Ảnh hưởng nhận thức khởi nghiệp đến hành vi khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam: Vai trò ý định mục tiêu và ý định hành động

Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90 75  
Ảnh hưởng nhận thức khởi nghiệp đến hành vi khởi nghiệp của  
sinh viên việt nam: Vai trò ý định mục tiêu và ý định hành động  
Impact of entrepreneurial perceive on entrepreneurial behaviors  
of Vietnamese students: Role of goal intention and  
implementation intention  
Nguyễn Quang Thu1*, Trần Thế Hoàng1, Hà Kiên Tân1  
1Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ, Email: [email protected]  
THÔNG TIN  
TÓM TẮT  
DOI:10.46223/HCMCOUJS.  
econ.vi.13.2.510.2018  
Nghiên cứu này kiểm định mối quan hệ giữa nhận thức, ý  
định và hành vi khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam thông qua  
việc khảo sát 368 sinh viên đã từng khởi nghiệp tại các trường  
Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà  
Rịa Vũng Tàu. Mục tiêu của nghiên cứu này mở rộng lý thuyết  
sự kiện kinh doanh (EEM) bằng việc đưa vào mô hình yếu tố ý  
định hành động. Kết quả nghiên cứu cho thấy yếu tố này đều có  
tác động dương đến hành vi khởi nghiệp. Cuối cùng, nghiên cứu  
đã đưa ra kết luận và hàm ý chính sách cho các trường Đại học  
và hướng nghiên cứu tiếp theo.  
Ngày nhận: 20/01/2018  
Ngày nhận lại: 02/02/2018  
Duyệt đăng: 12/03/2018  
Từ khóa:  
hành vi khởi nghiệp, nhận  
thức khả thi, nhận thức mong  
muốn, ý định hành động, ý  
định mục tiêu  
ABSTRACT  
This study investigated the relationships between perceive,  
intention and entrepreneurial behaviors of Vietnamese students.  
We surveyed 368 start-up students from universities of Ho Chi  
Minh City, Binh Duong, Dong Nai, and Ba Ria Vung Tau. The  
objective of this study extended the EEM theory by adding the  
implementation intention to the model. The results showed that  
this factor had a positive effect on entrepreneurial behavior.  
Finally, we drew the conclusions and implications for university  
policies and the future research.  
Keywords:  
entrepreneurial behavior,  
perceived feasibility,  
perceived desirability,  
implementation intention,  
goal intention  
1. Giới thiệu  
Khởi nghiệp là một lĩnh vực luôn được các nhà nghiên cứu quan tâm hàng đầu vì sự  
phát triển nền kinh tế quốc gia. Việc gia tăng được số lượng các doanh nghiệp trong nền kinh  
tế luôn là mối bận tâm chính của chính phủ, các nhà hoạch định chính sách và các học giả với  
hai lý do. Một là, tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế; Hai là, giảm thất nghiệp (Carree, Piergiovanni,  
Santarelli, & Verheul, 2009), đặc biệt với sinh viên mới ra trường (Fayolle & Liñán, 2014) tại  
76 Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90  
các nước đang phát triển. Lứa tuổi thanh niên từ 18 đến 36 thường mạo hiểm, ít sợ rủi ro, mong  
muốn làm giàu, nhạy bén với các cơ hội kinh doanh, có ý định khởi nghiệp và thực hiện khởi  
nghiệp ở mức cao (GEM, 2016)1.  
Tuy nhiên, nhận thức khởi nghiệp của Sinh viên Việt Nam có một số khác biệt nhất  
định. Tại nhiều quốc gia phát triển, khởi nghiệp dựa trên nền tảng của sự sáng tạo. Trong khi  
đó, nhận thức tại Việt Nam lại có phần nghiêng về tạo việc làm, tăng thu nhập và xem như là  
một lựa chọn nghề nghiệp (GEM, 2016). Mặc dù nhận thức về khởi nghiệp ở độ tuổi 18-36 là  
khá cao, nhưng ý định khởi nghiệp lại không tương xứng (GEM, 2016). Vậy, nhận thức khởi  
nghiệp của sinh viên có ảnh hưởng như thế nào đến ý định và cuối cùng đến hành vi khởi nghiệp  
thực sự của họ?  
Nghiên cứu này nhằm kiểm định vai trò của nhận thức khởi nghiệp đến ý định và hành  
vi khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam thông qua việc khảo sát sinh viên năm cuối các trường  
Đại học tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu, với 3 đóng  
góp mới:  
1) Kiểm định vai trò của yếu tố nhận thức (nhận thức khả thi và nhận thức mong muốn)  
đến ý định (mục tiêu, hành động) và hành vi khởi nghiệp;  
2) Kiểm định tác động của yếu tố ý định mục tiêu đến ý định hành động;  
3) Đánh giá mức độ tác động của ý định khởi nghiệp (mục tiêu và hành động) đến hành  
vi khởi nghiệp.  
Các phần tiếp theo của nghiên cứu này gồm: (1) Cơ sở lý thuyết và lược khảo các công  
trình nghiên cứu liên quan; (2) Phương pháp nghiên cứu; (3) Kết quả và thảo luận; (4) Kết luận  
và hàm ý chính sách.  
2. Lược khảo lý thuyết về khởi nghiệp  
2.1. Cơ sở lý thuyết  
2.1.1. Mô hình sự kiện khởi nghiệp (Krueger, Reilly, & Carsrud, 2000)  
Theo mô hình này thì ý định khởi nghiệp có liên quan đến nhiều yếu tố, chẳng hạn như  
sự mong muốn có nhận thức (nhận thức cơ hội khởi nghiệp hay sự hấp dẫn của cơ hội), khuynh  
hướng hành động và nhận thức tính khả thi (nhận thức về năng lực của nhà khởi nghiệp). Để  
dự định có thể được thực hiện nó cần phải có một số tác nhân đẩy (tiêu cực), làm thay đổi cuộc  
sống con người như: bất mãn công việc hiện tại, li dị, mất việc, … Hay, một số tác nhân kéo  
theo (tích cực) như tìm được đối tác tốt hoặc có hỗ trợ tài chính.  
2.1.2. Lý thuyết về các pha hành động (Gollwitzer, 1993; Gollwitzer & Brandstätter,  
1997)  
Lý thuyết các pha hành động (Theory of action phases - TAP) được Gollwitzer (1993)  
phát triển trong những năm 90. Có hai loại ý định: ý định mục tiêu (goal intention) và ý định  
hành động (implementation intention). Ý định mục tiêu đề cập đến “Tôi định thực hiện X”,  
trong khi ý định hành động tương ứng với “Tôi có ý định hành động nhắm mục tiêu X khi tôi  
1 GEM: Global Entrepreneurship Monitor - chỉ số khởi nghiệp toàn cầu  
Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90 77  
gặp tình huống Y”. Vì vậy, những người thiết lập ý định hành động xác định khi nào, ở đâu và  
làm thế nào họ có kế hoạch ban hành ý định của họ (Brandstätter, Lengfelder, & Gollwitzer,  
2001) từ đó dẫn đến hành động. Như vậy, ý định mục tiêu sẽ ở dạng tổng quát (là một dạng tín  
hiệu), còn ý định hành động là ý định chi tiết để cụ thể hóa ý định mục tiêu.  
2.1.3. Lý thuyết thiết lập mục tiêu (Latham & Locke, 1991)  
Lý thuyết thiết lập mục tiêu (Theory of goal setting motivation) cho rằng có hai yếu tố  
quyết định nhận thức về hành vi: Giá trị và ý định. Trong khi mục tiêu được định nghĩa là những  
gì cá nhân ý thức được và cố gắng thực hiện. Còn giá trị là những kết quả mà cá nhân đó mong  
muốn đạt được. Các mục tiêu cần phải rõ ràng cụ thể (không chấp nhận mơ hồ) nhưng cũng  
phải đầy thách thức sẽ giúp nâng cao động cơ của cá nhân thực hiện để đạt được nó. Mục tiêu  
càng chi tiết thì càng làm động cơ thực hiện hành vi càng cao.  
2.2. Lược khảo các công trình nghiên cứu thực nghiệm có liên quan  
Các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước có liên quan đến nghiên cứu này được  
trình bày tóm tắt ở Bảng 1.  
Bảng 1  
Lược khảo tóm tắt một số công trình nghiên cứu liên quan  
Nghiên cứu  
van Gelderen và cộng sự Lý thuyết dự định hành vi Sử dụng các yếu tố có sẵn  
(2008); (TPB) Ajzen (1991); Lý trong lý thuyết để kiểm định  
do Paço, Ferreira, Raposo, thuyết sự kiện khởi nghiệp cho sinh viên Đại học hoặc  
Lý thuyết nền  
Nhận xét  
Rodrigues, và Dinis (2011); (Krueger et al., 2000)  
Bui và Nguyen (2016)  
trung học đến từ các nước  
phát triển (Đức, Pháp, Tây  
Ban Nha, Bồ Đào Nha) hoặc  
các nước có nền kinh tế đang  
phát triển (Romania, Ukraine  
, Malaysia, Trung Quốc,  
Tunisia,  
Ethiopia,  
Afghanistan, Peru, Việt  
Nam)  
Hmieleski và Corbett (2006); Lý thuyết dự định hành vi Bổ sung yếu tố yếu tố sự thích  
Hayton  
(2012);  
và  
Cholakova (TPB) Ajzen (1991);  
ứng  
(proclivity  
for  
improvisation) vào mô hình  
gốc  
De Clercq, Dimov, và Lý thuyết dự định hành vi Nghiên cứu mối quan hệ giữa  
Thongpapanl (2013)  
(TPB) Ajzen (1991); Lý khả năng nhận thức và sự hấp  
thuyết sự kiện khởi nghiệp dẫn đối với ý định được điều  
(Krueger et al., 2000)  
tiết bởi định hướng học tập và  
niềm đam mê làm việc  
Fitzsimmons và Douglas Lý thuyết dự định hành vi Nghiên cứu sự tương tác giữa  
(2011);  
(TPB) Ajzen (1991); Lý nhận thức cơ hội khởi nghiệp  
thuyết sự kiện khởi nghiệp và tính khả thi  
(Krueger et al., 2000)  
78 Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90  
Nghiên cứu  
Lý thuyết nền  
Nhận xét  
Nabi và Liñán (2013)  
Lý thuyết dự định hành vi Nghiên cứu ảnh hưởng của cá  
(TPB) Ajzen (1991)  
tính, trạng thái tâm lý và nhân  
khẩu học đến ý định khởi  
nghiệp  
Bhandari (2012) ;  
(Hadjimanolis &  
Poutziouris, 2011)  
Guerrero, Josep, và Urbano  
(2008); Bui và Nguyen  
(2016)  
Lý thuyết dự định hành vi Mối cứu mối quan hệ giữa  
(TPB) Ajzen (1991)  
nền tảng gia đình và ý định  
khởi nghiệp  
Lý thuyết dự định hành vi Nghiên cứu mối quan hệ giữa  
(TPB) Ajzen (1991)  
nền tảng giáo dục và ý định  
khởi nghiệp  
Gird và Bagraim (2008)  
Lý thuyết dự định hành vi Nghiên cứu mối quan hệ giữa  
(TPB) Ajzen (1991)  
yếu tố kinh nghiệm và ý định  
khởi nghiệp  
Walker, Jeger, và Kopecki  
(2013)  
Lý thuyết dự định hành vi Các yếu tố môi trường, văn  
(TPB) Ajzen (1991); Lý hóa, thể chế và các tổ chức hỗ  
thuyết sự kiện khởi nghiệp trợ khởi nghiệp ảnh hưởng  
(Krueger et al., 2000)  
Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu  
đến ý định khởi nghiệp  
Như vậy, các nghiên cứu trên chỉ dừng ở ý định khởi nghiệp. Hướng nghiên cứu từ ý  
định đến hành vi khởi nghiệp cũng đã được đề cập nhưng chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào.  
Hơn nữa, nhận thức khởi nghiệp của Sinh viên Việt Nam (là quốc gia có nền kinh tế chuyển  
đổi) có một số khác biệt nhất định so với các nước đang phát triển. Vì vậy, kiểm định mối quan  
hệ giữa nhận thức đến ý định và hành vi khởi nghiệp được đặt ra để nghiên cứu.  
2.3. Các khái niệm trong mô hình nghiên cứu và các giả thuyết  
Hành vi khởi nghiệp  
Theo Schumpeter (1934), khởi nghiệp là tạo ra các kết hợp mới. Với Cole (1968), là  
hoạt động có mục đích để khởi đầu, duy trì và phát triển một hoạt động kinh doanh nhằm thu  
được lợi ích về tài chính hay các lợi ích khác trong một thế giới kinh tế hay kinh doanh mà thế  
giới đó sẽ tạo ra một sự tự do cho chính người thực hiện hoạt động này. Theo Shapero và Sokol  
(1982) thì tinh thần khởi nghiệp là quá trình mà cá nhân sẵn sàng tiên phong trong việc nắm bắt  
các cơ hội kinh doanh hấp dẫn và khả thi mà họ nhận biết được. Trong khi đó ý định khởi  
nghiệp là bước đầu tiên trong quá trình khám phá, sáng tạo, khai thác cơ hội để khởi nghiệp và  
thành lập doanh nghiệp mới (Gartner, Shaver, Gatewood, & Katz, 1994).  
Ý định khởi nghiệp  
Các định nghĩa về ý định khởi nghiệp được tổng hợp và trình bày trong Bảng 2.  
Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90 79  
Bảng 2  
Định nghĩa về ý định khởi nghiệp  
Tác giả  
Định nghĩa  
Bird (1988)  
Ý định khởi nghiệp là một trạng thái của tâm trí nhấn  
mạnh đến sự quan tâm cá nhân và kinh nghiệm để thực  
hiện việc tạo ra doanh nghiệp mới.  
Tubbs và Ekeberg (1991)  
Ý định khởi nghiệp là một đại diện các hành động có kế  
hoạch để thực hiện một hành vi kinh doanh.  
Shane và Venkataraman (2000) Ý định khởi nghiệp là quá trình nhận dạng, đánh giá, và  
khai thác cơ hội kinh doanh  
Reynolds và cộng sự (2005)  
Ý định khởi nghiệp là các gắn kết cá nhân của các doanh  
nhân tiềm năng để bắt đầu khởi nghiệp  
Souitaris, Zerbinati, và Al-  
Laham (2007)  
Ý định khởi nghiệp là sự liên quan về ý định của một cá  
nhân để bắt đầu một doanh nghiệp  
Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu  
Trong nghiên cứu này, nhóm tác giả sẽ sử dụng định nghĩa của Shane và Venkataraman  
(2000).  
Ý định mục tiêu  
Theo Gollwitzer (1993), ý định mục tiêu chính là ý định trong lý thuyết dự định hành vi  
(TPB) của Azjen hay EEM, với Fayolle và Liñán (2014) ý định mục tiêu là một dạng cam kết  
và là một bước đi cần thiết trước khi thực hiện ý định và hành vi. Trong lý thuyết thiết lập mục  
tiêu thì đó là mục tiêu đầy thách thức vì đầy thách thức mới khiến cá nhân quyết tâm đạt được.  
Ý định hành động  
Theo Sheeran và Silverman (2003) phân biệt giữa “giai đoạn tạo động lực mà người đó  
quyết định hành động và một giai đoạn hoạch định (volitional) mà người đó hoạch định làm thế  
nào để quyết định trở thành hiện thực”. Giai đoạn động lực là giai đoạn liên quan đến quá trình  
nhận dạng cơ hội khởi nghiệp và khả năng khởi nghiệp trong các mô hình ý định. Giai đoạn  
hoạch định đề cập đến ý định hành động và không được giải quyết trong các mô hình ý định.  
Tuy nhiên nó vẫn là một phần của quá trình thực hiện hành vi.  
Nhận thức khởi nghiệp  
Một cơ hội kinh doanh thường được định nghĩa như là một "tình huống tương lai được  
coi là hấp dẫn và khả thi" (Stevenson & Jarillo, 2007). Tính mong muốn đề cập đến giá trị nhận  
thức hoặc sự hấp dẫn của cơ hội (ví dụ: cơ hội có tiềm năng lợi nhuận cao được đánh giá là rất  
mong muốn). Tính khả thi đề cập đến khả năng thực thi hay khó khăn của cơ hội (ví dụ: cơ hội  
nằm trong một thị trường cạnh tranh cao là khả thi hơn là một cơ hội nằm trong một thị trường  
chỉ với một vài đối thủ cạnh tranh yếu).  
Mối quan hệ giữa ý định mục tiêu và hành vi khởi nghiệp  
Lý thuyết về sự kiện khởi nghiệp (EEM) của (Shapero & Sokol, 1982), lý thuyết hành  
vi có kế hoạch (TPB) của (Ajzen, 1991) cho rằng ý định là chỉ báo quan trọng dự báo hành vi  
80 Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90  
của con người. Theo Randall và Wolff (1994), mối quan hệ giữa ý định và hành vi không thay  
đổi theo thời gian. Trong nghiên cứu tổng kết về định lượng 98 nghiên cứu trước đó của  
(Schlaegel & Koenig, 2014) khẳng định vẫn có tương quan cao cùng chiều giữa ý định và hành  
vi trong bối cảnh khởi nghiệp. Từ những phân tích nêu trên, giả thuyết H1a được đưa ra như  
sau:  
H1a: Ý định mục tiêu tác động cùng chiều đến hành vi khởi nghiệp  
Mối quan hệ giữa ý định hành động và hành vi khởi nghiệp  
Ý định hành động hiệu quả trong việc dẫn dắt hành động, đặc biệt khi các mục tiêu có  
thể đạt được thông qua các hành động, hoặc đối với mô hình hành vi tương đối phức tạp như  
khởi nghiệp. Sheeran và Silverman (2003) xác nhận ý định hành động làm tăng khả năng hành  
động và hiệu quả của nó cũng không giảm theo thời gian. Các ý định hành động cũng có thể  
giúp giải quyết một cách hiệu quả sự lo lắng và những cảm xúc tiêu cực (Sheeran, Aubrey, &  
Kellett, 2007). Như vậy, căn cứ vào những phân tích trên, giả thuyết H1b được phát biểu như  
sau:  
H1b: Ý định hành động sẽ có tác động cùng chiều đến hành vi khởi nghiệp  
Mối quan hệ giữa ý định mục tiêu và ý định hành động  
Ý định mục tiêu được theo đuổi sẽ thành công hơn khi kết hợp với các ý định hành động  
(Gollwitzer & Brandstätter, 1997). Vì nó tạo ra một liên kết chặt chẽ giữa các tín hiệu và các  
hành vi trong trí nhớ và mục đích thực hiện sẽ làm tăng khả năng tiếp cận trong tư duy vì thế  
gây ra hành động (Gollwitzer, 1993). Cho nên, các ý định hành động tạo thuận lợi cho việc bắt  
đầu các hành vi dự định (Gollwitzer & Sheeran, 2006). Trên cơ sở lý thuyết của Gollwitzer  
(1993), giả thuyết H2 được phát biểu như sau:  
H2: Ý định mục tiêu sẽ có tác động cùng chiều đến ý định hành động khởi nghiệp  
Mối quan hệ giữa nhận thức khởi nghiệp và ý định mục tiêu  
Các nghiên cứu gần đây cho rằng mong muốn và khả thi là đặc điểm của các cơ hội kinh  
doanh cụ thể (Haynie, Shepherd, & McMullen, 2009). Kết quả này cho thấy ảnh hưởng trực  
tiếp của tính mong đợi và khả thi của việc đánh giá cơ hội (Haynie et al., 2009; Mitchell  
Shepherd, & Sharfman, 2011). Hơn nữa tính mong muốn và tính khả thi cao đều có ảnh hưởng  
tích cực đến việc đánh giá cơ hội. Lý thuyết tiềm năng khởi nghiệp của (Krueger & Brazeal,  
1994) cho rằng một cá nhân ham muốn khởi nghiệp, cảm nhận về tính khả thi khởi nghiệp thì  
sẽ có tiềm năng khởi nghiệp, nếu có tác động của các nhân tố kéo hoặc đẩy thì tiềm năng khởi  
nghiệp sẽ thúc đẩy cá nhân hình thành ý định khởi nghiệp. Từ những phân tích nêu trên giả  
thuyết H3a và H4a được phát biểu như sau:  
H3a: Nhận thức khả thi sẽ tác động cùng chiều đến ý định mục tiêu khởi nghiệp  
H4a: Nhận thức mong muốn sẽ tác động cùng chiều đến ý định mục tiêu khởi nghiệp  
Mối quan hệ giữa nhận thức khởi nghiệp và ý định hành động  
Gollwitzer (1993) cho rằng giai đoạn nhận thức chính là giai đoạn tạo động lực để khởi  
nghiệp. Một cá nhân khi có động lực sẽ hình thành ý định mục tiêu hoặc là ý định hành động.  
Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90 81  
Sức mạnh của ý định hành động trong việc nối kết giữa nhận thức, ý định mục tiêu và hành vi  
lần đầu tiên được Gollwitzer kiểm tra và nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác. Nghiên cứu của  
(Brännback, Carsrud, Elfving, Kickul, & Krueger, 2006), ý định khởi nghiệp chủ yếu phụ thuộc  
vào nhận thức cơ hội và nhận thức khả năng khởi nghiệp. Trong nghiên cứu của (Schlaegel &  
Koenig, 2014), kết hợp giữa hai mô hình TPB (Ajzen, 1991) và EEM (Krueger et al., 2000). Vì  
thế, giả thuyết H3b, H4b được phát biểu như sau:  
H3b: Nhận thức khả thi sẽ tác động cùng chiều đến ý định hành động khởi nghiệp  
H4b: Nhận thức mong muốn sẽ tác động cùng chiều đến ý định hành động khởi nghiệp  
Tổng hợp các giả thuyết trên, mô hình nghiên cứu đề xuất được trình bày như Hình 1:  
Nhận thức  
khả thi  
Ý định  
mục tiêu  
H3a+  
H1a+  
H1b+  
H3b+  
H4a+  
Hành vi  
khởi nghiệp  
H2+  
Nhận thức  
mong muốn  
Ý định  
hành động  
H4b+  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu  
3.1. Dữ liệu nghiên cứu  
Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu điều tra bằng phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng  
câu hỏi chi tiết với thang đo Likert 7 bậc (từ 1: Hoàn toàn không đồng ý đến 7: hoàn toàn đồng  
ý).  
Mẫu nghiên cứu  
Nghiên cứu này sử dụng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi chi tiết với sinh  
viên năm cuối tại Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa Vũng Tàu. Thời  
gian phỏng vấn từ tháng 4-7/2017.  
Mẫu được chọn theo phương pháp thuận tiện với số lượng theo nguyên tắc 5:1 (Nguyen,  
2011). Mô hình có (22 biến quan sát + 02 biến kiểm soát)*5 = 120. Phát ra 1817 phiếu thu về  
1432 phiếu. Trong đó có 406 phiếu trả lời đã và đang khởi nghiệp, trong số này có 38 phiếu có  
số lượng các câu trả lời trống trên 10% tổng số câu hoặc các câu chọn điểm như nhau vì vậy bị  
loại. Số còn lại là 368 được đưa vào nghiên cứu chính thức. Theo đó, Đại học Kinh tế - Kỹ  
thuật Bình Dương (17SV-4,62%); Đại học Bình Dương (9SV-2,45%); Đại học Thủ Dầu Một  
(20SV-5,43%); Đại học Lạc Hồng (35SV-9,51%), Đại học Bà Rịa Vũng Tàu (13SV-3,53%);  
Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (157SV-42,66%); Đại học Hoa Sen (33SV-8,97%);  
Đại học Tài chính - Marketing (30SV-8,15%); Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh (54SV-  
82 Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90  
14,67%). Về ngành nghề chỉ khảo sát sinh viên năm cuối quản trị kinh doanh. Về giới tính, nam  
chiếm 73,8% với 271SV, trong khi đó nữ chiếm 26,2% với 97SV.  
Thang đo  
Thang đo dựa trên các thang đo lập lại và được điều chỉnh sau nghiên cứu định tính. Tất  
cả các thang đo trong mô hình nghiên cứu đều là thang đo đa biến. Các thang đo này sử dụng  
Likert 7 bậc. Mô hình có 5 khái niệm nghiên cứu với 22 biến quan sát được trình bày trong  
Bảng 3.  
Bảng 3  
Thang đo các khái niệm trong mô hình và nguồn gốc các thang đo  
Số biến  
Khái niệm nghiên cứu  
quan  
sát  
Nguồn gốc  
Ý định mục tiêu khởi nghiệp (INT)  
1) Tôi đã sẵn sàng làm bất cứ điều gì để trở thành một doanh  
nhân; 2) Mục tiêu nghề nghiệp của tôi đang trở thành một  
doanh nhân; 3) Tôi sẽ cố gắng hết sức để bắt đầu và điều  
hành công ty của riêng tôi; 4) Tôi quyết tâm tạo công ty  
trong tương lai  
Krueger et al. (2000);  
Wang, Lu, và  
Millington (2011)  
04  
Hành vi khởi nghiệp (BEH)  
1) Xây dựng kế hoạch kinh doanh; 2) Phát triển sản phẩm  
hoặc dịch vụ; 3) Các nỗ lực tiếp thị theo kế hoạch; 4) Nói  
chuyện với khách hàng tiềm năng; 5) Thu thập thông tin về  
đối thủ cạnh tranh  
Kautonen, van  
Gelderen, và  
Tornikoski (2015)  
05  
03  
Ý định hành động khởi nghiệp (INT_I)  
1) Bạn có nghĩ về một ý tưởng có thể làm cơ sở để bắt đầu  
công ty của riêng bạn; 2) Bạn đang phát triển một sản  
phẩm/dịch vụ; 3) Hiện bạn đang tiết kiệm tiền cho ý định  
bắt đầu kinh doanh của mình  
Gollwitzer và  
Brandstätter (1997).  
Nhận thức mong muốn (DES)  
1) Là một doanh nhân có nhiều lợi thế hơn bất lợi đối với  
tôi; 2) Một sự nghiệp như một doanh nhân là điều thú vị đối  
với tôi; 3) nếu tôi có cơ hội, vốn và khả năng, tôi sẽ bắt đầu  
một công ty mới; 4) Là một doanh nhân sẽ cho tôi một sự  
hài lòng lớn; 5) Trong số các lựa chọn khác nhau, tôi muốn  
trở thành một doanh nhân  
05  
05  
Krueger et al. (2000)  
Krueger et al. (2000)  
Nhận thức khả thi (FEA)  
1)Tin tưởng vào khả năng tồn tại và tăng trưởng của dự án  
kinh doanh nếu tôi có ý định thành lập công ty; 2) Tôi cho  
rằng việc thành lập công ty với tôi là khả thi; 3)Tôi đủ phẩm  
chất để thành lập công ty; 4) Kiến thức và kinh nghiệm là  
động lực cho tôi thành lập công ty mới; 5) Mạng lưới các  
mối quan hệ thuận lợi cho việc thành lập công ty của tôi  
Nguồn: Tổng hợp của nhóm nghiên cứu  
Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90 83  
3.2. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp nghiên cứu được thực hiện thông qua 02 giai đoạn: (1) Nghiên cứu sơ bộ;  
và (2) Nghiên cứu chính thức.  
Nghiên cứu sơ bộ định tính: dùng để điều chỉnh các biến quan sát đo lường các khái  
niệm nghiên cứu thông qua kỹ thuật thảo luận nhóm để các thang đo có thể được hiểu rõ ràng  
và đồng nhất về yếu tố nhận thức, ý định mục tiêu, ý định hành động, và hành vi khởi nghiệp.  
Nghiên cứu sơ bộ định lượng: Thang đo nháp được dùng để phỏng vấn thử với mẫu 110  
sinh viên đã và đang khởi nghiệp theo phương pháp lấy mẫu thuận tiện để kiểm định độ tin cậy  
của thang đo. Sau bước này, thang đo được hoàn chỉnh và sử dụng cho bước nghiên cứu định  
lượng chính thức. Nghiên cứu sơ bộ định lượng được thực hiện để đánh giá thang đo bằng hệ  
số tin cậy (Cronbach’s Alpha) và phân tích nhân tố khám phá (EFA).  
4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
4.1. Kết quả nghiên cứu  
Kết quả phân tích CFA với mô hình tới hạn cho thấy chi-bình phương là 240,109 với  
109 bậc tự do, giá trị p=0,000. Nếu điều chỉnh theo bậc tự do có CMIN/df = 2,202<3, đạt yêu  
cầu độ tương thích. Các chỉ tiêu khác nhau như GFI = 0,928, TLI = 0,935, CFI = 0.948, RMSEA  
= 0.057 < 0,80, đều đạt yêu cầu. Vì vậy, mô hình tới hạn đạt được độ tương thích với dữ liệu  
thị trường.  
Bảng 4  
Bảng tóm tắt kết quả kiểm định thang đo  
Phương sai  
trích  
(Average  
Variance  
Extracted)  
0,676  
Độ tin cậy  
Tổng hợp  
Số  
biến  
quan  
sát  
Khái niệm  
Cronbach’s  
(Composite  
Reliability)  
Alpha  
Ý định mục tiêu  
03  
03  
03  
04  
0,860  
0,804  
0,788  
0,756  
0,862  
0.808  
0,761  
0,806  
Ý định hành động  
0,584  
0,485  
0.517  
Hành vi khởi nghiệp  
Nhận thức mong muốn  
Nhận thức khả thi  
03  
0,806  
0,806  
0,511  
Nguồn: Xử lý số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu  
Kết quả SEM (Hình 2) cho thấy chi-bình phương là 322,014 với 112 bậc tự do, giá trị  
p=0,000. Nếu điều chỉnh theo bậc tự do có CMIN/df = 2,875 <3.0, đạt yêu cầu độ tương thích;  
GFI = 0,907, TLI = 0,898, CFI = 0.916, RMSEA = 0.071 < 0,80, đều đạt yêu cầu. Hiện tượng  
Heywood không xuất hiện trong quá trình ước lượng các mô hình CFA, SEM và đa số các sai  
số chuẩn (standardized residuals) đều nhỏ hơn |2,28|. Vì vậy, có thể kết luận, mô hình này thích  
hợp với dữ liệu thị trường.  
84 Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90  
Hình 2. Kết quả SEM cho mô hình lý thuyết (đã chuẩn hóa)  
Kết quả ước lượng các tham số chính được trình bày ở Bảng 5 tất cả các mối quan hệ  
đều có ý nghĩa thống kê (p-value<5%). Như vậy tất cả các giả thuyết đều được chấp nhận.  
Bảng 5  
Kết quả kiểm định mối quan hệ giữa các khái niệm nghiên cứu (chuẩn hóa)  
Ước  
Mối quan hệ  
S.E. C.R.  
P
lượng  
Hành vi khởi nghiệp  
Hành vi khởi nghiệp  
Ý định hành động  
Ý định mục tiêu  
Ý định mục tiêu  
Ý định hành động  
Ý định hành động  
<--- Ý định mục tiêu  
<--- Ý định hành động  
<--- Ý định mục tiêu  
<--- Nhận thức khả thi  
<--- Nhận thức mong muốn  
<--- Nhận thức khả thi  
<--- Nhận thức mong muốn  
0,351 0,066 5.306  
0,256 0,071 3.595  
0,270 0,063 4.309  
0,570 0,082 6.963  
0,247 0,087 2.829 0,005  
0,457 0,082 5.546 ***  
0,182 0,079 2.303 0,021  
***  
***  
***  
***  
Ghi chú: *** mức ý nghĩa 1%  
Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu  
Kết quả các tác động trực tiếp, gián tiếp và tổng hợp vào các biến phụ thuộc (hành vi  
khởi nghiệp, ý định hành động, ý định mục tiêu) được trình bày ở Bảng 6.  
Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90 85  
Bảng 6  
Tác động nhận thức khởi nghiệp đến hành vi khởi nghiệp thông qua ý định khởi nghiệp  
Nhận  
Ý định  
Ý định  
Biến phụ  
thuộc  
Nhận thức  
khả thi  
thức  
mong  
muốn  
Loại tác động  
Trực tiếp  
mục tiêu  
hành động  
0,394  
0
0
0,264  
0
Hành vi khởi  
nghiệp  
Gián tiếp  
Tổng hợp  
0,078  
0,472  
0,328  
0,328  
0,115  
0,115  
0,264  
Trực tiếp  
Gián tiếp  
Tổng hợp  
0
0
0
0
0
0
0,467  
0
0,467  
0,168  
0
0,168  
Ý định mục  
tiêu  
Trực tiếp  
Gián tiếp  
Tổng hợp  
0,294  
0
0,294  
0
0
0
0,407  
0,137  
0,544  
0,135  
0,049  
0,184  
Ý định hành  
động  
Nguồn: Kết quả từ xử lý số liệu điều tra của nhóm nghiên cứu  
4.2. Đánh giá kết quả  
Kết quả nghiên cứu có một số ý nghĩa như sau:  
Một là, Kiểm chứng được vai trò quan trọng của nhận thức khả thi đến ý định khởi  
nghiệp (ý định mục tiêu và ý định hành động) của sinh viên Việt Nam.  
Hai là, Khẳng định lại vai trò quan trọng của ý định mục tiêu và ý định hành động trong  
mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi khởi nghiệp, trong đó yếu tố trung gian ý định hành  
động được đưa vào mô hình có ý nghĩa thống kê (mối quan hệ mới chưa được kiểm định tại  
Việt Nam), góp phần phát triển lý thuyết sự kiện khởi nghiệp (EEM) của Krueger và cộng sự  
(2000).  
Ba là, Yếu tố ý định hành động được xem là yếu tố có hiệu quả đối với việc thúc đẩy  
hành vi khởi nghiệp. Nó nhấn mạnh từ dạng tâm trí (ý định mục tiêu) chuyển sang ý định hành  
động nhằm cụ thể hóa các mục tiêu đã định hướng trước đó. Từ đó giúp nhà khởi nghiệp tiềm  
năng kiên trì với ý định khởi nghiệp.  
5. Kết luận và hàm ý chính sách cho các trường Đại học  
5.1. Kết luận  
Kết quả nghiên cứu này khác với kết quả nghiên cứu của (Schlaegel & Koenig, 2014)  
được kiểm định tại các nước phương Tây) cho rằng yếu tố nhận thức mong muốn (khả năng  
nhận thức cơ hội của nhà khởi nghiệp) có vai trò rất quan trọng trong việc hình thành ý định  
hơn là so với yếu tố nhận thức khả thi (nhận thức năng lực của nhà khởi nghiệp). Schlaegel và  
Koenig (2014) nhận định rằng có thể tại các nước phương Đông nhận thức khả thi sẽ quan trọng  
hơn so với nhận thức mong muốn và đề nghị kiểm định lại mối quan hệ này. Trong khi đó, kết  
86 Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90  
quả của nghiên cứu này (tại Việt Nam) lại cho thấy nhận thức khả thi có tác động rất mạnh đến  
ý định (cả mục tiêu và hành động) và hành vi khởi nghiệp.  
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo  
Nghiên cứu này chỉ thực hiện đối với sinh viên năm cuối ngành quản trị kinh doanh tại  
09 trường Đại học các tỉnh/thành: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Bà Rịa  
Vũng Tàu, do đó khả năng tổng quát hóa chưa cao. Kết quả sẽ tốt hơn nếu được thực hiện tại  
các trường Đại học như Cần Thơ, Đà Nẵng, Hà Nội.  
Nghiên cứu này chọn mẫu thuận tiện do đó cũng có nhược điểm là tính đại diện không  
cao. Hơn nữa, nghiên cứu từ ý định đến hành vi nếu chỉ khảo sát một lần cũng có hạn chế nhất  
định, nó cần phải có các dữ liệu một thời điểm và đa thời điểm để phân tích thì sẽ cho kết quả  
tốt.  
Còn nhiều các yếu tố khác tác động đến ý định và đến hành vi khởi nghiệp như các yếu  
tố văn hóa hoặc động cơ khởi nghiệp, … đây cũng là một hướng phát triển tiếp theo của nghiên  
cứu.  
5.2. Hàm ý chính sách và giải pháp  
Kết quả nghiên cứu đã khẳng định yếu tố nhận thức khả thi (năng lực của nhà khởi  
nghiệp) và ý định hành động có tác động rất lớn đến hành vi khởi nghiệp. Yếu tố này gợi mở  
cho sinh viên cần trải nghiệm và kiên trì đầu tư cho các ý tưởng khởi nghiệp của mình thông  
qua các hoạt động đào tạo tại Đại học nhằm tăng cường năng lực khởi nghiệp cho sinh viên.  
Sau đây là một số hàm ý chính sách và giải pháp:  
Đối với sinh viên  
Trước khi khởi nghiệp sinh viên cần phải hình thành động lực thông qua nhận thức tính  
hấp dẫn của các cơ hội khởi nghiệp, đánh giá năng lực khởi nghiệp từ đó hình thành các ý  
tưởng, ý định khởi nghiệp cộng với đam mê để thực hiện những ý định khởi nghiệp đó. Những  
nhà khởi nghiệp thành công ngoài việc có động lực, khát vọng, ý chí thì cần phải kiên trì phát  
triển các ý tưởng kinh doanh dù phải đối mặt với nhiều trở ngại khó khăn và thất bại. Nghiên  
cứu này cho thấy, khả năng khởi nghiệp là yếu tố rất quan trọng, trong khi rất nhiều người cố  
gắng khởi nghiệp còn thiếu những kiến thức, kỹ năng và những năng lực cơ bản. Đây là một  
trong những lý do mà nhiều nhà khởi nghiệp gặp khó khăn ngay từ đầu hoặc đóng cửa chỉ sau  
vài tháng khởi nghiệp.  
Để có thể khởi nghiệp, sinh viên cần được trang bị rất nhiều nền tảng kiến thức khởi  
nghiệp có liên quan như kiến thức về thị trường sản phẩm/dịch vụ, bán hàng và marketing, đối  
thủ cạnh tranh, công nghệ, nguồn nhân lực, luật pháp đặc biệt là tài chính. Nếu sinh viên có ý  
tưởng, kiên trì, tìm được thị trường cho sản phẩm/dịch vụ của mình nhưng thiếu vốn thì tất cả  
vẫn chỉ là ý tưởng trên giấy. Vì vậy, nếu không có hoặc ít vốn để khởi nghiệp thì sinh viên có  
thể huy động vốn bên ngoài nếu muốn khởi nghiệp.  
Đối với các trường Đại học  
Các trường Đại học nên tập trung đào tạo phương pháp và kỹ năng để giúp sinh viên  
phát hiện ra các sản phẩm/dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường. Hiện nay, sinh viên thường được  
Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90 87  
đào tạo theo các quy tắc kinh doanh, các lí thuyết kinh tế, phương pháp tài chính và xây dựng  
bản kế hoạch kinh doanh khá lý thuyết trong khi khởi nghiệp phải điều hành doanh nghiệp thực.  
Sinh viên thường chỉ được dạy làm ra nhiều tiền thay vì được dạy về gia tăng giá trị cho  
thị trường. Mục đích tối thượng của khởi nghiệp là phá vỡ thị trường bằng việc đem tới giá trị  
cho nhiều người và đồng thời tạo ra việc làm mới, thị trường mới, và ngành công nghiệp mới.  
Các trường Đại học tại Việt Nam chưa có hoạt động tạo môi trường để sinh viên có thể  
trao đổi các ý tưởng và học hỏi từ người khác, rất khó tìm ra người hỗ trợ giỏi, phần lớn sinh  
viên đều tự làm việc độc lập. Vì vậy, các trường Đại học nên tạo ra môi trường cho sinh viên  
thảo luận về các ý tưởng của họ với các doanh nhân thành công, từ đó hiện thực hóa ý tưởng và  
tiến tới khởi nghiệp. Khởi nghiệp là phải hành động không phải trên giấy. Bên cạnh dạy về tài  
chính, kinh tế và quản trị thì phải dạy cho sinh viên về tâm lí để có thể đối phó với những thất  
bại và chấp nhận rủi ro.  
Tài liệu tham khảo  
Ajzen, I. (1991). The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human  
Decision Processes, 50(2), 179-211. doi:10.1016/0749-5978(91)90020-T  
Albert, B. (1986). Social foundations of thought and action: A social cognitive theory. New  
York, NY: Prentice-Hall.  
Bhandari, N. C. (2012). Relationship between students’ gender, their own employment, their  
parents’ employment, and the students’ intention for entrepreneurship. Journal of  
Entrepreneurship Education, 15, 133-144.  
Bird, B. (1988). Implementing entrepreneurial ideas: The case for intention. Academy of  
Management Review, 13(3), 442-453. doi:10.5465/amr.1988.4306970  
Brandstätter, V., Lengfelder, A., & Gollwitzer, P. M. (2001). Implementation intentions and  
efficient action initiation. Journal of Personality and Social Psychology, 81(5), 946-960.  
doi:10.1037/0022-3514.81.5.946  
Brännback, M., Carsrud, A., Elfving, J., Kickul, J., & Krueger, N. F. (2006). Why replicate  
entrepreneurial intentionality studies? Prospects, perils, and academic reality. Retrieved  
October  
5,  
2017,  
from  
ntentionality_studies_Prospects_perils_and_academic_reality  
Bui, T. T., & Nguyen, H. X. (2016). Ý định khởi nghiệp của sinh viên: Nghiên cứu điều tra tại  
TP.HCM [Student entrepreneurship intentions: An investigation in Ho Chi Minh City].  
Paper presente at Hội thảo khoa học: Khởi nghiệp tại Việt Nam: Cơ hội và thách thức  
trong thời kỳ hội nhập, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Ho Chi Minh, Vietnam.  
Carree, M., Piergiovanni, R., Santarelli, E., & Verheul, I. (2009). Policies fostering new firm  
formation and self-employment in Italy. In Public policies for fostering entrepreneurship  
(pp. 15-34). New York, NY: Springer.  
Cole, A. H. (1968). The entreprenuer introductory remarks. The American Economic Review,  
58(2), 60-63.  
88 Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90  
De Clercq, D., Dimov, D., & Thongpapanl, N. (2013). Organizational social capital,  
formalization, and internal knowledge sharing in entrepreneurial orientation formation.  
Entrepreneurship Theory and Practice, 37(3), 505-537. doi:10.1111/etap.12021  
do Paço, A. M. F., Ferreira, J. J. M., Raposo, M., Rodrigues, R. G., & Dinis, A. (2011).  
Behaviours and entrepreneurial intention: Empirical findings about secondary students.  
Journal of International Entrepreneurship, 9(1), 20-38. doi:10.1007/s10843-010-0071-9  
Fayolle, A., & Liñán, F. (2014). The future of research on entrepreneurial intentions. Journal  
of Business Research, 67(5), 663-666. doi:10.1016/j.jbusres.2013.11.024  
Fitzsimmons, J. R., & Douglas, E. J. (2011). Interaction between feasibility and desirability in  
the formation of entrepreneurial intentions. Journal of Business Venturing, 26(4), 431-  
440. doi:10.1016/j.jbusvent.2010.01.001  
Gartner, W. B., Shaver, K. G., Gatewood, E., & Katz, J. A. (1994). Finding the entrepreneur in  
entrepreneurship. Entrepreneurship Theory and Practice, 18, 5-5.  
GEM. (2016). Báo cáo chỉ số khởi nghiệp Việt nam 2015: Hoạt động kinh doanh xã hội  
[Vietnam startup index 2015 report: Social business activities]. Hanoi, Vietnam: NXB  
Giao thông Vận tải.  
Gird, A., & Bagraim, J. (2008). The theory of planned behaviour as predictor of entrepreneurial  
intent amongst final-year university students. South African Journal of Psychology, 38(4),  
711-724. doi:10.1177/008124630803800410  
Gollwitzer, P. M. (1993). Goal achievement: The role of intentions. European Review of Social  
Psychology, 4(1), 141-185. doi:10.1080/14792779343000059  
Gollwitzer, P. M., & Brandstätter, V. (1997). Implementation intentions and effective goal  
pursuit. Journal of Personality and Social Psychology, 73(1), 186-199.  
doi:10.1037/0022-3514.73.1.186  
Gollwitzer, P. M., & Sheeran, P. (2006). Implementation intentions and goal achievement: A  
meta analysis of effects and processes. Advances in Experimental Social Psychology, 38,  
69-119. doi:10.1016/S0065-2601(06)38002-1  
Guerrero, M., Josep, R., & Urbano, D. (2008). The impact of desirability and feasibility on  
entrepreneurial intentions: A structural equation model. International Entrepreneurship  
and Management Journal, 4(1), 35-50. doi:10.1007/s11365-006-0032-x  
Hadjimanolis, A., & Poutziouris, P. (2011). Family business background, perceptions of  
barriers, and entrepreneurial intentions in Cyprus. International Journal of  
Entrepreneurial Venturing, 3(2), 168-182. doi:10.1504/IJEV.2011.039339  
Haynie, J. M., Shepherd, D. A., & McMullen, J. S. (2009). An opportunity for me? The role of  
resources in opportunity evaluation decisions. Journal of Management Studies, 46(3),  
337-361.  
Hayton, J. C., & Cholakova, M. (2012). The role of affect in the creation and intentional pursuit  
of entrepreneurial ideas. Entrepreneurship Theory and Practice, 36(1), 41-68.  
doi:10.1111/j.1540-6520.2011.00458.x  
Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90 89  
Hmieleski, K. M., & Corbett, A. C. (2006). Proclivity for improvisation as a predictor of  
entrepreneurial intentions. Journal of Small Business Management, 44, 45-63.  
doi:10.1111/j.1540-627X.2006.00153.x  
Kautonen, T., van Gelderen, M., & Tornikoski, E. T. (2015). Predicting entrepreneurial  
behaviour: A test of the theory of planned behaviour. Applied Economics, 45(6), 697-  
707. doi:10.1080/00036846.2011.610750  
Krueger, N. F., & Brazeal, D. V. (1994). Entrepreneurial potential and potential entrepreneurs.  
Entrepreneurship Theory and Practice, 18, 91-91.  
Krueger, N. F., Jr., Reilly, M. D., & Carsrud, A. L. (2000). Competing models of  
entrepreneurial intentions. Journal of Business Venturing, 15(5/6), 411-432.  
doi:10.1016/S0883-9026(98)00033-0  
Latham, G. P., & Locke, E. A. (1991). Self-regulation through goal setting. Organizational  
Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 212-247.  
Mitchell, J. R., Shepherd, D. A., & Sharfman, M. P. (2011). Erratic strategic decisions: When  
and why managers are inconsistent in strategic decision making. Strategic Management  
Journal, 32(7), 683-704. doi:10.1002/smj.905/full  
Nabi, G., & Liñán, F. (2013). Considering business start-up in recession time: The role of risk  
perception and economic context in shaping the entrepreneurial intent. International  
Journal of Entrepreneurial Behavior & Research, 19(6), 633-655. doi:10.1108/IJEBR-  
10-2012-0107  
Nguyen, T. D. (2011). Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh - Thiết kế và thực  
hiện [Methods of scientific research in business - Design and implementation]. Hanoi,  
Vietnam: Nhà xuất bản Lao động Xã hội.  
Parks-Stamm, E. J., Gollwitzer, P. M., & Oettingen, G. (2007). Action control by  
implementation intentions: Effective cue detection and efficient response initiation.  
Social Cognition, 25(2), 248-266. doi:10.1521/soco.2007.25.2.248  
Randall, D. M., & Wolff, J. A. (1994). The time interval in the intention-behaviour relationship:  
Meta-analysis. British Journal of Social Psychology, 33(4), 405-418. doi:10.1111/j.2044-  
8309.1994.tb01037.x  
Reynolds, P., Bosma, N., Autio, E., Hunt, S., De Bono, N., Servais, I., . . . Chin, N. (2005).  
Global entrepreneurship monitor: Data collection design and implementation 1998-2003.  
Small Business Economics, 24(3), 205-231. doi:10.1007/s11187-005-1980-1  
Schlaegel, C., & Koenig, M. (2014). Determinants of entrepreneurial intent: A meta-analytic  
test and integration of competing models. Entrepreneurship Theory and Practice, 38(2),  
291-332. doi:10.1111/etap.12087  
Schumpeter, J. A. (1934). The theory of economic development: An inquiry into profits, capital,  
credit, interest, and the business cycle. Cambridge, MA: Harvard University Press.  
Shane, S., & Venkataraman, S. (2000). The promise of entrepreneurship as a field of research.  
Academy of Management Review, 25(1), 217-226. doi:10.5465/amr.2000.2791611  
90 Nguyễn Quang Thu và cộng sự. Tạp chí Khoa học Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, 13(2), 75-90  
Shapero, A., & Sokol, L. (1982). The social dimensions of entrepreneurship. Retrieved October  
11,  
2017,  
from  
epreneurship  
Sheeran, P., & Silverman, M. (2003). Evaluation of three interventions to promote workplace  
health and safety: Evidence for the utility of implementation intentions. Social Science &  
Medicine, 56(10), 2153-2163. doi:10.1016/S0277-9536(02)00220-4  
Sheeran, P., Aubrey, R., & Kellett, S. (2007). Increasing attendance for psychotherapy:  
Implementation intentions and the self-regulation of attendance-related negative affect.  
Journal of Consulting and Clinical Psychology, 75(6), 853-863. doi:10.1037/0022-  
006X.75.6.853  
Sokol, L. (1982). The social dimension of entrepreneurship. In The encyclopedia of  
entrepreneurship. Englewood Cliffs, NJ: Prentice-Hall.  
Souitaris, V., Zerbinati, S., & Al-Laham, A. (2007). Do entrepreneurship programmes raise  
entrepreneurial intention of science and engineering students? The effect of learning,  
inspiration and resources. Journal of Business Venturing, 22(4), 566-591.  
Stevenson, H. H., & Jarillo, J. C. (2007). A paradigm of entrepreneurship: Entrepreneurial  
management. Entrepreneurship: Concepts, theory and perspective, 11, 155-170.  
Tubbs, M. E., & Ekeberg, S. E. (1991). The role of intentions in work motivation: Implications  
for goal-setting theory and research. Academy of Management Review, 16(1), 180-199.  
van Gelderen, M., Brand, M., van Praag, M., Bodewes, W., Poutsma, E., & van Gils, A. (2008).  
Explaining entrepreneurial intentions by means of the theory of planned behaviour.  
Career Development International, 13(6), 538-559. doi:10.1108/13620430810901688  
Walker, J. K., Jeger, M., & Kopecki, D. (2013). The role of perceived abilities, subjective norm  
and intentions in entrepreneurial activity. The Journal of Entrepreneurship, 22(2), 181-  
202. doi:10.1177/0971355713490621  
pdf 16 trang Thùy Anh 15240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng nhận thức khởi nghiệp đến hành vi khởi nghiệp của sinh viên Việt Nam: Vai trò ý định mục tiêu và ý định hành động", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_nhan_thuc_khoi_nghiep_den_hanh_vi_khoi_nghiep_cua.pdf