Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ

TẠPCHÍKHOAHỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG  
JOURNAL OF SCIENCE AND TECHNOLOGY  
HUNG VUONG UNIVERSITY  
Vol. 22, No. 1 (2021): 23-33  
Tập 22, Số 1 (2021): 23-33  
Email: tapchikhoahoc@hvu.edu.vn Website: www.hvu.edu.vn  
VAI TRÒ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA  
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH PHÚ THỌ  
Diệp Tố Uyên1*, Phùng Thị Khang Ninh1,  
Trần Thị Bích Nhân1, Lê Văn Bắc1, Trần Mạnh Dũng2  
1Khoa Kinh tế & QTKD, Trường Đại học Hùng Vương, Phú Thọ  
2Tạp chí Kinh tế & Phát triển, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội  
Ngày nhận bài: 05/8/2020; Ngày chỉnh sửa: 25/8/2020; Ngày duyệt đăng: 28/8/2020  
Tóm tắt  
ghiên cứu này dựa trên cơ sở lý thuyết, căn cứ pháp lý của Nhà nước, sử dụng số liệu thống kê để phân tích  
vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Phú Thọ trong sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương  
N
từ năm 2010 đến năm 2018. Kết quả từ nghiên cứu cho thấy, hiện nay tại tỉnh Phú Thọ số lượng doanh nghiệp  
nhỏ và vừa chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hiện  
nay đang đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động, gia tăng quy mô  
kinh tế và đóng góp phần lớn vào ngân sách địa phương. Từ phân tích, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị  
để phát huy vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương cũng  
như cung cấp thêm căn cứ khoa học để hoạch định phương hướng phát triển doanh nghiệp ở tỉnh Phú Thọ trong  
những năm tới.  
Từ khóa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa, tỉnh Phú Thọ, vai trò.  
chung và các quốc gia đang phát triển nói  
riêng đều chú ý hỗ trợ các DNNVV, nhằm  
huy động tối đa các nguồn lực tham gia phát  
triển đất nước [1].  
1. Đặt vấn đề  
Trải qua quá trình lịch sử phát triển lâu  
dài, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DDNVV) ở  
các nước phát triển và các nước đang phát  
triển được xem là một lực lượng có tầm quan  
trọng về kinh tế và giải quyết các vấn đề xã  
hội. Các DNNVV hoạt động trong mọi lĩnh  
vực của nền kinh tế quốc dân từ sản xuất  
công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch  
vụ... không chỉ có vai trò lớn trong phát  
triển kinh tế mà còn góp phần giải quyết  
nhiều vấn đề xã hội. Trong xu thế hội nhập  
và toàn cầu hóa như hiện nay, các nước nói  
Phú Thọ là một tỉnh thuộc khu vực Trung  
du và miền núi Bắc Bộ, có tiềm năng lớn và  
mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế -  
xã hội, quốc phòng an ninh và đối ngoại của cả  
nước. Trong quá trình phát triển của tỉnh Phú  
Thọ, các doanh nghiệp nói chung và DNNVV  
nói riêng giữ vai trò quan trọng, hạt nhân chủ  
yếu của nền kinh tế. Tại tỉnh Phú Thọ, vị trí  
DNNVV ngày càng quan trọng, trong đó cơ  
23  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Diệp Tố Uyên và ctv.  
bản nhất là tạo được việc làm, tăng thu nhập  
cho người lao động và qua đó góp phần thực  
hiện các mục tiêu quốc gia về phát triển bền  
vững, góp phần chuyển dịch cơ cấu của nền  
kinh tế theo hướng năng động hiệu quả. Năm  
2018, theo số liệu thống kê, trên địa bàn tỉnh  
Phú Thọ có 4.722 doanh nghiệp đang hoạt  
động, trong đó DNNVV là 4.518, chiếm  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Phương pháp nghiên cứu chính được sử  
dụng trong nghiên cứu này là phương pháp  
phân tích theo chỉ tiêu để đánh giá vai trò  
của DNNVV trong phát triển kinh tế - xã hội  
tỉnh Phú Thọ trong những năm vừa qua. Do  
đó, trước hết tác giả xác định các chỉ tiêu sẽ  
được sử dụng để hoàn thành đề tài, bao gồm:  
95,7% trên tổng số doanh nghiệp và đóng góp (1) Tỷ lệ đóng góp tạo việc làm; (2) Tỷ lệ đóng  
góp vào ngân sách nhà nước; (3) Tỷ lệ đóng  
góp thu ngân sách nhà nước; (4) Tỷ lệ đóng  
góp vào GRDP của tỉnh; (5) Tỷ lệ đóng góp  
vào giá trị phi nông nghiệp (Phi nông nghiệp  
là lĩnh vực luôn có năng suất lao động cao hơn  
lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp).  
hơn 2.524 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước  
[2]. Theo Báo cáo tổng hợp đánh giá thực  
trạng và định hướng phát triển nhận lực của  
tỉnh Phú Thọ đến năm 2025 do Trường Đại  
học Hùng Vương báo cáo UBND tỉnh (2019),  
bình quân cứ 263 người mới có 1 doanh  
nghiệp, trong khi của cả nước con số này là  
132, của Thái Lan khoảng 30. Điều đó cho  
thấy vấn đề phát triển doanh nghiệp nói chung  
và phát triển DNNVV là vấn đề vô cùng cần  
thiết. Doanh nghiệp là nhân tố quyết định quy  
mô, sự gia tăng GRDP và việc làm nên tình  
hình này không nên để kéo dài [3].  
Để có số liệu phân tích như trên, tác giả  
phải tiến hành thu thập và xử lý số liệu thống  
kê, công việc này được tiến hành theo các  
bước chủ yếu như dưới đây:  
Bước 1: Thu thập số liệu. Nghiên cứu sử  
dụng dữ liệu điều tra năm 2010, 2015 và 2018  
của các cơ quan thống kê (Tổng cục Thống  
kê và Cục Thống kê tỉnh). Dữ liệu được đưa  
vào phân tích trong Stata 14.  
Một số nghiên cứu gần đây đã làm rõ thực  
trạng và giải pháp phát triển của các doanh  
nghiệp tỉnh Phú Thọ nói chung trong bối  
cảnh hội nhập và cách mạng công nghiệp  
4.0 [4]. Mặc dù nghiên cứu đã phân tích chi  
tiết những kết quả phát triển của các doanh  
nghiệp ở tỉnh Phú Thọ và có những đề xuất  
có giá trị cho sự phát triển doanh nghiệp của  
tỉnh nhưng nghiên cứu này đề cập đến tất cả  
các doanh nghiệp với các quy mô khác nhau  
và chưa có phân tích đánh giá cụ thể về nhóm  
các DNNVV [4].  
Bước 2: Căn cứ vào yêu cầu nghiên cứu,  
tác giả xử lý số liệu tỉnh để đưa vào phân  
tích, đánh giá vai trò của DNNVV trên địa  
bàn tỉnh Phú Thọ. Số liệu về DNNVV được  
tổng hợp theo quy định tại Điều 6 của Nghị  
định 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm  
2018 [5].  
Bước 3: Phân tích, đánh giá vai trò của  
DNNVV đối với phát triển kinh tế - xã hội  
của tỉnh Phú Thọ trong thời kỳ 2010-2018.  
Trước tình hình như vậy, trong nghiên  
cứu này tác giả mong muốn trình bày một  
số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của  
DNNVV ở Phú Thọ để cung cấp thêm cơ sở  
khoa học cần thiết cho việc hoạch định phát  
triển doanh nghiệp nói chung và DNNVV  
nói riêng, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh  
tế - xã hội của tỉnh trong những năm tới.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa  
3.1.1. Nhận diện về doanh nghiệp nhỏ  
và vừa  
quy định DNNVV được phân theo quy mô  
bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh  
24  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 22, Số 1 (2021): 23-33  
nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa [5]. DNNVV trong việc thâm nhập thị trường mới, cung  
cấp các sản phẩm và dịch vụ mới hoặc những  
mặt hàng có tỷ suất lợi nhuận cao. Trong  
trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt  
hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thể  
làm lại từ đầu được.  
có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào  
quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh  
nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Khái niệm  
về doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp  
nhỏ và siêu nhỏ rõ ràng phải dựa trước tiên  
vào quy mô doanh nghiệp. Thông thường  
đó là tiêu chí về số nhân công, vốn đăng ký,  
doanh thu..., các tiêu chí này thay đổi theo  
từng quốc gia, từng chương trình phát triển  
khác nhau.  
+ DNNVV dễ dàng đổi mới trang thiết bị,  
đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với  
chi phí cố định thấp:  
Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh  
ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít,  
do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi  
điều kiện cho phép. Đồng thời doanh nghiệp  
tận dụng được lao động dồi dào để thay thế  
vốn. Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng  
đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình,  
các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đạt được  
hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có  
thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt  
và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả  
khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh  
nghiệp có nhiều hạn chế.  
- DNNVV có những lợi thế như sau:  
+ DNNVV dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ  
đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay  
đổi của thị trường. Doanh nghiệp chỉ cần một  
số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều  
kiện sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu  
hoạt động. DNNVV có vòng quay sản phẩm  
nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc  
vay bạn bè, người thân dễ dàng; bộ máy tổ  
chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết  
định. Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng  
như quy mô nhỏ của nó, doanh nghiệp có  
thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của  
thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng  
kinh doanh, phát huy tính năng động, nhạy  
+ DNNVV không có hoặc ít có xung  
đột giữa người sử dụng lao động với người  
lao động:  
Quy mô doanh nghiệp không lớn, số  
bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng. Khi lượng lao động trong một doanh nghiệp  
nhu cầu của thị trường thay đổi hay khi gặp không nhiều, sự phân công lao động trong  
khó khăn, nội bộ doanh nghiệp dễ dàng bàn doanh nghiệp chưa quá mức rõ rệt. Mối quan  
bạc đi đến thống nhất thực hiện điều chỉnh. hệ giữa người sử dụng lao động và người lao  
DNVVN dễ dàng thực hiện thay đổi máy động khá gắn bó. Nếu xảy ra xung đột, mâu  
móc thiết bị, chuyển hướng sản xuất kinh thuẫn thì dễ dàng dàn xếp.  
doanh các mặt hàng để đáp ứng nhanh chóng  
những nhu cầu mới của thị trường, vượt qua  
khó khăn và đạt hiệu quả kinh tế cao trong  
thời gian ngắn.  
- DNNVV cũng có một số hạn chế cơ  
bản sau:  
+ DNNVV luôn bị hạn chế về vốn: Hạn  
chế đầu tiên và lớn nhất của DNNVV nằm  
trong chính đặc điểm của nó, đó là quy mô  
nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này  
+ DNNVV sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh  
vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao:  
DNVVN được thành lập dễ dàng vì không thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm  
đòi hỏi nhiều vốn, số lượng lao động không trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay  
nhiều, chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng thấp nên tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị. Các  
có khả năng mạo hiểm sẵn sàng mạo hiểm. DNNVV gặp khó khăn trong nâng cấp trang  
Vì vậy, DNVVN thường gặp thuận lợi hơn thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là các  
25  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Diệp Tố Uyên và ctv.  
công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng  
+ DNNVV tuy đã có căn cứ pháp lý  
đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm để hoạt động nhưng các chính sách hỗ trợ  
và tính cạnh tranh trên thị trường. Công nghệ chưa nhiều. Nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ  
lạc hậu đi kèm với năng lực quản lý kém nên  
giá thành cao, năng lực cạnh tranh thấp, ít có  
cơ hội tiếp cận được các đơn hàng sản xuất  
với giá trị gia tăng cao [6-7]. DNNVV luôn  
là đối tượng yếu thế trước làn sóng hội nhập  
bởi năng lực sản xuất nhỏ lẻ, tổ chức sản xuất  
khó đạt các quy chuẩn quốc tế. Trên thực tế,  
doanh nghiệp lớn trong nước chưa đảm nhận  
được vai trò dẫn dắt DNNVV cùng ngành  
để thâm nhập vào thị trường thế giới, cũng  
như chưa tập hợp được DNNVV để đủ sức  
phòng vệ trước hàng hóa và sự cạnh tranh  
với doanh nghiệp nước ngoài. Mặt khác, lâu  
nay DNNVV dựa chủ yếu vào thị trường nội  
địa, nhưng gần đây, nhiều hệ thống bán lẻ  
nước ngoài xâm nhập vào thị trường trong  
nước, họ có xu hướng hạn chế phân phối  
hàng hóa sản xuất trong nước, thay vào đó  
là phân phối hàng hóa nhập khẩu. Do vậy,  
DNNVV ngày càng gặp thêm khó khăn về  
thị trường đầu ra, từ thị trường nội địa, cũng  
như xuất khẩu.  
DNNVV về thị trường, nguồn nhân lực,  
nghiên cứu công nghệ... còn mang tính hình  
thức, chưa đi vào chiều sâu, chưa đáp ứng  
nguyện vọng của DN, chưa hướng đến mối  
liên kết giữa doanh nghiệp lớn với DNNVV.  
Trong khi đó, cơ chế chính sách chưa thật  
sự khuyến khích doanh nghiệp lớn phát  
triển vệ tinh trong nước. Các chính sách tập  
trung khuyến khích xuất khẩu càng tạo điều  
kiện cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước  
ngoài (FDI) thâm nhập sâu hơn vào ngành  
công nghiệp quốc gia. Tuy nhiên, hệ thống  
cung ứng phụ trợ của họ nằm ở nước ngoài,  
hoặc lôi kéo thêm doanh nghiệp FDI khác để  
thực hiện hệ thống cung ứng “khép kín”. Các  
DNNVV trong nước khó có cơ hội để tiếp  
cận được các doanh nghiệp FDI. [6]  
3.1.2. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa  
Trong khuôn khổ một bài báo tác giả xin  
trình bày một cách khái quát. Cả lý thuyết và  
thực tiễn cho thấy, vai trò của DNNVV có  
những vai trò chủ yếu và quan trọng như sau:  
+ DNNVV có hạn chế về chất lượng nhân  
lực: Các DNNVV có nhiều hạn chế trong đào  
tạo công nhân và chủ doanh nghiệp, thiếu bí  
quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh  
nghiệm trong thiết kế sản phẩm, thiếu đầu tư  
cho nghiên cứu và phát triển, không đủ năng  
lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất  
lượng cao, khó nâng cao được năng suất và  
hiệu quả kinh doanh.  
- Góp phần quan trọng vào giải quyết  
việc làm cho người lao động. Đây là vai  
trò rất quan trọng đối với các tỉnh trung du  
miền núi. Một nền kinh tế muốn phát triển  
nhất thiết phải được tổ chức. DNNVV tạo  
ra tiền đề để tổ chức phát triển kinh tế theo  
hướng hiện đại và trên phạm vi lãnh thổ  
rộng lớn và phát triển đa lĩnh vực. Chính  
điều đó tạo ra tiền đề phát triển nhiều chỗ  
làm việc trong phạm vi một tỉnh, một huyện;  
từ đó trực tiếp giảm thất nghiệp cho người  
lao động. Việc giảm thất nghiệp luôn luôn là  
mục tiêu tối thượng của các quốc gia trong  
quá trình phát triển.  
+ DNNVV luôn bị khó trong trợ giúp về  
tài chính và tiếp cận thị trường. Do tính chất  
vừa và nhỏ của nó, DNNVV gặp khó khăn  
trong thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác  
với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương  
doanh nghiệp đó đang hoạt động; DNNVV  
gặp khó khăn trong thiết lập chỗ đứng vững  
chắc trong thị trường.  
- Góp phần gia tăng quy mô và tốc độ phát  
triển kinh tế. DNNVV trực tiếp tạo ra giá trị  
gia tăng nhờ làm ra nhiều sản phẩm hàng hóa  
26  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 22, Số 1 (2021): 23-33  
đáp ứng yêu cầu của xã hội. Đây là điểm quan giải quyết được nhiều vấn đề về phúc lợi xã  
trọng không chỉ cho biết DNNVV có thể tạo hội, cải tạo môi trường...  
ra nhiều sản phẩm hàng hóa. Nếu những sản  
3.2. Đánh giá thực trạng vai trò doanh  
nghiệp nhỏ và vừa đối với phát triển kinh  
tế - xã hội ở tỉnh Phú Thọ  
phẩm hàng hóa này có chất lượng lại có nhiều  
giá trị gia tăng thì chắc chắn góp phần tạo ra  
nhiều giá trị kinh tế, góp phần thịnh vượng  
3.2.1. Khái quát tình hình phát triển doanh  
nghiệp nhỏ và vừa gắn với tình hình phát triển  
kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ  
nền kinh tế của tỉnh. Kinh tế có phát triển thì  
mới có điều kiện cải thiện mức sống dân cư  
và tạo ra tiền đề để tăng khả năng tích lũy từ  
nội bộ nền kinh tế để đầu tư tái mở rộng. Mặt  
khác, DNNVV còn có vai trò phát triển các  
lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, nông lâm thủy  
sản. Từ đó tạo nên sự phát triển chuyên môn  
hóa sâu cũng như tạo ra sự phát triển tổng hợp  
cho nền kinh tế của địa phương.  
Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 37-  
NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về phương  
hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm  
quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền  
núi Bắc Bộ đến năm 2020, tỉnh Phú Thọ phấn  
đấu được xếp hạng thứ 2/14 các tỉnh Trung du  
và miền núi Bắc Bộ về trình độ phát triển [8].  
Chính quyền và nhân dân Phú Thọ đã tích cực  
triển khai nhiều giải pháp để phát triển kinh  
tế - xã hội và đã đạt được những thành tựu  
đáng khích lệ. Tuy cho đến năm 2018, Phú  
Thọ đứng thứ 4 trong các tỉnh trung du miền  
núi (sau Thái Nguyên, Lào Cai và Bắc Giang).  
GRDP/người và năng suất lao động của Phú  
Thọ đều mới đạt khoảng 76-80% mức trung  
bình của cả nước. Một trong những nguyên  
nhân chủ yếu là phát triển doanh nghiệp đang  
bộc lộ nhiều bất cập, phát triển DNNVV cũng  
có nhiều hạn chế.  
- Góp phần tạo thêm nguồn thu ngân sách  
cho tỉnh. Khi DNNVV phát triển, nó làm tăng  
thu nhập cho người làm việc trong doanh  
nghiệp. Khi thu thập tăng cao thì người dân  
đi mua sắm hàng hóa, nộp thuế giá trị gia tăng  
cho Nhà nước. Đồng thời khi người dân đi  
mua sắm hàng hóa sẽ thúc đẩy doanh nghiệp  
phát triển. Khi doanh nghiệp phát triển mạnh  
thì doanh thu của doanh nghiệp tăng lên. Khi  
doanh thu tăng lên thì doanh nghiệp nộp thuế  
doanh thu cho Nhà nước. Cả hai trường hợp  
này dẫn đến tăng nguồn thu ngân sách cho  
tỉnh. Khi tỉnh có nhiều ngân sách thì có thể  
Bảng 1. Tình hình dân số, doanh nghiệp, GRDP của tỉnh Phú Thọ  
Chỉ tiêu  
Đơn vị tính  
1.000 người  
1.000 người  
Tỷ đồng  
2010  
1.322  
705,1  
21.955  
21.955  
16,6  
2015  
1.370  
743,8  
31.958  
43.148  
23,3  
2018  
1.404  
769,4  
40.890  
57.351  
29,1  
1. Dân số  
2. Lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân  
3. GRDP, giá so sánh  
Giá hiện hành  
Tỷ đồng  
4. GRDP/người, giá 2010  
Giá hiện hành  
Triệu đồng  
Triệu đồng  
Triệu đồng  
Doanh nghiệp  
Doanh nghiệp  
%
16,6  
31,5  
40,8  
5. GRDP/lao động xã hội, giá 2010  
6. Tổng số doanh nghiệp  
7. Riêng DNNVV  
31,1  
42,9  
53,1  
1918  
1858  
96,9  
2716  
2610  
96,1  
4722  
4518  
95,7  
8. Tỷ lệ % so tổng số  
Nguồn: Cục Thống kê Phú Thọ, Niên giám Thống kê năm 2016 và 2018 [9]  
27  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Diệp Tố Uyên và ctv.  
Bảng 1 cho thấy, số lượng các DNNVV Thương mại - dịch vụ. Trong đó, số doanh  
chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng số các nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại  
doanh nghiệp của tỉnh, dao động ở mức 96%. - dịch vụ là lớn nhất. Các doanh nghiệp hoạt  
Năm 2018, tại tỉnh Phú Thọ có 4.722 doanh động ở các quy mô khác nhau, chủ yếu là  
nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực Nông - nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa.  
Lâm - Thủy sản; Công nghiệp - Xây dựng;  
Bảng 2. Thống kê số lượng doanh nghiệp và năm hoạt động tại tỉnh Phú Thọ  
Số lượng doanh nghiệp  
Quy mô  
doanh nghiệp  
Số năm hoạt động bình quân  
(tính đến hiện tại)  
TT  
2016  
2017  
2.009  
1.084  
124  
2018  
1
2
3
4
Siêu nhỏ  
Nhỏ  
1.754  
1.032  
106  
3.162  
1.250  
106  
8,6  
11,9  
12,4  
15,3  
Vừa  
Lớn  
131  
261  
204  
Tổng  
3.023  
3.478  
4.722  
Nguồn: Tác giả phân tích  
Qua bảng 2, ta thấy số lượng doanh nghiệp với năm 2017, số lượng doanh nghiệp toàn  
được thành lập và hoạt động không ngừng tỉnh tăng 1.244 doanh nghiệp, tương ứng tỷ  
tăng qua các năm từ 2016-2018. Năm 2017 lệ tăng 35,8%. Trong đó, doanh nghiệp siêu  
so với năm 2016, số lượng doanh nghiệp nhỏ tăng nhiều nhất 1.153 doanh nghiệp  
toàn tỉnh tăng 455 doanh nghiệp, tương ứng (tỷ lệ tăng 57,39%). Doanh nghiệp vừa và  
tỷ lệ tăng 15,05%. Trong đó, doanh nghiệp lớn giảm 75 doanh nghiệp. Số lượng doanh  
siêu nhỏ tăng nhiều nhất 255 doanh nghiệp nghiệp nhỏ và vừa chiếm 95,7% lượng doanh  
(tỷ lệ tăng 14,54%). Số lượng DNNVV nghiệp tại tỉnh năm 2018 và được thể hiện tại  
chiếm 95,67% lượng doanh nghiệp tại tỉnh Hình 1.  
năm 2016 và 92,5% năm 2017. Năm 2018 so  
Hình 1. Tỷ trọng các doanh nghiệp phân theo  
quy mô năm 2018 tại tỉnh Phú Thọ  
Hình 2. Sức sinh lời của tài sản (ROA)  
của các DNNVV (2016-2018)  
Nguồn: Tác giả phân tích  
28  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 22, Số 1 (2021): 23-33  
Hình 2 phản ánh sức sinh lời của tài  
Tuy nhiên, nếu so sánh với mức trung  
sản của riêng các DNNVV. Nếu xét riêng bình của cả nước thì DNNVV của tỉnh Phú  
các DNNVV của tỉnh thì đã có những dấu Thọ kinh doanh kém hiệu quả hơn mức trung  
hiệu tích cực trong việc gia tăng sức sinh bình của các doanh nghiệp của cả nước. Điều  
lời của tài sản trong các DNNVV tỉnh Phú này cho thấy nhiều vấn đề cần nghiên cứu  
Thọ qua 03 năm (2016-2019). Các doanh trong sự phát triển của các doanh nghiệp tại  
nghiệp vừa đang có sự tiến triển vượt bậc tỉnh Phú Thọ, nếu kéo dài tình trạng này thì  
và hiệu quả nhất, sau đó là các doanh chắc chắn không thể cạnh tranh được trong  
nghiệp siêu nhỏ. Sức sinh lời của các nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay. Các chỉ  
doanh nghiệp nhỏ không có sự cải thiện, tiêu về hiệu quả phát triển DNNVV của tỉnh  
thậm chí đang giảm đi.  
Phú Thọ thể hiện ở Bảng 3.  
Bảng 3. Một số chỉ tiêu về hiệu quả phát triển DNNVV của tỉnh Phú Thọ  
Chỉ tiêu  
Trung bình 2011-2015  
2016  
2017  
1. Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi,%  
- Cả nước  
46,5  
60,0  
47,3  
55,7  
45,6  
51,3  
- Phú Thọ  
2. Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ,%  
- Cả nước  
39,9  
28,5  
49,1  
37,4  
48,0  
37,7  
- Phú Thọ  
3. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế so doanh thu, %  
- Cả nước  
3,7  
0,5  
4,1  
2,2  
4,2  
0,8  
- Phú Thọ  
Nguồn: Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2019 [10]  
3.2.2. Thực trạng vai trò của doanh Tức tạo ra trên 7% số việc làm cho người lao  
nghiệp nhỏ và vừa trong sự phát triển kinh  
tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ  
động trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.  
- DNNVV đóng góp tới khoảng 70-80%  
GTSX của ngành công nghiệp và xây dựng.  
3.2.2.1. Đánh giá chung  
Nhìn chung, các DNNVV đang có những  
đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế -  
xã hội của tỉnh Phú Thọ trên các khía cạnh:  
Tạo ra việc làm, đóng góp của GTSX của  
tỉnh, đóng góp vào GRDP của tỉnh. Đánh giá  
tổng quát trong Bảng 4 ta thấy:  
- DNNVV đóng góp khoảng 31-34%  
GRDP của tỉnh.  
So với tỷ lệ 95,7% DNNVV của tỉnh, đây  
vẫn là một con số khiêm tốn. Nếu có những  
giải pháp tích cực hơn thì chắc chắn sẽ gia  
tăng những đóng góp cho nền kinh tế xã hội  
- DNNVV chiếm trên 7% lao động đang  
làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. trong thời gian tới.  
29  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Diệp Tố Uyên và ctv.  
Bảng 4. Một số chỉ tiêu phản ánh vai trò của DNNNV ở tỉnh Phú Thọ  
Chỉ tiêu  
Đơn vị tính  
1.000 người  
1.000 người  
%
2010  
705,1  
38,6  
2015  
743,8  
46,1  
2018  
769,4  
56,7  
1. Lao động xã hội  
Riêng DNNV  
Tỷ trọng so tổng lao động xã hội  
2. GRDP, giá 2010  
5,4  
6,2  
7,4  
Tỷ đồng  
Tỷ đồng  
%
21.955  
1.199  
31,4  
31.958  
1.186  
33,8  
40.890  
2.524  
34,1  
Riêng DNNV  
Tỷ trọng so tổng số  
3. Tổng thu ngân sách của tỉnh,  
giá hiện hành  
Tỷ đồng  
3.289  
5.174  
8.463  
Riêng DNNV  
Tỷ đồng  
%
874,8  
26,5  
1.537  
29.7  
2.524  
29,8  
Tỷ trọng so tổng số  
Tỷ trọng nộp ngân sách so doanh thu  
4. GTSX công nghiệp - XD, giá 2010  
Riêng DNNV  
%
2,1  
3,2  
4,4  
Tỷ đồng  
Tỷ đồng  
%
17.581  
12.095  
68,8  
15.992  
12.505  
78,2  
21.670  
17.357  
80,1  
Tỷ trọng so tổng số  
Ghi chú: GTSX: Giá trị sản xuất; XD: xây dựng  
Nguồn: Cục Thống kê Phú Thọ, Niên giám Thống kê năm 2016 và 2018 [9]  
3.2.2.2. Những đóng góp chủ yếu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với phát triển kinh  
tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ  
Thứ nhất, Tạo ra nhiều công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, đặc biệt là lao  
động nữ.  
Bảng 5. Thống kê số lao động làm việc trong các DNNVV của tỉnh Phú Thọ  
2016  
2017  
2018  
Ngành kinh doanh  
Số LĐ  
% LĐ nữ  
Số LĐ  
% LĐ nữ  
Số LĐ  
% LĐ nữ  
Nông, lâm, thủy sản  
Công nghiệp, xây dựng  
Thương mại, dịch vụ  
2.266  
26,1  
2.686  
31,6  
3.041  
32,9  
23.558  
12.808  
38.632  
24,5  
10,4  
19,9  
31.352  
19.489  
53.527  
38,7  
36,9  
37,7  
33.430  
20.293  
56.764  
41,3  
38,2  
39,7  
Nguồn: Tác giả tổng hợp và phân tích  
Nhìn vào Bảng 5 ta thấy, các DNNVV với năm 2017, tương ứng tỷ lệ tăng là 6,05%.  
Trong đó, ngành công nghiệp, xây dựng tăng  
2.078 lao động (tăng 6,63%), ngành thương  
mại, dịch vụ tăng 804 lao động (tăng 4,13%).  
Thu nhập bình quân/người/năm của các lao  
động tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng  
lên qua các năm tại tất cả các ngành nghề  
kinh doanh. Cụ thể:  
ngày càng tạo ra nhiều việc làm cho người  
lao động. Năm 2016 thu hút 38.632 lao động.  
Năm 2017 thu hút 53.527 lao động, tăng  
14.895 lao động so với năm 2016, tương ứng  
tỷ lệ tăng là 38,56%. Trong đó, ngành công  
nghiệp, xây dựng tăng 7.794 lao động (tăng  
33,08%), ngành thương mại, dịch vụ tăng  
6.681 lao động (tăng 52,16%). Năm 2018 thu  
Ngành nông, lâm, thủy sản, các doanh  
hút 56.764 lao động, tăng 3.237 lao động so nghiệp siêu nhỏ năm 2016 thu nhập bình  
30  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 22, Số 1 (2021): 23-33  
quân là 31,29 triệu đồng/người/năm thì năm hiện có phát triển có hiệu quả. Điều đáng  
2018 đã tăng lên đến 65 triệu đồng/người/  
năm; các doanh nghiệp nhỏ thu nhập của  
người lao động tăng từ 16,79 triệu đồng/  
người/năm (2016) lên 27,54 triệu đồng/  
người/năm (2018); các doanh nghiệp vừa  
tăng mạnh nhất, thu nhập của người lao động  
tăng gấp đôi từ 65,8 triệu đồng/người/năm  
lên 138,31 triệu đồng/người/năm (2018).  
Ngành công nghiệp, xây dựng, các doanh  
nghiệp siêu nhỏ năm 2016 thu nhập bình  
quân là 80,54 triệu đồng/người/năm thì năm  
2018 đã tăng lên rất mạnh, đến 224,05 triệu  
đồng/người/năm, gần gấp 3 lần; các doanh  
nói là quy mô doanh nghiệp của Phú Thọ  
nhỏ, số doanh nghiệp thuộc loại nhỏ và vừa  
chiếm tới khoảng 96%. Theo Sách trắng về  
doanh nghiệp Việt Nam [10] thì so với mức  
trung bình của cả nước lại vẫn nhỏ hơn nhiều  
(vốn sản xuất bình quân 1 lao động chỉ bằng  
khoảng 32,2% và tài sản cố định bình quân  
1 lao động cũng chỉ bằng khoảng 66,2% so  
mức trunh bình của cả nước). Vốn lưu động  
quá bé thì sản xuất kinh doanh sẽ có hạn. Đó  
là điều ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh  
tế của địa phương.  
nghiệp nhỏ thu nhập của người lao động 3.3. Kiến nghị với tỉnh Phú Thọ  
tăng từ 71,67 triệu đồng/người/năm (2016)  
lên 85,87 triệu đồng/người/năm (2018); các  
doanh nghiệp vừa thu nhập của người lao  
động tăng từ 61,71 triệu đồng/người/năm  
lên 84,45 triệu đồng/người/năm (2018). Lao  
động trong ngành công nghiệp, xây dựng có  
thu nhập cao nhất so với các lĩnh vực khác.  
Ngành thương mại, dịch vụ, các doanh  
nghiệp siêu nhỏ năm 2016 thu nhập bình quân  
của người lao động lần lượt là 50,98 triệu,  
68,67 triệu và 68,53 triệu đồng/người/năm  
của các loại hình doanh nghiệp có quy mô  
siêu nhỏ, nhỏ và vừa thì năm 2018 đã tăng  
lên 64,54 triệu, 86,09 triệu và 71,45 triệu  
đồng/người/năm tương ứng với từng quy mô  
doanh nghiệp.  
Trên cơ sở kết quả đã trình bày ở trên,  
tác giả xin kiến nghị một số việc phải làm  
để thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp nói  
chung và phát triển DNNVV nói riêng trong  
thời gian tới. Đó là:  
Thứ nhất, Xây dựng chiến lược phát  
triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong  
ngắn hạn và dài hạn. Tỉnh Phú Thọ cần xây  
dựng chiến lược phát triển các doanh nghiệp  
trên địa bàn, chú trọng tạo điều kiện cho các  
DNNVV đồng thời thu hút đầu tư đối với các  
doanh nghiệp có quy mô vừa, lớn. Đây là  
kinh nghiệm của các tỉnh Thái Nguyên, Bắc  
Giang, Vĩnh Phúc, Sơn La... Do đó, phải thu  
hút các tập đoàn kinh tế trong nước và các  
tập đoàn mang tầm chiến lược FDI.  
Thứ hai, đóng góp không nhỏ vào nguồn  
Trên cơ sở chiến lược phát triển doanh  
nghiệp, trong đó có phát triển DNNVV  
UBND tỉnh cần xây dựng Chương trình phát  
triển cụ thể cho cả thời kỳ ngắn hạn và dài  
hạn (đến 2030). Trên cơ sở đó tiến hành hoàn  
thiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội  
nói chung và phát triển DNNVV nói riêng.  
Từ đó tiến hành cụ thể hóa luật pháp của Nhà  
nước về phát triển doanh nghiệp, phát triển  
DNNVV; Đồng thời xây dựng những chính  
sách đặc thù để thúc đẩy phát triển doanh  
nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng. Đặc  
thu ngân sách tỉnh Phú Thọ  
Theo thống kê của tỉnh, khả năng thu  
ngân sách trên địa bàn còn hạn chế. Thu ngân  
sách của tỉnh chỉ mới bằng khoảng 78,8%  
năm 2010 và khoảng 63,4% năm 2018. Tức  
là năm 2010 tỷ lệ bội chi ngân sách của Phú  
Thọ là 21,2% và của năm 2018 là 36,6%. Đó  
là mức bội chi lớn. Nói cách khác, Phú Thọ  
đang phụ thuộc rất nhiều vào sự viện trợ từ  
Ngân sách Trung ương. Để tiến tới cân bằng  
thu - chi ngân sách nhất thiết phải phát triển  
nhiều doanh nghiệp, trong đó có DNNVV;  
đồng thời nhất thiết phải làm cho DNNVV biệt là hỗ trợ doanh nghiệp ra đời, ứng dụng  
31  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Diệp Tố Uyên và ctv.  
công nghệ hiện đại và chuyển đổi số trong lý tài chính, đào tạo hoặc bổ sung nguồn lực  
quản trị.  
phù hợp với xu thế kinh tế hiện nay. Kinh tế  
số có thể được tập hợp trong 3 quá trình xử  
lý chính đan xen với nhau: xử lý vật liệu, xử  
lý năng lượng, xử lý thông tin. Trong đó, xử  
lý thông tin là khâu quan trọng nhất mà các  
DNNVV của tỉnh Phú Thọ cần lưu ý.  
UBND tỉnh nên có kế hoạch thành lập  
Hiệp hội doanh nghiệp theo ngành nghề để  
kết nối có hiệu quả DNNVV với chính quyền  
tỉnh và với thị trường quốc tế.  
Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh quá trình cơ  
cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình  
tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng,  
năng suất, hiệu quả. UBND tỉnh cần quyết  
định được các lĩnh vực mũi nhọn, các sản  
phẩm hàng hóa chủ lực trên cơ sở phát huy  
các tiềm năng, lợi thế so sánh và thu hút thật  
nhiều doanh nghiệp lớn, có tầm chiến lược từ  
các tỉnh cũng như từ các quốc gia phát triển  
hàng đầu trên thế giới.  
Thứ ba, Thường xuyên đánh giá hiệu quả  
Thứ hai, Phát huy các doanh nghiệp nhỏ  
và vừa hiện có. UBND tỉnh nên có kế hoạch  
cụ thể để DNNVV thực hiện chuyển đổi số,  
ứng dụng công nghệ quản trị hiện đại, đổi  
mới sản phẩm và nâng cao chất lượng sản  
phẩm cũng như xây dựng thương hiệu, chỉ  
dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc; tham gia  
chuỗi giá trị quốc gia và toàn cầu.  
Tăng cường nâng cao chất lượng về nhân  
lực để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu  
của sản xuất kinh doanh trước mắt và lâu dài,  
bằng cách: đảm bảo về quy mô, cơ cấu theo  
ngành nghề, giới tính, độ tuổi sao cho phù  
hợp, thực hiện phân công lao động hợp lý,  
luôn tính đến hiệu quả công việc. Luôn coi  
trọng việc nâng cao trình độ người lao động  
từ khâu tuyển dụng, đến việc gửi đi đào tạo  
và đào tạo lại, để tạo được đội ngũ lao động  
lành nghề, có kỷ luật và năng suất lao động  
cao, trình độ chuyên môn vững tạo ra chất  
lượng sản phẩm và dịch vụ cao.  
của các doanh nghiệp  
Thực hiện phân tích kết quả và hiệu quả  
kinh doanh để thấy được điểm mạnh, điểm  
yếu ở từng khâu, từng bộ phận từ đó đề ra  
kế hoạch và các giải pháp cho kỳ tới phát  
triển tốt hơn. Về tài chính luôn cần thiết phải  
thực hiện tốt việc thu hút vốn, bảo tồn và  
phát triển vốn, muốn vậy phải thực hiện hạch  
toán kế toán theo những nguyên tắc chuẩn  
mực hiện hành, tăng cường kiểm soát nội bộ,  
thực hiện kiểm toán độc lập, để ngăn ngừa  
sai phạm, thất thoát, thực sự đưa đồng vốn sử  
dụng có hiệu quả. Đồng thời thực hiện liên  
kết liên doanh với các doanh nghiệp khác  
theo nguyên tắc hợp đồng và đảm bảo tính  
pháp lý chặt chẽ. Thực hiện tuân thủ pháp  
luật và chính sách Nhà nước ban hành về  
Luật Doanh nghiệp, Luật Môi trường, chính  
sách thuế và tài chính.  
Thứ tư, Các DNNVV cần nâng cao  
trách nhiệm xã hội doanh nghiệp thông qua  
những hành động và đóng góp tích cực cho  
sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của  
tỉnh Phú Thọ.  
Sẵn sàng chuẩn bị nguồn nhân lực để tham  
gia vào nền kinh tế số - nền kinh tế vận hành  
chủ yếu dựa trên công nghệ số. Kinh tế số bao  
gồm tất cả các lĩnh vực và nền kinh tế (công  
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; sản xuất, phân  
phối, lưu thông hàng hóa, giao thông vận tải,  
logistic, tài chính, ngân hàng...) nên nó bao  
phủ đến tất cả các DNNVV. Tuy nhiên, một  
4. Kết luận  
Vai trò của DNNVV đối với sự phát triển  
kinh tế - xã hội của Phú Thọ vẫn sẽ ngày càng  
bộ phận không nhỏ các DNNVV của tỉnh Phú lớn trong thời kỳ tới. Bên cạnh việc phát huy  
Thọ vẫn chậm đổi mới nên cần thiết phải cập thật tốt vai trò của DNNVV hiện có, phải nhanh  
nhật thông tin, nâng cao chất lượng, trình độ chóng phát triển thêm nhiều DNNVV hơn nữa  
quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro và quản trong thời gian tới. Tỉnh Phú Thọ có điều kiện  
32  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ  
Tập 22, Số 1 (2021): 23-33  
[4] Lê Thị Thanh Thủy, Dương Thị Dung & Phạm  
Quang Sáng (2018). Doanh nghiệp tỉnh Phú  
Thọ: Thực trạng và giải pháp phát triển trong  
bối cảnh hội nhập và cách mạng công nghiệp  
4.0. Tạp chí Kinh tế & Phát triển Trường Đại  
học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, 250 (II), 79-88.  
phát triển DNNVV và rất cần phát triển mạnh  
mẽ DNNVV. Trên địa bàn tỉnh phấn đấu đến  
2030 phải có khoảng 10.000 doanh nghiệp,  
trong đó doanh nghiệp lớn chiếm khoảng 10-  
12%. Các DNNVV cũng lớn lên, quy mô vốn  
sản xuất và lao động phải gấp 2,5-3 lần so hiện  
nay; phấn đấu không còn doanh nghiệp làm  
ăn thua lỗ mà phải làm ăn có lãi. Phát triển  
DNNVV là trách nhiệm của cả xã hội nhưng  
trước hết phải là trách nhiệm của chính quyền  
tỉnh, huyện, xã. Vì thế nhanh chóng nâng cao  
năng lực quản trị địa phương ở tỉnh Phú Thọ.  
UBND tỉnh Phú Thọ ngoài 5 việc có tính giải  
pháp kể trên, cần nhanh chóng nâng cao trình  
độ và năng lực quản lý kinh tế của các huyện,  
xã, nhanh chóng nâng cao năng lực quản lý  
phát triển doanh nghiệp.  
[5] Chính phủ (2018). Nghị định số 39/2018/ NĐ-CP  
về Quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ  
doanh nghiệp nhỏ và vừa.  
[6] Tạp chí Tài chính (2017). Doanh nghiệp vừa và  
[7] Tạp chí Tài chính (2019). Sự yếu thế của  
html>.  
[8] Báo Phú Thọ (2020). Phú Thọ nằm trong tốp đầu  
về trình độ phát triển các tỉnh vùng Trung du và  
Tài liệu tham khảo  
[1] Jasra J., Hunjra A. I., Rehman A. U., Azam R. I.,  
& Khan M. A. (2011). Determinants of business  
success of small and medium enterprises.  
International Journal of Business and Social  
Science, 2(20), 274-280.  
[9] UBND tỉnh Phú Thọ (2016-2018). Niên giám  
Thống kê tỉnh Phú Thọ (2016-2018).  
[2] Tổng cục Thống kê Việt Nam (2016-2018). Số  
liệu điều tra doanh nghiệp hàng năm.  
[10] Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019). Sách trắng  
doanh nghiệp Việt Nam 2019. Nhà xuất bản  
Thống kê, Hà Nội.  
[3] Trường Đại học Hùng Vương (2019). Báo cáo  
tổng hợp đánh giá thực trạng và định hướng phát  
triển nhân lực của tỉnh Phú Thọ đến năm 2025.  
AN ASSESSMENT OF THE ROLES OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES IN THE  
LOCAL SOCIO-ECONOMIC DEVELOPMENT IN PHU THO PROVINCE  
Diep To Uyen1, Phung Thi Khang Ninh1,  
Tran Thi Bich Nhan1, Le Van Bac1, Tran Manh Dung2  
1Faculty of Economics and Business Administration, Hung Vuong University, Phu Tho  
2Journal of Economics & Development, National Economics University, Hanoi  
Abstract  
he research was based on the theoretical basis and legal basis which uses the annual survey data of General  
Statistics Office of Vietnam to analyze the roles of small and medium enterprises in the local socio-  
T
economic development in Phu Tho province for the period from 2010 to 2018. The study results showed that  
the number of small and medium enterprises accounted for 96% of total enterprises in Phu Tho. They played  
an important role in creating many jobs, increasing economic scale and contributing largely to the local budget.  
From the analysis, some recommendations were suggested to promote the role of small and medium enterprises  
in the local socio-economic development, and the scientific bases were also provided for planning enterprises’  
development directions in Phu Tho province in the coming years.  
Keywords: Small and medium enterprises, Phu Tho province, role.  
33  
pdf 11 trang Thùy Anh 22920 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_cac_doanh_nghiep_nho_va_vua_trong_phat_trien_kin.pdf