Vai trò của hệ thống kiểm soát quản lý đối với sự phát triển của doanh nghiệp

VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG KIỂM SOÁT QUẢN LÝ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT  
TRIỂN CỦA DOANH NGHIỆP  
ThS. Tạ Thu Phương  
Đại học Kinh tế Quốc dân  
Tóm tắt  
Hệ thống kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp là một phần không thể thiếu  
trong quản trị công ty hiện đại. Cho đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình  
nghiên cứu về chủ đề này. Tuy nhiên, ở Việt Nam, chưa có nhiều nghiên cứu được  
thực hiện. Bài viết này tập trung vào tổng quan các công trình nghiên cứu về hệ thống  
kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp, trong đó chú trọng tới vai trò của hệ thống  
kiểm soát quản lý đối với sự phát triển của doanh nghiệp từ các góc độ khác nhau:  
thông qua sự đổi mới, sáng tạo; thông qua quản trị chiến lược trong doanh nghiệp và  
việc gia tăng hiệu quả hoạt động chung cho toàn doanh nghiệp. Bài viết cung cấp cơ  
sở lý luận về hệ thống kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp, có ý nghĩa làm tiền đề  
cho việc phát triển các nghiên cứu tiếp theo về hệ thống kiểm soát quản lý trong  
doanh nghiệp tại Việt Nam.  
Abstract  
Management Control System plays an important role in modern corporate governance.  
Much research on this subject has been done in many countries over the world but not  
much in Vietnam. The present paper focuses on literature review on management  
control system, especially its role in developing organizations from different aspects  
such as innovation, strategic management and performance efficiency. The paper  
provides theoretical background of management control system, that will be useful for  
further research on management control system in Vietnam.  
Từ khoá: hệ thống kiểm soát quản lý, hệ thống kiểm soát nội bộ, vai trò của hệ thống  
kiểm soát quản lý  
1. Giới thiệu  
Hệ thống kiểm soát quản lý (Management Control Systems – MCS) giữ vai trò  
then chốt trong quản trị chiến lược và vận hành tổ chức nhằm gia tăng hiệu quả hoạt  
động của doanh nghiệp (Merchant & Van der Stede, 2007). Một MCS yếu kém hoặc  
231  
không phù hợp có thể dẫn đến những tổn thất lớn về tài chính, danh tiếng, thậm chí  
dẫn đến sự sụp đổ của một tổ chức.  
Trên thế giới đã chứng kiến không ít những ví dụ điển hình về sự sụp đổ của  
các tổ chức mà nguyên nhân là việc vận hành không hiệu quả hệ thống kiểm soát quản  
lý. Chẳng hạn vào năm 1995, tại Anh Quốc, Baring Brothers – một trong những ngân  
hàng lớn nhất của Anh Quốc, được thành lập từ năm 1817 đã tuyên bố phá sản.  
Nguyên nhân xuất phát từ những giao dịch không được kiểm soát đối với những hợp  
đồng ngoại tệ tương lai (future contracts). Điều đáng chú ý là tất cả các giao dịch này  
đều do một nhân viên cấp trung thuộc chi nhánh tại Singapore tên là Leeson thực hiện.  
Trước khi vụ việc được phát giác và ngăn chặn, những tổn thất mà Leeson gây ra đối  
với Baring Brothers là 1.1 tỉ đô la – lớn hơn hai lần vốn của ngân hàng này lúc bấy giờ  
(Brown, 2005). Vụ việc một nhân viên có vị trí không cao gây ra tổn thất lớn buộc  
một ngân hàng với tuổi đời gần 200 năm phá sản, đã gây chấn động trong giới tài  
chính nước này. Chính phủ Anh đã vào cuộc điều tra những sai phạm trong công tác  
quản trị của ngân hàng này. Kết luận của cuộc điều tra chỉ ra những yếu kém của hệ  
thống kiểm soát quản lý, cụ thể là sự phân tán về trách nhiệm và nghĩa vụ (segregation  
of duties) và sự nhập nhằng về trách nhiệm quản lý (confused responsibility) của đội  
ngũ quản lý thuộc chi nhánh của Baring Brothers tại Singapore (Drummond, 2003).  
Vào năm 2002, một vụ việc tương tự cũng đã xẩy ra đối với ngân hàng Allied  
Irish Banks khi chi nhánh của ngân hàng này là Allfirst Financial tại Baltimore đã gây  
ra những tổn thất lớn từ các giao dịch ngoại tệ. Sự thiếu vắng một MCS hiệu quả đã  
gây ra khoản thiệt hại lên đến 691 triệu đô la cho ngân hàng này trong khoảng thời  
gian 5 năm mà không bị phát hiện (Linsley & Kajuter, 2008).  
Ở Việt Nam hiện nay, chủ đề về kiểm soát nội bộ trong các tổ chức đã có nhiều  
nghiên cứu đề cập. Tuy nhiên hệ thống kiểm soát quản lý hiện đang là chủ đề chưa có  
nhiều nghiên cứu và trên thực tế, MCS tại các doanh nghiệp Việt Nam còn nhiều điều  
đáng bàn. Bài viết này cung cấp tổng quan nghiên cứu cũng như cơ sở lý luận về hệ  
thống kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp, trong đó chú trọng tới vai trò của hệ  
thống kiểm soát quản lý đối với sự phát triển của doanh nghiệp, có ý nghĩa làm tiền đề  
cho việc phát triển các nghiên cứu tiếp theo về hệ thống kiểm soát quản lý tại Việt  
Nam.  
2. Hệ thống kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp  
2.1. Các khái niệm về hệ thống kiểm soát quản lý  
232  
Khái niệm hệ thống kiểm soát quản lý đã phát triển qua nhiều giai đoạn, từ một  
hệ thống tập trung cung cấp những thông tin mang tính chính thống và có thể được  
định lượng tài chính hỗ trợ quá trình ra quyết định, tới một khái niệm bao hàm một  
phạm vi thông tin rộng lớn hơn, bao gồm thông tin bên ngoài liên quan tới thị trường,  
khách hàng, đối thủ cạnh tranh; thông tin phi tài chính liên quan tới quá trình sản xuất;  
thông tin dự báo và một loạt các cơ chế hỗ trợ ra quyết định cũng như các kiểm soát  
phi chính thức mang tính cá nhân và xã hội. Hệ thống MCS trong doanh nghiệp vì thế  
được hiểu theo quan điểm thông thường là một công cụ gián tiếp cung cấp thông tin  
hỗ trợ quá trình ra quyết định cho nhà quản lý.  
Sau những năm 80, cách nhìn về MCS đã thay đổi. Slagmulder (1997) cho rằng  
MCS là quá trình nhà quản lý ảnh hưởng tới các thành viên trong doanh nghiệp nhằm  
hoàn thành chiến lược đã ban hành.  
MCS theo định nghĩa của Kim (1997) là quá trình nhà quản lý đảm bảo rằng  
nguồn lực được sử dụng một cách hiệu quả trong việc hoàn thành các mục tiêu của  
doanh nghiệp.  
MCS là một hệ thống tập hợp và sử dụng thông tin để đánh giá việc tổ chức các  
nguồn lực khác nhau như con người, cơ sở vật chất, tài chính cũng như việc cân nhắc  
toàn bộ các chiến lược của doanh nghiệp. Do đó, MCS được coi như "sự bảo đảm"  
của việc sử dụng không lãng phí các nguồn lực khi được giao phó cho nhà quản lý  
(Anthony, 1998).  
Theo Otley (1999), MCS là một hệ thống cung cấp thông tin hữu ích cho các  
nhà quản lý thực hiện nhiệm vụ của mình. Hệ thống thông tin này giúp đánh giá và  
kiểm soát hiệu quả hoạt động của một tổ chức trên tất cả các khía cạnh, từ quản lý  
nhân sự (HR), marketing, bán hàng (Sales), sản xuất (Production), hệ thống thông tin  
(IT) cho đến tài chính (Finance), kế toán (Accounting), và quan trọng hơn là hệ thống  
luôn hướng tới việc thực hiện mục tiêu chiến lược dài hạn của doanh nghiệp.  
Theo Malmi (2005) định nghĩa MCS bao gồm các công cụ và các hệ thống  
quản lý được sử dụng nhằm đảm bảo các quyết định và hành vi của người lao động  
phù hợp với mục tiêu và chiến lược của tổ chức. Ông lập luận rằng MCS là một hệ  
thống tích hợp và cần thiết để đánh giá tổ chức từ mọi góc độ nhờ vậy kiểm soát kế  
toán hoặc quản trị các lĩnh vực mà không một hệ thống toàn diện nào có thể có được.  
MCS trong doanh nghiệp là một khái niệm khá rộng. Nó bao gồm cả hệ thống  
kiểm soát nội bộ, hệ thống kế toán quản trị, quản trị chi phí, hệ thống cung cấp thông  
233  
tin quản lý, hệ thống đánh giá hiệu quả theo từng hoạt động, từng cá nhân, từng phòng  
ban, hay mang tính chiến lược là theo từng loại khách hàng, nhà cung cấp, từng thị  
trường để giúp nhà quản lý đưa ra các quyết định chiến lược.  
2.2. Phân biệt hệ thống kiểm soát quản lý và hệ thống kiểm soát nội bộ trong doanh  
nghiệp  
Hệ thống kiểm soát quản lý (MCS) và hệ thống kiểm soát nội bộ (ICS) cùng  
thực hiện mục tiêu chung là nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và  
sự phát triển trong toàn doanh nghiệp. Tuy vậy, giữa hai hệ thống này có những điểm  
khác biệt được liệt kê trong bảng 2.1 dưới đây:  
Bảng 2.1: Phân biệt ICS và MCS trong doanh nghiệp  
ICS  
MCS  
ICS là một quy trình chịu sự chi MCS là một hệ thống thu thập và  
phối của hội đồng quản trị, các nhà xử lý thông tin nhằm đánh giá và  
quản lý và các nhân viên của đơn kiểm soát hiệu quả hoạt động của  
vị, được thiết lập để cung cấp sự doanh nghiệp trên tất cả các khía  
bảo đảm hợp lý trong việc thực cạnh, có thể bao gồm từ quản lý  
1. Khái  
hiện ba mục tiêu:  
nhân sự, marketing, bán hàng, sản  
xuất, hệ thống thông tin cho đến tài  
chính, kế toán, và quan trọng hơn là  
hệ thống luôn hướng tới việc thực  
hiện mục tiêu chiến lược dài hạn  
của doanh nghiệp.  
niệm  
- Báo cáo tài chính đáng tin cậy  
- Các luật lệ và quy định được tuân  
thủ  
- Hoạt động hữu hiệu và hiệu quả  
- Đảm bảo tính chính xác về dữ liệu - Giúp nhà quản trị cấp cao, hay  
kế toán, báo cáo tài chính của công chủ doanh nghiệp kiểm tra phát  
ty.  
hiện các sai sót trong hệ thống, sai  
lệch trong hiệu quả hoạt động so  
với kế hoạch và những khiếm  
khuyết trong kiểm soát nội bộ từ đó  
đưa ra những cách thức và biện  
pháp xử lý cần thiết.  
- Giảm thiểu các rủi ro về gian lận  
của cán bộ, công nhân viên cũng  
như của các đối tượng khác.  
2. Mục  
đích sử  
dụng  
- Giảm thiểu sai xót không đáng có  
của nhân viên trong các hoạt động  
sản xuất kinh doanh hằng ngày.  
- Giúp cho nhà quản trị cấp cao  
kiểm soát được mục tiêu đã định  
- Giảm các hành vi vi phạm về nội  
234  
quy, quy chế của công ty.  
thông qua các công cụ kiểm soát  
- Giúp định hướng hoạt động của  
doanh nghiệp theo mục tiêu chung  
từ đó phát triển một cách bền vững  
thông qua tập trung phát triển vào  
những lĩnh vực quan trọng như: Tài  
chính, khách hàng, nghiên cứu và  
phát triển…  
- Các nhà quản trị cấp cao (bao - Các chủ sở hữu doanh nghiệp  
3. Đối  
gồm từ Tổng Giám đốc trở xuống)  
- Các nhà quản trị cấp cao  
tượng  
- Các nhà quản trị cấp trung và cấp  
cơ sở  
sử dụng  
- Nhà quản trị cấp cao từ chức danh - Nhà quản trị cấp cao (những nhà  
4. Đối  
tượng  
được  
kiểm  
soát  
Giám đốc trở xuống  
quản lý được chủ sở hữu thuê làm  
quản lý doanh nghiệp)  
- Nhà quản trị cấp trung, cấp cơ sở  
- Nhân viên  
- Các nhà quản trị cấp trung và cấp  
cơ sở  
- Nhân viên  
Mang tính chất tác nghiệp, tác động Mang tính chiến lược, dài hạn, tác  
đến từng bộ phận động tới toàn doanh nghiệp  
5. Tính  
chất  
ICS cho biết tình hình tài chính của MCS bao gồm hệ thống kiểm soát  
công ty, hiệu quả hoạt động, mức nội bộ, hệ thống kế toán quản trị,  
lợi nhuận, đồng thời tìm ra những quản trị chi phí, hệ thống cung cấp  
điểm yếu trong năng lực quản lý thông tin quản lý, hệ thống đánh  
làm cho doanh nghiệp hoạt động giá hiệu quả theo từng hoạt động,  
không hiệu quả, những thiếu xót từ từng cá nhân, từng phòng ban, hay  
các khâu trong quá trình thực hiện mang tính chiến lược hơn theo từng  
6. Quy  
mô tác  
động  
sản xuất kinh doanh.  
loại khách hàng, nhà cung cấp,  
từng thị trường để giúp nhà quản lý  
đưa ra các quyết định chiến lược.  
235  
- Nhà quản trị, các cán bộ thuộc cơ - Đánh giá chính xác, toàn diện và  
quan kiểm soát đánh giá tình trạng đúng đắn hiệu quả hoạt động sản  
hoạt động của doanh nghiệp theo xuất – kinh doanh của doanh  
từng lĩnh vực tài chính, nhân sự...  
nghiệp - Giúp các nhà quản trị xác  
định mục tiêu cũng như đưa ra  
những quyết định chiến lược đúng  
đắn cho doanh nghiệp  
- Đánh giá được tình hình tài chính  
của doanh nghiệp, hiệu quả hoạt  
động, mức lợi nhuận, đồng thời tìm  
ra được điểm yếu trong năng lực  
quản trị, làm cho doanh nghiệp  
hoạt động không hiệu quả, những  
thiếu xót từ các khâu trong quá  
trình thực hiện sản xuất kinh  
doanh.  
7. Kết  
quả  
kiểm  
soát  
- Các sự việc như gian lận, biển  
thủ… được ngăn chặn hoặc phát  
giác  
(Nguồn: Tác giả tổng hợp)  
3. Vai trò của hệ thống kiểm soát quản lý trong doanh nghiệp  
3.1. Vai trò của hệ thống kiểm soát quản lý đối với sự đổi mới của doanh nghiệp  
Một trong những đặc trưng quan trọng về MCS là cho phép các nhà quản trị  
tiếp cận và xây dựng ý tưởng cho các giai đoạn tìm kiếm và thực hiện của quá trình  
đổi mới (Abernethy & Lillis, 1995).  
Một MCS tốt trong doanh nghiệp sẽ là đòn bẩy thích hợp cho việc đổi mới sản  
phẩm. Davila và các cộng sự (2005) đã đưa ra các bằng chứng thực nghiệm từ các  
nghiên cứu trước đó cho thấy tồn tại mối quan hệ tích cực giữa MCS và đổi mới sản  
phẩm. Việc lập kế hoạch và thực hiện phối hợp dự án trong doanh nghiệp có liên quan  
tới sự thành công của sản phẩm (Cooper, 1982). Khả năng đổi mới của một tổ chức  
phụ thuộc vào khả năng tiếp cận, tích lũy và khai thác sáng kiến. Khả năng này phụ  
thuộc nhiều vào các cơ chế hỗ trợ như MCS.  
Simons (2000) bình luận rằng, đổi mới sản phẩm chỉ tốt nhất trong trường hợp  
các nhà quản trị tập trung điều hành đầu ra thay vì quá tập trung vào các quy trình  
236  
chuẩn hóa trong doanh nghiệp. MCS sẽ cung cấp nền tảng nhằm thu hút các thành  
phần của tổ chức từ đó phát triển giai đoạn đầu tiên của sự đổi mới (Fiol, 1996).  
Đổi mới sản phẩm là kết quả đầu ra của các ý tưởng sáng tạo được thực hiện  
trong một tổ chức. Amabile và các cộng sự (1996) đã xây dựng các nghiên cứu liên  
quan tới vấn đề làm thế nào để nhà quản trị dẫn dắt được sự sáng tạo và đổi mới. Kết  
quả của các nghiên cứu cho thấy đổi mới sản phẩm thành công phụ thuộc rất nhiều  
vào môi trường làm việc, sự kiểm soát và giám sát của tổ chức. Bên cạnh việc khuyến  
khích sáng kiến của các cá nhân, kiểm tra, giám sát việc thực hiện, các nhà quản trị  
cũng cần tạo ra môi trường làm việc tốt nhằm tiếp tục thúc đẩy việc đưa ra các sáng  
kiến trong doanh nghiệp.  
Như vậy, MCS giúp doanh nghiệp đạt được các mục tiêu đề ra, đồng thời dẫn  
dắt, thúc đẩy sự sáng tạo, đổi mới của mỗi cá nhân trong tổ chức.  
3.2. Vai trò của hệ thống kiểm soát quản lý trong quản trị chiến lược.  
Trước năm 1980, trong nhiều nghiên cứu MCS không được xem như một biến  
trong các nghiên cứu về quản trị chiến lược. Một số ít các nghiên cứu khác có đề cập  
tới mối liên quan này như Chandler (1962) cho rằng MCS cần được xem xét kỹ lưỡng  
trong mối liên quan với quản trị chiến lược của doanh nghiệp. Miles và Snow (1978)  
đã mô tả khá chi tiết về MCS trong chiến lược phòng thủ của doanh nghiệp nhằm  
giảm sự không an toàn trong hệ thống. Khi MCS được đặt làm trọng tâm thì chiến  
lược thực tế của doanh nghiệp hoàn toàn sát với chiến lược đã được hoạch định.  
Sau năm 1980, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh mối quan hệ giữa  
MCS và quản trị chiến lược, đặc biệt trọng tâm vào chiến lược sản xuất trong doanh  
nghiệp (Kim Langfield- Smith,1997).  
Porter (1980) đã chỉ ra quản trị chiến lược dựa vào MCS thông qua sự phối hợp  
qua đó khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới. Tức là các doanh nghiệp theo đuổi một  
chiến lược kinh doanh (tương tự như những người thăm dò) cần một MCS chi tiết,  
trong trường hợp năng suất và hiệu quả giảm hệ thống sẽ báo hiệu cho doanh nghiệp  
biết rằng chiến lược kinh doanh cần phải được thay đổi.  
Miller & Freisen (1982) đã nghiên cứu về phân loại chiến lược của doanh  
nghiệp đối với năng lực đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp đó. Cũng theo nhóm  
nghiên cứu, thông qua MCS có thể thấy hệ thống thông báo liên quan tới các hoạt  
động của doanh nghiệp như ý nghĩa của việc giảm thị phần, giảm doanh số cũng như  
237  
giảm khả năng sinh lời trong doanh nghiệp. Qua đó, giúp các nhà quản trị chiến lược  
điều chỉnh chiến lược của doanh nghiệp phù hợp với thực tế.  
Trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm, mối quan hệ giữa quản trị chiến lược và  
MCS được đo lường bằng nhiều cách như sử dụng bảng câu hỏi đối với nhà quản trị  
cấp cao và cấp trung trong doanh nghiệp từ đó đo lường ảnh hưởng của MCS tới hiệu  
quả hoạt động của doanh nghiệp (Govindarajan,1988); (Govindarajan và Fisher,  
1990); hay ảnh hưởng của MCS tới sự đổi mới của doanh nghiệp (Miller và  
Friesen,1982). Đặc biệt trong nghiên cứu của Simons (1987) đã chỉ ra mối quan hệ  
chặt chẽ giữa chiến lược, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và MCS thông qua các  
biến như kiểm soát ngân sách chặt chẽ, theo dõi nguồn lực bên ngoài, điều tiết hoạt  
động, kiếm soát chi phí, số liệu dự báo, mục tiêu liên quan tới hiệu quả đầu ra, báo  
cáo định kỳ, tiền lương thưởng…  
MCS là một hệ thống thu thập và sử dụng thông tin để đánh giá hiệu quả các  
nguồn lực khác nhau như con người, vật chất, tài chính và cũng là hệ thống kiểm soát  
các chiến lược của tổ chức. Ngoài ra, MCS ảnh hưởng đến hành vi của các thành phần  
trong tổ chức bảo đảm việc thực hiện đúng theo chiến lược trong toàn doanh nghiệp.  
Trong thực tế hiện nay, việc vận hành MCS tốt trên nền tảng công nghệ 4.0 sẽ giúp  
nhà quản lý tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chí phí và quản lý cấp dưới hiệu quả hơn,  
giúp đảm bảo tổ chức thực thi đúng theo chiến lược đã ban hành.  
3.3. Vai trò của hệ thống kiểm soát quản lý trong việc gia tăng hiệu quả hoạt động  
của doanh nghiệp  
Hầu hết các nghiên cứu về vai trò của MCS được tiến hành trước tiên ở các  
quốc gia phát triển. Đối với các công ty có quy mô vừa và nhỏ, các nghiên cứu về  
MCS thường tập trung vào vai trò của MCS trong việc tạo ra hiệu quả cho công ty dựa  
trên nền tảng lý thuyết tương thích (contingency theoretical framework). Điển hình  
cho cách tiếp cận này là các nghiên cứu của Drazin & Van de Ven (1985), Donaldson  
(2001) và Luft & Shields (2003).  
Các nghiên cứu của Abernethy & Lillis (1995), một lần nữa khẳng định các  
vấn đề cơ bản của trường phái lý thuyết tương thích trong kế toán quản trị khi cho  
rằng sự bất ổn của môi trường kinh doanh có tác động lên hệ thống kiểm soát và chiến  
lược của công ty, do đó ảnh hưởng đến kết quả hoạt động (Chenhall (2003); Chapman  
(1997); Donaldson (2001) và Luft & Shields (2003)).  
238  
Gul (1991) nghiên cứu tác động của sự không chắc chắn (bất ổn) của chiến  
lược tới hiệu quả kinh doanh của tổ chức bằng việc sử dụng phương pháp phân tích  
hồi quy (moderated regression analysis). Dựa trên số liệu thu thập từ việc phỏng vấn  
hơn 42 nhà quản lý cấp trung ở Úc, nghiên cứu chỉ ra rằng một MCS hoàn thiện bao  
gồm bốn khía cạnh có ảnh hưởng tích cực lên các chỉ tiêu tài chính của doanh nghiệp.  
Các nghiên cứu ở phương Tây gần đây cho rằng MCS sẽ cung cấp các dữ liệu  
phản ánh cả hai nội dung như điều kiện bên trong (ví dụ chiến lược và công nghệ sản  
xuất) và điều kiện bên ngoài (ví dụ cạnh tranh, thị hiếu của khách hàng), qua đó tích  
cực đóng góp vào việc tăng cường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.  
Nani (1990) đã lập luận rằng các phép đo hiệu quả tài chính có thể không cải  
thiện kết quả tài chính của một doanh nghiệp, vì nó chỉ đơn thuần phản ánh các kết  
quả hoạt động trong quá khứ, có thể không giúp cải thiện hiệu quả trong tương lai.  
Trong khi đó, Banker và các cộng sự (2000), Ittner và Larcker (1998) cho rằng các  
biện pháp phi tài chính lại cung cấp một cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến  
hoạt động tài chính trong tương lai. Rất nhiều các nghiên cứu đã cung cấp các kết quả  
về mối quan hệ tích cực giữa các thông tin phi tài chính và hiệu quả hoạt động của  
doanh nghiệp như Mia và Clarke (1999) đã kiểm tra mối quan hệ gián tiếp giữa việc  
sử dụng MCS, hiệu suất thông tin và hiệu quả hoạt động.  
Các nghiên cứu của Davila (2012) và Chong (1997) cho thấy việc sử dụng gia  
tăng thông tin phi tài chính của các công ty theo chiến lược khách hàng tập trung có  
một tác động tích cực tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nghiên cứu của  
Abernethy và Lillis (1995) cũng cho thấy các doanh nghiệp đã cải thiện được hiệu quả  
hoạt động trên cơ sở thông tin sản xuất phi tài chính trong MCS.  
Kết quả nghiên cứu của Scott và Tiessen (1999) chỉ ra hiệu quả hoạt động của  
doanh nghiệp sẽ được cải thiện trong trường hợp doanh nghiệp vận dụng các chỉ tiêu  
trong MCS, đặc biệt kết hợp cả thông tin tài chính và phi tài chính.  
Như vậy, việc vận dụng tốt MCS giúp gia tăng hiệu quả hoạt động của doanh  
nghiệp, tạo tiền đề cho sự phát triển bền vững của doanh nghiệp trong tương lai.  
Kết luận  
Bài viết trên đây đề cập tới tổng quan nghiên cứu cũng như cơ sở lý luận về  
MCS trong doanh nghiệp, chú trọng tới các quan điểm tiếp cận về MCS cũng như vai  
trò của MCS từ các góc độ khác nhau: đối với quản trị chiến lược, sự đổi mới trong  
doanh nghiệp và hiệu quả hoạt động chung của doanh nghiệp... Bên cạnh việc cung  
239  
cấp thông tin tốt nhất cho các nhà quản trị nhằm thiết lập các chiến lược hữu hiệu cho  
doanh nghiệp, đổi mới và phát triển sản phẩm, MCS còn cung cấp thông tin chính xác  
về hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.  
Trong xu thế cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, các doanh nghiệp đã và đang  
nhanh chóng áp dụng công nghệ trong việc điều hành doanh nghiệp nhằm đạt hiệu quả  
hoạt động tốt hơn. Việc xây dựng hệ thống thông tin như hệ thống kiểm soát quản lý  
trên nền tảng công nghệ hiện đại sẽ giúp các nhà quản trị doanh nghiệp thu thập thông  
tin nhanh nhạy hơn, tiết kiệm thời gian, tiết kiệm chi phí và quản lý cấp dưới dễ dàng  
hơn, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa tất cả các mục tiêu đề ra từ đó hướng tới sự phát  
triển bền vững. Mặc dù MCS đã được đề cập trong nhiều nghiên cứu ở trên thế giới,  
tuy nhiên tại Việt Nam hiện chưa có nhiều nghiên cứu được thực hiện. Bài viết trên  
đây đã cung cấp tổng quan nghiên cứu cũng như cơ sở lý luận về MCS, có ý nghĩa  
quan trọng trong việc tiếp tục phát triển các nghiên cứu sau này về MCS tại Việt Nam.  
Tài liệu tham khảo  
Anthony, R. N., Govindarajan, V., & Dearden, J. (1998), Management control  
systems (Vol. 9). Boston, MA: Irwin McGraw-Hill.  
Abernethy, M. A., & Lillis, A. M. (1995),” The impact of manufacturing flexibility on  
management control system design” Accounting, Organizations and Society, 20(4)  
Amabile, T.M., Conti.R.; Coon.H., Lazenby, J., Herron, M. (1996) “Assessing the  
Work Environment for Creativity”, The Academy of Management Journal, Vol. 39,  
No. 5.  
Banker, R. D., G. Potter, and D. Srinivasan. (2000),” An empirical investigation of an  
incentive plan based on nonfinancial measures.” The Accounting Review 75 (January)  
Brown, A. D, (2005), “Making sense of the collapse of Barings Bank.” Human  
Relations, 58(12)  
Chandler, A. D. (1962), Strategy and Structure: Chapters in the History of the  
Industrial Enterprise, Cambridge, MA: MIT Press.  
Chenhall, R. H. (2003), “Management control systems design within its organizational  
context: findings from contingency-based research and directions for the  
future.” Accounting, organizations and society, 28(2)  
Chapman, C.S. (1997), “Reflections on a contingent view of accounting.” Accounting,  
Organizations and Society, 22(2)  
240  
Chong, V.K., Chong, K.M., (1997), “Strategic choices, environmental uncertainty and  
SBU performance: a note on the intervening role of management accounting  
systems.” Accounting and business research. 27  
Cooper, H. M. (1982), “Scientific guidelines for conducting integrative research  
reviews.” Review of Educational Research, 52(2)  
Davila, A. (2012), “New trends and performance management and management  
control” Studies in Managerial and Financial Accounting, 25, 65–87: Emerald  
Insight.  
Drummond, H. (2003), “Did Nick Leeson have an accomplice? The role of  
information technology in the collapse of Barings Bank.” Journal of Information  
Technology, 18(2)  
Donaldson, L. (2001),” The Contingency Theory of Organizations. Foundations for  
Organizational Science.” A Sage Publications Series, Sage Publications, CA:  
Thousand Oaks.  
Drazin, R. & Van de Ven, A.H. (1985)” Alternative forms of fit in contingency  
theory.” Administrative Science Quarterly 30.  
Fiol, M. (1996), “Squeezing harder doesn’t always work: continuing the search for  
consistency in innovation research.” Academy of Management Review, 21(4)  
Govindarajan, V., (1988)” A Contingency Approach to Strategy Implementation  
at the Business-Unit Level: Integrating Administrative Mechanisms with  
Strategy.” Academy of Management Journal .  
Govindarajan,V. & Fisher, J., (1990), “ Strategy, Control Systems, and Resource  
Sharing: Effects on Business-Unit Performance.” Academy of Management  
Journal.  
Henri, J. F. (2006), “Management control systems and strategy: A resource-based  
perspective.” Accounting, organizations and society, 31(6)  
Ittner, C. D., Larcker, D. F., and M. V. Rajan. (1997), “The choice of performance  
measures in annual bonus contracts.” The Accounting Review, 72 (April).  
Kim Langfield- Smith (1997), “Management control systems and Strategy: A critical  
Review.” Accounting, Organizations and Society, Vol. 22, No.2.  
241  
Linsley, P., & Kajuter, P. (2008). “Restoring reputation and repairing legitimacy: a  
case study of impression management in response to a major risk event at Allied Irish  
Banks plc.” International journal of financial services management,3(1)  
Luft J & Shields MD (2003),” Mapping management accounting: graphics and  
guidelines for theory-consistent empirical research.” Accounting, Organizations and  
Society, 28(2-3)  
Merchant, K. A. (1998). “Modern management control systems: text and cases”  
Upper Saddle River, NJ: Prentice Hall.  
Merchant, K. A., & Van der Stede, W. A. (2007), “Management control systems:  
performance measurement, evaluation and incentives”, Pearson Education, London  
Miller, D. & Friesen, P. H. (1982),” Innovation in Conservative and  
Entrepreneurial Firms: Two Models of Strategic Momentum”, Strategic  
Management Journal  
Miles, R. E. & Snow, C. C. (1978), Organizational Strategy, Structure and Process,  
McGraw-Hill Book Company, New York.  
Mia, L. & Clarke, B. (1999), “Market competition, management accounting systems  
and business unit performance”, Management Accounting Research, vol. 10.  
Nani, A.J., Dixon, J.R. & Vollmann, T.E. (1990), “Strategic control and performance  
measurement” Journal of Cost Management.  
Otley, D. (1999),” Performance management: a framework for management control  
systems research.” Management accounting research, 10(4)  
Porter, M. E. (1980) “Competitive Strategy: Techniques for Analyzing Industries and  
Competitors”, The Free Press, New York  
Gul FA (1991), “The effects of management accounting systems and environmental  
uncertainty on small business managers’ performance.” Accounting and Business  
Research, 22(85).  
McMahon R.G.P & Davies L.G (1994), “Financial reporting and analysis practices in  
small enterprises: Their association with growth rate and financial performance.”  
Journal of Small Business Management, 32.  
242  
Mc Mahon R.G.P (2001), “Business growth and performance and the financial  
reporting practices of Australian manufacturing SMEs.” Journal of Small Business  
Management, 39(2)  
Simons, R. (1987a), “Accounting control systems and business strategy: An empirical  
analysis” Accounting, Organizations and Society, 12  
Simons, R. (1995b), “Levers of Control: How Managers Use Innovative Control  
Systems to Drive Strategic Renewal” Harvard Business School Press, Boston.  
Simons, R. (2000), “Performance Measurement and Control Systems for  
Implementing Strategy.” New Jersey: Harvard Business School, Boston. Prentice-  
Hall, Inc.; 2000.  
Slagmulder, R. (1997), “Using management control systems to achieve alignment  
between strategic investment decisions and strategy”, Management Accounting  
Research  
Scott, T.W. & Tiessen, P. (1999), “Performance measurement and managerial teams”  
Accounting, Organizations and Society, 24  
Wijewardena, H., De Zoysa, A., Fonseka, T. & Perera, B. (2004), “The impact of  
planning and control sophistication on performance of small and medium-sized  
enterprises: Evidence from Sri Lanka.” Journal of Small Business Management  
243  
pdf 13 trang Thùy Anh 18120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của hệ thống kiểm soát quản lý đối với sự phát triển của doanh nghiệp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_he_thong_kiem_soat_quan_ly_doi_voi_su_phat_trien.pdf