Xuất khẩu nông sản và năng lực Logistics: Bằng chứng thực nghiệm từ Việt Nam

INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
XUẤT KHẨU NÔNG SẢN VÀ NĂNG LỰC LOGISTICS:  
BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TỪ VIỆT NAM  
AGRICULTURAL EXPORT AND LOGISTICS PERFORMANCE:  
EMPIRICAL EVIDENCE FROM VIETNAM  
ThS. Lê Đức Nhã, ThS. Trịnh Thị Hạ Huyền, Lê Trúc Vy  
Trường Đại học Tôn Đức Thắng  
Tóm tắt  
Nông nghiệp nói chung và xuất khẩu nông sản nói riêng là những ngành và lĩnh vực có  
đóng góp rất quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam. Trong khi đó, năng lực logistics lại được  
xác định là điểm nghẽn trong tăng trưởng xuất khẩu. Bài báo sử dụng mô hình trọng lực thương  
mại mở rộng với sự tích hợp của năng lực logistics quốc gia và các thành phần cùng với các  
nhân tố vĩ mô nhằm đóng góp bằng chứng thực nghiệm khẳng định tính hiệu lực của mô hình  
trọng lực thương mại mở rộng ở cấp độ ngành. Bên cạnh đó, bài báo cũng kiểm định mối quan  
hệ nhân quả giữa năng lực logistics quốc gia và các thành phần với xuất khẩu nông sản của Việt  
Nam. Bài báo cũng kiểm định những nhân tố đóng vai trò thúc đẩy hoặc kìm hãm sự tăng trưởng  
của xuất khẩu nông sản Việt Nam để từ đó đề xuất hàm ý chính sách phát triển năng lực logistics  
quốc gia và các chính sách ở những lĩnh vực khác hướng đến mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu  
nông sản.  
Từ khóa: Cấp độ ngành; Mô hình trọng lực thương mại mở rộng; Năng lực logistics; Xuất  
khẩu nông sản  
Abstract  
Agriculture in general and agricultural export in particular are drivers of Vietnamese eco-  
nomic growth. Meanwhile, logistics performance has been identified as a bottleneck of export  
growth. This paper employs the augmented trade gravity model with the integration of national  
logistics performance and components along with macroeconomic determinants to consolidate  
empirical evidence for the validity of the augmented trade gravity model at sectoral-level. In ad-  
dition, the paper examines the causality between agricultural export and logistics performance  
of Vietnam. Finally, the paper explores specific facilitators and inhibitors of Vietnam’s agricul-  
tural export, which reveals policy implications for national logistics performance development  
and other sectors to enhance agricultural export growth.  
Keywords: Agricultural export; Augmented trade gravity model; Logistics performance;  
Sectoral level  
1. Giới thiệu  
Trong suốt quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế diễn ra ở hai thập kỷ đầu của thế kỷ XXI,  
tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp trong cơ cấu nền kinh tế có sự thu hẹp đáng kể từ mức  
335  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
24,53% năm 2000 xuống còn 13,96% năm 2019 (Tổng cục Thống kê, 2020). Tuy nhiên, xét ở  
cấp độ địa phương, nhiều tỉnh vẫn có ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng đáng kể trong cơ cấu  
kinh tế như các tỉnh thuộc khu vực Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, và Trung du và miền núi Bắc Bộ.  
Tỷ trọng lực lượng lao động trong ngành nông nghiệp năm 2019 chiếm khoảng 34,5% lực lượng  
lao động của nền kinh tế (Tổng cục Thống kê, 2020). Năm 2019, xuất khẩu ngành nông nghiệp  
đạt 25,37 tỷ USD, chiếm khoảng 9,63% tổng kim ngạch xuất khẩu (Bộ Công thương, 2020).  
Nhiều nông sản đóng góp kim ngạch xuất khẩu rất lớn rau quả (3,76 tỷ USD), nhân điều (3,28 tỷ  
USD), cà phê (2,79 tỷ USD), gạo (2,76 tỷ USD), cao su (2,30 tỷ USD), hồ tiêu (722 triệu USD),  
sắn và các sản phẩm từ sắn (956 triệu USD), và chè các loại (236 triệu USD) (Bộ Công thương,  
2020). Thị trường xuất khẩu của nông sản Việt Nam rất đa dạng và có tính toàn cầu. Theo thống  
kê của Tổng cục Hải quan, trong hai quý đầu của năm 2020, nông sản Việt Nam chủ yếu xuất  
khẩu sang các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Canada, Úc, New Zealand,  
các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU), lãnh thổ Đài Loan, các quốc gia châu Phi như Ghana,  
Senegal, Mozambique, Cameroon, Gabon, Tanzania và Ai Cập, và các nước thuộc khu vực Đông  
Nam Á như Malaysia, Indonesia, Thái Lan và Philippines.  
Trong khi đó, logistics lại được xác định là điểm nghẽn trong tăng trưởng xuất khẩu của  
Việt Nam. Năng lực logistics tỷ lệ nghịch với chi phí logistics đối với hàng xuất khẩu, đặc biệt  
là đối với nông sản xuất khẩu do các đặc thù về bản chất của hàng hóa. Chi phí logistics của Việt  
Nam đang cao hơn so với mặt bằng chung của khu vực do các yếu kém về tính kết nối, cơ sở hạ  
tầng, nguồn nhân lực, thị trường dịch vụ logistics cạnh tranh, và các thủ tục và lệ phí thông quan  
tại cửa khẩu. Từ thực tiễn đó, tính cấp thiết đặt ra đối với việc đánh giá định lượng tác động của  
năng lực logistics quốc gia và các thành phần cũng như các nhân tố môi trường kinh tế vĩ mô đối  
với xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Do đó, bài báo sẽ tập trung thực hiện ba mục tiêu nghiên  
cứu. Thứ nhất, bài báo kiểm định tính hiệu lực của mô hình trọng lực thương mại mở rộng trong  
trường hợp xuất khẩu nông sản thay vì tổng kim ngạch xuất khẩu của nền kinh tế. Thứ hai, bài  
báo kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa năng lực logistics quốc gia và các thành phần với xuất  
khẩu nông sản của Việt Nam. Thứ ba, bài báo kiểm định tác động của các nhân tố môi trường  
kinh tế vĩ mô đối với xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Từ những kết quả thực nghiệm, bài báo  
sẽ cung cấp luận cứ thực nghiệm vững chắc cho các chính sách phát triển năng lực logistics quốc  
gia và các lĩnh vực liên quan đến logistics cũng như đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy xuất khẩu  
nông sản của Việt Nam.  
2. Cơ sở lý thuyết  
2.1. Mô hình trọng lực trong thương mại và các mô hình mở rộng  
Bài báo sử dụng mô hình trọng lực thương mại (trade gravity model) để kiểm định quan  
hệ nhân quả giữa xuất khẩu nông sản và các nhân tố ảnh hưởng trong đó có năng lực logistics  
quốc gia và các chỉ số thành phần (xem thêm thông tin trong tiểu mục 4.1 về mô tả dữ liệu và các  
biến trong mô hình). Mô hình trọng lực thương mại lấy ý tưởng từ hiện tượng vật lý về lực hấp  
dẫn giữa hai vật có khối lượng trong không gian. Theo đó, lực hấp dẫn giữa hai vật (trọng lực)  
sẽ tỷ lệ thuận với khối lượng của mỗi vật và tỷ lệ nghịch với khoảng cách giữa hai vật đó. Ý  
tưởng này lần đầu tiên được vận dụng để xây dựng mô hình trọng lực thương mại bởi các học giả  
Pöyhönen (1963) và Tinbergen (1962). Theo đó, thương mại song phương giữa hai quốc gia sẽ  
336  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
tỷ lệ thuận với quy mô nền kinh tế mỗi quốc gia và tỷ lệ nghịch với khoảng cách địa lý giữa hai  
quốc gia đó. Khi thể hiện bằng phương trình toán học thì mô hình trọng lực thương mại cổ điển  
có dạng sau:  
Y .Y  
it jt  
EXP = A.  
ijt  
DIST  
ijt  
Trong đó, EXP là xuất khẩu của nước i sang nước j tại năm t, Y và Y lần lượt là tổng  
ijt  
it  
jt  
sản phẩm quốc nội (GDP) của nước i và j trong năm t, DIST là khoảng cách địa lý giữa nước  
ij  
i và j. Khi lấy logarit tự nhiên (ln) hai vế của phương trình, mô hình trọng lực thương mại có  
dạng sau:  
lnEXP = β + β .lnY + β .lnY + β .lnDIST + ε  
ijt  
0
1
it  
2
jt  
3
ij ijt  
Trong đó, ε là phần dư của phương trình, hệ số β là tung độ gốc của phương trình, và  
ijt  
0
các hệ số β  
1à3  
là các hệ số góc tương ứng với quy mô kinh tế và khoảng cách địa lý. Nhiều năm  
sau khi mô hình trọng lực thương mại lần đầu tiên được giới thiệu, nhiều học giả đã tích hợp  
thêm các nhân tố vĩ mô có ảnh hưởng đến thương mại song phương và các kết quả thực nghiệm  
đều chứng minh tính đúng đắn và phù hợp của mô hình trọng lực thương mại trong việc nghiên  
cứu các nhân tố ảnh hưởng đến xuất khẩu hoặc thương mại song phương. Khi thêm vào các nhân  
tố vĩ mô khác thì mô hình cổ điển sẽ trở thành mô hình trọng lực thương mại mở rộng (augmented  
trade gravity model). Chúng được sử dụng bởi rất nhiều học giả trong khi nghiên cứu định lượng  
về thương mại quốc tế (Kabir và cộng sự, 2017; Yean và Yi, 2014). Riêng đối với quy mô nền  
kinh tế, Yean và Yi (2014) cho rằng sử dụng giá trị GDP bình quân đầu người sẽ tốt hơn là dùng  
giá trị GDP vì GDP bình quân đầu người phản ánh sức mua của người tiêu dùng và sự thịnh  
vượng của nền kinh tế.  
Những nhân tố vĩ mô được thêm vào để mở rộng mô hình trọng lực thương mại cổ điển  
bao gồm sự tương đồng về ngôn ngữ giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu (Kahouli và Omri,  
2017), biến động tỷ giá hối đoái song phương (Kahouli và Omri, 2017; Narayan và Nguyen,  
2016), vị trí địa lý không giáp biển (Kahouli và Omri, 2017; Leng và cộng sự, 2020), hội nhập  
kinh tế khu vực (Gani, 2017; Kahouli và Omri, 2017; Narayan và Nguyen, 2016), các hàng rào  
thương mại (Besedeš và Cole, 2017; Gani 2017), năng lực logistics (Bensassi và cộng sự, 2015;  
Bottasso và cộng sự, 2018; Gani, 2017; Martí và cộng sự, 2014; Martí và Puertas, 2017; Puertas  
và cộng sự, 2014), quy mô dân số (Kahouli và Maktouf, 2015; Kahouli và Omri, 2017; Martí và  
cộng sự, 2014), và các biến cố toàn cầu như khủng hoảng tài chính toàn cầu (Kahouli và Maktouf,  
2015). Bên cạnh đó, các nghiên cứu gần đây của Kahouli và Maktouf (2015), Kahouli (2016),  
Kahouli và Omri (2017), và Tham và cộng sự (2018) đã chỉ ra rằng sự khác biệt về mức thu nhập  
bình quân đầu người giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu cũng có tác động đến thương mại  
song phương hay xuất khẩu. Tác động này có thể thuận chiều hoặc nghịch chiều tùy thuộc vào  
bản chất trong mối quan hệ thương mại song phương giữa hai nền kinh tế.  
2.2. Năng lực logistics quốc gia và thương mại quốc tế  
Riêng đối với năng lực logistics quốc gia, các công trình thực hiện trước sự ra đời của Chỉ  
số Năng lực Logistics LPI (Logistics Performance Index) được tính toán bởi World Bank đã sử  
dụng một loại chỉ số logistics toàn cầu được tính toán trên cơ sở các khía cạnh về thời gian, chi  
337  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
phí, mức độ phức tạp và những rủi ro của các hoạt động liên quan đến logistics (Hausman, 2004;  
Hausman và cộng sự, 2013; Lee và Whang, 2005). Những khía cạnh của hoạt động logistics nêu  
trên cũng được tính toán trên cơ sở dữ liệu khảo sát nhưng không dựa trên thang đo 5 điểm như  
của LPI và các chỉ số thành phần. Do đó, tính đến thời điểm hiện nay, các công trình nghiên cứu  
sử dụng mô hình trọng lực thương mại mở rộng có sử dụng biến LPI và các chỉ số phụ còn khá  
khiêm tốn. Một số công trình có thể kể đến là các nghiên cứu của Martí và cộng sự (2014), Puertas  
và cộng sự (2014), Gani (2017), Martí và Puertas (2017), Çelebi (2019), và Bugarčić và cộng sự  
(2020). Tuy nhiên, các nghiên cứu này chỉ sử dụng dữ liệu kim ngạch xuất khẩu của quốc gia,  
chưa xét đến cấp độ ngành cụ thể. Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu về trường hợp của  
Việt Nam là chưa có. Do đó, bài báo này sẽ sử dụng dữ liệu xuất khẩu cấp độ ngành đối với  
ngành nông nghiệp của Việt Nam và tích hợp LPI và các chỉ số thành phần. Kết quả nghiên cứu  
được kỳ vọng sẽ làm phong phú thêm nền tảng lý thuyết đương đại về thương mại quốc tế cấp  
độ ngành cũng như mối quan hệ giữa năng lực logistics và xuất khẩu.  
Về phân loại các loại hàng hóa là nông sản trong thương mại quốc tế, nghiên cứu của Campi  
và Dueñas (2016) đã định nghĩa nông sản (agricultural products) để phục vụ việc thu thập dữ  
liệu thương mại quốc tế và xây dựng các mô hình nghiên cứu định lượng. Theo đó, hai học giả  
đã dựa trên mã số HS (Harmonized System Code) để xác định cụ thể các sản phẩm nông nghiệp  
và mã số HS tương ứng từ đó tạo cơ sở cho việc tính toán dữ liệu từ nguồn thống kê của Tổ chức  
Thương mại Thế giới (WTO). Bài báo này sử dụng định nghĩa nông sản trong công trình nêu  
trên để làm cơ sở thu thập dữ liệu xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Theo đó, nông sản là các  
sản phẩm nông nghiệp có mã HS từ chương 1 – 24, ngoại trừ chương 3, 16 và một số chủng loại  
trong chương 29 – 53. Như vậy, nông sản trong bài báo này không bao gồm dữ liệu của thủy sản.  
3. Mô hình nghiên cứu  
Từ tổng quan cơ sở lý thuyết, mô hình được nhóm tác giả đề xuất như Phụ lục 1. Cùng với  
đó là các giả thuyết được đặt ra để kiểm định bằng dữ liệu thực nghiệm. Bảng mô tả các biến và  
thang đo của từng biến được trình bày ở tiểu mục 4.1. Các giả thuyết cần kiểm định được trình  
bày trong Phụ lục 1. Bài báo sẽ sử dụng 07 mô hình trọng lực thương mại để kiểm định các giả  
thuyết trong mô hình nghiên cứu. Trong mỗi mô hình, các biến kiểm soát khác vẫn giữ nguyên,  
bài báo sẽ sử dụng chỉ số chính LPI và 06 chỉ số phụ cho 07 mô hình trọng lực. Sở dĩ phải làm  
như vậy là do LPI là chỉ số tổng hợp được tính dựa trên 06 chỉ số phụ nên việc đưa cùng lúc 07  
chỉ số này vào trong mô hình sẽ dẫn đến hiện tượng đa cộng tuyến. Thêm vào đó, việc sử dụng  
07 mô hình riêng biệt cho phép đánh giá tác động của từng khía cạnh năng lực logistics quốc gia  
đối với xuất khẩu nông sản để từ đó đề xuất những ưu tiên chính sách phù hợp.  
4. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu  
4.1. Mô tả dữ liệu  
Bài báo sử dụng các dữ liệu cấp độ quốc gia của Việt Nam và 97 đối tác thương mại trong  
các năm 2007, 2010, 2012, 2014, 2016 và 2018 liên quan đến các biến được mô tả trong Bảng 1  
dưới đây. Các biến này sẽ được lấy giá trị logarit tự nhiên (ln) để đảm bảo dữ liệu không có tính  
dừng trước khi tiến hành các kiểm định và ước lượng. Nguồn dữ liệu là các cơ sở dữ liệu thống  
kê vĩ mô của các tổ chức toàn cầu gồm World Bank, World Trade Organization (WTO) và The  
United Nations Conference on Trade and Development (UNCTAD).  
338  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Bảng 1: Mô tả thang đo và nguồn dữ liệu  
Biến  
Mô tả và thang đo  
Nguồn  
Kim ngạch xuất khẩu nông sản của Việt Nam (i) sang quốc gia j  
trong năm t (nghìn USD).  
Thu nhập bình quân đầu người của nước i (Việt Nam) tại năm t  
(nghìn USD/người).  
AGREX  
ijt  
World Bank  
World Bank  
GDPpc  
it  
jt  
Thu nhập bình quân đầu người của nước j (nước nhập khẩu) tại  
năm t (nghìn USD/người).  
Khoảng cách địa lý giữa Việt Nam (i) và nước nhập khẩu j (km)  
GDPpc  
DIST  
World Bank  
ij  
freemaptools.com  
Khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người giữa nước i và j  
tại năm t (nghìn USD/người):  
D_GDPpc  
ijt  
Hội nhập kinh tế khu vực: Nhận giá trị 1 nếu tại năm t có hiệp  
định thương mại tự do được ký kết giữa nước i và j có hiệu lực,  
ngược lại thì nhận giá trị 0  
RTA  
ijt  
WTO  
Biến động tỷ giá hối đoái giữa đồng tiền của nước i và j tại năm t  
được tính bằng số lượng đơn vị tiền tệ của nước i so với 1 đơn vị  
tiền tệ của nước j tại năm t (VND/đơn vị tiền tệ của nước j)  
Vị trí địa lý giáp biển của nước j: Nhận giá trị 1 nếu nước j không  
giáp biển, ngược lại thì nhận giá trị 0  
EXG  
jit  
UNCTAD  
Google Map  
LAND  
j
Chỉ số Năng lực Logistics quốc gia (Logistics Performance Index)  
OLPI  
it  
World Bank  
World Bank  
World Bank  
của nước i tại năm t  
Chỉ số Năng lực Logistics quốc gia (Logistics Performance Index)  
của nước j tại năm t  
Hiệu quả của quy trình thông quan tại biên giới và thủ tục hải  
quan của nước i tại năm t  
OLPI  
jt  
CUS  
it  
Hiệu quả của quy trình thông quan tại biên giới và thủ tục hải  
CUS  
jt  
World Bank  
World Bank  
World Bank  
quan của nước j tại năm t  
Chất lượng cơ sở hạ tầng vận tải và thương mại của nước i tại  
năm t  
INF  
it  
Chất lượng cơ sở hạ tầng vận tải và thương mại của nước j tại  
năm t  
INF  
jt  
Tính cạnh tranh về giá cước của thị trường vận tải nước i tại năm t  
SHIP  
it  
World Bank  
World Bank  
World Bank  
Tính cạnh tranh về giá cước của thị trường vận tải nước j tại năm t  
SHIP  
jt  
Chất lượng và khả năng cạnh tranh của các dịch vụ logistics của  
nước i tại năm t  
LGS  
it  
Chất lượng và khả năng cạnh tranh của các dịch vụ logistics của  
LGS  
jt  
World Bank  
World Bank  
World Bank  
nước j tại năm t  
Khả năng theo dõi và giám sát quá trình vận chuyển các lô hàng  
tại nước i vào năm t  
Khả năng theo dõi và giám sát quá trình vận chuyển các lô hàng  
tại nước j vào năm t  
TNT  
it  
TNT  
jt  
Sự tuân thủ về thời gian giao hàng tại nước i vào năm t  
TLN  
it  
World Bank  
World Bank  
Sự tuân thủ về thời gian giao hàng tại nước j vào năm t  
TLN  
jt  
Nguồn: Nhóm tác giả.  
339  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Trong đó, LPI và các chỉ số thành phần được thu thập và tính toán lần đầu tiên vào năm  
2007 bởi World Bank. Đây là chỉ số được thu thập và tính toán hai năm một lần. Các năm tính  
toán tính đến thời điểm thu thập dữ liệu phục vụ nghiên cứu là 2007, 2010, 2012, 2014, 2016 và  
2018. LPI và các chỉ số thành phần được tính toán trên dữ liệu thu thập từ bảng hỏi khảo sát các  
đáp viên đến từ khắp nơi trên thế giới. Thang đo 5 điểm được áp dụng cho LPI và các chỉ số  
thành phần tương ứng với năng lực logistics quốc gia và các khía cạnh liên quan, cụ thể: (i) Năng  
lực logistics quốc gia (OLPI): 1-rất thấp à 5-rất cao; (ii) Hiệu quả của quy trình thông quan tại  
biên giới và thủ tục hải quan (CUS): 1-rất thấp à 5-rất cao; (iii) Chất lượng cơ sở hạ tầng vận tải  
và thương mại (INF): 1-rất thấp à 5-rất cao; (iv) Tính cạnh tranh về giá cước của thị trường vận  
tải (SHIP): 1-rất sẵn có à 5-rất không sẵn có; (v) Chất lượng và khả năng cạnh tranh của các dịch  
vụ logistics (LGS): 1-rất thấp à 5-rất cao; (vi) Khả năng theo dõi và giám sát quá trình vận chuyển  
các lô hàng (TNT): 1-rất thấp à 5-rất cao; và (vii) Sự tuân thủ về thời gian giao hàng (TLN): 1-  
gần như là không bao giờ à 5-gần như là luôn luôn mọi lúc.  
4.2. Phương pháp nghiên cứu  
Nhóm nghiên cứu sử dụng mô hình ước lượng bình phương nhỏ nhất (Pooled OLS), ước  
lượng tác động cố định (fixed effect) và tác động ngẫu nghiên (random effect) để kiểm định mối  
quan hệ nhân quả giữa các biến. Đây là các kỹ thuật phân tích thường được sử dụng đối với ước  
lượng dữ liệu bảng dạng tĩnh (static panel data estimation). Song song đó, kiểm định đồng tích  
hợp dữ liệu bảng (panel cointegration tests) cũng được tiến hành nhằm khẳng định mối quan hệ  
trong dài hạn của các biến số liên quan. Trước đó, các kiểm định hệ số tương quan và tính dừng  
của dữ liệu (panel unit-root tests) cũng được nhóm tiến hành. Sau cùng, kiểm định Hausman sẽ  
giúp chọn ra mô hình ước lượng phù hợp để lý giải mối quan hệ giữa các biến. Dữ liệu thu thập  
được xử lý và tinh chỉnh bằng phần mềm Excel trước khi tiến hành các tests kiểm định và ước  
lượng bằng phần mềm STATA version 15.1. Bằng phương pháp nghiên cứu nêu trên, bài báo làm  
phong phú thực tiễn sử dụng phương pháp ước lượng dữ liệu bảng dạng tĩnh (static panel esti-  
mation) bằng mô hình tác động cố định (fixed effect) và tác động ngẫu nhiên (random effect)  
trong các nghiên cứu đương đại về thương mại quốc tế sử dụng mô hình trọng lực. Ngoài ra, mối  
quan hệ ổn định trong dài hạn (stable and long-run relationship) giữa các biến số cần quan tâm  
của mô hình cũng được kiểm định. Đây là kiểm định thường được sử dụng khi cần khẳng định  
tính chắc chắn (robustness check) của mối quan hệ nhân quả đã được khẳng định trước đó bởi  
các mô hình hồi quy.  
5. Kết quả và thảo luận  
5.1. Kiểm định sơ bộ  
Trước hết, thống kê mô tả các biến sử dụng trong mô hình nghiên cứu được trình bày ở  
Bảng 2 dưới đây. Ta thấy có tất cả 582 quan sát trong dữ liệu bảng của các mô hình.  
Bảng 2: Thống kê mô tả  
Số quan sát  
582  
Mean  
Std. Dev.*  
413504.6  
.5439145  
22.6391  
Min  
Max  
129625.1  
1.799412  
18.89546  
0
5723625  
2.551123  
119.1727  
AGREX  
GDPpc  
ijt  
582  
.9192092  
.3588275  
it  
jt  
582  
GDPpc  
340  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
582  
582  
582  
582  
582  
582  
582  
582  
582  
582  
582  
582  
582  
582  
582  
582  
582  
9187.276  
17.49475  
8669.946  
3.043221  
3.048401  
2.788371  
2.825749  
2.760239  
2.94162  
4586.205  
22.31541  
10571.57  
.1290911  
.6156895  
.107033  
392.848  
.0018706  
1.587564  
2.888855  
1.862039  
2.65028  
1.571429  
2.5  
19387.52  
117.1204  
34798.35  
3.27  
DIST  
ij  
D_GDPpc  
ijt  
EXG  
jit  
OLPI  
it  
4.225967  
2.95  
OLPI  
jt  
CUS  
it  
.6557389  
.2254012  
.7283498  
.0729711  
.5334369  
.2327714  
.6650813  
.20053  
4.20779  
3.112863  
4.439356  
3.217391  
4.235  
CUS  
jt  
INF  
it  
1.555556  
3
INF  
jt  
3.113963  
2.990134  
2.95817  
SHIP  
it  
1.66667  
2.681854  
1.525  
SHIP  
jt  
3.4  
LGS  
it  
2.994202  
3.108374  
3.080768  
3.493778  
3.455963  
4.315699  
3.45  
LGS  
jt  
2.842922  
1.57143  
3.22222  
2.03689  
TNT  
it  
.6632301  
.1477875  
.6058842  
4.377678  
3.67  
TNT  
jt  
TLN  
it  
4.795714  
TLN  
jt  
* Độ lệch tiêu chuẩn  
Nguồn: Nhóm tác giả.  
Tiếp đến, kiểm định hệ số tương quan Pearson cho thấy biến lnAGREX có tương quan  
ijt  
với hầu hết tất cả các biến trong mô hình ở mức ý nghĩa 5% ngoại trừ biến lnCUS . Biến lnOLPI  
it  
it  
và lnOLPI có tương quan với các biến chỉ số thành phần của chúng. Từ đó cho thấy việc ước  
jt  
lượng 07 mô hình trọng lực là phù hợp để khắc phục hiện tượng đa cộng tuyến. Kết quả tính toán  
chỉ số VIF cho 07 mô hình trọng lực khi hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất OLS  
cho thấy chỉ có biến lnGDPpc ở 2/7 mô hình là có 10 < VIF < 10,50. Do đó, tình trạng đa cộng  
jt  
tuyến giữa các biến là không đáng kể. Kết quả kiểm định tính dừng bằng các kiểm định Levin-  
Lin-Chu, Harris-Tzavalis, Breitung, và Fisher-type (bao gồm và không bao gồm xu hướng thời  
gian) cho thấy giá trị logarit tự nhiên của tất cả các biến trong mô hình đều có tính dừng ở mức  
ý nghĩa 5%. Điều này cho thấy các biến đủ điều kiện được đưa vào mô hình hồi quy để xác định  
mối quan hệ nhân quả.  
341  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
5.2. Kết quả hồi quy các mô hình nghiên cứu  
Trong giới hạn dung lượng của bài báo, nhóm tác giả chỉ trình bày tóm tắt kết quả thực  
nghiệm tổng hợp từ các mô hình nghiên cứu (xem ví dụ ở Phụ lục 2). Kết quả ước lượng Pooled  
OLS, tác động cố định, tác động ngẫu nhiên và kiểm định Hausman của 07 mô hình trọng lực  
cho thấy mô hình tác động cố định là tốt nhất ở mức ý nghĩa 5% để ước lượng mối quan hệ nhân  
quả giữa các biến do giá trị p-value nhỏ hơn 0,05. Đối với ước lượng tác động cố định, nhóm tác  
giả cũng xem xét yếu tố cố định theo thời gian (year-fixed) trong các mô hình hồi quy để giảm  
thiểu tình trạng nội sinh. Tuy nhiên, kết quả kiểm định testparm cho thấy việc xem xét yếu tố cố  
định theo thời gian là không cần thiết với các mô hình nghiên cứu (p-value > 0,05) ngoại trừ mô  
hình với cặp biến lnINF và lnINF .  
it jt  
Đối với tính hiệu lực của mô hình trọng lực thương mại hàng nông sản Việt Nam, kết  
quả thực nghiệm khẳng định mối quan hệ thuận chiều giữa thu nhập bình quân đầu người và xuất  
khẩu. Điều này hàm ý rằng khi thu nhập và sức mua của thị trường nhập khẩu gia tăng thì nhu  
cầu đối với nông sản nhập khẩu cũng sẽ tăng theo. Tuy nhiên, do đặc tính của phương pháp ước  
lượng tác động cố định nên các biến có giá trị không thay đổi theo thời gian của mỗi quốc gia  
gồm lnDIST và LAND sẽ bị loại khỏi ước lượng. Do đó, riêng đối với hai biến này, bài báo sẽ  
ij  
j
xem xét kết quả hồi quy của phương pháp ước lượng tác động ngẫu nhiên, phương pháp OLS và  
kiểm định xttest0 (phương sai thay đổi). Theo đó, kết quả thực nghiệm khẳng định mối quan hệ  
nghịch chiều giữa xuất khẩu nông sản, khoảng cách địa lý và vị trí địa lý không giáp biển. Khoảng  
cách lớn về mặt địa lý được cho là làm gia tăng chi phí cước vận tải và các chi phí dịch vụ logistics  
liên quan đến hàng hóa, từ đó làm gia tăng giá và giảm kim ngạch xuất khẩu. Điều này đặc biệt  
đúng với nông sản với đặc thù là các loại sản phẩm dễ hư hỏng và đòi hỏi cao về kỹ thuật đóng  
gói, bảo quản trong điều kiện chuyên chở dài ngày xuyên qua nhiều miền khí hậu giữa các quốc  
gia. Trong khi đó, khi nước nhập khẩu không giáp biển thì nhà xuất khẩu sẽ phải dùng đến các  
phương thức vận tải khác để cung ứng hàng hóa, từ đó cũng làm gia tăng giá và giảm kim ngạch  
xuất khẩu.  
Đối với mối quan hệ nhân quả giữa năng lực logistics quốc gia và các thành phần với xuất  
khẩu nông sản Việt Nam, kết quả thực nghiệm không khẳng định mối quan hệ nhân quả giữa  
năng lực logistics quốc gia và xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Tuy nhiên, kết quả thực nghiệm  
lại cho thấy hiệu quả của quy trình thông quan tại biên giới và thủ tục hải quan và chất lượng và  
khả năng cạnh tranh của các dịch vụ logistics của nước xuất khẩu lại tỷ lệ nghịch với xuất khẩu  
nông sản. Điều này hàm ý rằng khi các nhân tố trên của chính nước xuất khẩu được cải thiện thì  
lại làm giảm kim ngạch xuất khẩu nông sản. Do đó, kết quả này cần được nghiên cứu kỹ hơn  
bằng các mô hình mở rộng với nhiều biến kiểm soát hơn nữa và các phương pháp ước lượng  
khác ở những công trình sau. Đối với các nhân tố vĩ mô tác động đến xuất khẩu nông sản, kết  
quả thực nghiệm không tìm thấy bằng chứng để khẳng định mối quan hệ nhân quả giữa chúng.  
Điều này hàm ý rằng các biến kiểm soát khác có thể vẫn cần phải được thêm vào mô hình ước  
lượng ở những công trình sau.  
5.3. Kiểm định khẳng định  
Kết quả kiểm định đối với mối quan hệ ổn định trong dài hạn giữa xuất khẩu nông  
sản, năng lực logistics quốc gia và các thành phần bằng các kiểm định Kao (MDF , DF , ADF ,  
t
t
t
342  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
UmDF , UDF ), Pedroni (MPP , PP , ADF ), và Westerlund (Variance ratio) (bao gồm và  
t
t
t
t
t
không bao gồm xu hướng thời gian) cho thấy giữa xuất khẩu nông sản, năng lực logistics  
quốc gia và các thành phần có mối quan hệ ổn định trong dài hạn do giá trị p-value < 0,05 đối  
với các kiểm định.  
6. Kết luận và hàm ý chính sách  
Như vậy, bài báo đã khẳng định tính hiệu lực của mô hình trọng lực thương mại mở rộng  
đối với hàng nông sản của Việt Nam. Việc tích hợp năng lực logistics quốc gia và các thành phần  
là phù hợp đối với việc mở rộng mô hình trọng lực thương mại. Tuy nhiên, mối quan hệ nhân  
quả giữa xuất khẩu nông sản, năng lực logistics quốc gia và các thành phần vẫn chưa được khẳng  
định trong trường hợp của Việt Nam bằng các phương pháp ước lượng, mô hình nghiên cứu và  
loại dữ liệu bảng theo đề xuất của nhóm tác giả. Các nhân tố vĩ mô khác cũng chưa cho thấy tác  
động của chúng đối với xuất khẩu nông sản của Việt Nam. Đặc biệt là việc ký kết thành công các  
hiệp định hội nhập kinh tế khu vực chỉ là điều kiện cần để đạt được tăng trưởng xuất khẩu. Các  
chính sách thao túng tỷ giá hối đoái như phá giá đồng nội tệ không giúp tăng trưởng xuất khẩu  
thực chất. Trong dài hạn, xuất khẩu nông sản, năng lực logistics quốc gia và các thành phần có  
mối quan hệ ổn định.  
Từ những bằng chứng thực nghiệm, một số hàm ý chính sách được nhóm tác giả đúc kết.  
Thứ nhất, tăng cường mở rộng thị trường nông sản xuất khẩu nông sản sang các nền kinh tế có  
thu nhập bình quân đầu người cao, đặc biệt là những nông sản mang đặc thù điều kiện tự nhiên  
Việt Nam, đảm bảo các tiêu chuẩn kiểm định động thực vật và các tiêu chuẩn kỹ thuật khác, tránh  
phụ thuộc quá nhiều vào một số thị trường có mức thu nhập bình quân đầu người không cao.  
Thứ hai, chú trọng phát triển năng lực logistics quốc gia một cách toàn diện trong dài hạn hướng  
đến tăng trưởng xuất khẩu nông sản, ví dụ như hệ thống cơ sở hạ tầng kho chứa, bảo quản và  
đóng gói nông sản, ứng dụng công nghệ thông tin tại cửa khẩu, truy xuất thông tin nguồn gốc  
sản phẩm, đảm bảo cạnh tranh công bằng thị trường dịch vụ logistics nông nghiệp. Thứ ba, hỗ  
trợ các hiệp hội ngành hàng nông nghiệp, doanh nghiệp nông nghiệp nội địa và hộ nông dân nâng  
cao năng lực hội nhập, khai thác lợi ích từ các hiệp định thương mại đã và mới vừa được ký kết  
một cách hiệu quả.  
Một số hạn chế của bài báo có thể kể đến như chưa có sự tích hợp của nhiều nhân tố vĩ mô  
khác ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản vào mô hình nghiên cứu, kỹ thuật phân tích dữ liệu bảng  
dạng động (dynamic panel data estimation) chưa được áp dụng dẫn đến khả năng nội sinh của  
mô hình nghiên cứu vẫn còn hiện hữu. Ngoài ra, đối với các trường hợp zero trade khách quan  
giữa hai nước xuất khẩu và nhập khẩu dẫn đến giá trị logarit tự nhiên không tồn tại trong dữ liệu  
bảng thì cần áp dụng các phương pháp ước lượng khác phù hợp hơn thay vì ước lượng tác động  
cố định và tác động ngẫu nhiên. Bên cạnh đó, nhiều nước xuất khẩu hơn cần được đưa vào cơ sở  
dữ liệu thay vì chỉ một trường hợp của Việt Nam nhằm khắc phục hiệu ứng multilateral resistance  
trong nghiên cứu thương mại song phương. Kết quả nghiên cứu của bài báo này sẽ là tiền đề để  
nhóm tác giả mở rộng mô hình trọng lực thương mại theo hướng gia tăng các biến kiểm soát vĩ  
mô, mở rộng cơ sở dữ liệu nước xuất khẩu và vận dụng đa dạng các mô hình ước lượng khác  
nhau đặc biệt là để xử lý vấn đề nội sinh trong mô hình. Những hạn chế này chắc chắn sẽ được  
nhóm tác giả khắc phục để công trình nghiên cứu được hoàn thiện hơn về sau.  
343  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Bensassi, S., Márquez-Ramos, L., Martínez-Zarzoso, I., & Suárez-Burguet, C. (2015), ‘Re-  
lationship between logistics infrastructure and trade: Evidence from Spanish regional  
exports’, Transportation Research Part A: Policy and Practice, 72, 47-61.  
Besedeš, T., & Cole, M. T. (2017), ‘Distorted trade barriers: A dissection of trade costs in  
a “distorted gravity” model’, Review of International Economics, 25(1), 148-164.  
Bottasso, A., Conti, M., de Sa Porto, P. C., Ferrari, C., & Tei, A. (2018), ‘Port infrastructures  
and trade: empirical evidence from Brazil’, Transportation Research Part A: Policy and  
Practice, 107, 126-139.  
Bugarčić, F. Ž., Skvarciany, V., & Stanišić, N. (2020), ‘Logistics performance index in in-  
ternational trade: case of Central and Eastern European and Western Balkans countries’, Business:  
Theory and Practice, 21(2), 452-459.  
Campi, M., & Dueñas, M. (2016), ‘Intellectual property rights and international trade of  
agricultural products’, World Development, 80, 1-18.  
Çelebi, D. (2019), ‘The role of logistics performance in promoting trade’, Maritime Eco-  
nomics & Logistics, 21(3), 307-323.  
Gani, A. (2017), ‘The logistics performance effect in international trade’, The Asian Journal  
of Shipping and Logistics, 33(4), 279-288.  
Hausman, W. H. (2004), ‘Supply chain performance metrics’, in The practice of supply  
chain management: Where theory and application converge (pp. 61-73), Springer, Boston, MA.  
Hausman, W. H., Lee, H. L., & Subramanian, U. (2013), ‘The impact of logistics perform-  
ance on trade’, Production and Operations Management, 22(2), 236-252.  
Kabir, M., Salim, R., & Al-Mawali, N. (2017), ‘The gravity model and trade flows: Recent  
developments in econometric modeling and empirical evidence’, Economic Analysis and Pol-  
icy, 56, 60-71.  
Kahouli, B. (2016), ‘Regional integration agreements, trade flows and economic crisis: A  
static and dynamic gravity model’, International Economic Journal, 30(4), 450-475.  
Kahouli, B., & Maktouf, S. (2015), ‘Trade creation and diversion effects in the Mediter-  
ranean area: Econometric analysis by gravity model’, The Journal of International Trade & Eco-  
nomic Development, 24(1), 76-104.  
Kahouli, B., & Omri, A. (2017), ‘Foreign direct investment, foreign trade and environment:  
New evidence from simultaneous-equation system of gravity models’, Research in International  
Business and Finance, 42, 353-364.  
Lee, H. L., & Whang, S. (2005), ‘Higher supply chain security with lower cost: Lessons  
from total quality management’, International Journal of Production Economics, 96(3), 289-300.  
Leng, Z., Shuai, J., Sun, H., Shi, Z., & Wang, Z. (2020), ‘Do China’s wind energy products  
have potentials for trade with the “Belt and Road” countries?—A gravity model approach’, En-  
ergy Policy, 137, 111172.  
344  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
Martí, L., & Puertas, R. (2017), ‘The importance of export logistics and trade costs in  
emerging economies’, Maritime Economics & Logistics, 19(2), 315-333.  
Martí, L., Puertas, R., & García, L. (2014), ‘The importance of the Logistics Performance  
Index in international trade’, Applied Economics, 46(24), 2982-2992.  
Narayan, S., & Nguyen, T. T. (2016), ‘Does the trade gravity model depend on trading part-  
ners? Some evidence from Vietnam and her 54 trading partners’, International Review of Eco-  
nomics & Finance, 41, 220-237.  
Pöyhönen, P. (1963), ‘A tentative model for the volume of trade between  
countries’, Weltwirtschaftliches Archiv, 93-100.  
Puertas, R., Martí, L., & García, L. (2014), ‘Logistics performance and export competi-  
tiveness: European experience’, Empirica, 41(3), 467-480.  
Tham, S. Y., Khoon Goh, S., Wong, K. N., & Fadhli, A. (2018), ‘Bilateral Export Trade,  
Outward and Inward FDI: A Dynamic Gravity Model Approach Using Sectoral Data from  
Malaysia’, Emerging Markets Finance and Trade, 54(12), 2718-2735.  
Tinbergen, J. (1962), ‘Shaping the world economy; suggestions for an international eco-  
nomic policy’, New York: Twentieth Century Fund Press.  
Yean, T. S., & Yi, A. K. J. (2014), ‘Re-examining the Impact of ACFTA on ASEAN’s Ex-  
ports of Manufactured Goods to China’, Asian Economic Papers, 13(3), 63-82.  
Phụ lục 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất  
Nguồn: Nhóm tác giả.  
345  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
H1: Thu nhập bình quân đầu người nước xuất khẩu tác động thuận chiều đối với xuất  
khẩu nông sản.  
H2: Thu nhập bình quân đầu người nước nhập khẩu tác động thuận chiều đối với xuất  
khẩu nông sản.  
H3: Khoảng cách địa lý giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu tác động nghịch chiều  
đối với xuất khẩu nông sản.  
H4: Khoảng cách về thu nhập bình quân đầu người giữa nước xuất khẩu và nước nhập  
khẩu tác động thuận chiều hoặc nghịch chiều đối với xuất khẩu nông sản.  
H5a: Năng lực logistics nước xuất khẩu tác động thuận chiều đối với xuất khẩu nông sản.  
H5b: Năng lực logistics nước nhập khẩu tác động thuận chiều đối với xuất khẩu  
nông sản.  
H6a: Hiệu quả của quy trình thông quan tại biên giới và thủ tục hải quan của nước xuất  
khẩu tác động thuận chiều đối với xuất khẩu nông sản.  
H6b: Hiệu quả của quy trình thông quan tại biên giới và thủ tục hải quan của nước nhập  
khẩu tác động thuận chiều đối với xuất khẩu nông sản.  
H7a: Chất lượng cơ sở hạ tầng vận tải và thương mại của nước xuất khẩu tác động thuận  
chiều đối với xuất khẩu nông sản.  
H7b: Chất lượng cơ sở hạ tầng vận tải và thương mại của nước nhập khẩu tác động thuận  
chiều đối với xuất khẩu nông sản.  
H8a: Tính cạnh tranh về giá cước của thị trường vận tải nước xuất khẩu tác động thuận  
chiều đối với xuất khẩu nông sản.  
H8b: Tính cạnh tranh về giá cước của thị trường vận tải nước nhập khẩu tác động thuận  
chiều đối với xuất khẩu nông sản.  
H9a: Chất lượng và khả năng cạnh tranh của các dịch vụ logistics của nước xuất khẩu tác  
động thuận chiều đối với xuất khẩu nông sản.  
H9b: Chất lượng và khả năng cạnh tranh của các dịch vụ logistics của nước nhập khẩu  
tác động thuận chiều đối với xuất khẩu nông sản.  
H10a: Khả năng theo dõi và giám sát quá trình vận chuyển các lô hàng của nước xuất  
khẩu tác động thuận chiều đối với xuất khẩu nông sản.  
H10b: Khả năng theo dõi và giám sát quá trình vận chuyển các lô hàng của nước nhập  
khẩu tác động thuận chiều đối với xuất khẩu nông sản.  
H11a: Sự tuân thủ về thời gian giao hàng của nước xuất khẩu tác động thuận chiều đối  
với xuất khẩu nông sản.  
H11b: Sự tuân thủ về thời gian giao hàng của nước nhập khẩu tác động thuận chiều đối  
với xuất khẩu nông sản.  
H12: Hội nhập kinh tế khu vực giữa nước xuất khẩu và nước nhập khẩu tác động thuận  
chiều đối với xuất khẩu nông sản.  
346  
INTERNATIONAL CONFERENCE FOR YOUNG RESEARCHERS IN ECONOMICS & BUSINESS 2020  
ICYREB 2020  
H13: Biến động tỷ giá hối đoái của nước nhập khẩu tác động thuận chiều đối với xuất  
khẩu nông sản.  
H14: Vị trí địa lý không giáp biển của nước nhập khẩu tác động nghịch chiều đối với xuất  
khẩu nông sản.  
Phụ lục 2: Kết quả hồi quy của mô hình nghiên cứu với biến năng lực logistics quốc gia  
(OLPI)  
lnAGREX  
Pooled OLS  
.7930508**  
FE  
.9023488*** .9562314**** .9474738***  
(0.000) (0.000) (0.000)  
.6833252*** .6249418*** .3635316**  
FE’  
RE  
ijt  
lnGDPpc  
it  
(0.020)  
-.2431966  
(0.102)  
lnGDPpc  
jt  
(0.002)  
-.0533348  
(0.391)  
.1937761  
(0.263)  
0
(0.005)  
-.0563803  
(0.364)  
.0350406  
(0.850)  
0
(0.016)  
-.1100455  
(0.222)  
-.0743545  
(0.227)  
lnD_GDPpc  
ijt  
-.0256767  
(0.464)  
.0053579  
(0.936)  
lnEXG  
jit  
-.9317525***  
(0.000)  
-1.251827***  
(0.000)  
lnDIST  
ij  
-
-
.7842812  
(0.781)  
-1.410527  
(0.246)  
.5295164  
(0.379)  
-.1811811  
(0.604)  
0
-1.791777  
(0.179)  
.3767272  
(0.533)  
-.1938181  
(0.579)  
0
-1.012947  
(0.411)  
lnOLPI  
it  
jt  
6.223147***  
(0.000)  
1.075537*  
(0.065)  
lnOLPI  
.2592634  
(0.136)  
.1377853  
(0.602)  
RTA  
ijt  
-2.431056***  
(0.000)  
-2.897134***  
(0.000)  
LAND  
j
-
-
11.09815***  
(0.001)  
7.808579*** 9.516057*** 20.03843***  
Constant  
(0.000)  
No  
(0.000)  
Yes  
(0.000)  
Time-fixed  
Observations  
R-squared  
563  
563  
563  
563  
0.4444  
0.0390  
0.0414  
0.3892  
F-test: Prob > F = 0.0000  
Hausman test: Prob>chi2 = 0.0000  
Testparm: Prob > F = 0.1096  
Xttest0: Prob > chibar2 = 0.0000  
*, **, và *** tương ứng với các mức ý nghĩa 10%, 5%, và 1%.  
Nguồn: Nhóm tác giả.  
347  
pdf 13 trang Thùy Anh 12360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Xuất khẩu nông sản và năng lực Logistics: Bằng chứng thực nghiệm từ Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfxuat_khau_nong_san_va_nang_luc_logistics_bang_chung_thuc_ngh.pdf