Bước đầu tìm hiểu ông đạo nằm trên Cù Lao Giêng, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang

106  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
*
LÊ THU VÂN  
BƯỚC ĐẦU TÌM HIỂU ÔNG ĐẠO NẰM TRÊN CÙ LAO  
GIÊNG, HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG  
Tóm tắt: Vốn là một nhân vật thuộc dòng “ông Đạo” Nam Bộ  
nổi tiếng một thời, hình tượng ông Đạo Nằm Trần Văn Thế  
trong một thời gian dài đã chi phối đời sống văn hóa tâm linh  
của cư dân vùng cù lao Giêng, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.  
Do nhiều nguyên nhân, dần dần cách nghĩ và cách hiểu của  
nhiều người về ông không giống nhau, đôi khi có chỗ sai lệch.  
Chúng tôi cho rằng, từ một danh xưng ông Đạo đại trà trở  
thành hiện tượng tôn giáo - tín ngưỡng cho cả một vùng đất lâu  
đời ắt hẳn phải có điều thâm sâu huyền diệu nào đó. Nếu không  
có duyên cơ và tạo dựng được thanh thế cùng với những hoạt  
động góp công xây dựng quê hương thì có lẽ ông Đạo Nằm  
không được người đời lưu ý lâu đến vậy. Chúng tôi thiết nghĩ,  
đây là một vấn đề cần nghiên cứu tường tận nhằm đem lại thông  
tin mới đáng tin cậy cho nguồn tài liệu tham khảo văn hóa -  
nhân vật của địa phương. Do vậy, trong bài viết này, chúng tôi  
đặc biệt chú trọng về tiểu sử, hành trạng và tầm ảnh hưởng của  
ông Đạo Nằm trong khu vực nhằm bước đầu định lập và tạo  
dựng cơ sở về vấn đề kết tụ và lan tỏa hình tượng của Ông ở cù  
lao Giêng.  
Từ khóa: Cù lao Giêng; Ông Đạo Nằm; Trần Văn Thế; Thành  
Hoa Tự.  
Giới thiệu  
Xét về vị trí địa lý và lịch sử hình thành, cù lao Ông Chưởng và cù  
lao Giêng thuộc huyện Chợ Mới đều là biểu tượng cội rễ của văn hóa  
vùng sông nước cù lao tỉnh An Giang, đặc biệt trên phương diện tôn  
* Đại học An Giang.  
Ngày nhận bài: 06/12/2018; Ngày biên tập: 31/12/2018; Ngày duyệt đăng: 15/01/2019.  
Lê Thu Vân. Bước đầu tìm hiểu ông Đạo Nằm  
…
107  
giáo - tín ngưỡng, rất đáng tìm hiểu và nghiên cứu. Nếu như vùng cù  
lao Ông Chưởng đã từng xuất hiện dấu vết của ông đạo Kiến với một  
tiểu sử còn nhiều điều chưa rõ thì ở cù lao Giêng cũng góp mặt một  
ông đạo mà tên tuổi gắn liền với sự hình thành ngôi chùa Thành Hoa  
(tọa lạc tại xã Tấn Mỹ) như một chứng tích sống động khẳng định vị  
thế của ông trên vùng cù lao này. Đó là ông Đạo Nằm Trần Văn Thế.  
1. Sơ lược về các ông đạo Nam Bộ  
Dựa trên những chứng liệu lịch sử, ông đạo - một danh xưng đậm  
đặc yếu tố tôn giáo, có thể được xem là một hiện tượng văn hóa đặc  
thù ở Nam Bộ vào nửa sau thế kỷ XIX đến nửa đầu thế kỷ XX với một  
lớp người có các hành vi, lời nói lạ liên quan đến thế giới tâm linh  
theo một góc độ nhận thức riêng mà theo tác giả Phạm Bích Hợp thì  
khái niệm các ông đạo “là để chỉ những người có khả năng đặc biệt,  
như: khả năng chữa bệnh, khả năng tập hợp quần chúng, khả năng  
huyền linh, dẫn dắt mọi người theo một chủ thuyết nào đó. Tóm lại, là  
người có khả năng làm những điều mà người bình thường không làm  
được, và mang màu sắc thần bí”1. Thông thường, ngoài những thông  
tin ít ỏi về thân thế thì hầu như hành trạng của các ông đạo đều được  
thêm nhiều chi tiết linh diệu tùy thuộc mức độ nổi tiếng và tầm ảnh  
hưởng của ông đạo đó, lan truyền phổ biến trước hết bằng hình thức  
truyền miệng, sau đó khi được ghi chép lại nhưng những yếu tố lạ  
lùng đôi lúc xếp lên hàng kỳ diệu vẫn bủa vây xung quanh cuộc đời  
họ. Những ông đạo khi ấy nổi lên trên lớp người nông dân bình  
thường với những dấu hiệu linh dị từ hình dáng, cử chỉ khác lạ, lời nói  
khi hư khi thực đến phương thức chữa bệnh đôi khi đơn giản đôi khi  
kỳ quái có pha chút ít bùa phép và dựa vào niềm tin, bái phục của  
người bệnh. Đó là dấu hiệu phát tích sự phản kháng nhanh chóng về  
mặt tâm linh trong lòng xã hội Nam Bộ thời kỳ kháng chiến chống  
Pháp. Việc xuất hiện kịp thời của những ông đạo - vốn là những con  
người cụ thể vừa gần gũi vừa linh dị trong không khí ngột ngạt ở Nam  
Bộ thời ấy, hẳn nhiên trở thành phương tiện cứu cánh, làm chỗ dựa  
tâm linh, phá vỡ tâm thế bế tắc cho người nông dân cùng khổ lúc bấy  
giờ. Ngoài ra, những ông đạo này cũng đã góp phần tạo dựng cơ sở,  
tiền đề dẫn đến sự hình thành những “tôn giáo” thường được gọi là  
108  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
“tôn giáo bản địa” hoặc “tôn giáo cứu thế” của vùng đất Nam Bộ từ  
nửa sau thế kỷ XIX.  
Nếu lấy mốc thời gian xuất hiện và hoạt động của Phật Thầy Tây  
An Đoàn Minh Huyên (1807 - 1856), từng được gọi là ông đạo  
Khùng, người sáng lập ra một tôn giáo đầu tiên ở Nam Bộ tại An  
Giang ngày nay thì phong trào ông đạo có thể được chia thành 3 giai  
đoạn: (1) Giai đoạn đầu đánh dấu thời kỳ manh nha với sự xuất hiện  
lác đác của một số ông đạo đầu tiên ở Nam Bộ có lai lịch và hành  
trạng không rõ ràng, như ông đạo Kiến xuất hiện tại cù lao Ông  
Chưởng mà Tạ Chí Đại Trường đã có miêu tả: “Trước thời Đoàn  
Minh Huyên đã có dấu vết một ông đạo Kiến cất cái chòi lá (cái  
“cốc”) ngồi chữa bệnh cho người. Sau này, Đoàn Minh Huyên xây  
lại trên nền cũ hư nát thành chùa Tây An (Tây An Cổ Tự)2”. (2) Giai  
đoạn giữa là thời kỳ nở rộ của các ông đạo: các ông đạo xuất hiện  
với số lượng nhiều, có hành vi, lời nói cụ thể, rõ ràng, đặc biệt là có  
hoạt động chữa bệnh cứu người bằng các phương thức dân dã lạ kỳ  
có chêm phần bùa chú, đáng chú ý trong giai đoạn này có sự chuyển  
hóa vượt khỏi thân phận một ông đạo thông thường để vươn lên địa  
vị giáo chủ khai sáng nên các tôn giáo bản địa Nam Bộ đầu tiên ở đất  
An Giang. Đơn cử là hành trình khai sáng tôn giáo của Đoàn Minh  
Huyên, từ một ông đạo Khùng (chắc có lẽ đây là cách gọi khi ông  
bắt đầu chữa bệnh cứu người bằng cách thức kỳ dị, nói năng khác lạ,  
chưa ai hiểu và nhận ra giá trị) lang thang chữa bệnh thuyết pháp  
khắp nơi cho đến khi sáng lập đạo Bửu Sơn Kỳ Hương tại Thất Sơn  
mới có một danh xưng chính thống mới là Đức Phật Thầy Tây An.  
Cách gọi xưa cũ là ông đạo Khùng cũng theo lẽ đó mà biến mất.  
Tiếp sau xuất hiện hàng loạt các ông đạo nổi tiếng khác ở toàn cõi  
Thất Sơn - phần lớn là đệ tử của Đức Phật Thầy như đạo Xuyến, đạo  
Lập, đạo Sĩ3, có trường hợp hậu kiếp của ông cũng là một ông đạo  
như Đạo Đèn, tức Phật Trùm Tà Paul). Trường hợp Huỳnh Phú Sổ  
cũng đáng để nhắc tới. Từ địa vị một ông đạo Điên, ông đã khai sáng  
tôn giáo cuối cùng ở An Giang với số lượng tín đồ đông đảo, hoạt  
động sôi nổi và chiếm ưu thế toàn vùng thời bấy giờ và trở thành  
Đức Huỳnh Giáo chủ được đông đảo tín đồ trọng vọng. (3) Giai đoạn  
Lê Thu Vân. Bước đầu tìm hiểu ông Đạo Nằm  
…
109  
cuối ghi nhận sự xuất hiện rời rạc của các ông đạo với tính cách,  
hành vi và phương pháp hành đạo riêng lẻ, thường định cư và nổi  
danh ở một khu vực nhỏ, những ông đạo thuộc giai đoạn này ít nhiều  
cũng chịu ảnh hưởng từ hành trạng, giáo lý của những ông đạo “tôn  
giáo” đi trước, tuy nhiên có điều khác biệt là họ không còn chữa  
bệnh cứu người, cũng không khởi xướng thêm một tôn giáo nào  
khác, đồng thời giai đoạn này bắt đầu đánh dấu sự suy giảm và biến  
mất của “hiện tượng các ông đạo” Nam Bộ.  
Có một điều trùng hợp là hầu hết các ông đạo đều “thích” chu du,  
tìm đến những vùng rừng núi hoang tịch, những vùng cù lao để tầm  
đạo, tu học và truyền bá tư tưởng, trong số đó thì khu vực An Giang  
vốn được mệnh danh là vùng đất bán sơn địa với một bên là dãy Thất  
Sơn huyền bí và một bên là những cù lao, như: cù lao Ông Chưởng, cù  
lao Giêng,… nên trở thành nơi lý tưởng để lưu dấu hoạt động của các  
ông đạo. Điển hình là từ giai đoạn đầu đã có ông đạo Kiến, tiếp sau là  
Phật Thầy Tây An đến cù lao Ông Chưởng cho đến giai đoạn cuối là  
ông đạo Chim và Ông đạo Nằm đến cù lao Giêng,… trong số đó, ông  
đạo Nằm được xem là nhân vật có ảnh hưởng mạnh mẽ và sâu sắc đến  
đời sống văn hóa tâm linh của cư dân cù lao Giêng từ nửa sau thế kỷ  
trước cho đến nay.  
2. Ông Đạo Nằm  
2.1. Sơ lược về cuộc đời  
Ông đạo Nằm tên thật là Trần Văn Thế, sinh năm 1904 tại làng  
Hòa An, Cao Lãnh, Đồng Tháp trong một gia đình nông dân nhưng  
chịu ảnh hưởng của tinh thần Nho giáo. Chưa rõ danh tính ông bà thân  
sinh, chỉ biết ông có một người cậu ruột sớm sang cù lao Giêng tu học  
tại chùa Phước Thiền (nay là chùa Phước Thành, xã Bình Phước  
Xuân) và trở thành ông đạo Chim nổi danh khi ấy vì khả năng nghe  
được tiếng chim nói. Sau một khoảng thời gian sinh trưởng tại quê  
nhà, ông Trần Văn Thế cảm thấy đã thấu hiểu được đạo tu hành nên  
rời quê hương đến cù lao Giêng và xuất gia tại ngôi chùa mà người  
cậu đã tu trước đó. Tại đây, ông nhanh chóng lĩnh ngộ đạo học và rời  
chùa tiếp tục đi tầm đạo ở vùng núi non nào đó không rõ4. Sau một  
thời gian, ông trở về quê nhà, khi đi ngang chùa Tân Long (Đồng  
110  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
Tháp), nghe đồn trụ trì của chùa là một vị cao tăng nên ông quyết  
định nhập tự thỉnh giáo. Vị cao tăng đó chính là sư tổ Từ Vân, ngài  
là người đã đặt pháp danh cho ông là Tịnh Nghiêm. Trong một lần  
thuyết pháp, trụ trì Từ Vân ngầm ra hiệu cho Tịnh Nghiêm gặp riêng  
mình để dạy pháp, vốn có căn cơ nên ông nhanh chóng ngộ ra thâm  
ý. Khi đến gặp thầy, trụ trì Từ Vân đã truyền lại cho ông một phương  
thức tu hành và thiền ngộ chân lý đặc biệt, đó là phép tu “ngọa  
thiền”. Khi nhận thấy ông đã thấu đạt chân lý nằm thiền, trụ trì Từ  
Vân dặn dò ông nên trở về chùa Phước Thiền để thực thi chân lý và  
sau khi đắc đạo thì thuyết pháp cho chúng sinh. Ông vâng lời trở về  
chùa cũ, vốn biết rõ đây là một cách thức tu tập đòi hỏi sự tập trung  
và quyết tâm cao độ nên trước khi chính thức nhập thiền, ông quyết  
định tích lũy công đức để bù đắp những tháng năm nằm thiền sau  
này. Được sự đồng ý của vị trụ trì chùa Phước Thiền, ông bắt tay  
ngay vào việc phát thảo, đốn củi dự trữ cho chùa, hơn nữa, khi thấy  
con đường từ bờ sông vào chùa thấp trũng, lầy lội nên ông quyết  
định đắp sửa con đường này để khai thông cửa ngõ vào chùa cho tín  
đồ, Phật tử. Hàng ngày, ông lẳng lặng, cật lực đắp đất trải lên con  
đường đó, khi nền đất đã cao ráo, ông tiếp tục trang lại cho bằng  
phẳng, cuối cùng thì con đường dài 300m đã hoàn thành. Khi thấy  
mọi việc đã xong, ông chính thức nhập thiền và thực hành đúng y  
pháp, không làm bất kỳ việc gì khác. Tư thế nằm của ông lúc thiền  
định đều theo một phương thức: nằm nghiêng, đầu hướng phía Bắc,  
chân duỗi thẳng phía Nam, mặt quay về Đông và lưng hướng về Tây.  
Mỗi ngày ông có một khoảng thời gian cố định để xuống giường ăn  
cơm và vệ sinh, không lần nào sai y pháp. Cách thiền định lạ đời  
chưa từng thấy làm dấy lên trong lòng các đệ tử tu tại chùa nhiều suy  
nghĩ phiến diện, thậm chí có người còn cố suy diễn lệch lạc, cho  
rằng ông lười biếng, quy chụp ông tu giả, nhằm trốn tránh việc đời,  
việc chùa. Từ suy nghĩ chủ quan dẫn tới việc thêu dệt câu chuyện  
theo hướng tiêu cực rồi báo về quê nhà, thân sinh ông nghe vậy vội  
vã chèo ghe qua cù lao xin phép vị trụ trì được rước ông về để khỏi  
làm phiền đến mọi người. Quá tam ba bận, đến lần thứ ba thì ông đi  
thẳng xuống ghe và tiếp tục nằm thiền. Ông thân bà mẫu lập tức chở  
ông về quê nhà, sau đó nhờ người trong xóm dựng một cái cốc gần  
Lê Thu Vân. Bước đầu tìm hiểu ông Đạo Nằm  
…
111  
bờ sông để ông có chỗ yên tâm tu hành, hàng ngày sai người em  
đúng giờ đem cơm cho dùng, ông dùng xong lại nằm y cũ, không hề  
cử động. Mặc dù vậy nhưng ông đều biết giờ giấc và thực hành đúng  
y pháp. Người dân trong vùng khi biết chuyện đều rất tò mò muốn  
biết thực hư, trong số họ có nhiều người nghĩ cách bày trò này nọ. Ví  
dụ, hôm thì đặt điếu xì gà đang cháy lên lòng bàn tay ông, bữa thì lấy  
kim chích vào các ngón tay ông, lúc thì lấy ổ kiến vàng để lên mình  
ông, thậm chí còn có cách nhẫn tâm hơn là tưới dầu lên hai chân ông  
mà đốt,… Tuy nhiên, mặc dù da thịt bị tổn thương, ông vẫn nằm im  
bất động. Đặc biệt hơn là chuyện có người nghe nói lúc ông bước  
xuống giường để dùng cơm thì ngày nào cũng bước theo y một dấu  
gót, không xê dịch bao giờ nên cố tình thử ông bằng cách lén chôn  
dưới đường đi một tấm áo nhang hình Phật rồi kiếm chỗ rình xem sự  
việc tiếp theo. Khi ông bước xuống và đi dùng cơm như thường lệ,  
đến chỗ có giấu hình Phật thì ông dừng lại, không bước tiếp mà cũng  
không đi lối khác bởi vì nếu bước tiếp thì ông sẽ dẫm lên hình Phật,  
còn nếu bước qua chỗ khác thì sẽ không theo y pháp nên ông cứ  
đứng như vậy. Mọi người lúc ấy mới vỡ lẽ và hết sức cảm phục nên  
lập tức lấy áo nhang đem cất đi, lúc đó ông mới tiếp tục thi hành y  
pháp. Từ đó, không ai còn dám thử thách ông nữa. Sau chín năm  
“ngọa thiền”, ông đắc đạo và ngồi dậy, đi đứng bình thường, bắt đầu  
thu nhận đệ tử và truyền pháp. Đệ tử và tín đồ theo ông khi ấy lên  
đến hàng trăm người, tăng ni đều có. Do cách tu tập lạ kỳ nên dân  
gian gọi ông là ông đạo Nằm.  
Ông Đạo Nằm thọ nạn và mất năm 1954 vào ngày rằm tháng 2  
(năm Giáp Ngọ), hưởng dương 51 tuổi.  
2.2. Chủ thuyết, khả năng tiên tri và những giai thoại  
Tương truyền những lời thuyết giảng cũng như tiểu sử của ông Đạo  
Nằm đều được chúng đệ tử ghi chép lại, cô đọng trong hai bộ kinh là  
Long Hoa Kinh và Bạch Ngọc Kinh. Sau khi các quyển kinh hoàn  
thành, chúng đệ tử bẩm với ông xem cho truyền ra ngoài để bá tánh tu  
học hay không, ông bảo “để y”, tức nghĩa là không cho truyền ra  
ngoài. Do tính chất riêng tư và tôn trọng di nguyện nên mặc dù pháp  
thuyết của ông được chúng đệ tử ghi chép thành bản, nhưng chúng tôi  
112  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
khảo cứu và biết được rằng Bạch Ngọc Kinh ghi lại những lời nói của  
ông về những điều thiên cơ còn Long Hoa Kinh ghi giảng cho chúng  
đệ tử hơn 689 giới luật. Ngoài ra, ông còn chỉ dạy cho người đời cách  
tu hành để giải thoát, tránh phải chịu kiếp luân hồi. Mặc dù ông cũng  
như những ông đạo khác chịu ảnh hưởng sâu sắc từ giáo lý Phật giáo  
nhưng vẫn có những thiên kiến và biến đổi cho phù hợp với thời đại.  
Về phương diện Long Hoa Kinh, có thể ông đã tiếp thu nhuần nhuyễn  
từ giáo lý của đạo Bửu Sơn Kỳ Hương cùng với Phật giáo Hòa Hảo  
lúc bấy giờ.  
Một trong những đặc điểm để nhận dạng các ông đạo là khả năng  
tiên tri, biết thiên cơ. Ông Đạo Nằm cũng không nằm ngoài quy luật  
ấy, không thấy người ta miêu tả ông có ngoại hình khác thường hay  
lời nói xằng bậy, hoặc vung tay chữa bệnh cứu người. Ông là một  
người bình thường, ngoại hình như những vị sư khác. Theo tranh, ảnh  
thờ thì ông mặc áo vàng, ngồi nghiêm trang. Ông nổi danh khắp vùng  
cù lao Giêng vì những câu nói thiên cơ lúc sinh thời và cả sự linh ứng  
sau khi mất.  
Sau khi ông Đạo Nằm khai khẩu thì bắt đầu lập chùa, ngôi chùa  
đầu tiên là Minh Bửu, lần lượt là Vân Lôi, Thiên Đà ở Cao Lãnh và  
cuối cùng là chùa Thành Hoa ở cù lao Giêng. Trong 4 ngôi chùa này  
thì việc dựng chùa Thành Hoa có nhiều yếu tố ly kỳ, chứa đựng  
những câu nói thiên cơ của ông. Sự việc diễn ra vào khoảng năm  
1950 - 1951, khi đó ở cù lao Giêng có một người nông dân - thường  
được mọi người trong vùng gọi là ông Hai, vốn có lòng hướng Phật,  
nghe danh ông Đạo Nằm từng tu tập và nổi danh ở chùa Phước Thiền  
nên tìm đến để thăm viếng, đàm đạo. Sau khi gặp mặt, ông Hai nhận  
ra đây là một vị cao tăng nên quyết định hiến đất cúng dường. Ông  
chọn mảnh đất rộng đầu cồn, đất đai màu mỡ cúng dường nhưng ông  
Đạo Nằm không nhận mà nói: “Đức Ngọc Đế chưa định, ông Hai có  
lòng cúng dường, coi miếng đất khác”. Khi ấy, không ai hiểu ý của  
ông, đặc biệt là chúng đệ tử rất lấy làm phân vân vì họ nhận thấy đó  
là mảnh đất tốt, rất thích hợp để dựng chùa và thuận lợi cho hoạt  
động trồng trọt phục vụ sinh hoạt sau này. Ông Hai sau khi nghe vậy  
liền suy nghĩ “mình có ba mảnh đất, mảnh tốt nhất mà thầy không  
Lê Thu Vân. Bước đầu tìm hiểu ông Đạo Nằm  
…
113  
nhận, còn một miếng đất ở dưới nhà gần nhà dân nên e không thanh  
tịnh, còn lại mảnh đất hoang sơ, nằm ở trong đồng hoang, kênh rạch  
không lưu thông, cũng chưa có đường đi đàng hoàng mà chỉ là  
đường mòn của dấu bò thả, chúng đệ tử theo thầy khá đông nên có  
thể sau này gây khó khăn trong sinh hoạt”. Ông Hai đắn đo hồi lâu  
rồi nói với thầy là sẽ cúng dường mảnh đất trong đồng. Ông Đạo  
Nằm mặc dù chưa thấy mảnh đất này, đã nói: “Đức Ngọc Đế đã  
định”. Sau đó, ông dặn dò chúng đệ tử về việc xây chùa: từ ngoài  
đường lớn tới đất này bao nhiêu thước để làm đường dẫn vào chùa;  
từ con đường dẫn vào bao nhiêu làm hậu tổ; từ hậu tổ cách bao nhiêu  
thước làm chính điện,… đều rõ ràng. Khi chúng đệ tử tiến hành đo  
đạc xong thì nhận thấy rằng hậu tổ và chính điện đều kỳ diệu nằm  
gọn trên 2 gò đất lớn, chỉ cần lấn ra một chút là mương rãnh trũng  
thấp. Tăng chúng vì đó càng tin tưởng vào đức hạnh và khả năng tiên  
tri của ông Đạo Nằm nhiều hơn nữa. Chùa được khởi công xây dựng  
năm 1952, tới năm 1953 thì hoàn thành, đó là chùa Thành Hoa bây  
giờ. Ngày trước mọi công việc đều hoàn toàn bằng tay nhưng tăng  
chúng đều rất thành tâm, tranh nhau làm công quả, tạo phúc đức, mọi  
người đều phấn khởi. Chùa xây xong được một năm thì ông Đạo  
Nằm tịch. Các đệ tử đều theo ý nguyện của ông chấn hưng, trùng tu  
ngôi chùa dần dần, cho đến ngày nay, chùa Thành Hoa đã trở thành  
một trong những trung tâm tôn giáo lớn mang đậm dấu ấn của ông  
Đạo Nằm ở cù lao Giêng. Ngày vía của ông cũng là ngày lễ lớn và  
long trọng nhất của chùa và của cả khu vực cù lao Giêng, thu hút  
hàng ngàn tín đồ ở khắp nơi về chiêm bái. Trở lại câu chuyện tiên tri  
kể trên về mảnh đất thứ nhất được cúng dường, quả thật thời gian  
sau đó, mảnh đất đầu cồn này bị nước sông xô đẩy và lở đến mức chỉ  
trong một thời gian ngắn, toàn bộ mảnh đất đó không còn lại vết tích  
gì cả, ứng nghiệm như lời ông đã nói “Đức Ngọc Đế chưa định”. Đó  
là chuyện khi ông còn tại thế.  
Sau khi mất, sự linh ứng của ông Đạo Nằm vẫn không giảm. Theo  
câu chuyện do Phó trụ trì Thích Phước Trí kể lại vì thầy là người  
chứng kiến thì thông thường, pháp danh sẽ do sư phụ đặt cho đệ tử,  
nhưng từ khi ông Đạo Nằm tịch, chùa có thông lệ không đặt pháp  
114  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
danh cho đệ tử nữa, thay vào đó, người đệ tử đó tự bốc thăm pháp  
danh của mình trước sự độ hóa của ông. Hàng trăm phiếu tên sẽ  
được để trong một cái chuông to đặt trước bàn thờ tổ, sau khi khấn  
vái, mỗi Phật tử sẽ bốc một thăm tên cho mình. Hầu hết pháp danh  
của người nào đều ứng với tính tình, cốt cách của người đó. Một lần,  
có một Phật tử quên bốc pháp danh cho mình, đến khi mọi người đã  
về hết thì người đó mới nhận ra mình chưa có pháp danh, vị trụ trì  
bảo cho bốc lại, sau khi khấn vái trước bàn thờ tổ, người đó bốc  
được thăm có đề hai chữ “Diệu Thêm”. Rất rõ ràng! Sư tổ đã biết  
trước điều này, nên cho người đó bốc trúng thăm “Thêm” vì trước đó  
không bốc nên “thiếu”.  
Khác với một số ông đạo thời trước hay có kiểu “chữa bệnh cứu  
người” bằng những phương cách kỳ lạ, ông Đạo Nằm chỉ chú trọng  
đến thuyết pháp giảng tu, tuy nhiên có một số trường hợp ông trị cho  
những đứa con nít khóc đêm bằng cách xoa tay lên trán và nói “Mát  
mẻ nhe”. Vậy mà y như rằng từ đó về sau, đứa bé ấy không bao giờ  
khóc đêm nữa.  
3. Một số nhận định  
Ông Đạo Nằm mặc dù được xếp vào những ông đạo Nam Bộ  
nhưng do xuất hiện vào giai đoạn cuối nên hành trạng và chủ thuyết  
có một số điều khác biệt. Sự khác biệt này phần nhiều do hoàn cảnh  
xã hội đương thời, còn lại do tự bản thân ông có sự đúc kết phù hợp  
với tâm thức của cư dân vùng đất cù lao Giêng lúc bấy giờ.  
Nếu như ở giai đoạn trước, hầu như các ông đạo đều nổi danh vì  
chữa bệnh cứu người bằng phương cách dân dã kỳ diệu nhưng hiệu  
nghiệm lạ lùng thì ông Đạo Nằm không hề thực thi dược pháp. Điều  
này cũng dễ hiểu, thứ nhất, vào giai đoạn này các nạn dịch ở Nam Bộ  
đã không còn hoành hành nhiều như trước nên nhu cầu chữa bệnh của  
người dân giảm mạnh; thứ hai là trong giai đoạn này xã hội Nam Bộ  
đã có những bước chuyển biến mới, bản thân ông chắc chắn nhận ra  
rằng cách chữa bệnh lúc trước không thể mang lại hiệu quả vì nhận  
thức của người nông dân về bệnh tật đã tiến bộ đáng kể. Thực tế, trong  
số thành phần ông đạo về sau cùng thời với ông có người còn là trí sĩ  
Tây học như ông Đạo Dừa nổi danh ở Cồn Phụng (Tiền Giang) đã  
Lê Thu Vân. Bước đầu tìm hiểu ông Đạo Nằm  
…
115  
từng qua Pháp du học. Mặc dù ông Đạo Nằm xuất thân là nông dân  
nhưng cũng hòa nhập thời thế, không ăn mặc lạ đời, không để đầu tóc  
quái lạ, ngoại hình trông bình thường, giản dị. Hơn thế, ông còn mang  
giày Tây (bằng gỗ và bằng da hiện còn được nhà chùa lưu giữ cẩn  
thận); sử dụng ô-tô để giao lưu với các chùa khác, hàng năm, chiếc xe  
này được bảo trì và diễu hành trong khuôn viên chùa vào ngày lễ giỗ  
của ông (rằm và 16 tháng Hai (Âm lịch). Dù không chữa bệnh cứu  
người, ngoại hình cũng không quái lạ như những ông đạo thời kỳ  
trước nhưng ông Đạo Nằm vẫn có 2 trong số những đặc trưng cốt lõi  
của hiện tượng “ông đạo” là nói thiên cơ cùng phương thức tu hành kỳ  
lạ (nằm thiền suốt 9 năm theo y pháp). Như chúng tôi tìm hiểu và trình  
bày ở trên, những lời nói thiên cơ của ông được ghi lại trong quyển  
Bạch Ngọc Kinh - được xem là quyển kinh sấm thể hiện khả năng tiên  
tri của ông về hậu thế.  
Giai đoạn ông Đạo Nằm bắt đầu khai khẩu thu nhận tín đồ cũng là  
thời điểm các tôn giáo nội sinh ở Nam Bộ đã định hình và có sức ảnh  
hưởng lớn trong xã hội, đáng kể nhất là 3 tôn giáo được ra đời lần  
lượt tại An Giang là Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Phật  
giáo Hòa Hảo. Các tín đồ đương thời trong khu vực hoặc theo tôn  
giáo này hoặc theo tôn giáo khác (xét trong phạm vi tín đồ của các  
tôn giáo nội sinh). Điều quan trọng là các tôn giáo này hình thành  
giáo lý và có tổ chức ổn định, bài bản với lượng tín đồ đã gần như  
bão hòa nên các ông đạo sau này không hội đủ điều kiện để khai lập  
một tôn giáo mới. Tuy vậy, ông Đạo Nằm vẫn đưa ra một chủ thuyết  
mang dấu ấn riêng của mình, do ngoại bất truyền nên chúng tôi chưa  
rõ giáo lý, tông chỉ, pháp môn của ông có gì đặc biệt hay không  
nhưng chắc chắn ông có cơ hội kế thừa tinh hoa từ giáo lý của các  
tôn giáo trước. Có lẽ ông đạo Nằm không chủ ý nghiêng theo một  
tôn giáo nội sinh nào, nhưng chắc chắn ông đã chịu ảnh hưởng từ  
giáo lý của những tôn giáo nội sinh trước đó. Bằng chứng là khi ông  
còn tại thế, ông ấn định cách tu tập cho đệ tử không gõ mõ tụng  
kinh; cũng chỉ định đặt một bàn thờ vô vi (tức là có bàn hương án  
nhưng không có cốt Phật) và một bàn thờ Long Hoa tại chính điện  
của chùa Thành Hoa - điều này gợi ra khả năng ông có thuyết giảng  
116  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
về hội Long Hoa (vốn đã được các tôn giáo Bửu Sơn Kỳ Hương,  
Phật giáo Hòa Hảo đề cập trong giáo lý). Ngoài ra, ông còn kết hợp  
nhuần nhuyễn giữa triết lý Phật giáo với trải nghiệm và ý chí bản  
thân để hình thành nội dung truyền giảng riêng biệt. Theo kinh luật  
Phật giáo, Phật tổ đưa ra 250 giới Tỳ kheo, nhưng khi truyền dạy cho  
đệ tử, ông Đạo Nằm giảng đến 689 giới luật. Điều này cho thấy việc  
kế thừa và phát huy theo đường lối riêng là hai yếu tố quan trọng  
trong cuộc đời truyền giảng đạo pháp của ông Đạo Nằm.  
Khi xét đến sinh quán và quá trình hoạt động của ông Đạo Nằm và  
Đức Phật Thầy, chúng tôi nhận thấy có vài sự trùng hợp: Đạo Nằm  
Trần Văn Thế và Đức Phật Thầy Đoàn Minh Huyên cùng quê quán ở  
Đồng Tháp; hai người cũng từ quê hương đi đến các vùng cù lao:  
Đoàn Minh Huyên đến cù lao Ông Chưởng, Trần Văn Thế lại gắn bó  
với cù lao Giêng. Một điều đáng ghi nhận là dường như ông Đạo Nằm  
có mối duyên mật thiết với vùng đất cù lao này. Đó là nơi ông tu học  
lúc còn trẻ, nơi ông truyền đạo và đốc công xây dựng chùa Thành  
Hoa, đồng thời đây cũng là nơi an nghỉ cuối cùng của ông. Có lẽ một  
phần vì vị trí của cù lao Giêng thuận lợi, gần với quê hương của ông,  
một phần vì đây vốn là vùng cù lao còn khá hoang sơn, cách xa đất  
liền và sự quan tâm của chính quyền đương thời nên là điều kiện lý  
tưởng để ông học tập tu đạo và truyền pháp.  
Kết luận  
Mỗi một ông đạo tùy thuộc vào thiên tính, bối cảnh thời đại và địa  
bàn hoạt động mà có cách riêng giải quyết nhu cầu tôn giáo cho nhân  
sinh của thời đại đó và để lại những giá trị riêng. Cho đến sau này mà  
vẫn còn nhiều người quan tâm và cố gắng phát huy, tìm hiểu để gìn  
giữ cái tinh hoa cốt lõi trong chủ thuyết của những ông đạo thì cái giá  
trị ấy càng đáng trân trọng. Cù lao Giêng nếu được đặt xét trong một  
không gian lịch sử nhất định thì có thể xem là vùng đất chứa đựng và  
bảo lưu dấu ấn của các ông đạo xưa cũ rõ ràng nhất mà tiêu biểu và  
nổi bật là ông Đạo Nằm gắn liền với thiết chế thờ tự độc đáo - chùa  
Thành Hoa. Có thể nói việc tìm hiểu về thân thế và tầm ảnh hưởng của  
một ông đạo thuộc thế kỷ trước bằng tư liệu truyền miệng - là một  
trong những cách thức phổ biến và chủ yếu hình thành nguồn tài liệu  
Lê Thu Vân. Bước đầu tìm hiểu ông Đạo Nằm  
…
117  
tham khảo dân gian - cũng là một cách thức góp vào nguồn tư liệu địa  
phương, làm giàu cho văn hóa dân tộc. Tâm tình, tính cách, nếp sống  
của cư dân cù lao Giêng đã được miêu tả trong thời đại của ông Đạo  
Nằm góp phần liên kết, khẳng định sự tồn tại độc lập của một dòng  
tôn giáo Nam Bộ nổi tiếng một thời./.  
CHÚ THÍCH:  
1
Phạm Bích Hợp (2007), Người Nam Bộ và tôn giáo bản địa, Nxb. Tôn giáo, Hà  
Nội, tr. 84-85.  
2
Tạ Chí Đại Trường (2006), Thần, Người và Đất Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà  
Nội, tr. 307.  
3
4
Tạ Chí Đại Trường, Sđd, tr. 307.  
Người kể là thầy Thích Phước Trí - Phó trụ trì của chùa Thành Hoa. Thầy không  
giải thích rõ trong khoảng thời gian này ông Trần Văn Thế đã đi đến vùng núi  
non nào và làm gì, trong bao lâu, nhưng chúng tôi suy đoán, đó có thể là vùng  
Thất Sơn.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Phan An (2010), “Người Việt Nam Bộ nhìn từ góc độ tôn giáo”, Văn hóa Nghệ  
thuật, số 311, tháng 5.  
2. Nguyễn Văn Hầu (2000), Nửa tháng trong miền Thất Sơn, Nxb. Trẻ, Thành phố  
Hồ Chí Minh.  
3. Nguyễn Văn Hầu (phiên âm, viết tựa), Nguyễn Hữu Hiệp (sưu tầm, chú thích)  
(1974), Bửu Sơn Kỳ Hương, Tiền giảng Đức Phật thầy Tây An, Diễm Chi xuất  
bản, Châu Đốc.  
4. Nguyễn Hữu Hiệp (2007), An Giang, đặc trưng vùng đất bán sơn địa, Nxb.  
Phương Đông, An Giang.  
5. Nguyễn Trung Hiếu (2015), Hiện tượng các ông đạo ở vùng Tây Nam Bộ dưới  
góc nhìn văn hóa, Luận văn Thạc sĩ ngành Văn hóa học trường Đại học KHXH  
& NV, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh.  
6. Phạm Bích Hợp (2007), Người Nam Bộ và tôn giáo bản địa, Nxb. Tôn giáo, Hà  
Nội.  
7. Thiên Lý (2013), “Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương trong không gian văn hóa vùng Tây  
Nam Bộ”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học: Nhân vật lịch sử Đoàn Minh Huyên  
(1807-1856), Hội Khoa học Lịch sử tỉnh An Giang xuất bản, tr. 261-271.  
8. Sơn Nam (2009), Tìm hiểu đất Hậu Giang và lịch sử đất An Giang, Nxb. Trẻ,  
Tp. Hồ Chí Minh.  
9. Tạ Chí Đại Trường (2006), Thần Người và Đất Việt, Nxb. Văn hóa thông tin, Hà  
Nội.  
10. Ủy ban Nhân dân tỉnh An Giang (2013), Địa chí An Giang, Ban Tuyên giáo Tỉnh  
ủy An Giang xuất bản.  
118  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
Abstract  
ÔNG ĐẠO NẰM SYMBOL IN GIÊNG ISLET, CHỢ MỚI  
DISTRICT, AN GIANG PROVINCE: THE FIRST STUDY  
Le Thu Van  
An Giang University  
Being a character who is belong to famous Southern of “Ong Dao”  
system, symbol of Mr. Dao Nam (Lying Master) Tran Van The has  
affected to spiritual culture of Gieng islet’s people in An Giang  
provice for a long time. For many reasons, gradually the way of  
thinking and understanding of many people about him is not the same,  
sometimes with the wrong thought. In our opinion, there is a miracle  
thing hidden in process that Ong Dao becoming to a religious symbol  
of the old land. If there were not grace, reputation and merit to Gieng  
islet, Ong Dao Nam would not be respected as he used to be. It is  
nesessary to study deeply about the issue to provide new information  
for local cuture life. Therefore, in this paper, we must focus about the  
biography, missions and effects of Ong Dao Nam carefully to shape  
some premiss about the convergence and diffusion of Ong Dao Nam  
Tran Van The in Gieng islet.  
Keywords: Gieng islet; Ong Dao Nam; Tran Van The; Thanh Hoa  
pagoda.  
pdf 13 trang Thùy Anh 18220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bước đầu tìm hiểu ông đạo nằm trên Cù Lao Giêng, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbuoc_dau_tim_hieu_ong_dao_nam_tren_cu_lao_gieng_huyen_cho_mo.pdf