Văn hóa vật chất qua địa danh của vùng Cái Răng thời Pháp thuộc

TẠP CHÍ KINH TẾ - CÔNG NGHIỆP  
Số 28 – Tháng 07/2021  
VĂN HÓA VẬT CHẤT QUA ĐỊA DANH CỦA VÙNG CÁI RĂNG  
THỜI PHÁP THUỘC  
Material culture through the place-names of Cai Rang region  
in French colonial period  
Nguyễn Thuý Diễm1  
1Giảng viên khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Tây Đô, Cần Thơ, Việt Nam  
Tóm tắt — Văn hóa qua địa danh là một trong những hướng tiếp cận mới nhằm khai thác những giá  
trị văn hóa vật chất và tinh thần của những tên gọi địa lý của địa phương. Trên cơ sở tiếp cận lý thuyết  
nghiên cứu ngôn ngữ văn hóa, lý thuyết vùng văn hóa với phương pháp điều tra điền dã, phỏng vấn, tác  
giả tìm hiểu những đặc điểm văn hóa vật chất biểu hiện qua địa danh của vùng Cái Răng thời Pháp  
thuộc. Cụ thể trên các lĩnh vực phương tiện đi lại, sản xuất nông nghiệp, sản xuất tiểu thủ công nghiệp  
và các xóm nghề truyền thống, góp phần bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa vật chất ẩn chứa qua  
địa danh tồn tại ở vùng Cái Răng từ năm đầu thế kỷ XX đến năm 1945.  
Abstract — Culture through place-names is one of the new approaches to exploit the physical and  
spiritual cultural values of the geographical names of the locality. On the basis of approaching cultural  
language research theory, cultural area theory with fieldwork investigation methods, interviews, the  
author research the cultural and material characteristics expressed through the place-names of Cai Rang  
area in French colonial period. Specifically in the fields of means of transport, agricultural production,  
handicraft production and traditional craft villages, contribute to preserving and promoting the cultural  
and material values hidden through the place that existed in Cai Rang area from the first year of the  
twentieth century to 1945.  
Từ khóa — Văn hóa vật chất, địa danh, Cái Răng thời Pháp thuộc, material culture, place-name.  
1. Giới thiệu  
Vùng Cái Răng ngay từ đầu thế kỉ XX được đánh giá là một trong những vùng đất phì  
nhiêu, màu mỡ, đi đầu trong công cuộc khai phá, phát triển nhiều lĩnh vực và tạo nên nhiều  
điểm nhấn trong thời Pháp thuộc. Những địa danh xuất hiện và tồn tại ở vùng Cái Răng giai  
đoạn này đã ghi lại những đặc điểm, sự kiện, con người, biến cố xã hội,… xảy ra trong  
khoảng nửa thế kỷ dưới ách đô hộ thời kỳ Pháp thuộc. Đó là những “tấm bia lịch sử - văn  
hóa” lưu giữ những giá trị văn hóa đặc sắc, đặc biệt là văn hóa vật chất, phản ánh những sản  
phẩm phục vụ cho nhu cầu vật chất của người dân nơi đây.  
Tuy nhiên, hiện nay nhiều địa danh giai đoạn này đã dần bị mai một, đa phần là địa danh  
dân gian, tồn tại trong các tư liệu lịch sử và kí ức của những người lớn tuổi, giới trẻ ít khi biết  
đến. Nghiên cứu văn hóa vật chất qua địa danh vùng Cái Răng thời Pháp thuộc còn góp phần  
gìn giữ, bảo tồn các giá trị văn hóa tồn tại trong địa danh, hỗ trợ cho công tác giáo dục truyền  
thống, lịch sử cho thế hệ trẻ tại địa phương.  
2. Nội dung  
2.1. Khái quát về văn hóa vật chất  
Theo Hoàng Nam (2014), văn hóa được phân chia thành ba loại hình: Văn hóa vật chất,  
văn hóa tinh thần và văn hóa xã hội. Trong đó văn hóa vật chất bao gồm các thành tố cơ bản  
là địa bàn cư trú (làng), nhà ở, trang phục, ẩm thực, phương tiện đi lại và phương tiện di  
chuyển của một dân tộc. Trần Ngọc Thêm (2013) cho rằng:  
33  
TẠP CHÍ KINH TẾ - CÔNG NGHIỆP  
Số 28 – Tháng 07/2021  
Văn hóa vật chất bao gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất vật chất của  
con người tạo ra đồ ăn, đồ mặc, nhà cửa, đồ dùng sinh hoạt hằng ngày, công cụ sản xuất,  
phương tiện đi lại trong đó hoạt động sản xuất vật chất thuộc dạng văn hóa vật chất (vì loại  
hoạt động này phải sử dụng nhiều năng lực cơ bắp, mồ hôi,...). Còn văn hóa tinh thần bao  
gồm toàn bộ những sản phẩm do hoạt động sản xuất tinh thần của con người tạo ra tư tưởng,  
tín ngưỡng - tôn giáo, nghệ thuật, lễ hội, phong tục, đạo đức, ngôn ngữ, văn chương.  
Vì giữa văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần khó có sự phân biệt thật minh bạch, rạch ròi  
nên tùy vào những mục đích khác nhau và có những tiêu chí khác nhau.  
Trong khuôn khổ nghiên cứu này, tác giả thống nhất với quan niệm của nhà nghiên cứu  
Trần Ngọc Thêm (2013), về khái niệm văn hóa vật chất và tập trung tìm hiểu đối tượng là các  
thành tố văn hóa vật chất thể hiện qua địa danh ở vùng Cái Răng thời Pháp thuộc.  
2.2. Biểu hiện của văn hóa vật chất qua địa danh ở vùng Cái Răng thời Pháp thuộc  
Bằng phương pháp thống kê, phân loại và phương pháp lịch sử, điều tra điền dã, tác giả  
thu thập được khoảng 334 địa danh đã từng tồn tại thời Pháp thuộc trên địa bàn vùng Cái  
Răng.  
Bảng 1. Phân loại địa danh  
STT  
Loại địa danh  
Số lượng  
Tỉ lệ  
1
2
3
4
Địa danh chỉ địa hình  
172  
17  
94  
51%  
5%  
28%  
16%  
Địa danh hành chính  
Địa danh chỉ công trình xây dựng  
Địa danh vùng  
51  
Tổng  
334  
100%  
Nguồn: Tác giả tổng hợp.  
2.2.1. Về phương tiện đi lại:  
Ghe xuồng không chỉ là phương tiện đi lại cần thiết mà còn là cộng cụ đắc lực trong sản  
xuất lúa gạo, làm rẫy, làm vườn. Đây là loại phương tiện di chuyển tiêu biểu, đặc trưng cho  
xứ Cái Răng nhiều sông rạch. Nghề đóng ghe xuồng phát triển khá mạnh, quy tụ thành những  
xóm nghề làm ăn phát đạt như xóm Ghe ở rạch Cái Sơn, các trại ghe ở Phong Điền – Vàm  
Xáng – Cái Sơn nổi tiếng khắp miền Tây nhờ loại ghe tam bản.  
Không chỉ vậy, người dân còn đóng được cả xuồng ba lá, ghe chài, ghe lườn, ghe cà dom  
chở được cả ngàn giạ lúa. Phong Điền nổi tiếng với trại ghe của ông thợ Ky với kĩ thuật đóng  
ghe hầu (loại ghe sang trọng dành cho các ông chủ, ông cả, ông cai và các ông điền chủ). Các  
xóm Ghe ăn nên làm ra nhờ kỹ thuật tinh xảo, được nhiều khách hàng khắp cả miền Tây ưa  
chuộng, tạo tiếng vang cho nghề đóng ghe xuồng tại Phong Điền nói riêng, Cái Răng nói  
chung.  
Theo ghi chép của tác giả, các thợ mộc địa phương kể lại ngày xưa những người đóng  
ghe xuồng chủ yếu làm bằng thủ công, dần dần về sau mới được trang bị nhiều loại công cụ  
mới, hỗ trợ sức lao động và giúp tăng năng suất (có khi một ngày đóng xong một chiếc). Quá  
trình làm ra một sản phẩm ghe xuồng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: Nhu cầu thị trường,  
nguồn vật liệu gỗ, tay nghề và giá cả. Tuy nhiên, xóm nghề hiện nay phải đối mặt với thời kỳ  
suy thoái do đường bộ được đầu tư mạnh, đường giao thông nông thôn được hoàn thiện đến  
tận xóm ấp, người dân thường sử dụng xe gắn máy để đi lại và vận chuyển hàng hóa nên thị  
trường tiêu thụ xuồng ghe thu hẹp nhanh chóng.  
Hơn nữa, mực nước trong mùa nước nổi những năm gần đây thường không ổn định, ảnh  
hưởng đến sức mua ghe xuồng để đánh bắt thủy sản. Cùng với đó, những địa danh gắn với  
xóm nghề đóng ghe xuồng ở Phong Điền – Cái Răng cũng chỉ còn tồn tại trong kí ức của  
người lớn tuổi ở địa phương.  
34  
TẠP CHÍ KINH TẾ - CÔNG NGHIỆP  
Số 28 – Tháng 07/2021  
Khi Pháp lập hạt Cần Thơ, rồi tỉnh Cần Thơ thì tiến trình đô thị hóa bắt đầu diễn ra mạnh  
mẽ. Làng Tân An trở thành nội ô, thúc đẩy nhu cầu đi lại, giao thương, giao dịch hành chính,  
làm việc, học hành,… Bến tàu Lục Tỉnh, cầu tàu Lục Tỉnh tại bến Thương Mại là minh chứng  
sống động nhất. Khi các tuyến giao thông đường thủy dân dụng từ Cần Thơ đến các khu vực  
lân cận (Cái Vồn, Trà Ôn, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Rạch Giá, Cà Mau,…) và ngược lại bắt đầu  
nhộn nhịp, Pháp đầu tư xây dựng thêm nhiều cầu tàu dọc đường Mé Sông (khu vực đường  
Hai Bà Trưng – Nguyễn Thị Minh Khai ngày nay), điển hình là bến tàu Lục Tỉnh. Gọi là bến  
tàu Lục Tỉnh vì nơi đây hàng ngày có rất nhiều tàu chở khách từ Cần Thơ đi các tỉnh và  
ngược lại. Tại bến tàu này có xây dựng một cây cầu tàu hình chữ T nhô ra ngoài sông Cần  
Thơ cho tàu lên xuống hành khách, hàng hóa. Do địa hình phía bờ đất không được bằng  
phẳng nên nhìn cây cầu tàu này có vẻ lệch xéo ra sông nên người ta gọi là cầu Xéo. Bà con  
cất nhà xung quanh đó dần hình thành nên xóm Cầu Xéo ngày càng đông đúc. Tên gọi ngã ba  
Cầu Xéo đến nay vẫn còn được nhắc tới.  
Để phục vụ cho hàng trăm chiếc tàu tới lui mỗi ngày, nhiều nơi cung cấp củi và xăng dầu  
trải dài theo tuyến bờ sông. Nằm dọc theo bờ sông Cần Thơ có một hãng củi lớn, tại đây có  
bắc cây cầu ra ngoài để ghe tàu cập bến cung ứng củi cho các tàu chạy bằng than (nồi sốt de)  
nên dân gian gọi là cầu Củi. Dân cư tụ họp quanh đây hình thành nên xóm Cầu Củi. Ngoài ra,  
dịch vụ cung ứng xăng dầu cũng ra đời.  
Theo đường Mé Sông, sâu vô tận khu vực đối diện chợ Cái Răng, còn có một cầu tàu của  
công ty Đường Sông chuyên cung ứng xăng, dầu cho các tàu của Hải quân, hay tàu của các cơ  
quan hành chính của Pháp trú đóng tại Cần Thơ, còn gọi là cầu tàu Hoa Kiều. (Nhâm Hùng,  
2017).  
Nhìn chung, những địa danh như bến tàu Lục Tỉnh, bến tàu Nam Vang, cầu tàu Lục Tỉnh,  
cầu Xéo, cầu Củi, cầu tàu Hoa Kiều và hình ảnh những chiếc tàu thủy đã làm nổi bật hình ảnh  
đô thị Cái Răng (Cần Thơ) buổi đầu với nếp sinh hoạt giao thông hiện đại, trước giờ chưa  
từng thấy, biểu trưng cho sự trù phú của các đô thị sông nước đồng bằng, trong đó làng Tân  
An là tiêu biểu nhất.  
Ngay từ khi các trục đường lớn được mở ra thì xe ngựa chính là dịch vụ chở khách bộ  
hành ra đời đầu tiên. Hoạt động của các xe ngựa, các chủ xe ngựa, các xóm nuôi ngựa thịnh  
hành nhất vào nửa đầu thế kỉ XX, đánh dấu một chặng đường trong đời sống xã hội và hoạt  
động đi lại của bà con vùng Cái Răng nói riêng và Cần Thơ nói chung. Tên gọi dân gian được  
nhiều người cao tuổi vẫn còn nhớ là bến Ngựa Đái, bến xe Kiếng (nay là ngã ba Phan Đình  
Phùng – Tân Trào). Gọi là bến xe Kiếng vì vách hông hai bên xe được lồng kiếng, vừa sáng  
lại vừa che mưa chắn gió. Mặt khác, người dân không quen dùng từ “xe thổ mộ” bởi cái mui  
khum khum như “gò mã” theo cách nói của người Sài Gòn, Đồng Nai, Tây Ninh, Biên Hòa  
hay nơi khác nên gọi là xe kiếng cho nhẹ nhàng và sang trọng.  
Ngoài xe ngựa, xe kéo, xe đạp, xe lôi thì xe đò (xe khách) dù là dịch vụ ra đời muộn hơn  
(xuất hiện vào cuối thập niên 20 và phổ biến vào khoảng thập niên 30 – 40 của thế kỉ XX)  
nhưng lại thu hút nhiều hành khách và nhiều nhà đầu tư. Năm 1924, tại Cần Thơ, có đến 14  
tuyến xe đò từ Cần Thơ đi các tỉnh. Địa danh cầu Sáu Thanh là minh chứng cho sự phát triển  
mạnh mẽ của loại hình xe đò ở vùng Cái Răng xưa ở thập niên giữa thế kỉ XX. Gọi là cầu Sáu  
Thanh vì cây cầu này cạnh biệt thự của Sáu Thanh, ông vua xe đò Vạn Lợi miền Tây. Nhân  
vật này được biết đến như một ông trùm xe đò lúc bấy giờ.  
Có thể nói, những địa danh tiêu biểu kể trên góp phần minh chứng cho diện mạo đô thị  
Cần Thơ nói chung, vùng Cái Răng thời Pháp thuộc nói riêng. Trong khoảng hơn nửa thế kỷ  
hình thành đô thị mới, người dân vùng Cái Răng đã chứng kiến những thành tựu vượt bậc của  
“văn minh tàu bè, xe cộ”, phương tiện đi lại mang đến nhiều tiện ích trong giao thông đường  
thủy lẫn đường bộ, góp phần nâng cao đời sống vật chất của con người Cái Răng - Tây Đô  
đầu thế kỉ XX.  
35  
TẠP CHÍ KINH TẾ - CÔNG NGHIỆP  
2.2.2. Về sản xuất nông nghiệp:  
Số 28 – Tháng 07/2021  
Lúa gạo là đặc sản nổi tiếng nhất, gắn bó nhất với con người Cần Thơ. Từ thời mở đất,  
các cánh đồng ở Cái Răng được xem là một trong những vựa lúa của Cần Thơ. Nhiều địa  
danh gắn với tập quán trồng lúa nước ở Cần Thơ như xẻo Lúa, rạch Xẻo Lúa, rạch Ruộng,…  
Câu ca dao xưa từng ghi nhận đây là một vùng phong phú về sản lượng lúa gạo:  
“Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền  
Anh có thương em thì cho bạc cho tiền  
Đừng cho lúa gạo xóm giềng cười chê”.  
Thêm nữa, nhiều kênh xáng được khởi đào như kênh Xáng Xà No khai thác hàng ngàn  
mẫu đất hoang đưa vào canh tác lúa, sản lượng lúa gạo tăng lên đáng kể, đứng đầu cả vùng  
Nam Kỳ: “Chỉ hơn 5 năm sau ngày kênh Xáng Xà No đào xong, mức sản xuất lúa của Cần  
Thơ lên đến 116.000 tấn mỗi năm, đứng nhứt Nam Kỳ” (Sơn Nam, 2018). Vùng Cái Răng đào  
thêm kênh Trà Ết (Trà Ếch) năm 1902, vét kênh Vàm Bi (1909 – 1910), kênh Thạnh Đông,  
kênh Chệt Thợ,… Các kênh đào ngoài việc khai thác được đất bỏ hoang, thoát nước ngập úng  
còn tận dụng được nước ngọt để tưới tiêu, vận chuyển lúa gạo sau thu hoạch, mở rộng giao  
thông đường thủy và phục vụ phát triển nông thôn mạnh mẽ.  
Ngoài sản xuất lúa gạo, canh tác trên đất rẫy cũng là một phương thức sản xuất nông  
nghiệp khá phổ biến ở Cái Răng thời Pháp thuộc. Ở miệt Phong Điền nổi tiếng có rạch Rẫy,  
tập trung bà con trồng rẫy trên những khoảng đất được đào từ mặt ruộng cặp bờ rạch. Các  
xóm Rẫy do người Hoa canh tác quanh năm ở vùng Cái Sơn – Hàng Bàng cung cấp một  
lượng lớn hoa màu ngắn ngày như mía, đậu, khóm, bầu, bí, rau,… tại các chợ đầu mối quanh  
vùng.  
Miệt vườn Phong Điền – Cái Răng nằm ở hai bên bờ sông Cần Thơ đoạn từ Cái Răng đến  
Ba Se. Đây là vùng đất màu mỡ với hệ thống kênh rạch chằng chịt tạo thành hệ thống dẫn  
nước và giao thông đường thủy dài hàng trăm cây số len lỏi tận các xóm ấp, khu vườn, xóm  
rẫy, nổi tiếng là xứ trái cây, đặc biệt là cam, quýt.  
Nhiều địa danh mang tên các con mương hình thành trong quá trình lên liếp, lập vườn  
xuất hiện rạch Mương Đình, rạch Mương Bố, rạch Mương Điều, rạch Mương Khai, rạch  
Mương Củi, cầu Mương Khai, cầu Mương Cao (Cau),… Tên của các loại trái cây phổ biến  
cũng xuất hiện nhiều trong địa danh như rạch Mương Điều, giồng Ổi, rạch Cái Chanh, chợ  
Cái Chanh, rạch Cam, rạch Chuối, rạch Điều,…  
Như vậy, miệt vườn Phong Điền – Cái Răng có thể nói là nổi tiếng thời đó, hình thành từ  
triều Nguyễn, khi người Pháp đến nơi đây đã mở mang trên phạm vi rộng lớn mà cái nôi nằm  
dọc theo tuyến Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Phong Điền.  
2.2.3. Về sản xuất tiểu thủ công nghiệp và các xóm nghề truyền thống:  
Về sản xuất tiểu thủ công nghiệp vùng Cái Răng xưa nổi tiếng với các lò gạch, lò rèn với  
các sản phẩm đươc người dân gần xa ưa chuộng. Cần Thơ đầu thế kỉ XX bước vào giai đoạn  
đô thị hóa. Nhiều công trình kiến trúc, nhà ở dân dụng mọc lên nhanh chóng. Vùng Cái Răng  
thời Pháp thuộc phát triển chủ yếu là các lò gạch cung cấp gạch, ngói phục vụ nhu cầu cho địa  
phương, điển hình là xóm Lò Gạch ở Phong Điền, xóm Lò Gạch ở Cái Răng. Riêng vùng Cái  
Răng có gần 7 lò gạch mà vẫn không đủ gạch ngói cho thị trường. Đặc biệt, vùng đất cặp bờ  
sông Hậu là đất sét nên tạo điều kiện thuận lợi cho nghề tiểu thủ công nghiệp này phát triển,  
nhất là dãy đất gần rạch Cái Đôi, Cái Sâu, Xóm Chài dài đến Cái Đôi, Phú Hữu là nổi tiếng  
nhất: “Thời ấy, gạch Cái Sâu, gạch Phú Hữu nổi tiếng khắp Nam Kỳ. Ngoài ra còn có các lò  
gạch Sanh Xương, Nhơn Xương, Nguyên Xương, Đức Hòa Hưng cũng được ưa chuộng”  
(Nhâm Hùng, 2007).  
36  
TẠP CHÍ KINH TẾ - CÔNG NGHIỆP  
Số 28 – Tháng 07/2021  
Ngoài ra, nhiều lò rèn cũng mọc lên từ rất sớm và làm ăn khá phát đạt để đáp ứng nhu  
cầu của bà con quanh vùng, chủ yếu là công cụ lao động như lưỡi cày, lưỡi, lưỡi liềm, phảng,  
cù nèo,... Hoặc những vật dụng cần thiết trong nhà như dao, búa, kéo. Giải thích về địa danh  
cầu Lò Rèn, rạch Lò Rèn ở Phong Điền, Trần Văn Nam và cộng sự (2019) là tác giả của  
“Truyện dân gian Cần Thơ” cho rằng:  
Vùng Giai Xuân trước đây có gia đình ông Nguyễn Văn Lâm và gia đình bà Tổng từ  
miền Trung đi thuyền độc mộc đến khai hoang lập nghiệp trước tiên. Do biết nghề từ lúc ở  
quê, ông Lâm có thể tự mình rèn dao, mác, phảng,… để có công cụ sinh hoạt và sản xuất.  
Cuối đời ông Lâm, ông có dựng lên một lò rèn và truyền nghề lại cho con cháu để phục vụ  
cho nhu cầu của bà con trong vùng. Từ đó con rạch nơi ông mở lò rèn đã thành tên luôn như  
ngày hôm nay.  
Về các xóm nghề ở Cái Răng thời Pháp thuộc còn xuất hiện 22 “xóm nghề” sản xuất  
dụng cụ sinh hoạt hoặc thực phẩm truyền thống, thường tập trung ở ngoại vi phố chợ. Mỗi  
xóm thường tập trung những hộ gia đình làm chung ngành nghề. Sản xuất dụng cụ sinh hoạt  
có xóm Ghe (chuyên đóng ghe xuồng), xóm Thúng (chuyên đan thúng, rỗ, cần xé), xóm  
Chiếu (chuyên dệt chiếu),...  
Xóm Chiếu ở Cái Răng là xóm nghề được hình thành khá lâu, đến nay vẫn còn tồn tại. Từ  
đầu thời Pháp thuộc, chiếu Cái Răng (hay chiếu Thường Thạnh) nổi tiếng gần xa vì bắt mắt,  
độ bền cao. Ngày nay, theo ghi nhận của tác giả, trong quá trình hội nhập và phát triển, những  
chiếc máy dệt đã được đưa vào sản xuất, giải phóng sức lao động, mang lại thu nhập ổn định  
cho người dân. Tuy nhiên, theo bà con, việc thay thế những khung dệt truyền thống phần nào  
làm giảm đi nét đẹp của làng nghề.  
Xóm Thúng ra đời từ thập niên 40 của thế kỷ XX bắt đầu từ ba chiếc ghe bầu từ miền  
ngoài vô cứ vào tháng 8, tháng 10 hàng năm.  
Tại Cái Răng, họ trụ lại mua tre trúc, mướn thêm nhân công rồi tổ chức đương thúng, nia,  
sàn, rổ rồi mang ra chợ Cái Răng bán. Dần dần thấy làm ăn được, học định cư luôn tại đây  
hình thành nên Xóm Thúng (Nhâm Hùng, 2007).  
Trước khi công nghiệp xay xát phát triển, tại vàm Rạch Vông dài đến kênh Cai Cẩm đã  
hình thành một khu xóm Bảy Hộ chuyên nghề đóng cối xay lúa.  
Về sản xuất thực phẩm, vùng Cái Răng giai đoạn này có xóm Lò Tương (chuyên ủ tương  
hột, nước tương), xóm Lò Bánh, xóm Lò Nem, xóm Bánh Tráng, xóm Giá (chuyên sản xuất  
giá sống), xóm Lò Bún,… Sản phẩm được bán ra khắp nơi, chủ yếu là cung cấp cho chợ Cái  
Răng, chợ Cần Thơ, đến cả chợ Cái Tắc, Rạch Ròi. Hầu hết chủ nhân của các “lò” chế biến  
thực phẩm là bà con người Hoa lập nên. Vùng Cái Răng thời Pháp thuộc nổi tiếng với các lò  
tương lớn như lò Hứa Hưng Long bên Xóm Chài cung cấp cho chợ Cần Thơ, lò tương Nam  
Hưng Lợi ở gần chợ Cái Răng.  
Ngoài ra, có 4 xóm nghề cùng làm nghề hạ bạc, tức nghề chài lưới, giăng câu, đóng đáy  
là xóm Câu, xóm Chài, xóm Lưới, xóm Đáy. Các xóm nghề này tập trung chủ yếu ở vùng Cái  
Răng, Phong Điền. Tuy nhiên, do sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường,  
những xóm nghề nêu trên đa phần đã mai một do không còn người sử dụng sản phẩm của họ  
hoặc thế hệ con cháu không theo nghề nữa. Đó cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến  
sự mất dần của các địa danh mang tên xóm nghề hoặc trở thành địa danh dân gian.  
3. Kết luận  
Nghiên cứu văn hóa qua địa danh nhằm giải mã những thành tố văn hóa ẩn chứa trong  
các địa danh ở địa phương. Tìm hiểu văn hóa vật chất qua địa danh vùng Cái Răng thời Pháp  
thuộc không nằm ngoài mục đích tìm hiểu đời sống của người dân Cái Răng qua các địa danh  
37  
TẠP CHÍ KINH TẾ - CÔNG NGHIỆP  
Số 28 – Tháng 07/2021  
chỉ phương tiện đi lại, sản xuất nông nghiệp, sản xuất tiểu thủ công nghiệp và các xóm nghề  
truyền thống trong giai đoạn hơn 50 năm đầu thế kỉ XX.  
Hiện nay, công tác bảo tồn những địa danh chứa các thành tố văn hóa vật chất ở vùng Cái  
Răng thời Pháp thuộc đang gặp rất nhiều khó khăn do trải qua thời gian dài, nhiều thực thể  
văn hóa không còn tồn tại, ý thức tìm hiểu lịch sử địa phương của giới trẻ còn khá kém,…  
Theo tác giả, có thể dùng những địa danh này để đặt tên cho những công trình xây dựng (cầu,  
đường, công viên, chợ,…) mới hình thành trên địa bàn, hoặc thay thế cho những địa danh  
hành chính (khu vực, phường,…) hiện đang sử dụng địa danh bằng số. Bên cạnh đó, có thể  
lồng ghép và tái hiện các hoạt động của xóm nghề trong ngày hội văn hóa chợ nổi Cái Răng  
hàng năm, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu,… Nhằm lưu giữ những giá trị văn hóa mà những địa  
danh ở vùng Cái Răng giai đọan này mang lại, đặc biệt hướng tới ý thức tìm hiểu văn hóa,  
lịch sử của thế hệ trẻ tại địa phương.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Hoàng Nam (2014). Nhân học văn hóa Việt Nam: Tiền đề và phương pháp tiếp cận. NXB Khoa  
học Xã hội, Hà Nội.  
[2] Nguyễn Liên Phong và Nguyễn Q. Thắng (2012). Nam Kỳ phong tục nhơn vật diễn ca. NXB Văn  
học, Hà Nội.  
[3] Nguyễn Thuý Diễm (2018). Tìm hiểu các thành tố văn hóa thời Pháp thuộc qua địa danh thành  
phố Cần Thơ. Hội thảo khoa học Văn hóa và văn học Nam Bộ trong thời kỳ hội nhập. NXB Khoa  
học Xã hội, Hà Nội.  
[4] Nhâm Hùng (2007). Cái Răng hình thành và phát triển. NXB Trẻ, TPHCM.  
[5] Nhâm Hùng (2017). Cần Thơ phố cũ nét xưa. NXB Trẻ, TPHCM.  
[6] Sơn Nam (2018). Đồng bằng Sông Cửu Long - Nét sinh hoạt xưa và văn minh miệt vườn. NXB  
Trẻ, TPHCM.  
[7] Trần Ngọc Thêm (2013). Những vấn đề văn hoá học lý luận và ứng dụng. NXB Văn hoá - Văn  
nghệ TPHCM.  
[8] Trần Văn Nam - chủ biên (2019). Truyện dân gian Cần Thơ. NXB Đại học Cần Thơ, thành phố  
Cần Thơ.  
Ngày nhận: 22/03/2021  
Ngày duyệt đăng: 24/06/2021  
38  
pdf 6 trang Thùy Anh 17880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Văn hóa vật chất qua địa danh của vùng Cái Răng thời Pháp thuộc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvan_hoa_vat_chat_qua_dia_danh_cua_vung_cai_rang_thoi_phap_th.pdf