Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam

HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC- CÔNG NGHỆ NHẰM ĐẢM BẢO SỰ  
PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA  
VIỆT NAM  
Nguyễn Văn Ph c,  
Đại học Nguyễn Tất Thành  
Tóm tắt:  
Các doanh nghiệp nhỏ và vừa có vị tr  rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Trong  
bối cảnh mới của quá trình công nghiệp hóa và khi cuộc cách mạng khoa học- công nghệ tiếp  
tục diễn ra với tốc độ nhanh chóng chưa từng thấy trên phạm vi toàn cầu, chi phối toàn bộ sự  
phát triển kinh tế- xã hội, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam phải dành nhiều nỗ lực hơn  
nữa để đẩy nhanh ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ, nâng cao năng lực công nghệ để nâng  
cao năng lực cạnh tranh của mình và hội nhập quốc tế một cách sâu rộng, có hiệu quả hơn. Đó  
là con đường để đảm bảo sự phát triển bền vững của họ. Trong quá trình này, Nhà nước cần hỗ  
trợ bằng cách tạo ra môi trường thân thiện cho các hoạt động đổi mới, sáng tạo, đồng thời có sự  
hỗ trợ trực tiếp nhất định cho những hoạt động này.  
Từ khóa: Tiến bộ khoa học- công nghệ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cách mạng  
công nghiệp.  
APPLICATION OF SCIENTIFIC AND TECHNOLOGICAL ADVANCES TO ENSURE  
THE SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES IN  
VIETNAM  
Abstrac:  
Small and medium-sized businesses are very important in the Vietnamese economy. In  
the new context of the process of industrialization and when the science-technology revolution  
continues to take place at an unprecedented speed on a global scale, dominating the entire  
socio-economic development. Vietnamese small and medium enterprises must devote more  
efforts to accelerate the application of scientific and technological advances, enhancing  
technological capabilities to enhance their competitiveness and international integration at deep  
and wide dimension, bring higher efficiency. It is the way to ensure their sustainable  
development. In this process, the Government needs to support by creating a friendly  
environment for innovation and creativity activities, and at the same time there are certain direct  
support for these activities.  
Keywords: Scientific and technological progress, small and medium-sized enterprises,  
industrial revolution.  
259  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
Doanh nghiệp nhỏ và vừa đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế- xã hội của  
tất cả các quốc gia, kể cả ở Việt Nam. Trong những năm qua, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở  
Việt Nam đã có sự phát triển đáng kể và có đóng góp lớn cho sự tăng trưởng kinh tế. Từ năm  
2000 tới 2019, bình quân hàng năm, số doanh nghiệp hoạt động trong nền kinh tế tăng 16,14%,  
trong đó năm 2008 tăng cao nhất (32,07%), năm có tỷ lệ tăng cao thứ 2 là năm 2017, tăng  
29,62% (xem hình 1).  
35  
30  
25  
20  
15  
10  
5
0
Tꢀc đꢁ tăng GDP (%)  
Tꢀc đꢁ tăng sꢀ doanh nghiꢂp (%)  
Hình 1: Tăng trưởng GDP và tỷ lệ tăng số doanh nghiệp hoạt động hàng năm  
của Việt Nam12  
Số liệu thống kê, năm 2017, tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong tổng số doanh nghiệp  
toàn quốc (theo phân loại của Việt Nam) là 98,2%. Hình 2 mô tả cơ cấu theo quy mô về lao động  
của các doanh nghiệp Việt Nam năm 2017.  
%
60.00  
50.00  
40.00  
30.00  
20.00  
10.00  
0.00  
< 5 ngưꢃi Từ 5- 9 Tꢄ 10- 49 Tꢄ 50- 199 Tꢄ 200- Tꢄ 300- Tꢄ 500- Tꢄ 1000- Tꢄ 5000  
299  
499  
999  
4999  
trꢅ lên  
Hình 2: Cơ cấu doanh nghiệp Việt Nam năm 2017 theo quy mô lao động  
(% trong tổng số)13  
12 Nguồn: Niên giám thống kê các năm 2005, 2010, 2015, 2018;  áo cáo tình hình kinh tế xã hội Việt Nam các năm  
2016, 2017, 2018 và 9 tháng đầu năm 2019; Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam (2019).  
13 Tổng cục Thống kê (2019), Niên giám thống kê 2018. NXB Thống kê. Hà Nội.  
260  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Mặc dù các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam đã có sự phát triển quan trọng, có những  
thành tựu to lớn, nhưng cũng có nhiều nhược điểm rất cơ bản, không chỉ hạn chế sự phát triển và  
việc phát huy tác động của nó, mà còn đe dọa sự phát triển của khu vực này trong những năm  
tới. Những hạn chế có ý nghĩa quan trọng nhất của các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam  
hiện nay là:  
- Nội lực của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam hạn chế và các hoạt động tăng  
cường nội lực của chúng chưa đem lại kết quả và hiệu quả mong muốn. Theo số liệu của VCCI,  
năm 2015, dù quy mô vốn bình quân của một doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam tăng tới  
9,9% so với năm trước liền kề (2014), nhưng cũng chỉ ở mức 6,3 tỷ đồng14. Số vốn này chỉ  
chiếm một tỷ lệ khá nhỏ so với vốn kinh doanh bình quân của doanh nghiệp (xem hình 3). Trong  
khi số lượng doanh nghiệp tăng nhanh hơn rất nhiều so với tốc độ tăng tích lũy từ nội bộ nền  
kinh tế, quy mô của các doanh nghiệp khó có thể tăng đáng kể là kết quả tất yếu. Hơn nữa, tình  
trạng tách đôi các doanh nghiệp vốn đã nhỏ thành nhiều doanh nghiệp nhỏ hơn làm quá trình tích  
tụ từ các doanh nghiệp tiếp tục bị chậm lại. Hậu quả là các doanh nghiệp nhỏ và và Việt Nam  
―chậm lớn‖ hơn so với khả năng và nhu cầu nâng cao năng lực của các doanh nghiệp. Điều này  
gây khó khăn cho việc đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp  
nhỏ và vừa Việt Nam.  
100  
80  
60  
40  
20  
0
200020012002200320042005200620072008200920102011201220132014201520162017  
Sꢀ lao đꢁng/ 1 doanh nghiꢂp (ngưꢃi)  
Vꢀn kinh doanh/ doanh nghiꢂp (tꢆ đꢇng)  
Hình 3: Biến động quy mô của các doanh nghiệp Việt Nam giai đoạn 2000- 201715  
- Mức độ tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu cũng như tỷ lệ đóng góp vào chuỗi giá  
trị toàn cầu thấp và chậm được cải thiện. Nhìn tổng thể, các doanh nghiệp Việt Nam hiện nằm ở  
khoảng giữa (―trung nguồn‖) của chuỗi giá trị toàn cầu nói chung, tức là đảm nhận các giai đoạn  
gia công chế biến là chính. Đặc điểm của các giai đoạn này là thâm dụng lao động và giá trị gia  
tăng thấp, hoạt động theo mô hình ―nhập khẩu để gia công rồi xuất khẩu‖ nhưng không chủ động  
được nguyên liệu/ thiết kế mà cũng không trực tiếp tiếp cận được với người tiêu dùng sản phẩm/  
dịch vụ. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy mức độ hạn chế của việc các doanh nghiệp Việt Nam  
tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu (năm 2018)16:  
o Tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm công nghiệp của Việt Nam chỉ đạt khoảng 33%;  
14 VCCI (2016),  áo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam năm 2015. NXB Thông tin và truyền thông.  
15 Tổng cục Thống kê (2019), Niên giám thống kê 2018 … Tài liệu đã dẫn.  
16  
Vũ Khuê (2019), Vì sao doanh nghiệp Việt khó tham gia chuỗi giá trị toàn cầu? http://vneconomy.vn/vi-sao-  
doanh-nghiep-viet-kho-tham-gia-chuoi-gia-tri-toan-cau-2019042321294334.htm  
261  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
o Khu vực FDI phải nhập tới 47,1% đầu vào từ công ty mẹ;  
o Chỉ có khoảng 21% các doanh nghiệp nhỏ và vừa có liên kết sản xuất với chuỗi cung  
ứng nước ngoài;  
o Trong số các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam, 64% cung cấp hàng hoá, dịch vụ cho các  
doanh nghiệp trong nước nhưng chỉ có 15% bán hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp nước ngoài  
tại Việt Nam; 8,4% xuất khẩu sản phẩm trực tiếp và 7,4% xuất khẩu gián tiếp thông qua doanh  
nghiệp mua hàng bên thứ 3;  
o Phần lớn các doanh nghiệp FDI đang hoạt động tại Việt Nam chưa hài lòng về chất  
lượng và năng lực của các nhà cung cấp nội địa, trong đó gần 60% cho rằng khó hoặc rất khó  
đáp ứng yêu cầu về tỷ lệ nội địa hoá do gặp phải các vấn đề về chất lượng và năng lực của các  
doanh nghiệp trong nước.  
Việc tham gia không sâu và không nhiều vào các chuỗi cung ứng toàn cầu vừa làm mất cơ  
hội, vừa không bị ép (mất đi một động lực từ bên ngoài) đối với việc đổi mới, nâng cao trình độ  
công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam. Nó cũng là một trong những nguyên  
nhân khiến hiệu quả của các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp và có xu hướng giảm sút trong 10  
năm qua (xem bảng 1).  
Bảng 1: Hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam17  
Năm  
TT Chỉ tiêu  
2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017  
Doanh thu trên  
vốn (%)  
1
2
3
90,5  
4,2  
74,3  
5,5  
69,1  
4,8  
75,6  
3,2  
73,3  
3,2  
68,7  
4,0  
68,7  
4,1  
67,5  
3,7  
66,9  
4,1  
67,3  
4,2  
Lợi nhuận trên  
doanh thu (%)  
Lợi nhuận trên  
vốn (%)  
3,8  
4,1  
3,3  
2,5  
2,4  
2,7  
2,8  
2,5  
2,7  
2,9  
- Trình độ công nghệ thấp, việc đổi mới công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học- công  
nghệ diễn ra một cách chậm chạp và hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ thấp hơn  
mong đợi. Một nghiên cứu của VCCI (thực hiện năm 2016 tại 10 ngành) cho thấy có tới hơn  
60% số doanh nghiệp được khảo sát sử dụng các công nghệ có tuổi đời trên 6 năm; khoảng 65%  
doanh nghiệp sử dụng công nghệ tiếp nhận từ các nước đang phát triển18. Trong giai đoạn doanh  
nghiệp mới bắt đầu hoạt động, chỉ có 4,8% trong số các sản phẩm, 4,4% trong số các công nghệ  
được sử dụng được coi là mới, nhưng khikinh doanh đã đi vào hoạt động ổn định, các chỉ số này  
17 Tổng cục Thống kê (2019), Niên giám thống kê năm 2018. NXB Thống kê. Hà Nội.  
18  
262  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
lại giảm đi, lần lượt chỉ còn dao động từ 0,5- 2,8%19. Trong khi đó, nguồn lực của doanh nghiệp  
dành cho nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ rất thấp so với nhu cầu cũng như  
so với các nước trong khu vực. Theo số liệu của Bộ Khoa học và công nghệ, chi tiêu cho nghiên  
cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ của các doanh nghiệp Việt Nam hiện chỉ tương  
đương với 0,2- 0,3% doanh thu của họ20.  
Về phía cung, năng lực của các cơ sở nghiên cứu và chuyển giao công nghệ ở Việt Nam  
hiện cũng khá hạn chế. Theo số liệu của Bộ Khoa học và công nghệ, tới 2019, ―cả nước có 386  
doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận là doanh nghiệp khoa học và công nghệ, 43 tổ chức  
được cấp giấy chứng nhận hoạt động công nghệ cao và hơn 2000 doanh nghiệp đạt điều kiện  
doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong lĩnh vực công nghệ thông tin‖21.  
Theo số liệu khảo sát được thực hiện năm 2017, các doanh nghiệp khoa học- công nghệ  
tạo việc làm cho 22.738 người, nhưng chỉ tạo ra 10.349,6 tỷ đồng doanh thu từ các hoạt động  
khoa học- công nghệ; tức là tạo ra doanh thu hơn 455 triệu đồng/ người. năm22. Số tiền làm lợi từ  
các dịch vụ khoa học- công nghệ này không được thống kê. Tuy nhiên, chính việc các doanh  
nghiệp ít quan tâm tiếp nhận chuyển giao tiến bộ khoa học- công nghệ và kết quả nghiên cứu của  
đề tài khoa học chỉ được đưa vào lưu trữ là một minh chứng rõ rệt và thuyết phục nhất về sự kém  
hiệu quả của các hoạt động này. Theo một số nghiên cứu được thực hiện trong những năm gần  
đây, ở cấp độ quốc gia, chỉ có khoảng 10% số đề tài do Nhà nước cấp kinh phí chuyển giao được  
kết quả nghiên cứu của mình cho doanh nghiệp ứng dụng23.  
- Trình độ chuyên môn hóa của các doanh nghiệp thấp, sự hợp tác giữa các doanh nghiệp  
còn hạn chế và tính khép kín trong sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp khiến các doanh  
nghiệp riêng lẻ khó có thể tận dụng nguồn lực từ ngoài và lợi dụng lợi thế từ việc hợp lý hóa tổ  
chức sản xuất để nhanh chóng nâng cao năng lực của mình. Cũng theo khảo sát của VCCI, có tới  
gần 85% doanh nghiệp tự triển khai các hoạt động nghiên cứu- phát triển để đổi mới sản phẩm,  
trong khi chỉ có gần 14% số doanh nghiệp tận dụng kết quả nghiên cứu từ các cơ sở bên ngoài,  
trong đó chỉ có khoảng gần 1% số doanh nghiệp trong mẫu khảo sát tiếp nhận kết quả nghiên  
cứu từ các đơn vị nghiên cứu- phát triển chuyên nghiệp. Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp chuyển  
hướng khá nhiều từ ngành này sang ngành khác khá thường xuyên và nhanh chóng, không  
chuyên chú đầu tư lâu dài vào một lĩnh vực cụ thể. Tình trạng này khiến việc ứng dụng tiến bộ  
kỹ thuật- công nghệ gặp khó khăn cả về mặt kinh tế (hiệu quả thấp, thậm chí không kịp thu hồi  
vốn) lẫn tổ chức (khó có thể đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật- công nghệ, đào tạo, sử dụng  
và phát triển đội ngũ nhân lực có quy mô, trình độ và cơ cấu thích hợp, …)  
19 Trần Thị Hồng Minh (2018), Phân tích các nguyên nhân các doanh nghiệp rời thị trường trong 10 tháng đầu năm  
20 Nhật Minh (2019), Cạnh tranh nhờ khoa học và công nghệ. https://nhandan.com.vn/khoahoc-congnghe/khoa-  
21 Nhật Minh (2019), tài liệu đã dẫn.  
22 Nhật Minh (2019), tài liệu đã dẫn.  
23 Nguyễn Quang Tuấn (2014), Thúc đẩy chuyển giao kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản xuất, kinh doanh.  
Tạp chí Tài chính.  
263  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
Trong giai đoạn tới, sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam phải đối mặt  
với nhiều thách thức rất quan trọng, đặc biệt là những thách thức bắt nguồn từ quá trình hội nhập  
quốc tế và toàn cầu hóa đang có ảnh hưởng ngày càng sâu rộng tới nền kinh tế Việt Nam24 cũng  
như từ cuộc cách mạng khoa học- công nghệ.  
Một trong những giải pháp mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cần triển khai thực  
hiện để khắc phục những nhược điểm, vượt qua những thách thức đối, đảm bảo sự phát triển bền  
vững của chúng là nhanh chóng ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ, nâng cao năng lực công  
nghệ nội tại để liên tục cải thiện năng lực cạnh tranh của mình ngay trên thị trường trong nước và  
rộng hơn, trên thị trường quốc tế.  
Cũng như đối với các doanh nghiệp lớn và các doanh nghiệp nước ngoài khác, ba hướng  
ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam là:  
- Cải tiến và đổi mới công nghệ.  
- Hoàn thiện và đổi mới sản phẩm, dịch vụ.  
- Nâng cao trình độ toàn diện cho người lao động trong hệ thống kinh doanh của mỗi  
doanh nghiệp cũng như của các doanh nghiệp Việt Nam.  
Ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ không bao giờ là mục đích tự thân, mà phải phục  
vụ các mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn của các chủ thể liên quan. Việc ứng dụng, chuyển  
giao một tiến bộ công nghệ liên quan, ảnh hưởng tới lợi ích của nhiều chủ thể khác nhau, trong  
đó, những lợi ích này có thể bị tác động theo những chiều hướng, ở những mức độ khác nhau.  
Tại từng thời điểm cụ thể, mục tiêu, điều kiện của từng doanh nghiệp cũng khác nhau. Do đó,  
những biện pháp cụ thể mà mỗi doanh nghiệp thực hiện cũng sẽ khác nhau. Tuy nhiên, việc ứng  
dụng tiến bộ công nghệ trong mỗi doanh nghiệp chỉ có thể được thực hiện một cách bền vững và  
có hiệu quả khi các mục tiêu được xác định một cách rõ ràng, cụ thể, khả thi và có sự đồng thuận  
giữa các chủ thể liên quan và sau đó, mỗi chủ thể có những chương trình hành động được phối  
hợp tốt với nhau. Trong việc đảm bảo những yêu cầu này, việc xác định các mục tiêu là trách  
nhiệm của từng chủ thể liên quan, còn Nhà nước đóng vai trò điều tiết để đảm bảo cho các chủ  
thể liên quan có được sự đồng thuận về các mục tiêu này. Đây là điều cần thiết vì thực ra, các  
mục tiêu đều nhằm đảm bảo những lợi ích cụ thể của từng chủ thể mà trong nhiều trường hợp,  
không ít những mục tiêu như vậy là mâu thuẫn, thậm chí trái ngược nhau.  
Để có thể đẩy nhanh quá trình nâng cao năng lực công nghệ nhằm cải thiện năng lực và vị  
thế cạnh tranh của mình trên thị trường, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam cần triển khai  
một số giải pháp sau đây:  
- Nâng cao nhận thức về ý nghĩa và sự cần thiết, về khả năng ứng dụng tiến bộ công  
nghệ trong việc giải quyết các khó khăn, thách thức của doanh nghiệp và lợi ích từ việc ứng  
dụng tiến bộ công nghệ trong sản xuất kinh doanh. Về thực chất, đây chính là việc nâng cao nhận  
thức để chuyển đổi từ triết lý kinh doanh ―ăn xổi‖ có tính tạm thời, ngắn hạn sang kinh doanh  
24 Theo số liệu thống kê, năm 2018, giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tương đương với 208,6% GDP.  
Ngoài ra, trong những năm tới, hàng loạt các thỏa thuận thương mại song phương và đa phương mà Việt Nam tham  
gia bắt đầu phát huy tác dụng, khiến độ mở của nền kinh tế sẽ tiếp tục tăng lên mạnh mẽ. Lúc đó, những biên động  
trên thị trường quốc tế sẽ tác động nhanh hơn và mạnh mẽ hơn tới hệ thống sản xuất kinh doanh của Việt Nam.  
264  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
một cách bền vững, có định hướng phát triển dài hạn, có tổ chức và đầu tư một cách hệ thống,  
bài bản. Chỉ khi kinh doanh nghiêm túc một cách bền vững, các doanh nghiệp mới chú ý và thực  
sự nỗ lực nâng cao năng lực cạnh tranh và lúc đó mới tổ chức kinh doanh một cách có hệ thống  
và đầu tư để chủ động ứng dụng tiến bộ kỹ thuật- công nghệ vào hệ thống kinh doanh của mình.  
Tất nhiên, không thể kỳ vọng toàn bộ các doanh nghiệp nhỏ và vừa đều có định hướng kinh  
doanh và phát triển dài hạn, bền vững, nhưng cần nỗ lực để tỷ lệ các doanh nghiệp thuộc nhóm  
này được liên tục nâng lên.  
- Nhận dạng rõ bối cảnh, điều kiện kinh doanh của mình, từ đó định vị rõ được vị thế  
của mình trong chuỗi giá trị và xây dựng, lựa chọn được định hướng, mục tiêu và chiến lược  
phát triển của mình. Nhiệm vụ này đã được nói tới trên nhiều diễn đàn, ở nhiều mức độ, dưới  
nhiều hình thức khác nhau nhưng vẫn chưa được nhận thức đầy đủ và vẫn chưa được thực hiện  
một cách thực sự nghiêm túc. Với nhiều doanh nghiệp đã nhận thức được ý nghĩa của việc này  
và đã có những bước triển khai thì chiến lược lại thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn, chưa được  
điều chỉnh kịp thời. Đối với nhiều doanh nghiệp, đây là việc khó và cần có sự giúp đỡ, hỗ trợ của  
cả các cơ quan quản lý nhà nước cũng như các tổ chức, cá nhân khác. Nhà nước và các tổ chức  
xã hội nghề nghiệp có thể đảm nhận hỗ trợ ở một mức độ và dưới những hình thức nhất định  
(chứ không làm thay), nhưng sự hỗ trợ này chỉ thực sự có hiệu quả nếu bản thân các doanh  
nghiệp tự mình nỗ lực nâng cao nhận thức và tăng cường tri thức của mình trước (và sau đó, chỉ  
kêu gọi sự hỗ trợ, giúp đỡ để giải quyết một số khó khăn cụ thể).  
-  n định và tích cực mở rộng thị trường, đẩy mạnh chuyên môn hóa, tích cực tham gia  
các chuỗi gia công- chế biến toàn cầu. Giải pháp này một mặt giúp nâng cao tương đối quy mô  
của doanh nghiệp (tạo ra sản lượng hợp lý để doanh nghiệp có thể thu hồi vốn đầu tư ứng dụng  
tiến bộ kỹ thuật- công nghệ trong một khoảng thời gian hợp lý), vừa để doanh nghiệp chịu ―sức  
ép‖, ―lực đẩy‖ từ phía đối tác buộc phải đầu tư, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật- công nghệ để có thể  
đáp ứng được yêu cầu của họ. Quan hệ với các đối tác trong chuỗi còn giúp doanh nghiệp có  
thêm nguồn cung cấp kinh nghiệm (thậm chí cả những hình thức hỗ trợ khác, đặc biệt là hỗ trợ  
về tổ chức- quản lý, về nhân sự và cả tài chính) tổ chức, quản lý và thực hiện các hoạt động liên  
quan tới ứng dụng tiến bộ kỹ thuật- công nghệ (tìm kiếm, đánh giá, khai thác thông tin về công  
nghệ, đánh giá và lựa chọn công nghệ, đàm phán, ký kết hợp đồng, tiếp nhận chuyển giao công  
nghệ, kiểm định công nghệ, thích ứng hóa/ cải tiến và hoàn thiện, khai thác công nghệ sau  
chuyển giao, …). Đây là biện pháp có tầm quan trọng hàng đầu, sau việc nâng cao nhận thức,  
bởi suy cho cùng, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật- công nghệ chỉ là biện pháp nhằm cung cấp sản  
phẩm và dịch vụ cho thị trường; một khi không tìm kiếm được thị trường thì ứng dụng tiến bộ kỹ  
thuật- công nghệ để có sản phẩm/ dịch vụ mới, tăng sản lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm/  
dịch vụ chỉ là vô ích.  
- Tích cực tham gia thị trường tiến bộ khoa học- công nghệ, đặc biệt là thiết lập các quan  
hệ chặt chẽ với các cơ sở nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ khoa học- công nghệ. Xây dựng năng  
lực khoa học- công nghệ nội bộ, tự nghiên cứu, thiết kế hoặc cải tiến, thích ứng hóa công nghệ  
mà mình cần đến đương nhiên là quan trọng, nhưng doanh nghiệp cần nhiều công nghệ, tự mình  
không thể đảm bảo ―tự cung cấp‖ đầy đủ được. Hơn nữa, hiệu quả của việc tự nghiên cứu, thiết  
265  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
kế, tự chế tạo sẽ thấp hơn nhiều so với việc mua công nghệ từ các nguồn cung cấp chuyên  
nghiệp. Ngoài ra, cần kể tới cả yếu tố thời gian: các cơ sở nghiên cứu, thiết kế và chuyển giao  
công nghệ chuyên nghiệp có thể đưa ra và chuyển giao những giải pháp công nghệ trong thời  
gian ngắn hơn rất nhiều so với việc tự nghiên cứu, đặc biệt là khi việc tự nghiên cứu lại được  
thực hiện bởi các doanh nghiệp nhỏ và vừa, nơi mà năng lực nội tại chỉ có hạn. Tuy nhiên, lợi  
thế về mặt thời gian và chất lượng cũng như bổ sung năng lực như nêu trên chỉ trở thành hiện  
thực nếu doanh nghiệp có am hiểu cần thiết về thị trường tiến bộ khoa học- công nghệ, có hoặc  
biết tìm và tìm được những đối tác thực sự có năng lực và thái độ nghiêm túc, trung thực trong  
các hoạt động chuyển giao công nghệ để xây dựng quan hệ hợp tác lâu dài và bền vững với họ.  
Để làm việc này, doanh nghiệp cần xây dựng cơ sở dữ liệu riêng của mình về thị trường  
tiến bộ khoa học- công nghệ, đặc biệt là cho những tiến bộ kỹ thuật- công nghệ mà mình sử dụng  
(hoặc sẽ sử dụng), có những tiếp xúc định kỳ với một số đối tác quan trọng, xây dựng quan hệ  
tin cậy đối với một số cơ quan, tổ chức có thông tin phong phú về tiến bộ khoa học- công nghệ,  
có năng lực cần thiết trong việc thẩm định, đánh giá và tổ chức chuyển giao công nghệ trên  
những lĩnh vực mà mình quan tâm. Cơ sở dữ liệu này có thể được trích từ cơ sở dữ liệu quốc gia,  
bổ sung thêm những thông tin đặc thù mà doanh nghiệp quan tâm, đồng thời cần có liên kết với  
cơ sở dữ liệu quốc gia và cơ sở dữ liệu về tiến bộ khoa học- công nghệ của các ngành mà doanh  
nghiệp có liên quan.  
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây là yêu cầu đương nhiên cần thực hiện bởi  
bất kỳ công nghệ nào cũng cần được thích ứng hóa với điều kiện cụ thể của doanh nghiệp trong  
suốt quá trình từ khi tiếp nhận, và sau đó, cần được khai thác và bảo trì bởi những nhân lực có  
năng lực, có nhận thức và thái độ, hành vi thích hợp. Khác với trường hợp các doanh nghiệp lớn,  
nhân sự của các doanh nghiệp nhỏ và vừa có mức độ luân chuyển cao, do đó nhu cầu được đào  
tạo, bồi dưỡng cũng lớn hơn. Tuy nhiên, đây lại là khoản chi phí khá tốn kém và là khoản mục  
thường bị các chủ doanh nghiệp ưu tiên cắt bỏ do chúng không đem lại những lợi ích ―dễ nhìn  
thấy được‖25. Để thực hiện giải pháp này, các doanh nghiệp nhỏ và vừa cần tiếp cận từ 3 hướng:  
1) tuyển dụng những nhân sự có năng lực thích hợp ngay từ đầu (với điều kiện làm việc và thù  
lao tương ứng), 2) tổ chức các chương trình đào tạo/ tự đào tạo cho nhân viên theo yêu cầu của  
sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn và dài hạn, và 3) duy trì đội ngũ nhân sự ổn định, đặc biệt là  
đội ngũ nhân viên kỹ thuật (và các nhóm nhân sự chủ chốt khác)26.  
25  
―Chỉ có 6-10% nhân viên trong tổng số nhân viên làm việc có liên quan đến đổi mới sáng tạo. …, 56% doanh  
nghiệp đánh giá khả năng sáng tạo của nhân viên là yếu. … Theo nghiên cứu của VERP, số lượng doanh nghiệp đầu  
tư dưới 100 triệu đồng cho việc đào tạo nhân lực chiếm đa số 47% tổng số doanh nghiệp. Với mức từ 100 triệu đồng  
đến 500 triệu đồng thì có 34%, mức 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng chỉ có 7% còn mức trên 1 tỷ đồng là 12% chỉ dành  
cho các doanh nghiệp quy mô rất lớn‖. Xem: Trần Thùy Linh, Nguyễn Thị Thanh Hoa (2019), Nâng cao năng lực  
đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam. Tạp chí Công thương 6/ 2019. http://tapchicongthuong.vn/bai-  
26 Tổn thất và thiệt hại của các doanh nghiệp do nhân sự luân chuyển lớn và thường xuyên cũng là phạm trù ―không  
dễ nhìn thấy được‖ và cũng chưa được nghiên cứu, đánh giá rõ. Thực tế hoạt động của các doanh nghiệp nhỏ và vừa  
ở Việt Nam cho thấy đây là vấn đề có xu hướng gia tăng trong những năm vừa qua. Tác hại của tình trạng này chỉ  
được ghi nhận trong những trường hợp các doanh nghiệp phải thực hiện các đơn hàng gấp hoặc ở những doanh  
nghiệp có sử dụng công nghệ cao, đòi hỏi nhân viên vận hành phải được đào tạo và hoạt động chuyên nghiệp.  
266  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
Bên cạnh nỗ lực của các doanh nghiệp, Nhà nước cần có những định hướng và biện pháp  
thiết thực để thúc đẩy việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật- công nghệ và nâng cao năng lực công nghệ  
của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhiều chính sách đã được Nhà  
nước triển khai qua các văn bản có tính pháp lý như Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm  
2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp đến năm 2020, Chỉ thị 26/CT-TTg  
ngày 06 tháng 06 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về Tiếp tục triển khai hiệu quả Nghị quyết  
số 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 theo tinh thần Chính phủ đồng hành cùng doanh nghiệp  
và Luật hỗ trợ DNNVV. Vấn đề ở đây không chỉ là những biện pháp nhằm thúc đẩy quá trình  
phát triển kinh tế, mà còn nhằm nâng cao năng lực công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của  
quốc gia. Một số giải pháp cần được đặc biệt chú trọng triển khai một cách nhất quán và có hiệu  
quả trong những năm tới là:  
- Thực hiện nhất quán chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó có triển khai các  
chương trình hỗ trợ có trọng điểm cho một số ngành hàng chọn lọc để chúng có thể hội nhập có  
hiệu quả và bền vững vào thị trường thế giới. Hiện đang có khá nhiều chương trình hỗ trợ doanh  
nghiệp nói chung, cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa nói riêng, được tổ chức và quản lý bởi  
những cơ quan, tổ chức khác nhau với những mục tiêu theo những phương thức khác nhau, theo  
những cách tiếp cận khác nhau. Chính vì sự triển khai và quản lý các chương trình một cách  
phân tán khiến các nguồn lực bị phân tán, đầu tư dàn trải không đi đến kết quả cuối cùng và làm  
các chủ thể được hỗ trợ không tha thiết tiếp nhận và sử dụng các khoản hỗ trợ một cách hiệu quả.  
Do đó, các nguồn hỗ trợ cần được quản lý một cách tập trung, tốt nhất là định hướng theo các  
chủ thể tiếp nhận hỗ trợ và lấy các tiêu chí xét chọn dự án/ hoạt động được tài trợ là hiệu quả  
cuối cùng và các tiêu chí được cụ thể hóa từ các mục tiêu cụ thể của chương trình hỗ trợ.  
- Đẩy mạnh công tác thông tin về tiến bộ khoa học- công nghệ và ứng dụng tiến bộ khoa  
học- công nghệ. Mục đích của giải pháp này không phải là tạo ra một hệ thống thông tin về tiến  
bộ khoa học- công nghệ và các vấn đề liên quan tới công dụng, hiệu quả, quá trình ứng dụng tiến  
bộ kỹ thuật- công nghệ, mà là tạo ra, cập nhật hóa một cách thường xuyên và chuyển tải những  
thông tin như thế tới các chủ thể có nhu cầu sử dụng. Hệ thống này cũng cần được tổ chức sao  
cho các doanh nghiệp cũng như các chủ thể liên quan có thể tiếp cận một cách dễ dàng khi có  
nhu cầu. Muốn vậy, bên cạnh việc tạo lập hệ thống thông tin về công nghệ và ứng dụng công  
nghệ, cần thiết lập nhiều kênh chuyển tải thông tin sao cho các yêu cầu về tính chính xác, tính  
kịp thời, khả năng kiểm tra chéo, khả năng so sánh, đối chiếu thông tin, … được đảm bảo một  
cách chặt chẽ.  
- Hoàn thiện cơ chế hoạt động, nâng cao hiệu quả và tác động của các chương trình hỗ  
trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt là các chương trình/ nhánh chương trình hỗ trợ ứng dụng  
tiến bộ công nghệ và đổi mới công nghệ. Hiện Nhà nước đã xây dựng và thực hiện khá nhiều các  
chương trình hỗ trợ cho các doanh nghiệp để họ đổi mới công nghệ, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật-  
công nghệ để nâng cao năng lực của họ, góp phần nâng cao năng lực công nghệ quốc gia. Tuy  
nhiên, hiệu quả và tác động của những hỗ trợ này còn khiêm tốn, nhiều quỹ hỗ trợ chưa được  
267  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
khai thác tốt27. Trong thời gian tới, các chương trình hỗ trợ nên được đẩy mạnh theo hướng  
tạo môi trường thuận lợi tối đa cho các hoạt động sáng tạo, bảo vệ có hiệu quả quyền tác giả  
và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, các hoạt động hỗ trợ nên hướng chủ yếu vào việc củng  
cố và phát triển cầu về tiến bộ khoa học- công nghệ và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật- công nghệ.  
Những hoạt động hỗ trợ cũng cần chú trọng nhiều hơn tới tác dụng và hiệu ứng lan tỏa thực  
sự của các dự án nghiên cứu, phát triển và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật- công nghệ. Các cơ  
quan quản lý nhà nước về khoa học- công nghệ và doanh nghiệp cần có những đánh giá một  
cách chính xác và rõ ràng hiệu quả thực sự của các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp, hỗ trợ  
việc chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học- công nghệ trong doanh nghiệp và  
nâng cao năng lực công nghệ của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ,  
để triển khai những giải pháp cần thiết nhằm nâng cao hiệu quả, tăng cường tác động của các  
hỗ trợ mà nhà nước dành cho doanh nghiệp.  
- Nâng cao hiệu quả của công tác quản lý thị trường, xử lý nghiêm, đúng mức độ để khắc  
phục tối đa tình trạng kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, sản phẩm và quy trình sản xuất  
không tuân thủ các quy định về bảo vệ môi trường, bảo vệ người tiêu dùng. Đây là loại hoạt  
động chỉ có các cơ quan quản lý nhà nước mới có thể thực hiện được nhưng cũng là loại hoạt  
động bị chi phối bởi nhiều lợi ích và quan điểm khác nhau. Thực tế phát triển ở Việt Nam vừa  
qua cho thấy những hoạt động trên mà thực hiện kém hiệu quả, không nhất quán, không liên tục  
và xử lý các vi phạm không thích đáng thì điều kiện để ứng dụng tiến bộ kỹ thuật- công nghệ  
một cách hiệu quả và bền vững không được đảm bảo, động lực để tiến hành ứng dụng tiến bộ kỹ  
thuật- công nghệ sẽ bị triệt tiêu. Hơn thế nữa, việc này còn làm lợi ích cộng đồng bị xâm hại, ảnh  
hưởng xấu tới sự phát triển bền vững của nền kinh tế và toàn xã hội. Nhiều ý kiến đã được đề  
xuất cần xử lý ―mạnh tay‖ hơn với các vi phạm. Trong khi chờ đợi các kết quả phân tích, đánh  
giá tác động của những mức độ xử lý mạnh mẽ hơn, cần áp dụng đúng mức các chế tài hiện có,  
không nương nhẹ, nể nang các trường hợp vi phạm như thế. Cũng có những cán bộ quản lý cho  
rằng hiện các quy định pháp lý chưa đủ để xử lý các vi phạm, cần nhanh chóng hoàn thiện và bổ  
sung hệ thống luật pháp. Đánh giá này thực ra cũng có cơ sở nhất định, nhưng mặc dù còn có  
những khiếm khuyết, bản thân khung pháp lý hiện nay cũng đã có thể được sử dụng và vận dụng  
để xử lý khá nghiêm túc và đầy đủ các vi phạm cơ bản, giúp tạo ra những tác động tích cực đối  
với toàn hệ thống. Vấn đề chỉ là các cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm có ý thức và  
quyết tâm vận dụng các quy định hiện hành để tạo ra tác động tích cực hay không mà thôi.  
- Hoàn thiện môi trường kinh doanh/ môi trường hoạt động của các tổ chức nghiên cứu,  
phát triển, chuyển giao và hỗ trợ chuyển giao, đổi mới và cải tiến công nghệ nhằm nâng cao  
năng lực khoa học- công nghệ của quốc gia. Trước hết, cần tổ chức đánh giá một cách hệ thống  
các chính sách phát triển kinh tế- xã hội, sau đó, cần rà soát hệ thống và toàn diện các quy định  
liên quan tới toàn bộ chuỗi hoạt động từ nghiên cứu- phát triển, thích ứng hóa, chuyển giao công  
27 Theo một số nghiên cứu, ―tỷ lệ doanh nghiệp nhận được hỗ trợ từ phía Nhà nước về đổi mới sáng tạo và nâng cấp  
công nghệ còn thấp với lượng các doanh nghiệp được hưởng các chính sách về tín dụng hay chính sách hỗ trợ đổi  
mới công nghệ chỉ từ 10% đến 17%. …Tỷ lệ các doanh nghiệp được hỗ trợ tư vấn kỹ thuật hay thực hiện nhiệm vụ  
khoa học và công nghệ chỉ 3% đến 6%‖. Xem: Trần Thùy Linh, Nguyễn Thị Thanh Hoa (2019), Nâng cao năng lực  
đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam. Tạp chí Công thương, tài liệu đã dẫn.  
268  
HỘI THẢO QUỐC TẾ: PHÁT TRIỂN  
DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA VIỆT NAM TRONG BỐI CẢNH CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0  
nghệ, khai thác- sử dụng công nghệ, … cho tới thay thế, thải loại công nghệ nói chung cũng như  
trong các doanh nghiệp nói chung. Bởi việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật- công nghệ, đổi mới công  
nghệ thường có rủi ro cao hơn các hoạt động sản xuất kinh doanh đã ổn định nên cần triển khai  
thêm các biện pháp hạn chế hoặc ngăn ngừa, khắc phục hậu quả của những rủi ro này nếu chúng  
xảy ra.  
Trong việc nâng cao năng lực công nghệ của các doanh nghiệp thông qua ứng dụng tiến  
bộ công nghệ và chuyển giao công nghệ, hệ thống dịch vụ và hỗ trợ chuyển giao công nghệ có  
vai trò đặc biệt quan trọng. Trong thời gian tới, đây chính là khâu có vai trò then chốt, có thể  
phát huy vai trò thúc đẩy các hoạt động chuyển giao công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học công  
nghệ trong các doanh nghiệp mà Nhà nước cần trực tiếp tác động (chứ không phải là ―kích cầu‖  
hay ―kích cung‖ về tiến bộ công nghệ.  
Tài liệu tham khảo  
1. Chỉ thị 26/CT-TTg ngày 06 tháng 06 năm 2017 của Thủ tướng Chính phủ về Tiếp tục triển  
khai hiệu quả Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 theo tinh thần Ch nh phủ  
đồng hành cùng doanh nghiệp.  
2. Vũ Khuê (2019), Vì sao doanh nghiệp Việt khó tham gia chuỗi giá trị toàn cầu?  
2019042321294334.htm  
3. Trần Thùy Linh, Nguyễn Thị Thanh Hoa (2019), Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của  
doanh nghiệp Việt Nam. Tạp chí Công thương 6/ 2019. http://tapchicongthuong.vn/bai-  
4. Luật hỗ trợ DNNVV (Luật số 04/2017/QH14) do Quốc hội ban hành ngày 12/ 6/ 2017.  
5. Anh Minh (2019), Số doanh nghiệp lập mới đạt kỷ lục trong 9 tháng 2019.  
2019/376273.vgp  
6. Trần Thị Hồng Minh (2018), Phân tích các nguyên nhân các doanh nghiệp rời thị trường  
trong 10 tháng đầu năm 2018 và một số giải pháp. Xem https://dangkykinhdoanh.  
gov.vn/vn/tin-tuc/597/4847/phan-tich-cac-nguyen-nhan-cac-doanh-nghiep-roi-thi-truong--  
trong-10-thang-dau-nam-2018-va-mot-so-giai-phap.aspx  
7. Nhật Minh (2019), Cạnh tranh nhờ khoa học và công nghệ. Xem: https://nhandan.  
com.vn/khoahoc-congnghe/khoa-hoc/item/39594702-canh-tranh-nho-khoa-hoc-va-cong-  
nghe.html.  
8. Nghị quyết 35/NQ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2016 của Chính phủ về hỗ trợ và phát triển  
doanh nghiệp đến năm 2020,  
269  
INTERNATIONAL CONFERENCE: DEVELOPMENT OF SMALL AND MEDIUM ENTERPRISES  
IN VIETNAM IN THE CONTEXT OF INDUSTRIAL REVOLUTION 4.0  
9. Tổng cục Thống kê,  áo cáo tình hình kinh tế xã hội Việt Nam các năm 2016, 2017 và 9  
tháng đầu năm 2019  
10. Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê các năm 2005, 2010, 2015, 2017, 2018. NXB  
Thống kê. Hà Nội.  
11. Tổng cục Thống kê (2019), Thông cáo báo chí Sách trắng doanh nghiệp Việt Nam năm  
12. Nguyễn Quang Tuấn (2014), Thúc đẩy chuyển giao kết quả nghiên cứu và phát triển vào sản  
xuất, kinh doanh. Tạp chí Tài chính. http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu--trao-doi/trao-doi-  
binh-luan/thuc-day-chuyen-giao-ket-qua-nghien-cuu-va-phat-trien-vao-san-xuat-kinh-  
doanh-89704.html  
13. VCCI (2016),  áo cáo thường niên doanh nghiệp Việt Nam năm 2015. NXB Thông tin và  
truyền thông  
270  
pdf 12 trang Thùy Anh 13940 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_tien_bo_khoa_hoc_cong_nghe_nham_dam_bao_su_phat_tri.pdf