEV, CFO là các biến kiểm soát  
khảo sát.  
107  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 64 – áng 8 Năm 2021  
Bước 3: ế các tham số vừa tính ở bước 2 nghiên cứu để kiểm soát các yếu tố khác ảnh  
hưởng đến quản lý thu nhập. Các nghiên cứu  
trước đây cho thấy có mối tương quan ngược  
chiều giữa quy mô doanh nghiệp và quản trị lợi  
nhuận (Xie và cộng sự, 2003). Ngoài ra, nghiên  
cứu này sử dụng hệ số nợ (LEV) là biến kiểm  
soát với dự kiến rằng các công ty có LEV cao  
có thể giảm quản trị lợi nhuận (Bédard và cộng  
sự, 2004). Đồng thời sử dụng dòng tiền thuần  
từ hoạt động kinh doanh (OCF) cho biến kiểm  
soát vì rất nhiều nghiên cứu như Moradi và  
cộng sự (2012), Peasnell và cộng sự (2005),  
Bowen và cộng sự (2008) cho rằng OCF hạn  
chế hành vi quản trị lợi nhuận.  
vào công thức (3) để tính dồn tích bình thường:  
1
ΔREVit – ΔARit  
NDAit  
Ait–1  
]
= αi[  
] + β1i[  
Ait–1  
PPEit  
Ait–1  
Ait–1  
+ β2i[  
]
(3)  
Bước 4: Tính khoản dồn tích bất thường  
DAit = TAit – NDAit  
Đo lường biến độc lập và biến kiểm soát  
Ba biến kiểm soát được sử dụng trong  
Bảng 1. Đo lường các biến nghiên cứu trong mô hình hồi quy  
Định nghĩa và đo lường  
Các biến  
Biến phụ thuộc  
DA  
Quản trị lợi nhuận, đo lường dồn tích bất thường theo mô hình Dechow  
và cộng sự (1995)  
Các biến độc lập  
ACSIZE  
Quy mô ban kiểm soát, đo lường theo số lượng thành viên ban kiểm soát  
ACIND  
Tính độc lập ban kiểm soát, đo lường theo tỷ lệ thành viên độc lập/ tổng số  
thành viên trong ban kiểm soát;  
ACEXP  
trình độ chuyên môn của ban kiểm soát, là biến nhị phân, nhận giá trị là 1  
nếu có ít nhất một thành viên có chuyên môn về tài chính – kế toán trong  
ban kiểm soát, ngược lại nhận giá trị là 0.  
ACMEET  
Tần suất họp ban kiểm soát, đo lường theo số lượng cuộc họp ban kiểm  
soát thực hiện trong năm tài chính.  
Các biến kiểm soát  
SIZE  
LEV  
OCF  
Quy mô công ty, đo lường theo logarit tổng giá trị tài sản  
Hệ số nợ, đo lường bằng tỷ số giữa nợ phải trả trên tổng tài sản  
Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, đo lường bằng tỷ số dòng tiền  
thuần từ hoạt động kinh doanh / tổng tài sản.  
4. Kết quả nghiên cứu  
các biến trong phương trình hồi quy thể hiện  
tại bảng 2.  
Kết quả thống kê mô tả cho thấy giá trị trung  
bình, giá trị lớn nhất cũng như giá trị nhỏ nhất  
108  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 64 – áng 8 Năm 2021  
Bảng 2. ống kê mô tả các biến trong mô hình hồi quy  
Giá trị  
trung bình  
Giá trị  
thấp nhất  
Giá trị  
cao nhất  
Biến  
Số quan sát  
Độ lệch chuẩn  
DA  
870  
870  
870  
870  
870  
870  
870  
-0,0003491  
3,158  
0,1243929  
0,5407559  
0,2205679  
0,4798714  
1,689282  
-0,5922756  
2
0,2  
0
0,6212492  
5
1
1
ACSIZE  
ACIND  
ACEXP  
ACMEET  
SIZE  
0,839387  
0,6413793  
3,291954  
11,90081  
0,465089  
1
17  
0,6157929  
0,2140183  
10,26529  
0,0472276  
13,52149  
0,9669253  
LEV  
CFO  
870  
0,0927712  
0,1364336  
-0,3902872  
1,189263  
Để mô hình hồi quy đủ giá trị dự đoán, biến trong mô hình hồi quy không có mối  
nghiên cứu tiến hành kiểm định mối tương tương quan mật thiết (hệ số tương quan <0,8)  
quan giữa các biến và hiện tượng đa cộng và không bị hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm  
tuyến, kết quả thể hiện bảng 3 cho thấy các trọng (Vif < 10).  
Bảng 3. Kiểm định mối tương quan giữa các biến và hiện tượng đa cộng tuyến  
DA  
ACSIZE ACIND ACEXP ACMEET SIZE  
LEV  
VIF  
1,27  
1,11  
1,09  
1,13  
1,29  
1,13  
ACSIZE  
ACIND  
ACEXP  
ACMEET  
SIZE  
-0,0835 1  
0,0157 -0,2763  
0,0141 0,1796  
-0,0433 -0,1377  
0,0567 0,3738  
-0,0563 0,1428  
-0,7651 0,0414  
1
0,0379  
-0,0698  
-0,1442  
-0,089  
-0,0229  
1
-0,0368  
0,2285  
-0,082  
0,0711  
1
0,0845  
-0,1557  
0,1714  
1
LEV  
0,1983  
1
CF0  
0,0156 -0,2064 1,08  
Ngoài ra, để căn cứ vào mô hình hồi quy để không thay đổi và không tồn tại hiện tượng tự  
tương quan.  
biện luận thì nghiên cứu tiến hành kiểm định  
phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương  
quan. Nghiên cứu sử dụng hai kiểm định  
White và kiểm định Woolridge với kết quả  
lần lượt Prob>chi2 = 0,4789 > mức ý nghĩa 5%  
(0,05) và Prob>F = 0,8885 > 5% (lớn hơn mức  
ý nghĩa 5%), có nghĩa là mô hình có phương sai  
Cuối cùng, sau khi thực hiện các kiểm định  
F (Prob>F=0,000), kiểm định LM (Prob >  
chibar2 = 0,000), kiểm định Hausman (Prob >  
chibar2 = 0,000) thì mô hình tối ưu là mô hình  
ảnh hưởng cố định (FEM) với kết quả thể hiện  
ở bảng 4.  
109  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 64 – áng 8 Năm 2021  
Bảng 4. Kết quả hồi quy theo các mô hình Pooled OLS, FEM, REM  
PoolOLS  
Coef  
FEM  
Coef  
REM  
Coef  
DA  
P-value  
P-value  
P-value  
ACSIZE -0,0131931 0,011**  
-0,020764 0,019**  
-0,0133761 0,016**  
ACIND  
ACEXP  
-0,0041077 0,255  
0,0075006 0,015**  
0,0179979 0,048**  
0,0023419 0,747  
-0,0031415 0,432  
0,0071826  
0,0034603  
0,0255162  
0,035**  
0,033**  
0,000***  
ACMEET 0,0031296  
0,044**  
0,000***  
0,000***  
0,0062129 0,006***  
0,0464583 0,045**  
-0,0903698 0,003***  
-0,8351839 0,000***  
-0,4378344 0,12  
Prob > F = 0,000  
R2 (overall) = 0,6274  
SIZE  
LEV  
CFO  
0,0249583  
-0,137407  
-0,1378153 0,000***  
-0,7697296 0,000***  
-0,1361043 0,016**  
Prob > F = 0,000  
-0,7491968 0,000***  
-0,1288185 0,01**  
R2 điều chỉnh = 0,6521  
Prob > F = 0,000  
_cons  
R2 (overall) = 65,48%  
Ghi chú: Biến phụ thuộc: DA đo lường theo mô hình Dechow và cộng sự (1995).  
Ký hiệu *, **,*** lần lượt tại mức ý nghĩa 10%; 5%; 1%.  
Số quan sát: 870; Prob > F = 0,000.  
Kết quả hồi quy tại bảng 4 thể hiện các biến & Hwang, 2010) nhưng nghiên cứu không  
độc lập có thể giải thích 62,74% sự biến thiên ủng hộ giả thuyết H2 khi kết quả không tìm  
của dồn tích bất thường đại diện quản trị lợi thấy bằng chứng về tác động của thành viên  
nhuận. Đồng thời với hệ số Prob>F = 0,000 có ban kiểm soát có chuyên môn về tài chính kế  
nghĩa mô hình đủ độ tin cậy để cung cấp bằng toán đến quản trị lợi nhuận. Kết quả nghiên  
chứng về sự tác động của các biến trong mô cứu không đồng thuận với các nghiên cứu  
hình đến quản trị lợi nhuận.  
(Chtourou và cộng sự, 2001; Abbott và cộng  
sự, 2004). Tuy nhiên nghiên cứu của nhóm tác  
giả có kết quả tương đồng với các nghiên cứu  
khác (Xie và cộng sự, 2003; Bédard và cộng  
sự, 2004; Bùi Văn Dương & Ngô Hoàng Điệp,  
2017) khi không tìm thấy bằng chứng về tác  
động của thành viên ban kiểm soát có chuyên  
môn về tài chính kế toán.  
Kết quả hồi quy cho thấy mối tương quan  
ngược chiều và có ý nghĩa ở mức 5% giữa quản  
trị lợi nhuận và ACSIZE. Phát hiện này ủng hộ  
giả thuyết 1 và thừa nhận rằng những công ty  
niêm yết có ban kiểm soát với nhiều thành viên  
thì hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản  
lý giảm đáng kể. Ngoài ra, kết quả kiểm tra  
thống kê mô tả trong Bảng 2 cho thấy ACSIZE  
Kết quả nghiên cứu cũng thể hiện mối  
trung bình hoàn hảo là 3,158 nghĩa là quy mô tương quan cùng chiều giữa thành viên độc  
ban kiểm soát trung bình khoảng 3 thành viên lập ban kiểm soát, tần suất họp với quản trị lợi  
tại các công ty niêm yết của Việt Nam. Kết quả nhuận. Kết quả nghiên cứu này không ủng hộ  
này khẳng định giả định rằng ban kiểm soát kỳ vọng tại giả thuyết H và H4 khi thừa nhận  
với quy mô từ 3 đến 4 thành viên (Abbot và thành viên độc lập, họ3p thường xuyên làm  
cộng sự, 2004; Xie và cộng sự, 2003) thì vai trò gia tăng hành vi quản trị lợi nhuận cũng như  
giám sát của ban kiểm soát là tốt nhất. Nghiên không cùng quan điểm với các nghiên cứu đã  
cứu này ủng hộ quan điểm quy mô ban kiểm được thực hiện trên thế giới khi cho rằng thành  
soát có mối tương quan ngược chiều với quản viên độc lập trong ban kiểm soát thực hiện tốt  
trị lợi nhuận (Yang & Krishnan, 2005; Lin vai trò giám sát nên hạn chế hành vi quản trị  
110  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 64 – áng 8 Năm 2021  
lợi nhuận của các nhà quản lý (Abbott và cộng 5. Kết luận  
sự, 2004; Xie và cộng sự, 2003; Ebrahim, 2007)  
Các vụ bê bối kế toán gần đây đã nhấn mạnh  
vai trò hiệu quả của ban kiểm soát trong việc  
phát hiện các sai sót trọng yếu, do đó hạn chế  
quản trị lợi nhuận. Nghiên cứu này đã cung cấp  
bằng chứng về mối quan hệ giữa đặc điểm ban  
kiểm soát và quản trị lợi nhuận tại các công ty  
niêm yết ở Việt Nam. Cụ thể kết quả hồi quy đa  
biến thừa nhận có mối quan hệ ngược chiều có  
ý nghĩa giữa các khoản dồn tích bất thường và  
quy mô ban kiểm soát, mối tương quan cùng  
chiều giữa thành viên độc lập, tần suất họp của  
ban kiểm soát với quản trị lợi nhuận. Bên cạnh  
đó, kết quả cũng thừa nhận quy mô công ty  
làm gia tăng quản trị lợi nhuận, hệ số nợ và  
dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh càng  
lớn càng hạn chế quản trị lợi nhuận.  
hay họp càng nhiều càng giám sát tốt hoạt  
động của nhà quản lý (Xie và cộng sự, 2003;  
Abbott và cộng sự, 2004). Đồng thời kết quả  
nghiên cứu cũng không ủng hộ lý thuyết đại  
diện, lý thuyết phụ thuộc nguồn nhân lực hay  
lý thuyết hành vi khi cho rằng ban kiểm soát  
với các thành viên độc lập, đầy đủ các thành  
phần, tham gia họp thường xuyên sẽ gia tăng  
vai trò giám sát, giảm xung đột lợi ích giữa chủ  
sỡ hữu và nhà quản lý.  
Liên quan đến các biến kiểm soát, kết quả  
cho thấy mối tương quan ngược chiều giữa  
hệ số nợ, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh  
doanh với quản trị lợi nhuận và mối tương  
quan cùng chiều giữa quy mô công ty với quản  
trị lợi nhuận. Có nghĩa hệ số nợ và dòng tiền  
thuần từ hoạt động kinh doanh làm hạn chế  
hành vi quản trị lợi nhuận, giảm mức dồn tích  
có điều chỉnh nhưng quy mô công ty càng lớn  
thì các công ty niêm yết có xu hướng gia tăng  
hành vi quản trị lợi nhuận nhằm duy trì tín  
hiệu tốt đến các đối tượng sử dụng thông tin,  
tương đồng với nghiên cứu (Xie và cộng sự,  
2003; Soliman & Ragab, 2014).  
Tóm lại nghiên cứu này cung cấp một số  
đóng góp: (1) cung cấp cấp bằng chứng về quan  
hệ giữa các đặc điểm ban kiểm soát và quản  
trị lợi nhuận thông qua đó hỗ trợ các công ty  
niêm yết thiết lập cơ chế QTCT với ban kiểm  
soát hoạt động hiệu quả, gia tăng vai trò giám  
sát hoạt động của nhà quản lý, (2) đóng góp  
vào nền tảng lý thuyết về mối quan hệ giữa ban  
kiểm soát và quản trị lợi nhuận làm hoàn chỉnh  
hơn bức tranh về nghiên cứu quản trị lợi nhuận.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Abbott, L.J. Park, Y. & Parker, S. (2000). e effect of audit committee activity and independence on corporate  
fraud. Managerial Finance, 26(11), 55-68.  
Abbott, L. J., Parker, S., & Peters, G. F. (2004). Audit committee characteristics and restatements. Auditing: A  
journal of practice & theory, 23(1), 69-87.  
Anderson, D., Francis, J.R., & Stokes, D.J. (1993). Auditing, directorships, and the demand for monitoring.  
Journal of Accounting and Public Policy, 12(4), 353-375.  
Be´dard, J., Chtourou, S. M., & Courteau, L. (2004). e effect of audit committee expertise, independence, and  
activity on aggressive earnings management. Auditing: A journal of practice & theory, 23(2), 13-35.  
Beneish, M. D. (1998). Discussion of “Are accruals during initial public offerings opportunistic?”. Review of  
accounting studies, 3(1), 209-221.  
Bowen, R. M., Rajgopal, S., & Venkatachalam, M. (2008). Accounting discretion, corporate governance, and  
firm performance. Contemporary accounting research, 25(2), 351-405.  
Bùi Văn Dương và Ngô Hoàng Điệp (2017). Đặc điểm Hội đồng quản trị và hành vi QTLN của các công ty  
niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Tạp chí Khoa học Đại học Mở TPHCM – Kinh tế và  
Quản trị kinh doanh, 12(2), 113-126.  
111  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 64 – áng 8 Năm 2021  
Davidson, R., Goodwin – Stewart, J., & Kent, P. (2005). Internal governance structures and earnings  
management. Accounting & Finance, 45(2), 241-267.  
Dechow, P. M., Sloan, R. G., & Sweeney, A. P. (1995). Detecting Earnings Management. e Accounting  
Review, 70(2), 193-225.  
DeZoort, F. T, Hermanson, D.R., Archambeault,D.S & Reed,A.S. (2002). Audit committee effectiveness: a  
synthesis of the empirical audit committee literature. Jounal of Accounting Literature, 21, 38-75.  
Dhaliwal, D. A. N., Naiker, V. I. C., & Navissi, F. (2010). e association between accruals quality and the  
characteristics of accounting experts and mix of expertise on audit committees. Contemporary  
Accounting Research, 27(3), 787-827.  
Ebrahim, A. (2007). Earnings management and board activity: an additional evidence. Review of Accounting  
and Finance, 6(1), 42-58.  
Fama, E.F. & Jensen, M.C. (1983). Separation of ownership and control. Journal of Law and Economics, 26(2),  
301-325.  
Hoang, T. C., Abeysekera, I., & Ma, S. (2017). e effect of board diversity on earnings quality: An empirical  
study of listed firms in Vietnam. Australian Accounting Review, 27(2), 146-163.  
Healy, P.M. (1985). e effect of bonus schemes on accounting decisions. Journal of accounting and economics,  
7(1), 85-107.  
Jensen, M. C. (2005). Agency costs of overvalued equity. Financial management, 34(1), 5-19.  
Jones, J. J. (1991). Earnings management during import relief investigations. Journal of accounting  
research, 29(2), 193-228.  
Karamanou, I., & Vafeas, N. (2005). e association between corporate boards, audit committees, and  
management earnings forecasts: An empirical analysis. Journal of Accounting research, 43(3), 453-486.  
Klein, A. (2002). Audit committee, board of director characteristics, and earnings management. Journal of  
accounting and economics, 33(3), 375-400.  
Kothari, S. P., Leone, A. J., &Wasley, C. E. (2005). Performancematcheddiscretionaryaccrualmeasures.Journal  
of accounting and economics, 39(1), 163-197.  
Laing, D. & Weir, C. (1999) Governance structures, size and corporate performance in UK firms. Management  
Decision, 37(5), 457-464.  
Leuz, C., Nada, D. & Wysocki P.D. (2003). Earnings management and investor protection: An international  
comparison. Journal of Financial Economics, 69(3), 505-527.  
Li, J., Mangena, M. & Pike, R. (2012). e effect of audit committee Characteristics on intellectual Capital  
Disclosure. e British Accounting Review, 44(2), 98-110.  
Lin, J. W., & Hwang, M. I. (2010). Audit quality, corporate governance, and earnings management: A meta‐  
analysis. International journal of auditing, 14(1), 57-77.  
Lin,J.W.,Li,J.F.,&Yang,J.S.(2006).eeffectofauditcommitteeperformanceonearningsquality.Managerial  
Auditing Journal, 21(9), 921-933.  
Marrakchi, C. S., Bedard, J., & Courteau, L. (2001). Corporate governance and earnings management. Available  
Menon, K., & Williams, J.D. (1994). e use of audit committees for monitoring, Journal of Accounting and  
Public Policy, 13(2), 121-139.  
Moradi, M., Salehi, M., Bighi, S. J. H., & Najari, M. (2012). A Study of relationship between board  
characteristics and earning management: Iranian scenario. Universal Journal of Management and Social  
Sciences, 2(3),12-29.  
Peasnell, K. V., Pope, P. F., & Young, S. (2005). Board monitoring and earnings management: do outside  
directors influence abnormal accruals?. Journal of Business Finance & Accounting, 32(7‐8), 1311-1346.  
112  
Tạp chí Nghiên cứu Tài chính – Marketing  
Số 64 – áng 8 Năm 2021  
Persons, O. S. (2009). Audit committee characteristics and earlier voluntary ethics disclosure among fraud and  
no-fraud firms. International journal of disclosure and governance, 6(4), 284-297.  
Roychowdhury, S. (2006). Earning Management through Real Activities Manipulation. Journal of Accounting  
and Economics, 42(3), 335-370.  
Siregar, S.V., and Utama, S. (2008). Type of earnings management and the effect of ownership structure,  
firm size and corporate governance practices: Evidence from Indonesia. e international Journal of  
Accounting, 43(1), 1-27.  
Soliman, M. M., & Ragab, A. A. (2014). Audit committee effectiveness, audit quality and earnings management:  
an empirical study of the listed companies in Egypt. Research journal of finance and accounting, 5(2),  
155-166.  
Waweru, N. M., & Riro, G. K. (2013). Corporate governance, firm characteristics and earnings management in  
an emerging economy. Journal of Applied Management Accounting Research, 11(1), 43.  
Xie, B., Davidson III, W. N., & DaDalt, P. J. (2003). Earnings management and corporate governance: the role  
of the board and the audit committee. Journal of corporate finance, 9(3), 295-316.  
Vafeas, N. (2005). Audit committees, boards, and the quality of reported earnings. Contemporary accounting  
research, 22(4), 1093-1122.  
Yang, J. S., & Krishnan, J. (2005). Audit committees and quarterly earnings management. International journal  
of auditing, 9(3), 201-219.  
113  
pdf 11 trang Thùy Anh 18460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ban kiểm soát và quản trị lợi nhuận: Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfaudit_committee_and_earnings_management_empirical_evidence_i.pdf