Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ
TẠPCHÍKHOAHỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÙNG VƯƠNG
JOURNAL OF SCIENCE AND TECHNOLOGY
HUNG VUONG UNIVERSITY
Vol. 22, No. 1 (2021): 23-33
Tập 22, Số 1 (2021): 23-33
VAI TRÒ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH PHÚ THỌ
Diệp Tố Uyên1*, Phùng Thị Khang Ninh1,
Trần Thị Bích Nhân1, Lê Văn Bắc1, Trần Mạnh Dũng2
1Khoa Kinh tế & QTKD, Trường Đại học Hùng Vương, Phú Thọ
2Tạp chí Kinh tế & Phát triển, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội
Ngày nhận bài: 05/8/2020; Ngày chỉnh sửa: 25/8/2020; Ngày duyệt đăng: 28/8/2020
Tóm tắt
ghiên cứu này dựa trên cơ sở lý thuyết, căn cứ pháp lý của Nhà nước, sử dụng số liệu thống kê để phân tích
vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Phú Thọ trong sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương
N
từ năm 2010 đến năm 2018. Kết quả từ nghiên cứu cho thấy, hiện nay tại tỉnh Phú Thọ số lượng doanh nghiệp
nhỏ và vừa chiếm khoảng 96% tổng số doanh nghiệp trên địa bàn. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) hiện
nay đang đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động, gia tăng quy mô
kinh tế và đóng góp phần lớn vào ngân sách địa phương. Từ phân tích, nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị
để phát huy vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương cũng
như cung cấp thêm căn cứ khoa học để hoạch định phương hướng phát triển doanh nghiệp ở tỉnh Phú Thọ trong
những năm tới.
Từ khóa: Doanh nghiệp nhỏ và vừa, tỉnh Phú Thọ, vai trò.
chung và các quốc gia đang phát triển nói
riêng đều chú ý hỗ trợ các DNNVV, nhằm
huy động tối đa các nguồn lực tham gia phát
triển đất nước [1].
1. Đặt vấn đề
Trải qua quá trình lịch sử phát triển lâu
dài, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DDNVV) ở
các nước phát triển và các nước đang phát
triển được xem là một lực lượng có tầm quan
trọng về kinh tế và giải quyết các vấn đề xã
hội. Các DNNVV hoạt động trong mọi lĩnh
vực của nền kinh tế quốc dân từ sản xuất
công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch
vụ... không chỉ có vai trò lớn trong phát
triển kinh tế mà còn góp phần giải quyết
nhiều vấn đề xã hội. Trong xu thế hội nhập
và toàn cầu hóa như hiện nay, các nước nói
Phú Thọ là một tỉnh thuộc khu vực Trung
du và miền núi Bắc Bộ, có tiềm năng lớn và
mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng về kinh tế -
xã hội, quốc phòng an ninh và đối ngoại của cả
nước. Trong quá trình phát triển của tỉnh Phú
Thọ, các doanh nghiệp nói chung và DNNVV
nói riêng giữ vai trò quan trọng, hạt nhân chủ
yếu của nền kinh tế. Tại tỉnh Phú Thọ, vị trí
DNNVV ngày càng quan trọng, trong đó cơ
*Email: [email protected]
23
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Diệp Tố Uyên và ctv.
bản nhất là tạo được việc làm, tăng thu nhập
cho người lao động và qua đó góp phần thực
hiện các mục tiêu quốc gia về phát triển bền
vững, góp phần chuyển dịch cơ cấu của nền
kinh tế theo hướng năng động hiệu quả. Năm
2018, theo số liệu thống kê, trên địa bàn tỉnh
Phú Thọ có 4.722 doanh nghiệp đang hoạt
động, trong đó DNNVV là 4.518, chiếm
2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính được sử
dụng trong nghiên cứu này là phương pháp
phân tích theo chỉ tiêu để đánh giá vai trò
của DNNVV trong phát triển kinh tế - xã hội
tỉnh Phú Thọ trong những năm vừa qua. Do
đó, trước hết tác giả xác định các chỉ tiêu sẽ
được sử dụng để hoàn thành đề tài, bao gồm:
95,7% trên tổng số doanh nghiệp và đóng góp (1) Tỷ lệ đóng góp tạo việc làm; (2) Tỷ lệ đóng
góp vào ngân sách nhà nước; (3) Tỷ lệ đóng
góp thu ngân sách nhà nước; (4) Tỷ lệ đóng
góp vào GRDP của tỉnh; (5) Tỷ lệ đóng góp
vào giá trị phi nông nghiệp (Phi nông nghiệp
là lĩnh vực luôn có năng suất lao động cao hơn
lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp).
hơn 2.524 tỷ đồng vào ngân sách nhà nước
[2]. Theo Báo cáo tổng hợp đánh giá thực
trạng và định hướng phát triển nhận lực của
tỉnh Phú Thọ đến năm 2025 do Trường Đại
học Hùng Vương báo cáo UBND tỉnh (2019),
bình quân cứ 263 người mới có 1 doanh
nghiệp, trong khi của cả nước con số này là
132, của Thái Lan khoảng 30. Điều đó cho
thấy vấn đề phát triển doanh nghiệp nói chung
và phát triển DNNVV là vấn đề vô cùng cần
thiết. Doanh nghiệp là nhân tố quyết định quy
mô, sự gia tăng GRDP và việc làm nên tình
hình này không nên để kéo dài [3].
Để có số liệu phân tích như trên, tác giả
phải tiến hành thu thập và xử lý số liệu thống
kê, công việc này được tiến hành theo các
bước chủ yếu như dưới đây:
Bước 1: Thu thập số liệu. Nghiên cứu sử
dụng dữ liệu điều tra năm 2010, 2015 và 2018
của các cơ quan thống kê (Tổng cục Thống
kê và Cục Thống kê tỉnh). Dữ liệu được đưa
vào phân tích trong Stata 14.
Một số nghiên cứu gần đây đã làm rõ thực
trạng và giải pháp phát triển của các doanh
nghiệp tỉnh Phú Thọ nói chung trong bối
cảnh hội nhập và cách mạng công nghiệp
4.0 [4]. Mặc dù nghiên cứu đã phân tích chi
tiết những kết quả phát triển của các doanh
nghiệp ở tỉnh Phú Thọ và có những đề xuất
có giá trị cho sự phát triển doanh nghiệp của
tỉnh nhưng nghiên cứu này đề cập đến tất cả
các doanh nghiệp với các quy mô khác nhau
và chưa có phân tích đánh giá cụ thể về nhóm
các DNNVV [4].
Bước 2: Căn cứ vào yêu cầu nghiên cứu,
tác giả xử lý số liệu tỉnh để đưa vào phân
tích, đánh giá vai trò của DNNVV trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ. Số liệu về DNNVV được
tổng hợp theo quy định tại Điều 6 của Nghị
định 39/2018/NĐ-CP ngày 11 tháng 3 năm
2018 [5].
Bước 3: Phân tích, đánh giá vai trò của
DNNVV đối với phát triển kinh tế - xã hội
của tỉnh Phú Thọ trong thời kỳ 2010-2018.
Trước tình hình như vậy, trong nghiên
cứu này tác giả mong muốn trình bày một
số vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của
DNNVV ở Phú Thọ để cung cấp thêm cơ sở
khoa học cần thiết cho việc hoạch định phát
triển doanh nghiệp nói chung và DNNVV
nói riêng, góp phần đẩy mạnh phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh trong những năm tới.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
3.1.1. Nhận diện về doanh nghiệp nhỏ
và vừa
Theo Điều 6 tại Nghị định 39/2018/NĐ-CP
quy định DNNVV được phân theo quy mô
bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh
24
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Tập 22, Số 1 (2021): 23-33
nghiệp nhỏ, doanh nghiệp vừa [5]. DNNVV trong việc thâm nhập thị trường mới, cung
cấp các sản phẩm và dịch vụ mới hoặc những
mặt hàng có tỷ suất lợi nhuận cao. Trong
trường hợp thất bại thì cũng không bị thiệt
hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thể
làm lại từ đầu được.
có thể chia thành ba loại cũng căn cứ vào
quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh
nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa. Khái niệm
về doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp
nhỏ và siêu nhỏ rõ ràng phải dựa trước tiên
vào quy mô doanh nghiệp. Thông thường
đó là tiêu chí về số nhân công, vốn đăng ký,
doanh thu..., các tiêu chí này thay đổi theo
từng quốc gia, từng chương trình phát triển
khác nhau.
+ DNNVV dễ dàng đổi mới trang thiết bị,
đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với
chi phí cố định thấp:
Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh
ít nên đầu tư vào các tài sản cố định cũng ít,
do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi
điều kiện cho phép. Đồng thời doanh nghiệp
tận dụng được lao động dồi dào để thay thế
vốn. Với chiến lược phát triển, đầu tư đúng
đắn, sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình,
các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đạt được
hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có
thể sản xuất được hàng hoá có chất lượng tốt
và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả
khi điều kiện sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp có nhiều hạn chế.
- DNNVV có những lợi thế như sau:
+ DNNVV dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ
đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay
đổi của thị trường. Doanh nghiệp chỉ cần một
số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều
kiện sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu
hoạt động. DNNVV có vòng quay sản phẩm
nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc
vay bạn bè, người thân dễ dàng; bộ máy tổ
chức gọn nhẹ linh hoạt, dễ quản lý, dễ quyết
định. Đồng thời, do tính chất linh hoạt cũng
như quy mô nhỏ của nó, doanh nghiệp có
thể dễ dàng phát hiện thay đổi nhu cầu của
thị trường, nhanh chóng chuyển đổi hướng
kinh doanh, phát huy tính năng động, nhạy
+ DNNVV không có hoặc ít có xung
đột giữa người sử dụng lao động với người
lao động:
Quy mô doanh nghiệp không lớn, số
bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng. Khi lượng lao động trong một doanh nghiệp
nhu cầu của thị trường thay đổi hay khi gặp không nhiều, sự phân công lao động trong
khó khăn, nội bộ doanh nghiệp dễ dàng bàn doanh nghiệp chưa quá mức rõ rệt. Mối quan
bạc đi đến thống nhất thực hiện điều chỉnh. hệ giữa người sử dụng lao động và người lao
DNVVN dễ dàng thực hiện thay đổi máy động khá gắn bó. Nếu xảy ra xung đột, mâu
móc thiết bị, chuyển hướng sản xuất kinh thuẫn thì dễ dàng dàn xếp.
doanh các mặt hàng để đáp ứng nhanh chóng
những nhu cầu mới của thị trường, vượt qua
khó khăn và đạt hiệu quả kinh tế cao trong
thời gian ngắn.
- DNNVV cũng có một số hạn chế cơ
bản sau:
+ DNNVV luôn bị hạn chế về vốn: Hạn
chế đầu tiên và lớn nhất của DNNVV nằm
trong chính đặc điểm của nó, đó là quy mô
nhỏ, vốn ít, do đó các doanh nghiệp này
+ DNNVV sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh
vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao:
DNVVN được thành lập dễ dàng vì không thường lâm vào tình trạng thiếu vốn trầm
đòi hỏi nhiều vốn, số lượng lao động không trọng mỗi khi muốn mở rộng thị trường, hay
nhiều, chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng thấp nên tiến hành đổi mới, nâng cấp trang thiết bị. Các
có khả năng mạo hiểm sẵn sàng mạo hiểm. DNNVV gặp khó khăn trong nâng cấp trang
Vì vậy, DNVVN thường gặp thuận lợi hơn thiết bị, đầu tư công nghệ mới, đặc biệt là các
25
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Diệp Tố Uyên và ctv.
công nghệ đòi hỏi vốn lớn, từ đó ảnh hưởng
+ DNNVV tuy đã có căn cứ pháp lý
đến năng suất lao động, chất lượng sản phẩm để hoạt động nhưng các chính sách hỗ trợ
và tính cạnh tranh trên thị trường. Công nghệ chưa nhiều. Nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ
lạc hậu đi kèm với năng lực quản lý kém nên
giá thành cao, năng lực cạnh tranh thấp, ít có
cơ hội tiếp cận được các đơn hàng sản xuất
với giá trị gia tăng cao [6-7]. DNNVV luôn
là đối tượng yếu thế trước làn sóng hội nhập
bởi năng lực sản xuất nhỏ lẻ, tổ chức sản xuất
khó đạt các quy chuẩn quốc tế. Trên thực tế,
doanh nghiệp lớn trong nước chưa đảm nhận
được vai trò dẫn dắt DNNVV cùng ngành
để thâm nhập vào thị trường thế giới, cũng
như chưa tập hợp được DNNVV để đủ sức
phòng vệ trước hàng hóa và sự cạnh tranh
với doanh nghiệp nước ngoài. Mặt khác, lâu
nay DNNVV dựa chủ yếu vào thị trường nội
địa, nhưng gần đây, nhiều hệ thống bán lẻ
nước ngoài xâm nhập vào thị trường trong
nước, họ có xu hướng hạn chế phân phối
hàng hóa sản xuất trong nước, thay vào đó
là phân phối hàng hóa nhập khẩu. Do vậy,
DNNVV ngày càng gặp thêm khó khăn về
thị trường đầu ra, từ thị trường nội địa, cũng
như xuất khẩu.
DNNVV về thị trường, nguồn nhân lực,
nghiên cứu công nghệ... còn mang tính hình
thức, chưa đi vào chiều sâu, chưa đáp ứng
nguyện vọng của DN, chưa hướng đến mối
liên kết giữa doanh nghiệp lớn với DNNVV.
Trong khi đó, cơ chế chính sách chưa thật
sự khuyến khích doanh nghiệp lớn phát
triển vệ tinh trong nước. Các chính sách tập
trung khuyến khích xuất khẩu càng tạo điều
kiện cho doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài (FDI) thâm nhập sâu hơn vào ngành
công nghiệp quốc gia. Tuy nhiên, hệ thống
cung ứng phụ trợ của họ nằm ở nước ngoài,
hoặc lôi kéo thêm doanh nghiệp FDI khác để
thực hiện hệ thống cung ứng “khép kín”. Các
DNNVV trong nước khó có cơ hội để tiếp
cận được các doanh nghiệp FDI. [6]
3.1.2. Vai trò của doanh nghiệp nhỏ và vừa
Trong khuôn khổ một bài báo tác giả xin
trình bày một cách khái quát. Cả lý thuyết và
thực tiễn cho thấy, vai trò của DNNVV có
những vai trò chủ yếu và quan trọng như sau:
+ DNNVV có hạn chế về chất lượng nhân
lực: Các DNNVV có nhiều hạn chế trong đào
tạo công nhân và chủ doanh nghiệp, thiếu bí
quyết và trợ giúp kỹ thuật, không có kinh
nghiệm trong thiết kế sản phẩm, thiếu đầu tư
cho nghiên cứu và phát triển, không đủ năng
lực sản xuất để đáp ứng các yêu cầu về chất
lượng cao, khó nâng cao được năng suất và
hiệu quả kinh doanh.
- Góp phần quan trọng vào giải quyết
việc làm cho người lao động. Đây là vai
trò rất quan trọng đối với các tỉnh trung du
miền núi. Một nền kinh tế muốn phát triển
nhất thiết phải được tổ chức. DNNVV tạo
ra tiền đề để tổ chức phát triển kinh tế theo
hướng hiện đại và trên phạm vi lãnh thổ
rộng lớn và phát triển đa lĩnh vực. Chính
điều đó tạo ra tiền đề phát triển nhiều chỗ
làm việc trong phạm vi một tỉnh, một huyện;
từ đó trực tiếp giảm thất nghiệp cho người
lao động. Việc giảm thất nghiệp luôn luôn là
mục tiêu tối thượng của các quốc gia trong
quá trình phát triển.
+ DNNVV luôn bị khó trong trợ giúp về
tài chính và tiếp cận thị trường. Do tính chất
vừa và nhỏ của nó, DNNVV gặp khó khăn
trong thiết lập và mở rộng quan hệ hợp tác
với các đơn vị kinh tế bên ngoài địa phương
doanh nghiệp đó đang hoạt động; DNNVV
gặp khó khăn trong thiết lập chỗ đứng vững
chắc trong thị trường.
- Góp phần gia tăng quy mô và tốc độ phát
triển kinh tế. DNNVV trực tiếp tạo ra giá trị
gia tăng nhờ làm ra nhiều sản phẩm hàng hóa
26
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Tập 22, Số 1 (2021): 23-33
đáp ứng yêu cầu của xã hội. Đây là điểm quan giải quyết được nhiều vấn đề về phúc lợi xã
trọng không chỉ cho biết DNNVV có thể tạo hội, cải tạo môi trường...
ra nhiều sản phẩm hàng hóa. Nếu những sản
3.2. Đánh giá thực trạng vai trò doanh
nghiệp nhỏ và vừa đối với phát triển kinh
tế - xã hội ở tỉnh Phú Thọ
phẩm hàng hóa này có chất lượng lại có nhiều
giá trị gia tăng thì chắc chắn góp phần tạo ra
nhiều giá trị kinh tế, góp phần thịnh vượng
3.2.1. Khái quát tình hình phát triển doanh
nghiệp nhỏ và vừa gắn với tình hình phát triển
kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ
nền kinh tế của tỉnh. Kinh tế có phát triển thì
mới có điều kiện cải thiện mức sống dân cư
và tạo ra tiền đề để tăng khả năng tích lũy từ
nội bộ nền kinh tế để đầu tư tái mở rộng. Mặt
khác, DNNVV còn có vai trò phát triển các
lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ, nông lâm thủy
sản. Từ đó tạo nên sự phát triển chuyên môn
hóa sâu cũng như tạo ra sự phát triển tổng hợp
cho nền kinh tế của địa phương.
Sau 15 năm thực hiện Nghị quyết số 37-
NQ/TW của Bộ Chính trị khóa IX về phương
hướng phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm
quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền
núi Bắc Bộ đến năm 2020, tỉnh Phú Thọ phấn
đấu được xếp hạng thứ 2/14 các tỉnh Trung du
và miền núi Bắc Bộ về trình độ phát triển [8].
Chính quyền và nhân dân Phú Thọ đã tích cực
triển khai nhiều giải pháp để phát triển kinh
tế - xã hội và đã đạt được những thành tựu
đáng khích lệ. Tuy cho đến năm 2018, Phú
Thọ đứng thứ 4 trong các tỉnh trung du miền
núi (sau Thái Nguyên, Lào Cai và Bắc Giang).
GRDP/người và năng suất lao động của Phú
Thọ đều mới đạt khoảng 76-80% mức trung
bình của cả nước. Một trong những nguyên
nhân chủ yếu là phát triển doanh nghiệp đang
bộc lộ nhiều bất cập, phát triển DNNVV cũng
có nhiều hạn chế.
- Góp phần tạo thêm nguồn thu ngân sách
cho tỉnh. Khi DNNVV phát triển, nó làm tăng
thu nhập cho người làm việc trong doanh
nghiệp. Khi thu thập tăng cao thì người dân
đi mua sắm hàng hóa, nộp thuế giá trị gia tăng
cho Nhà nước. Đồng thời khi người dân đi
mua sắm hàng hóa sẽ thúc đẩy doanh nghiệp
phát triển. Khi doanh nghiệp phát triển mạnh
thì doanh thu của doanh nghiệp tăng lên. Khi
doanh thu tăng lên thì doanh nghiệp nộp thuế
doanh thu cho Nhà nước. Cả hai trường hợp
này dẫn đến tăng nguồn thu ngân sách cho
tỉnh. Khi tỉnh có nhiều ngân sách thì có thể
Bảng 1. Tình hình dân số, doanh nghiệp, GRDP của tỉnh Phú Thọ
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
1.000 người
1.000 người
Tỷ đồng
2010
1.322
705,1
21.955
21.955
16,6
2015
1.370
743,8
31.958
43.148
23,3
2018
1.404
769,4
40.890
57.351
29,1
1. Dân số
2. Lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân
3. GRDP, giá so sánh
Giá hiện hành
Tỷ đồng
4. GRDP/người, giá 2010
Giá hiện hành
Triệu đồng
Triệu đồng
Triệu đồng
Doanh nghiệp
Doanh nghiệp
%
16,6
31,5
40,8
5. GRDP/lao động xã hội, giá 2010
6. Tổng số doanh nghiệp
7. Riêng DNNVV
31,1
42,9
53,1
1918
1858
96,9
2716
2610
96,1
4722
4518
95,7
8. Tỷ lệ % so tổng số
Nguồn: Cục Thống kê Phú Thọ, Niên giám Thống kê năm 2016 và 2018 [9]
27
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Diệp Tố Uyên và ctv.
Bảng 1 cho thấy, số lượng các DNNVV Thương mại - dịch vụ. Trong đó, số doanh
chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng số các nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại
doanh nghiệp của tỉnh, dao động ở mức 96%. - dịch vụ là lớn nhất. Các doanh nghiệp hoạt
Năm 2018, tại tỉnh Phú Thọ có 4.722 doanh động ở các quy mô khác nhau, chủ yếu là
nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực Nông - nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa.
Lâm - Thủy sản; Công nghiệp - Xây dựng;
Bảng 2. Thống kê số lượng doanh nghiệp và năm hoạt động tại tỉnh Phú Thọ
Số lượng doanh nghiệp
Quy mô
doanh nghiệp
Số năm hoạt động bình quân
(tính đến hiện tại)
TT
2016
2017
2.009
1.084
124
2018
1
2
3
4
Siêu nhỏ
Nhỏ
1.754
1.032
106
3.162
1.250
106
8,6
11,9
12,4
15,3
Vừa
Lớn
131
261
204
Tổng
3.023
3.478
4.722
Nguồn: Tác giả phân tích
Qua bảng 2, ta thấy số lượng doanh nghiệp với năm 2017, số lượng doanh nghiệp toàn
được thành lập và hoạt động không ngừng tỉnh tăng 1.244 doanh nghiệp, tương ứng tỷ
tăng qua các năm từ 2016-2018. Năm 2017 lệ tăng 35,8%. Trong đó, doanh nghiệp siêu
so với năm 2016, số lượng doanh nghiệp nhỏ tăng nhiều nhất 1.153 doanh nghiệp
toàn tỉnh tăng 455 doanh nghiệp, tương ứng (tỷ lệ tăng 57,39%). Doanh nghiệp vừa và
tỷ lệ tăng 15,05%. Trong đó, doanh nghiệp lớn giảm 75 doanh nghiệp. Số lượng doanh
siêu nhỏ tăng nhiều nhất 255 doanh nghiệp nghiệp nhỏ và vừa chiếm 95,7% lượng doanh
(tỷ lệ tăng 14,54%). Số lượng DNNVV nghiệp tại tỉnh năm 2018 và được thể hiện tại
chiếm 95,67% lượng doanh nghiệp tại tỉnh Hình 1.
năm 2016 và 92,5% năm 2017. Năm 2018 so
Hình 1. Tỷ trọng các doanh nghiệp phân theo
quy mô năm 2018 tại tỉnh Phú Thọ
Hình 2. Sức sinh lời của tài sản (ROA)
của các DNNVV (2016-2018)
Nguồn: Tác giả phân tích
28
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Tập 22, Số 1 (2021): 23-33
Hình 2 phản ánh sức sinh lời của tài
Tuy nhiên, nếu so sánh với mức trung
sản của riêng các DNNVV. Nếu xét riêng bình của cả nước thì DNNVV của tỉnh Phú
các DNNVV của tỉnh thì đã có những dấu Thọ kinh doanh kém hiệu quả hơn mức trung
hiệu tích cực trong việc gia tăng sức sinh bình của các doanh nghiệp của cả nước. Điều
lời của tài sản trong các DNNVV tỉnh Phú này cho thấy nhiều vấn đề cần nghiên cứu
Thọ qua 03 năm (2016-2019). Các doanh trong sự phát triển của các doanh nghiệp tại
nghiệp vừa đang có sự tiến triển vượt bậc tỉnh Phú Thọ, nếu kéo dài tình trạng này thì
và hiệu quả nhất, sau đó là các doanh chắc chắn không thể cạnh tranh được trong
nghiệp siêu nhỏ. Sức sinh lời của các nền kinh tế toàn cầu hóa hiện nay. Các chỉ
doanh nghiệp nhỏ không có sự cải thiện, tiêu về hiệu quả phát triển DNNVV của tỉnh
thậm chí đang giảm đi.
Phú Thọ thể hiện ở Bảng 3.
Bảng 3. Một số chỉ tiêu về hiệu quả phát triển DNNVV của tỉnh Phú Thọ
Chỉ tiêu
Trung bình 2011-2015
2016
2017
1. Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh có lãi,%
- Cả nước
46,5
60,0
47,3
55,7
45,6
51,3
- Phú Thọ
2. Tỷ lệ doanh nghiệp kinh doanh thua lỗ,%
- Cả nước
39,9
28,5
49,1
37,4
48,0
37,7
- Phú Thọ
3. Tỷ suất lợi nhuận trước thuế so doanh thu, %
- Cả nước
3,7
0,5
4,1
2,2
4,2
0,8
- Phú Thọ
Nguồn: Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam 2019 [10]
3.2.2. Thực trạng vai trò của doanh Tức tạo ra trên 7% số việc làm cho người lao
nghiệp nhỏ và vừa trong sự phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ
động trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- DNNVV đóng góp tới khoảng 70-80%
GTSX của ngành công nghiệp và xây dựng.
3.2.2.1. Đánh giá chung
Nhìn chung, các DNNVV đang có những
đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế -
xã hội của tỉnh Phú Thọ trên các khía cạnh:
Tạo ra việc làm, đóng góp của GTSX của
tỉnh, đóng góp vào GRDP của tỉnh. Đánh giá
tổng quát trong Bảng 4 ta thấy:
- DNNVV đóng góp khoảng 31-34%
GRDP của tỉnh.
So với tỷ lệ 95,7% DNNVV của tỉnh, đây
vẫn là một con số khiêm tốn. Nếu có những
giải pháp tích cực hơn thì chắc chắn sẽ gia
tăng những đóng góp cho nền kinh tế xã hội
- DNNVV chiếm trên 7% lao động đang
làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. trong thời gian tới.
29
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Diệp Tố Uyên và ctv.
Bảng 4. Một số chỉ tiêu phản ánh vai trò của DNNNV ở tỉnh Phú Thọ
Chỉ tiêu
Đơn vị tính
1.000 người
1.000 người
%
2010
705,1
38,6
2015
743,8
46,1
2018
769,4
56,7
1. Lao động xã hội
Riêng DNNV
Tỷ trọng so tổng lao động xã hội
2. GRDP, giá 2010
5,4
6,2
7,4
Tỷ đồng
Tỷ đồng
%
21.955
1.199
31,4
31.958
1.186
33,8
40.890
2.524
34,1
Riêng DNNV
Tỷ trọng so tổng số
3. Tổng thu ngân sách của tỉnh,
giá hiện hành
Tỷ đồng
3.289
5.174
8.463
Riêng DNNV
Tỷ đồng
%
874,8
26,5
1.537
29.7
2.524
29,8
Tỷ trọng so tổng số
Tỷ trọng nộp ngân sách so doanh thu
4. GTSX công nghiệp - XD, giá 2010
Riêng DNNV
%
2,1
3,2
4,4
Tỷ đồng
Tỷ đồng
%
17.581
12.095
68,8
15.992
12.505
78,2
21.670
17.357
80,1
Tỷ trọng so tổng số
Ghi chú: GTSX: Giá trị sản xuất; XD: xây dựng
Nguồn: Cục Thống kê Phú Thọ, Niên giám Thống kê năm 2016 và 2018 [9]
3.2.2.2. Những đóng góp chủ yếu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa đối với phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ
Thứ nhất, Tạo ra nhiều công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động, đặc biệt là lao
động nữ.
Bảng 5. Thống kê số lao động làm việc trong các DNNVV của tỉnh Phú Thọ
2016
2017
2018
Ngành kinh doanh
Số LĐ
% LĐ nữ
Số LĐ
% LĐ nữ
Số LĐ
% LĐ nữ
Nông, lâm, thủy sản
Công nghiệp, xây dựng
Thương mại, dịch vụ
2.266
26,1
2.686
31,6
3.041
32,9
23.558
12.808
38.632
24,5
10,4
19,9
31.352
19.489
53.527
38,7
36,9
37,7
33.430
20.293
56.764
41,3
38,2
39,7
Nguồn: Tác giả tổng hợp và phân tích
Nhìn vào Bảng 5 ta thấy, các DNNVV với năm 2017, tương ứng tỷ lệ tăng là 6,05%.
Trong đó, ngành công nghiệp, xây dựng tăng
2.078 lao động (tăng 6,63%), ngành thương
mại, dịch vụ tăng 804 lao động (tăng 4,13%).
Thu nhập bình quân/người/năm của các lao
động tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng
lên qua các năm tại tất cả các ngành nghề
kinh doanh. Cụ thể:
ngày càng tạo ra nhiều việc làm cho người
lao động. Năm 2016 thu hút 38.632 lao động.
Năm 2017 thu hút 53.527 lao động, tăng
14.895 lao động so với năm 2016, tương ứng
tỷ lệ tăng là 38,56%. Trong đó, ngành công
nghiệp, xây dựng tăng 7.794 lao động (tăng
33,08%), ngành thương mại, dịch vụ tăng
6.681 lao động (tăng 52,16%). Năm 2018 thu
Ngành nông, lâm, thủy sản, các doanh
hút 56.764 lao động, tăng 3.237 lao động so nghiệp siêu nhỏ năm 2016 thu nhập bình
30
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Tập 22, Số 1 (2021): 23-33
quân là 31,29 triệu đồng/người/năm thì năm hiện có phát triển có hiệu quả. Điều đáng
2018 đã tăng lên đến 65 triệu đồng/người/
năm; các doanh nghiệp nhỏ thu nhập của
người lao động tăng từ 16,79 triệu đồng/
người/năm (2016) lên 27,54 triệu đồng/
người/năm (2018); các doanh nghiệp vừa
tăng mạnh nhất, thu nhập của người lao động
tăng gấp đôi từ 65,8 triệu đồng/người/năm
lên 138,31 triệu đồng/người/năm (2018).
Ngành công nghiệp, xây dựng, các doanh
nghiệp siêu nhỏ năm 2016 thu nhập bình
quân là 80,54 triệu đồng/người/năm thì năm
2018 đã tăng lên rất mạnh, đến 224,05 triệu
đồng/người/năm, gần gấp 3 lần; các doanh
nói là quy mô doanh nghiệp của Phú Thọ
nhỏ, số doanh nghiệp thuộc loại nhỏ và vừa
chiếm tới khoảng 96%. Theo Sách trắng về
doanh nghiệp Việt Nam [10] thì so với mức
trung bình của cả nước lại vẫn nhỏ hơn nhiều
(vốn sản xuất bình quân 1 lao động chỉ bằng
khoảng 32,2% và tài sản cố định bình quân
1 lao động cũng chỉ bằng khoảng 66,2% so
mức trunh bình của cả nước). Vốn lưu động
quá bé thì sản xuất kinh doanh sẽ có hạn. Đó
là điều ảnh hưởng lớn đến sự phát triển kinh
tế của địa phương.
nghiệp nhỏ thu nhập của người lao động 3.3. Kiến nghị với tỉnh Phú Thọ
tăng từ 71,67 triệu đồng/người/năm (2016)
lên 85,87 triệu đồng/người/năm (2018); các
doanh nghiệp vừa thu nhập của người lao
động tăng từ 61,71 triệu đồng/người/năm
lên 84,45 triệu đồng/người/năm (2018). Lao
động trong ngành công nghiệp, xây dựng có
thu nhập cao nhất so với các lĩnh vực khác.
Ngành thương mại, dịch vụ, các doanh
nghiệp siêu nhỏ năm 2016 thu nhập bình quân
của người lao động lần lượt là 50,98 triệu,
68,67 triệu và 68,53 triệu đồng/người/năm
của các loại hình doanh nghiệp có quy mô
siêu nhỏ, nhỏ và vừa thì năm 2018 đã tăng
lên 64,54 triệu, 86,09 triệu và 71,45 triệu
đồng/người/năm tương ứng với từng quy mô
doanh nghiệp.
Trên cơ sở kết quả đã trình bày ở trên,
tác giả xin kiến nghị một số việc phải làm
để thúc đẩy sự phát triển doanh nghiệp nói
chung và phát triển DNNVV nói riêng trong
thời gian tới. Đó là:
Thứ nhất, Xây dựng chiến lược phát
triển doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh trong
ngắn hạn và dài hạn. Tỉnh Phú Thọ cần xây
dựng chiến lược phát triển các doanh nghiệp
trên địa bàn, chú trọng tạo điều kiện cho các
DNNVV đồng thời thu hút đầu tư đối với các
doanh nghiệp có quy mô vừa, lớn. Đây là
kinh nghiệm của các tỉnh Thái Nguyên, Bắc
Giang, Vĩnh Phúc, Sơn La... Do đó, phải thu
hút các tập đoàn kinh tế trong nước và các
tập đoàn mang tầm chiến lược FDI.
Thứ hai, đóng góp không nhỏ vào nguồn
Trên cơ sở chiến lược phát triển doanh
nghiệp, trong đó có phát triển DNNVV
UBND tỉnh cần xây dựng Chương trình phát
triển cụ thể cho cả thời kỳ ngắn hạn và dài
hạn (đến 2030). Trên cơ sở đó tiến hành hoàn
thiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội
nói chung và phát triển DNNVV nói riêng.
Từ đó tiến hành cụ thể hóa luật pháp của Nhà
nước về phát triển doanh nghiệp, phát triển
DNNVV; Đồng thời xây dựng những chính
sách đặc thù để thúc đẩy phát triển doanh
nghiệp nói chung và DNNVV nói riêng. Đặc
thu ngân sách tỉnh Phú Thọ
Theo thống kê của tỉnh, khả năng thu
ngân sách trên địa bàn còn hạn chế. Thu ngân
sách của tỉnh chỉ mới bằng khoảng 78,8%
năm 2010 và khoảng 63,4% năm 2018. Tức
là năm 2010 tỷ lệ bội chi ngân sách của Phú
Thọ là 21,2% và của năm 2018 là 36,6%. Đó
là mức bội chi lớn. Nói cách khác, Phú Thọ
đang phụ thuộc rất nhiều vào sự viện trợ từ
Ngân sách Trung ương. Để tiến tới cân bằng
thu - chi ngân sách nhất thiết phải phát triển
nhiều doanh nghiệp, trong đó có DNNVV;
đồng thời nhất thiết phải làm cho DNNVV biệt là hỗ trợ doanh nghiệp ra đời, ứng dụng
31
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Diệp Tố Uyên và ctv.
công nghệ hiện đại và chuyển đổi số trong lý tài chính, đào tạo hoặc bổ sung nguồn lực
quản trị.
phù hợp với xu thế kinh tế hiện nay. Kinh tế
số có thể được tập hợp trong 3 quá trình xử
lý chính đan xen với nhau: xử lý vật liệu, xử
lý năng lượng, xử lý thông tin. Trong đó, xử
lý thông tin là khâu quan trọng nhất mà các
DNNVV của tỉnh Phú Thọ cần lưu ý.
UBND tỉnh nên có kế hoạch thành lập
Hiệp hội doanh nghiệp theo ngành nghề để
kết nối có hiệu quả DNNVV với chính quyền
tỉnh và với thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, cần đẩy nhanh quá trình cơ
cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình
tăng trưởng theo hướng nâng cao chất lượng,
năng suất, hiệu quả. UBND tỉnh cần quyết
định được các lĩnh vực mũi nhọn, các sản
phẩm hàng hóa chủ lực trên cơ sở phát huy
các tiềm năng, lợi thế so sánh và thu hút thật
nhiều doanh nghiệp lớn, có tầm chiến lược từ
các tỉnh cũng như từ các quốc gia phát triển
hàng đầu trên thế giới.
Thứ ba, Thường xuyên đánh giá hiệu quả
Thứ hai, Phát huy các doanh nghiệp nhỏ
và vừa hiện có. UBND tỉnh nên có kế hoạch
cụ thể để DNNVV thực hiện chuyển đổi số,
ứng dụng công nghệ quản trị hiện đại, đổi
mới sản phẩm và nâng cao chất lượng sản
phẩm cũng như xây dựng thương hiệu, chỉ
dẫn địa lý, truy xuất nguồn gốc; tham gia
chuỗi giá trị quốc gia và toàn cầu.
Tăng cường nâng cao chất lượng về nhân
lực để đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu
của sản xuất kinh doanh trước mắt và lâu dài,
bằng cách: đảm bảo về quy mô, cơ cấu theo
ngành nghề, giới tính, độ tuổi sao cho phù
hợp, thực hiện phân công lao động hợp lý,
luôn tính đến hiệu quả công việc. Luôn coi
trọng việc nâng cao trình độ người lao động
từ khâu tuyển dụng, đến việc gửi đi đào tạo
và đào tạo lại, để tạo được đội ngũ lao động
lành nghề, có kỷ luật và năng suất lao động
cao, trình độ chuyên môn vững tạo ra chất
lượng sản phẩm và dịch vụ cao.
của các doanh nghiệp
Thực hiện phân tích kết quả và hiệu quả
kinh doanh để thấy được điểm mạnh, điểm
yếu ở từng khâu, từng bộ phận từ đó đề ra
kế hoạch và các giải pháp cho kỳ tới phát
triển tốt hơn. Về tài chính luôn cần thiết phải
thực hiện tốt việc thu hút vốn, bảo tồn và
phát triển vốn, muốn vậy phải thực hiện hạch
toán kế toán theo những nguyên tắc chuẩn
mực hiện hành, tăng cường kiểm soát nội bộ,
thực hiện kiểm toán độc lập, để ngăn ngừa
sai phạm, thất thoát, thực sự đưa đồng vốn sử
dụng có hiệu quả. Đồng thời thực hiện liên
kết liên doanh với các doanh nghiệp khác
theo nguyên tắc hợp đồng và đảm bảo tính
pháp lý chặt chẽ. Thực hiện tuân thủ pháp
luật và chính sách Nhà nước ban hành về
Luật Doanh nghiệp, Luật Môi trường, chính
sách thuế và tài chính.
Thứ tư, Các DNNVV cần nâng cao
trách nhiệm xã hội doanh nghiệp thông qua
những hành động và đóng góp tích cực cho
sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của
tỉnh Phú Thọ.
Sẵn sàng chuẩn bị nguồn nhân lực để tham
gia vào nền kinh tế số - nền kinh tế vận hành
chủ yếu dựa trên công nghệ số. Kinh tế số bao
gồm tất cả các lĩnh vực và nền kinh tế (công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; sản xuất, phân
phối, lưu thông hàng hóa, giao thông vận tải,
logistic, tài chính, ngân hàng...) nên nó bao
phủ đến tất cả các DNNVV. Tuy nhiên, một
4. Kết luận
Vai trò của DNNVV đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội của Phú Thọ vẫn sẽ ngày càng
bộ phận không nhỏ các DNNVV của tỉnh Phú lớn trong thời kỳ tới. Bên cạnh việc phát huy
Thọ vẫn chậm đổi mới nên cần thiết phải cập thật tốt vai trò của DNNVV hiện có, phải nhanh
nhật thông tin, nâng cao chất lượng, trình độ chóng phát triển thêm nhiều DNNVV hơn nữa
quản trị doanh nghiệp, quản trị rủi ro và quản trong thời gian tới. Tỉnh Phú Thọ có điều kiện
32
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Tập 22, Số 1 (2021): 23-33
[4] Lê Thị Thanh Thủy, Dương Thị Dung & Phạm
Quang Sáng (2018). Doanh nghiệp tỉnh Phú
Thọ: Thực trạng và giải pháp phát triển trong
bối cảnh hội nhập và cách mạng công nghiệp
4.0. Tạp chí Kinh tế & Phát triển Trường Đại
học Kinh tế Quốc dân Hà Nội, 250 (II), 79-88.
phát triển DNNVV và rất cần phát triển mạnh
mẽ DNNVV. Trên địa bàn tỉnh phấn đấu đến
2030 phải có khoảng 10.000 doanh nghiệp,
trong đó doanh nghiệp lớn chiếm khoảng 10-
12%. Các DNNVV cũng lớn lên, quy mô vốn
sản xuất và lao động phải gấp 2,5-3 lần so hiện
nay; phấn đấu không còn doanh nghiệp làm
ăn thua lỗ mà phải làm ăn có lãi. Phát triển
DNNVV là trách nhiệm của cả xã hội nhưng
trước hết phải là trách nhiệm của chính quyền
tỉnh, huyện, xã. Vì thế nhanh chóng nâng cao
năng lực quản trị địa phương ở tỉnh Phú Thọ.
UBND tỉnh Phú Thọ ngoài 5 việc có tính giải
pháp kể trên, cần nhanh chóng nâng cao trình
độ và năng lực quản lý kinh tế của các huyện,
xã, nhanh chóng nâng cao năng lực quản lý
phát triển doanh nghiệp.
[5] Chính phủ (2018). Nghị định số 39/2018/ NĐ-CP
về Quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ
doanh nghiệp nhỏ và vừa.
[6] Tạp chí Tài chính (2017). Doanh nghiệp vừa và
nhỏ được xem là xương sống của nền kinh tế
html>.
[8] Báo Phú Thọ (2020). Phú Thọ nằm trong tốp đầu
về trình độ phát triển các tỉnh vùng Trung du và
Tài liệu tham khảo
[1] Jasra J., Hunjra A. I., Rehman A. U., Azam R. I.,
& Khan M. A. (2011). Determinants of business
success of small and medium enterprises.
International Journal of Business and Social
Science, 2(20), 274-280.
[9] UBND tỉnh Phú Thọ (2016-2018). Niên giám
Thống kê tỉnh Phú Thọ (2016-2018).
[2] Tổng cục Thống kê Việt Nam (2016-2018). Số
liệu điều tra doanh nghiệp hàng năm.
[10] Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2019). Sách trắng
doanh nghiệp Việt Nam 2019. Nhà xuất bản
Thống kê, Hà Nội.
[3] Trường Đại học Hùng Vương (2019). Báo cáo
tổng hợp đánh giá thực trạng và định hướng phát
triển nhân lực của tỉnh Phú Thọ đến năm 2025.
AN ASSESSMENT OF THE ROLES OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES IN THE
LOCAL SOCIO-ECONOMIC DEVELOPMENT IN PHU THO PROVINCE
Diep To Uyen1, Phung Thi Khang Ninh1,
Tran Thi Bich Nhan1, Le Van Bac1, Tran Manh Dung2
1Faculty of Economics and Business Administration, Hung Vuong University, Phu Tho
2Journal of Economics & Development, National Economics University, Hanoi
Abstract
he research was based on the theoretical basis and legal basis which uses the annual survey data of General
Statistics Office of Vietnam to analyze the roles of small and medium enterprises in the local socio-
T
economic development in Phu Tho province for the period from 2010 to 2018. The study results showed that
the number of small and medium enterprises accounted for 96% of total enterprises in Phu Tho. They played
an important role in creating many jobs, increasing economic scale and contributing largely to the local budget.
From the analysis, some recommendations were suggested to promote the role of small and medium enterprises
in the local socio-economic development, and the scientific bases were also provided for planning enterprises’
development directions in Phu Tho province in the coming years.
Keywords: Small and medium enterprises, Phu Tho province, role.
33
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong phát triển kinh tế xã hội tỉnh Phú Thọ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
vai_tro_cua_cac_doanh_nghiep_nho_va_vua_trong_phat_trien_kin.pdf

