Văn học dân gian của người Thái ở huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa - Những tiếp cận bước đầu
TẠP CHÍ KHOA HỌC
Khoa học Xã hội
Lê Thị Hiền và nnk (2021)
(23): 9 - 15
VĂN HỌC DÂN GIAN CỦA NGƯỜI THÁI Ở HUYỆN QUAN SƠN,
TỈNH THANH HÓA - NHỮNG TIẾP CẬN BƯỚC ĐẦU
Lê Thị Hiền, Hà Văn Nghiệp, Nguyễn Thị Ánh
Trường Đại học Hồng Đức
Tóm tắt: Trong quá trình hình thành và phát triển, tộc người Thái ở huyện Quan Sơn đã sáng tạo nên những
giá trị độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa tộc người. Trong đó, văn học dân gian là bộ phận chiếm số lượng lớn,
với nhiều thể loại khác nhau: truyện kể dân gian, truyện thơ, tục ngữ, dân ca,…Người ta tìm thấy ở văn học dân
gian,đời sống tinh thần của người Thái với những quan niệm, cách nhìn về thế giới, con người và xã hội thời bấy
giờ. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi bước đầu nghiên cứu về văn học dân gian của người Thái ở Quan Sơn.
Đây sẽ là bước đệm để chúng tôi tiếp tục đi sâu nghiên cứu về văn học dân gian Thái – một di sản văn hóa phi vật
thể của người Thái nói riêng và các dân tộc thiểu số nói chung.
Từ khóa: Văn học dân gian, người Thái, Quan Sơn.
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
II. NỘI DUNG
1. Khái quát tộc người Thái ở huyện Quan
Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Quan sơn là huyện miền núi phía Tây của
tỉnh Thanh Hóa, là một trong những huyện
nghèo nhất của tỉnh Thanh. Đây là nơi tập trung
sinh sống của nhiều đồng bào các dân tộc thiểu
số, trong đó có dân tộc Thái. Tộc người Thái nơi
đây có số dân đông, đồng thời giữ vai trò quan
trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội
và an ninh quốc phòng của tỉnh.
Quan Sơn là huyện vùng cao biên giới nằm ở
phía Tây tỉnh Thanh Hóa. Phía Bắc giáp huyện
Quan Hóa và huyện Mường Lát, phía Đông giáp
huyện Bá Thước, phía Nam giáp huyện Lang
Chánh, phía Tây và Tây Nam giáp với tỉnh Hủa
Phăn (Lào). Huyện Quan Sơn được thành lập
ngày 1/1/1997 trên cơ sở chia tách huyện Quan
Hóa (cũ) thành ba huyện: Quan Hóa (mới),
Quan Sơn, Mường Lát.
Trong quá trình phát triển lâu dài, tộc người
Thái đã sáng tạo nên một nền văn hóa dân gian
độc đáo với nhiều loại hình văn hoá vật thể và
phi vật thể có giá trị phục vụ cuộc sống. Di sản
văn hóa phi vật thể của người Thái ở huyện
Quan Sơn còn lưu giữ khá phong phú, độc
đáo với nhiều loại hình: văn học dân gian, tín
ngưỡng, lễ hội, phong tục, tập quán... Trong đó,
văn học dân gian là một trong những bộ phận
tiêu biểu với nhiều thể loại khác nhau: truyện kể
dân gian, truyện thơ, tục ngữ, dân ca,...
Khi mới thành lập huyện (năm 1999), dân
số cả huyện Quan Sơn là 31.000 người, bao
gồm các dân tộc: Thái, Mường, Mông, Kinh;
trong đó, dân tộc Thái là dân tộc có số dân
đông nhất, chiếm 85% dân số toàn huyện. Sau
13 năm xây dựng và phát triển, do sự biến
động về đời sống xã hội nên tỷ lệ dân số của
người Thái giảm xuống còn 82,3%. Người
Thái có cư trú chủ yếu dọc theo Sông Luồng
và Sông Lò, ven các con suối lớn, các thung
lũng, dọc đường 217, các đường liên thôn, liên
xã, đường vành đai biên giới, hầu khắp các xã
và thị trấn trong huyện.
Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi bước
đầu tìm hiểu và nghiên cứu về văn học dân gian
của tộc người Thái ở huyện Quan Sơn. Hi vọng
những kết quả nghiên cứu của chúng tôi sẽ có ý
nghĩa thiết thực đối với việc bảo tồn các di sản
văn hóa của dân tộc và việc giảng dạy văn hóa
dân gian cho học sinh, sinh viên ở các trường
phổ thông và đại học.
Tộc người Thái ở huyện Quan Sơn là tộc
người có mặt lâu đời nhất trên địa bàn. Theo
Địa chí huyện Quan Sơn[2] thì người Thái ở
9
Quan Sơn có mặt trên địa bàn trước thế kỷ XII
với nhiều dòng di cư đến và đi.
2. Các thể loại văn học dân gian của người
Thái ở Quan Sơn, Thanh Hóa
Về dòng di cư đến, người Thái ở Quan Sơn
được hình thành từ một số nguồn di cư chính sau
đây: Thứ nhất là người Thái từ đầu nguồn sông
Hồng xuôi theo sông Hồng đến vùng hạ lưu sau
đó di chuyển qua sông Đà, sông Mã ngược sông
Lò, sông Luồng đến vùng đất Quan Sơn cư trú.
Nguồn di cư thứ hai là người Thái từ Điện Biên,
Lai Châu, Yên Bái, Sơn La, Hòa Bình di cư qua
Mường Lát, Quan Hóa sang Quan Sơn. Người
Thái từ tỉnh Hủa Phăn - nước Cộng hòa Dân chủ
Nhân dân Lào di cư theo sông Lò, sông Luồng,
các dòng suối lớn, các đường cửa khẩu, đường
tiểu ngạch đến Quan Sơn. Nguồn di cư thứ ba
là người Thái từ các huyện Mường Lát, Quan
Hóa, Bá Thước, Lang Chánh, Thường Xuân,
Như Xuân trong tỉnh Thanh Hóa đến Quan Sơn.
Ngoài ra, người Thái còn từ các huyện Quế
Phong, Con Cuông, Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An di
cư đến Quan Sơn. Chứng tích của sự chuyển cư,
di cư này được lưu giữ trong các bài khặp, bài mo
của người Thái vùng mường Mìn, mường Xia,...
Người Thái ở Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
có một tài sản văn học dân gian phong phú với
sự hiện diện nhiều thể loại: truyện kể dân gian,
truyện thơ, tục ngữ, dân ca. Mỗi một thể loại
đều có những đặc trưng riêng, mang đậm bản
sắc văn hóa tộc người.
a. Thể loại truyện kể dân gian
Truyện kể dân gian của tộc người Thái
chiếm số lượng lớn trong kho tàng văn học dân
gian của người Thái ở huyện Quan Sơn. Truyện
kể dân gian lưu truyền trên vùng đất Quan Sơn
phổ biến nhất là những truyện kể về sự tích địa
danh, sự tích lập bản mường, truyện kể về những
người có công xây dựng, bảo vệ quê hương, bản
mường. Những truyện kể này hiện nay mới ở
dạng sưu tầm, tuy nhiên đó sẽ là những cứ liệu
quan trọng để tìm hiểu sâu hơn những trầm tích
văn hóa, lịch sử của vùng đất Quan Sơn.
Trong bộ phận truyện kể dân gian của người
Thái ở huyện Quan Sơn, các sự tích địa danh, sự
tích lập bản lập mường xuất hiện nhiều nhất. Hầu
như các tên bản, tên mường của ngườiThái đều gắn
với một câu chuyện dân gian về nó, như: mường
Ca Da, bản Na Mèo, bản Na Pọng, bản Ngàm,...
Tên gọi mường Ca Da (một mường lớn của người
Thái Quan Sơn) gắn liền với truyện cổ tích Mường
Ca Da. Bản Na Pọng (xã Na Mèo) gắn liền với
truyện kể về người đi lấy trộm cá của người dân
đơm đó ở thác nước gần bản Cha Khót. Bản Ngàm
(xã Sơn Điện)gắn với câu chuyện đặt tên của bà
cố Mường (vợ ông Cháng Tổng Mường Mìn).Địa
danh Xa Mang gắn với truyện kể dân gian về việc
quan Châu Da phạt vạ Tạo Mường Mò...
Bên cạnh dòng di cư đến vùng đất Quan Sơn
thì người Thái ở Quan Sơn trước đây cũng di cư
lẻ tẻ đến các huyện Quan Hóa, Mường Lát, Bá
Thước, Lang Chánh, Thường Xuân, Như Xuân và
một số huyện trong tỉnh. Vào khoảng thế kỷ XVI
- XVII, người Thái mường Xia, mường Mìn di cư
vào các huyện Tương Dương, Con Cuông, tỉnh
Nghệ An, tỉnh Hủa Phăn, nước Cộng hòa Dân chủ
Nhân dân Lào. Vào cuối thập kỷ 80 và 90 của thế
kỷ XX, người Thái Quan Sơn di cư vào các tỉnh
Tây Nguyên như Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk,
Đắk Nông cư trú làm ăn lâu dài. Ngoài ra còn một
bộ phận người Thái ở Quan Sơn đã lấy vợ, lấy
chồng và cư trú ở nhiều tỉnh trong cả nước.
Ngoài những truyện kể dân gian về việc đặt
tên các địa danh, tên bản, tên mường, truyện kể
dân gian của người Thái Quan Sơn còn xuất hiện
truyện kể về những người có công lao với bản, với
làng. Truyện kể về Phạm Hai (Hai Xim)- người
đầu tiên khai lập bản Nhài là một trong những
truyện kể tiêu biểu. Ngoài truyện kể về ông Hai
Xim, còn có truyện kể về hai vị thần ở mường Mìn
– đó là Tiều Lành tức Phạm Lành ở bản Chiềng
Như vậy, người Thái ở Quan Sơn có nhiều
nguồn gốc khác nhau: di cư từ Tây Bắc vào, từ
Nghệ An ra, từ Lào sang và còn được bổ sung
nguồn “Thái hóa” từ người Mường, người Kinh
(họ Mạc, họ Hoàng...). Vì vậy, trong quá trình
phát triển lâu dài của lịch sử, văn hóa của người
Thái ở Quan Sơn có nhiều nét đan xen, hình
thành nên sắc thái địa phương.
10
Mìn (nay là xã Mường Mìn) và ông Tiều Quế tức đậm bản sắc văn hóa của người Thái Quan Sơn
Phạm Quế ở bản Nhài, Mường Mìn xưa (nay là trong bức tranh chung của người Thái xứ Thanh.
xã Sơn Điện) đã có công đứng lên tập hợp nhân
b. Thể loại truyện thơ
dân vùng mường Mìn, mường Xia thành lập một
Truyện thơ là một trong những thể loại tiêu
đội quân đánh giặc cờ vàng bảo vệ quê hương,
biểu của văn học dân gian tộc người Thái nói
đất nước. Truyện kể dân gian về mường Chự lại
chung và người Thái ở huyện Quan Sơn nói riêng.
gắn liền với việc ca ngợi công lao của ông Nghè
mường Chự -một trong những người nổi danh
nhất thế kỷ XV ở Châu Quan Da...
Thông qua sự khảo sát và sưu tầm của các nhà
văn hóa dân gian, những truyện thơ nổi tiếng của
người Thái ở Tây Bắc như Xống chụ xon xao,
Khun Lú nàng Ủa,Chãng nguyên... được lưu
truyền phổ biến ở vùng người Thái huyện Quan
Sơn. Tuy nhiên, những truyện thơ này tồn tại ở
vùng người Thái ở huyện Quan Sơn mới ở dạng
những văn bản có kết cấu đơn giản, nhiều truyện
thơ chỉ là những mảnh đoạn nhỏ ghép với nhau.
Truyện kể dân gian Thái còn có những truyện
kể về địa danh gắn liền với các sự kiện lịch sử.
Truyện cổ tích Mường Mìn kể về sự kiện Lò
Khằm Yên phối hợp với nghĩa quân Lê Lợi đánh
giặc Minh đến thắng lợi hoàn toàn. Khi đánh
tan được quân Minh Lê Lợi ban thưởng cho ông
Lò Khằm Yên và quân sĩ đất đai, ông đã chọn
Mường Mìn để ở. Đến đời con của ông làm Tạo
Mường thì đổi tên thành Mường Mìn. Trong hệ
thống truyện kể dân gian của người Thái ở Quan
Sơn còn có những truyện kể về sự tích phân chia
ranh giới mường Mò, mường Chự gắn với cuộc
thi xuôi bè kéo bè theo sông Lò và cuộc thi ăn
cơm nếp đồ kèm với chẻo (chẻo được làm từ thịt
trâu); truyện kể về sự tích núi Lá Hoa (pha Bóc
Mạy) gắn với tình cảm bang giao thắm thiết giữa
hai nước Việt – Lào thông qua mối tình đầy oan
trái của hoàng tử em của nước Lào và chị dâu
(công chúa Việt). Họ đã cùng nhau lên đỉnh núi
đá tự vẫn. Hồn vía cùng thể xác của họ biến thành
các cây có lá đủ các loại màu sắc rực rỡ trên núi
cao. Từ đó người dân địa phương đặt tên cho núi
này theo tiếng Thái là Bóc Mạy (núi Lá Hoa)...
Người Thái ở Quan Sơn cũng đã sáng tạo nên
những truyện thơ vừa đậm chất trữ tình vừa đậm
chất tự sự. Đó là truyện thơ Tư Mã Hai Đào và
Truyện tình Mường Dùa. Truyện tình Mường Dùa
được xuất bản năm 2018 (Nxb Thanh Hóa) do
tác giả Phạm Xuân Cừ, Phạm Xuân Liêm, Phạm
Bá Thược sưu tầm và biên dịch. Truyện thơ được
người xưa viết bằng chữ Thái, trên giấy dó, là một
trong những tài sản quý báu của người Thái ở
huyện Quan Sơn. Truyện thơ kể về chàng trai Lá
Ly nhà nghèo ở Mường Xia yêu say đắm cô gái
Ót Nọi nhà giàu sang quyền quý ở Mường Mìn.
Do gia đình, họ hàng nội ngoại ngăn cấm,chàng
trai và cô gái đã lên hang Pha Dùa (mường Dùa)
tự vẫn, biến thành ma tình yêu. Truyện thơ là lời
cảnh tỉnh các bậc cha mẹ và xã hội thời ấy rằng
đừng cấm đoán, áp đặt tình yêu đôi lứa.
Nhìn chung, truyện kể dân gian của người Thái
của huyện Quan Sơn khá phong phú và đa dạng.
Những truyện kể dân gian này vừa mang yếu tố
hiện thực vừa mang yếu tố tưởng tượng. Có những
truyện mang dáng dấp của thể loại thần thoại, có
những truyện mang màu sắc của truyền thuyết, lại
có những truyện mang đậm yếu tố của truyện cổ
tích. Tuy nhiên, dù thuộc thể loại nào đi chăng nữa
Nếu như truyện thơ Truyện tình Mường Dùa
đậm chất trữ tình thì truyện thơ Tư Mã Hai Đào lại
đậm chất tự sự. Văn bản truyện thơ Tư Mã Hai Đào
phổ biến ở vùng Quan Hóa, Quan Sơn, Mường
Lát;hiện đã được sưu tầm và biên dịch nhưng chưa
được xuất bản. Truyện thơ Tư Mã Hai Đào gắn
liền với lịch sử vùng đất mường Xia của huyện
thì những truyện kể dân gian này đều gắn với quá Quan Sơn và tên tuổi Tư Mã Hai Đào. Truyện thơ
trình lập bản, lập mường của người Thái nơi đây, kể về người anh hùng Tư Mã trong việc chống lại
trực tiếp hoặc gián tiếp giải thích nguồn gốc tên giặc ngoại xâm, bảo vệ sự bình yên của bờ cõi,
gọi, sự ra đời của nhiều địa danh ở huyện Quan đồng thời là người có công xây dựng mường Xia
Sơn. Do vậy, những truyện dân gian này mang trở thành một vùng sầm uất, đông đúc. Vì những
11
công lao to lớn của ông với mảnh đất mường Xia, Người Thái có câu: Háy tếm tá vau pan nà huối
người dân nơi đây đã lập đền thờ ông tại xã Sơn
Thủy. Hằng năm, cứ đến tháng Ba (Âm lịch),
người dân mường Xia lại tổ chức lễ hội để tưởng
nhớ đến công ơn của người anh hùng Tư Mã.
nọi (Rẫy đầy mắt không bằng ruộng thửa nhỏ). Họ
khuyến khích phát triển ruộng nước, hạn chế phát
nương làm rẫy. Trong nhận thức của người Thái, họ
cho rằng dù nương rẫy rộng bao nhiêu cũng không
chắc ăn bằng một thửa ruộng con. Ý thức về ruộng
nước đã được người Thái xác định cùng với quá
trình lập bản, dựng mường: Mì nặm kin, chăng mì
lín du (Có nước uống mới có đất ở).Ý thức làm
ruộng còn được thể hiện thông qua việc lập mường,
bản. Mường, bản của người Thái Thanh Hóa nói
chung bao giờ cũng theo nguồn nước, nơi nào có
sông suối thì nơi đó có người Thái thành lập bản
mường. Hướng nhà của người Thái thường dựa
lưng vào núi, mặt trước nhà quay ra hướng sông
suối hoặc cánh đồng để tận hưởng nguồn nước:
Kháu dú nà, pa dú nặm/ Chăm chắng đáy kín, non
nghin tai giác (dịch: Lúa dưới ruộng, cá dưới nước/
Khéo làm có ăn, siêng nằm chết đói).
c. Thể loại tục ngữ
Trong hệ thống các thể loại văn học dân gian
của người Thái ở huyện Quan Sơn, tục ngữ là bộ
phận chiếm số lượng lớn nhất. Tục ngữ của người
Thái huyện Quan Sơn phản ánh đầy đủ mọi hiện
thực cuộc sống con người và thiên nhiên, từ hoạt
động sản xuất đến cách ứng xử giữa con người với
con người;con người với thiên nhiên, việc bảo vệ
chủ quyền quốc gia, quan hệ láng giềng, quốc tế.
Những kinh nghiệm hết sức quý báu của tộc người
được tích lũy, chọn lọc và lưu truyền qua nhiều
thế hệ, răn dạy con cháu của mình biết sống làm
người tốt, có ích cho gia đình và xã hội...
Trước hết,tục ngữ về thiên nhiên: người Thái
ở huyện Quan Sơn đã sáng tạo nhiều câu tục ngữ
nhấn mạnh vai trò của thiên nhiên đối với con
người, đặc biệt là vai trò của rừng xanh: Bau mì pa
hàu hành bau láy/ Hánh khát nặm hàu du lơ pến
(dịch:Không có rừng ta không sống được/ Cạn
khô nước ta ở sao đây),... Việc bảo vệ rừng, trồng
rừng, nuôi dưỡng rừng đã từ lâu là trách nhiệm của
cộng đồng, trở thành luật lệ của bản mường được
người Thái lưu truyền qua các thế hệ: Dom pá bạy
lùn lăng chắng má/ Bạy hớ nặm chú bó láy lông/
Phớ chứ đáy khoàm nặn mằn chắng pên cần (dịch:
Giữ rừng cho muôn đời phát triển/ Để cho muôn
mó nước tuôn trào/ Ai nhớ được câu ấy thì thành
người). Trong mối quan hệ với thiên nhiên, người
Thái xem xét các hiện tượng thiên nhiên và đặt mối
tương quan ảnh hưởng của thời tiết với đất đai, cây
trồng, tác động của thiên nhiên đối với sản xuất và
đời sống của con người: Phạ họng húa Xằm pánh
xa/ Phạ họng húa Má pánh xiếm (dịch: Sấm động
đầu nguồn sông Chu sửa gác bếp/ Sấm động đầu
nguồn sông Mã sửa thuổng); Tắc kệ họng siếng cú ló
phấn/ Tắc kệ họng siếng lia ló lét (dịch: Tắc kè kêu
tiếng chẵn sắp mưa/Tắc kè kêu lẻ tiếng sắp nắng)...
Người Thái ở Quan Sơn cũng đúc kết nhiều câu
tục ngữ về văn hóa ứng xử. Trong thái độ đối nhân
xử thế giữa con người với con người, người Thái
nhắc nhở nhau: Nhaúp lái mằn ca/ Nha bá lái mằn
ngau/ Nha cáu lài mằn pớn (Đừng nói nhiều nó quá/
Đừng nhắc nhiều nó buồn/ Đừng gãi lâu nó trớt);
Ngắm hại hớ pí, mằn chệp tọng/ Ngắm hại hớ nọong
mằn chệp tặp (Nghĩ xấu cho anh nó đau lòng/ Nghĩ
xấu cho em nó đau gan. Đối với khách đến nhà, hoặc
với người thân đến nhà, phải biết phép tắc “khách
đến cắm cần rượu” và “con cháu đến nhà cho nắm
cơm, ông bà đến nhà đơm miếng trầu”. Khách đến
nhà lúc nào cũng được quý trọng: Mà dàm chạu kin
ngài / Mà dàm xai kin láu/ Tấu dàm khắm nòn xưa,
hôm phà (Đến buổi sáng ăn cơm/ Đến buổi trưa
uống rượu/ Đến buổi tối ngủ đệm, đắp chăn). Đối
với mường bản, hàng xóm, cần phải lấy tinh thần
cộng đồng làm trọng: Căm pạ pó dọn phạ/ Căm
pạ bán dọn húa chớ (Mồ côi bố tại trời/ Mồ côi bản
tại mình); Kháu mương lơ áu mạy mương nặn ệt
tóc/ Óc mương lơ áu vơ mương nặn hó kháu bén
(Đến mường nào lấy cây mường ấy làm lạt/Ra đến
mường nào lấy lá mường ấy gói bánh ú)…
Một bộ phận nhỏ của thể loại tục ngữ Thái ở
huyện Quan Sơn là tục ngữ về chủ quyền quốc gia,
dân tộc.Vấn đề chủ quyền quốc gia được người Thái
Tục ngữ về lao động sản xuất chiếm số lượng lớn
trong kho tàng tục ngữ của người Thái Quan Sơn.
12
Quan Sơn rất coi trọng. Họ quan niệm rằng giữ gìn
Quan Sơn có một số làn điệu khặp như sau:Khặp
chủ quyền quốc gia dân tộc như giữ gìn điều thiêng xư (làn điệu phổ thông nhất), khặp chôm ái, chôm
nọng (điệu hát ứng tác hay hát gọi), khặp pàn láu,
pàn kháu (hát trong mâm rượu, mâm cơm), khặp
tón pợ (hát đón dâu), khặp bao xáo (hát trai gái
giao duyên), khặp ứt ư (à ơi), khặp ồi,…
liêng nhất: Pành xái đén dướng pành lúc nọi (Yêu
đường biên như yêu con nhỏ), họ khẳng định chủ
quyền quốc gia: Nặm mì lén, đín mì cháu (Nước có
ranh giới, đất có chủ)... Để giữ gìn chủ quyền quốc
gia, dân tộc, người Thái luôn nhắc nhở con cháu giữ
gìn mối quan hệ tốt đẹp với các nước láng giềng: Ép
kháu pọm vanh/ Thuối cánh pọm kín/ Đín lón pọm
chư (Rọ cơm chia nhau/ Bát canh cùng ăn/ Đất đai
ta cùng ghi nhớ); Mường hắng kin du hớ lí/ Mường
mì khóng có du hớ cháng (Nước giàu ăn ở cho tốt/
Nước có của cũng ở cho khéo.Đặc biệt với nước
Lào, người Thái dành cho họ những tình cảm đặc
biệt: Việt cặp Lào pọm hàu cạ khái/ Ệt cú bá xà hái
tay dàm páng con (Việt và Lào cùng giao thương
hàng hóa/ Làm bạn bè thân thiện ta đã lâu đời)...
Về dân ca nghi lễ, người Thái ở huyện Quan
Sơn thường sử dụng những bài mo, khấn, cúng…
Huyện Quan sơn có 6 mường và nhiều dòng
họ khác nhau nên ngoài cái chung thì từng địa
phương, dòng họ cũng có cách hành lễ và nội
dung lời mo khác nhau. Một số những lời mo tiêu
biểu trong đám tang của người Thái huyện Quan
Sơn như: lễ ca mời thần mo, lễ ca đời mo, lễ ca
lúc sinh thời người quá cố, lễ ca nguyên nhân
quy tiên, lễ ca chuẩn bị quan tài, lễ ca mời hương
hoa, lễ ca mời hồn (gọi hồn), lễ ca trâu (bò) làm
thịt cho đám tang, lễ ca chào anh em, con cháu,
lễ ca chào họ hàng, lễ ca đường lên trời, lễ ca đưa
hồn lên trời, lễ ca vào trong nhà then.
d. Thể loại dân ca (khặp)
Dân ca của người Thái có hai tiểu loại chính
là dân ca sinh hoạt và dân ca nghi lễ. Dân ca
nghi lễ là những bài mo, khấn, cúng,... Dân ca
sinh hoạt là các lời hát nhằm thực hiện chức
năng sinh hoạt trong cuộc sống hàng ngày như
ru con, vui chơi, bày tỏ tình cảm đối với quê
hương đất nước, bày tỏ tình yêu lứa đôi,…
3. Một số nhận xét về văn học dân gian của
người Thái ở huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa
a. Khối lượng và thể loại
Người Thái ở huyện Quan Sơn chỉ là một
bộ phận nhỏ của người Thái ở tỉnh Thanh. Tuy
nhiên, dù cư trú, tồn tại và phát triển trong một
không gian hẹp thì tộc người Thái nơi đây vẫn
sáng tạo nên một đời sống văn hóa phong phú và
đa dạng, trong đó có bộ phận văn học dân gian.
Kho tàng khặp của người Thái ở Thanh Hóa
nói chung, Quan Sơn nói riêng rất phong phú.
Nếu ở Tây Bắc phổ biến là khặp hạn khuống -
khặp bao xao thì ở Thanh Hóa nhiều nhất là loại
khặp tự do, khặp yêu đu năm ne,... Đó là những
điệu khặp ngọt ngào trên đường đi, trên nương
rẫy, hay vắt ngang hai bờ núi. Nội dung trữ tình
phản ánh quan niệm về lẽ sống, cách ứng xử,
tình cảm đối với quê hương xứ sở, về những đức
tính cơ bản của con người như: lòng nhân ái, sự
vị tha, đức kính già, yêu trẻ được thể hiện trong
cách ứng xử, trong quan hệ giữa các thành viên
trong bản, trong mường; trở thành những giá
trị truyền thống, được người Thái và tất cả mọi
người dân, dù ở tộc người nào cũng thừa nhận,
xem đó là những giá trị chuẩn mực trong quan hệ
giữa người với người và với cộng đồng.
Nhờ vào thế mạnh có chữ viết riêng, nên
trong quá trình giao lưu và tiếp biến, nền văn
hóa Thái nói chung và văn học dân gian Thái
nói riêng có điều kiện để giữ gìn và phát triển.
Hiện nay, các tác phẩm văn học dân gian của
người Thái ở huyện Quan Sơn vẫn chưa được
công bố một cách chính thức, hầu hết mới chỉ
tồn tại qua tư liệu điền dã, sưu tầm của các nhà
văn hóa dân gian. Những tư liệu sưu tầm này
hiện cũng đã được các nhà sưu tầm văn hóa dân
gian của huyện Quan Sơn như Phạm Xuân Cừ,
Phạm Bá Thược,… biên dịch sang tiếng phổ
thông. Đó là điều kiện thuận lợi để những tác
phẩm văn học dân gian được đến với cộng đồng
người Thái nói riêng và bạn đọc nói chung.
Theo sự khảo sát và sưu tầm của các tác giả
trongĐịachíhuyệnQuanSơnthìngườiTháihuyện
13
Theo tư liệu khảo sát và sưu tầm của các nhà những quan điểm về vũ trụ, nhân sinh quan và
văn hóa dân gian, các tác phẩm văn học dân gian thế giới quan của người Thái nơi đây.
của người Thái huyện Quan Sơn có sự đa dạng
Với việc sáng tạo nhiều thể loại văn học dân
về thể loại, bao gồm: truyện kể dân gian, truyện
gian khác nhau, người Thái ở huyện Quan Sơn
thơ, tục ngữ, dân ca. Trong truyện kể dân gian
đã thể hiện được cái nhìn khá toàn diện về xã
lại bao gồm nhiều tiểu loại khác nhau: truyện kể
hội và con người lúc bấy giờ. Văn học dân gian
dân gian về việc lập bản, lập mường như truyện
của người Thái huyện Quan Sơn đã phản ánh
Mường Ca Da, truyện kể dân gian về địa danh
khá rõ nét đặc trưng văn hóa tộc người Thái
bản Ngàm, bản Xa Mang,…; truyện kể dân
nơi đây, đặc biệt về đời sống văn hóa vật chất,
gian về những người có công lao to lớn với việc
văn hóa tinh thần. Nếu như thể loại truyện kể
bảo vệ và xây dựng bản mường như truyện về
dân gian chủ yếu phản ánh giai đoạn đầu tiên
ông Hai Xim, truyện về ông Nghè mường Chự,
của người Thái trong quá trình đi tìm đất ở, quá
truyện về hai vị thần ở mường Mìn; truyện kể
trình lập bản, lập làng, quá trình mở rộng bờ cõi
dân gian về đề tài lịch sử như truyện cổ tích
và xây dựng bản mường thì truyện thơ lại phản
Mường Mìn,… Truyện thơ cũng có nhiều dạng:
ánh đời sống xã hội của người Thái với những
truyện thơ đậm màu sắc trữ tình như: Xống chụ
câu chuyện về tình yêu và những quan niệm hà
mùa khươi, Truyện tình Pha Dua; truyện thơ
khắc của xã hội lúc bấy giờ. Nếu như tục ngữ
đậm màu sắc tự sự như Tư Mã Hai Đào,… Thể
phản ánh những kinh nghiệm trong lao động sản
loại tục ngữ lại càng phong phú và đa dạng với
xuất, trong văn hóa ứng xử giữa con người với
hàng nghìn câu, chia thành nhiều nhóm nội dung
con người thì dân ca lại là nơi thể hiện thế giới
khác nhau: tục ngữ về thiên nhiên, tục ngữ về lao
tâm tình, cuộc sống tinh thần phong phú của họ.
động sản xuất, tục ngữ về văn hóa ứng xử, tục
Nội dung phản ánh của các thể loại văn học dân
ngữ về khuyến học khuyến tài và tục ngữ về bảo
gian, từ truyện kể dân gian cho đến truyện thơ,
vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc. Thể loại dân ca
tục ngữ, dân ca,… cho thấy sự phát triển ngày
của người Thái ở huyện Quan Sơn cũng khá phát
càng cao về nhận thức, tư duy và cách tổ chức
triển với hai tiểu loại tiêu biểu: dân ca nghi lễ và
xã hội của người Thái. Một tộc người từ chỗ là
dân ca sinh hoạt. Riêng dân ca sinh hoạt (hay còn
cư dân dạt xuống vùng đất mới đã dần dần định
gọi là khắp/ khặp) ở huyện Quan Sơn có đến 4
cư, mở rộng lãnh thổ, hình thành nên một mô
hoặc 5 điệu khặp khác nhau.Dù số lượng còn ở
hình xã hội với những đặc trưng văn hóa đậm
mức khiêm tốn, song nhìn vào đấy chúng ta cũng
sắc màu và độc đáo.
thấy rõ bức tranh của văn học dân gian của người
Văn học dân gian của người Thái là nơi thể
Thái huyện Quan Sơn đa dạng và nhiều sắc màu.
hiện trí tưởng tượng sáng tạo, tâm hồn trong
Ngoài những thể loại được sưu tầm ở trên thì
sáng đẹp đẽ của tộc người Thái. Hơn thế nó còn
trong đời sống văn hóa dân gian của tộc người
thể hiện văn hóa ứng xử rất đẹp rất thiện cảm
Thái ở huyện Quan Sơn vẫn còn nhiều thể loại văn
với con người, với thiên nhiên. Do vậy những
học dân gian khác. Hi vọng rằng, trong thời gian
tác phẩm văn học dân gian của người Thái vừa
tới, nhiều tác phẩm văn học dân gian sẽ được sưu
giàu tính hiện thực vừa giàu tính nhân văn.
tầm, góp phần bổ sung và làm phong phú hơn bộ
Trong giai đoạn hiện nay, trước những thay
phận văn học dân gian của dân tộc Thái nơi đây.
đổi của xã hội hiện đại, những tác phẩm văn
b. Giá trị
học dân gian một mặt có điều kiện được sưu
Có thể khẳng định rằng văn học dân gian tầm, nghiên cứu và được nhiều người biết đến,
của dân tộc Thái là di sản văn hóa vật thể quý song bên cạnh đó những giá trị văn hóa dần bị
báu không chỉ của riêng tộc người Thái mà của ảnh hưởng, mai một. Việc cấp bách hiện nay là
cả cộng đồng các dân tộc huyện Quan Sơn. phải có những giải pháp thiết thực để vừa bảo
Đó chính là kho chứa trí tuệ, những triết luận, tồn vừa phát huy, gìn giữ được những giá trị
14
văn hóa của dân tộc, đồng thời phải có những giàu chất hiện thực vừa mang đậm trí tưởng tượng
sáng tạo, vừa thể hiện những cái nhìn hồn nhiên
về thế giới xa xưa, vừa thể hiện thế giới tinh thần
phong phú trước cuộc sống. Có thể khẳng định
rằng, những tác phẩm văn học dân gian Thái là di
sản văn hóa phi vật thể quý báu của người Thái
cần được bảo lưu, gìn giữ; để thế hệ mai sau được
biết đến những giá trị văn hóa độc đáo của cha ông
để lại, từ đó biết trân trọng và nâng niu nguồn cội
và quá khứ của dân tộc mình.
giải pháp kịp thời để sưu tầm những tác phẩm
văn học dân gian còn tồn tại trong đời sống văn
hóa của dân tộc Thái, tiến hành phiên âm, dịch
nghĩa những cuốn sách Thái cổ về văn học dân
gian… Có như vậy, nền văn học dân gian của
tộc người Thái nơi đây mới có điều kiện được
gìn giữ cho thế hệ mai sau.
III. KẾT LUẬN
Trong bức tranh chung của văn học các dân
tộc thiểu số Việt Nam, văn học dân gian của tộc
người Thái ở huyện Quan Sơn là một bộ phận
quan trọng. Văn học dân gian Thái Quan Sơn vừa
phong phú về thể loại, vừa đa dạng về nội dung
phản ánh. Về thể loại, văn học dân gian Thái bao
gồm nhiều thể loại khác nhau: truyện kể dân gian,
truyện thơ, tục ngữ, dân ca,... Nội dung thể hiện
cũng khá đa dạng với việc phản ánh đầy đủ cuộc
sống xã hội và con người thời bấy giờ, thể hiện
những quan điểm về tự nhiên, xã hội, nhân sinh
quan về cuộc sống,… Văn học dân gian Thái vừa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Phạm Xuân Cừ, 2018. Truyện tình xưa:
Mường Dùa, Mường Lè, Nxb Thanh Hóa.
[2]. Huyện uỷ, HĐND, UBND huyện Quan
Sơn, tỉnh Thanh Hóa, 2016. Địa chí huyện
Quan Sơn, Nxb KHXH, Hà Nội.
[3]. Đinh Xuân, 2010. Góp phần tìm hiểu sắc
thái văn hóa dân tộc Thái, Mường Thanh
Hóa, Nxb Thanh Hóa, Thanh Hóa.
FOLK LITERATURE OF THE THAI PEOPLE IN QUAN SON
DISTRICT, THANH HOA PROVINCE – INITIALAPPROACHES
Le Thi Hien, Ha Van Nghiep, Nguyen Thi Anh
Hong Duc University
Abstract: In the process of formation and development, the Thai people in Quan Son district have
created unique cultural values, imbued with ethnic cultural identities. In particular, folk literature is
a large part, with many different genres including folk tales, poems, proverbs, folk songs, etc in which
people find spiritual life of Thai people with conceptions, views on the world, people and society at a
specific time . Within the scope of this article, we initially study the folk literature of the Thai people in
Quan Son. This will be a stepping stone for our further study of Thai folklore - an intangible cultural
heritage of Thai people in particular and ethnic minorities in general.
Keywords: Folklore, Thai people, Quan Son.
___________________________________________
Ngày nhận bài: 09/10/2019. Ngày nhận đăng: 06/12/2019.
Liên lạc: [email protected]
15
Bạn đang xem tài liệu "Văn học dân gian của người Thái ở huyện Quan Sơn, tỉnh Thanh Hóa - Những tiếp cận bước đầu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
van_hoc_dan_gian_cua_nguoi_thai_o_huyen_quan_son_tinh_thanh.pdf

