Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Lịch sử

PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 93  
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG  
DẠY HỌC LỊCH SỬ  
ThS. LÊ THỊ HUỆ  
Khoa Xã hội - Du lịch  
TÓM TẮT  
Trong quá trình dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng luôn  
phải tiếp cận với những thành tựu của khoa học kỹ thuật, trong đó có  
ứng dụng công nghệ thông tin. Công nghệ thông tin với tư cách là một  
phương tiện hỗ trợ cho việc dạy học đang chứng tỏ những ưu thế và  
hiệu quả trong dạy học lịch sử . Bài viết giới thiệu khái quát vai trò  
cũng như việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử ở  
trường Đại học Hoa Lư nhằm nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.  
1. MỞ ĐẦU  
"Công nghệ thông tin là động lực giải phóng mạnh mẽ sức mạnh vật chất  
trí tuệ và tinh thần của toàn dân tộc; thúc đẩy công cuộc đổi mới; phát triển nhanh  
và hiện đại hóa các ngành kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh  
nghiệp, hỗ trợ có hiệu quả qúa trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, nâng cao  
chất lượng cuộc sống của nhân dân, đồng thời đảm bảo an ninh quốc phòng và tạo  
khả năng đi tắt đón đầu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.  
Hiện nay, công nghệ thông tin đang được ứng dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực,  
đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thay đổi cơ  
cấu xã hội, phong cách sống, học tập và làm việc của con người" [5-tr3].  
Trong tuyên bố chung của Hội nghị Bộ trưởng Giáo dục các nước thành  
viên tổ chức APEC lần thứ 2 về vấn đề "Giáo dục trong xã hội học tập ở thế kỉ  
XXI" (7/4/2000) đã xác định một trong những nhiệm vụ chiến lược sắp tới là phải  
xem "Công nghệ thông tin và truyền thông như là năng lực cốt lõi dành cho học  
sinh, sinh viên trong tương lai. Tiếp cận và khái thác tiềm năng của công nghệ  
thông tin và truyền thông để nâng cao chất lượng học tập và giảng dạy, khuyến  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 94  
khích học tập suốt đời" [trích theo 2-tr123]. Trong những năm qua, việc ứng dụng  
công nghệ thông tin (CNTT) đã và đang diễn ra khá phổ biến ở các ngành học,  
cấp học, cùng với việc đa dạng hóa các hình thức tổ chức dạy học, hiện đại hóa  
nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ  
động sáng tạo của người học.  
Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong những năm qua bộ môn Lịch sử  
trường Đại học Hoa Lư đã tích cực ứng dụng CNTT trong dạy học nhằm phát huy  
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng dạy  
học lịch sử.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Vai trò của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử  
"Mục tiêu của bộ môn lịch sử là cung cấp kiến thức cơ bản, có hệ thống về  
lịch sử phát triển hợp quy luật của dân tộc và xã hội loài người. Trên cơ sở đó,  
giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã  
hội, rèn năng lực tư duy và thực hành" [1-tr90].  
Lịch sử là quá trình phát triển của xã hội loài người từ lúc con người và xã  
hội loài người hình thành đến nay, tất cả những sự kiện, hiện tượng lịch sử đều là  
những cái đã xảy ra, không lặp lại. Đây là điểm khác biệt giữa hiện tượng lịch sử  
với các hiện tượng tự nhiên khác, do vậy, người học không thể trực tiếp quan sát  
được lịch sử quá khứ và chỉ nhận thức được lịch sử một cách gián tiếp thông qua  
tài liệu lịch sử. Mỗi sự kiện, hiện tượng lịch sử chỉ xảy ra một lần, duy nhất, trong  
một khoảng thời gian và không gian xác định, không hề lặp lại. Chính vì vậy,  
trong dạy học lịch sử, người học không thể trực tiếp quan sát cũng không thể làm  
thí nghiệm, thực nghiệm lại các sự kiện, hiện tượng lịch sử đó.  
Trong khi đó, quy luật nhận thức chung của con người là nhận thức từ đơn  
giản đến phức tạp, từ gần đến xa, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng.  
Đối tượng dạy học của bộ môn lịch sử thuộc về quá khứ nên thời gian càng lùi xa  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 95  
thì việc nhận thức lịch sử càng khó khăn. Để giờ học lịch sử hiệu quả, người dạy  
phải "dẫn dắt học sinh "trở về" với quá khứ lịch sử, tạo được biểu tượng rõ ràng,  
cụ thể về một nhân vật, một biến cố, hiện tượng lịch sử..." [3, tr39], trên cơ sở đó  
hình thành khái niệm, rút ra quy luật và bài học lịch sử. Để làm được điều đó,  
nhiệm vụ quan trọng của giảng viên (GV) bộ môn là cung cấp cho người học  
những sự kiện cụ thể, sinh động, giàu hình ảnh, đủ để khôi phục lại bức tranh quá  
khứ đúng như nó tồn tại, phải làm cho người học dường như đang được tham dự  
hoặc chứng kiến trực tiếp các sự kiện, hiện tượng lịch sử ấy. Đây là một yêu cầu  
rất khó. Do đặc điểm của hiện thực lịch sử và nhận thức lịch sử nên việc sử dụng  
đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử góp phần quan trọng tạo biểu tượng cho  
người học, cụ thể hóa các sự kiện, hiện tượng lịch sử, khắc phục tình trạng "hiện  
đại hóa" lịch sử. Để việc sử dụng đồ dùng trực quan thuận lợi và hiệu quả thì việc  
ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử đóng vai trò quan trọng.  
2.2. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học lịch sử  
Trong dạy học lịch sử, ngoài các phương tiện dạy học truyền thống như tài  
liệu giáo khoa, bản đồ, tranh ảnh, các loại sơ đồ, biểu đồ…các thiết bị kĩ thuật  
hiện đại máy chiếu phim, đèn chiếu, máy ghi âm, tivi, video, CNTT - truyền  
thông…được sử dụng ngày càng phổ biến. Thực tiễn và lí luận dạy học khẳng  
định đó là những phương tiện dạy học rất cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả  
bài học lịch sử. Sử dụng CNTT trong dạy học lịch sử không chỉ để minh họa sự  
kiện, hiện tượng lịch sử mà còn là nguồn kiến thức quan trọng, do vậy nó được sử  
dụng trong tất cả các khâu của quá trình dạy học. CNTT có thể đem lại cho SV  
những thông tin về lịch sử có tính tích trực quan cao, phong phú và đa dạng như  
văn bản, hình ảnh, video, sơ đồ, biểu đồ, hoạt hình, âm thanh, màu sắc...  
Với mức độ khác nhau, việc ứng dụng CNTT và phương tiện kĩ thuật trong  
dạy học lịch sử mở ra khả năng tương tác, tạo điều kiện cho GV và SV có thể tác  
động lên thiết bị, làm thay đổi hình thức, nội dung thể hiện sao cho phù hợp với ý  
tưởng tổ chức dạy học hay tình huống sư phạm cụ thể. Khả năng tương tác của  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 96  
CNTT kết hợp với phương tiện kĩ thuật giúp cho hoạt động dạy học trở nên linh  
hoạt, sáng tạo, đáp ứng được yêu cầu, sở thích cũng như năng lực học tập lịch sử  
của các đối tượng người học khác nhau. Các tư liệu lịch sử lưu trữ trong băng từ  
ghi tiếng, ghi hình hay trong các CD-Rom, ổ đĩa, USB…có dung lượng lớn và rất  
thuận lợi cho GV và SV trong việc xây dựng hồ sơ tư liệu, lưu trữ, biên tập, truyền  
thông tin và chia sẻ dữ liệu trong dạy học. Nhiều phương tiện kĩ thuật dạy học  
được trang bị trong nhà trường cũng được sử dụng khá phổ biến trong sinh hoạt  
thường ngày (máy cassette, máy chiếu video, máy chụp ảnh…). Do đó, GV và SV  
có điều kiện tiếp cận, sử dụng các thiết bị này trong việc chủ động tự thiết kế, xây  
dựng các phương tiện dạy học một cách khoa học, đáp ứng kịp thời các yêu cầu  
dạy học lịch sử, đồng thời tiết kiệm nhiều thời gian, công sức so với việc xây dựng  
các đồ dùng dạy học truyền thống. Các hoạt động này là những bài tập thông qua  
sử dụng CNTT dạy học để GV rèn luyện kĩ năng thực hành cho SV, góp phần  
củng cố kiến thức đã học và tìm hiểu kiến thức mới.  
CNTT có thể hỗ trợ GV và SV trong nhiều khâu của quá trình dạy học lịch  
sử: chuẩn bị bài ở nhà, tiến hành bài nghiên cứu kiến thức mới, ôn tập, kiểm tra  
đánh giá, thực hành, ngoại khóa. Việc ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử với  
phải cơ bản, vừa đủ, đa dạng về thông tin và cần được khai thác sử dụng như một  
nguồn kiến thức mới, như một công cụ để tổ chức SV hoạt động, tiến hành dạy  
học nêu vấn đề, thực hiện các bài tập so sánh, đối chiếu…Để thiết kế bài giảng  
điện tử trong dạy học lịch sử, giảng viên có thể chọn lựa nhiều phần mềm khác  
nhau như: Flash, PowerPoint, Violet (tiếng Việt)… kết hợp với các phần mềm hỗ  
trợ khác. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc trưng, yêu cầu của bộ môn lịch sử cũng như  
khả năng tiếp cận của GV và SV nên việc lựa chọn phần mềm PowerPoint mang  
tính khả thi.  
Phần mềm PowerPoint có thể đáp ứng tốt nhiều yêu cầu khác nhau trong  
dạy học lịch sử. Với phần mềm này GV dễ dàng chèn nội dung văn bản, hình ảnh,  
video clip, âm thanh... làm cho các kênh thông tin về sự kiện lịch sử trở nên đa  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 97  
dạng, phong phú, sinh động. Qua đó, góp phần tạo biểu tượng lịch sử, giúp học  
sinh cảm nhận và “xích lại” gần với hiện thực quá khứ, tránh nhận thức sai lầm,  
hiện đại hóa lịch sử. Đồng thời tạo hứng thú học tập, hình thành trong học sinh  
tình cảm, thái độ đúng đắn đối với lịch sử cũng như việc học tập bộ môn.  
Khi dạy về "Tình hình cách mạng nước ta hơn năm đầu sau cách mạng tháng  
Tám (từ 2/9/1945 đến 19/12/1946)", để làm rõ nhưng khó khăn về kinh tế, đặc  
biệt là nạn đói đã cướp đi sinh mạng của hàng triệu người dân Việt Nam, GV có  
thể hướng dẫn SV khai thác kiến thức lịch sử qua tranh ảnh và phim tư liệu sử nói  
về nạn đói cuối năm 1944 đầu năm 1945 và nguy cơ nạn đói mới đang xuất hiện  
ngay sau khi chúng ta giành độc lập. Kết hợp với những nguồn tài liệu khác SV  
hiểu được những khó khăn về chính trị - quân sự, kinh tế - tài chính, văn hóa -  
giáo dục, nạn ngoại xâm - nội phản, lí giải được tại sao tình thế cách mạng nước  
lúc này như "ngàn cân treo sợi tóc".  
Hoặc khi dạy về "Những năm đầu toàn quốc kháng chiến", phần cuộc chiến  
đấu tại các đô thị phía Bắc, đặc biệt là cuộc chiến đấu của quân và dân Thủ đô Hà  
Nội (từ 19/12/1946 đến 17/2/1947), để khắc họa rõ nét nhất về cuộc chiến đấu  
ngoan cường, mưu trí, dũng cảm của quân và dân Hà Nội vào mùa đông năm 1946  
thì việc ứng dụng CNTT là sự lựa chọn tối ưu. Để SV có được xúc cảm lịch sử  
thực sự thì việc trực quan những hình ảnh hoặc những đoạn phim tư liệu lịch sử  
gốc về quá trình chiến đấu của Trung đoàn Thủ đô, đặc biệt là của Đội quân cảm  
tử, hình ảnh về bom ba càng, về những trướng ngại vật được đặt trên đường để  
ngăn bước tiến của giặc Pháp, về hình ảnh những người dân thủ đô cùng các chiến  
sĩ bám trụ để bảo vệ từng ngôi nhà, từng góc phố, về cuộc rút quân thân kì của  
Trung đoàn Thủ đô ra khỏi nội thành để bảo toàn lực lượng...Đặc biệt là hình ảnh  
và đoạn phim tư liệu về chiến sĩ cảm tử quân ôm bom ba càng lao vào xe tăng  
địch với tinh thần "Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Việc sử dụng tranh ảnh,  
phim tư liệu lịch sử nếu được phối hợp nhuần nhuyễn với các phương pháp dạy  
học bộ môn cùng các thao tác sư phạm sẽ giúp cho SV có được biểu tượng chân  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 98  
thực nhất về Hà Nội mùa đông năm 1946, về  
tinh thần chiến đấu quyết tử của quân và dân  
Hà Nội đã góp phần giam chân địch trong  
thành phố hơn hai tháng để chúng ta có điều  
kiện chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến  
lâu dài với Pháp.  
Trong dạy học lịch sử, việc tạo các niên biểu, lược đồ, sơ đồ, đồ thị, biểu đồ,  
bảng so sánh, bảng thống kê ...để minh họa và trình bày kiến thức là rất cần thiết.  
Đặc biệt, với sự hỗ trợ của phầm mềm PowerPoint, các bảng biểu, sơ đồ, đồ thị...  
này sẽ có tác dụng lớn đối với việc hình thành tri thức lịch sử cho SV, qua đó giáo  
dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, phẩm chất và phát triển toàn diện ở các em. Biểu  
đồ, lược đồ, đồ thị,... với nhiều màu sắc, hiệu ứng hoạt hình và được trình chiếu  
theo trình tự nội dung vấn đề, theo xu hướng phát triển của sự kiện… giúp SV  
hiểu được bản chất, các mối liên hệ, chiều hướng phát triển của các sự kiện hoặc  
hệ thống, khái quát những kiến thức lịch sử để thấy được tính hệ thống của các  
sự kiện, hiện tượng lịch sử ….  
Với bài "Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược kết thúc 1953 -  
1954", để giúp SV hiểu rõ những khó khăn mà Pháp gặp phải trên chiến trường  
Đông Dương vào cuối năm 1953 đầu năm 1954, GV sử dụng lược đồ Đông Dương  
năm 1953 - 1954 (có thể là lược đồ trống), sau đó GV hướng dẫn SV khai thác  
nội dung kiến thức qua lược đồ. Đồng thời, GV lập bảng thống kê về tỉ lệ viện trợ  
của Mĩ cho Pháp ở Đông Dương từ 1950 đến đầu năm 1954, qua đó giúp SV thấy  
được sự phụ thuộc về tài chính ngày càng lớn  
của Pháp vào Mĩ, sự can thiệp và âm mưu của  
Mĩ vào cuộc chiến của Pháp ở Đông Dương.  
Để SV hiểu rõ hơn về Hiệp hội các quốc  
gia Đông Nam Á ASEAN, GV hướng dẫn SV  
sơ đồ hóa kiến thức như hình bên. Với sơ đồ này, SV hiểu rõ về sự ra đời và phát  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 99  
triển, cơ cấu tổ chức, mục đích, nguyên tắc hoạt động... của tổ ASEAN cũng như  
mối quan hệ giữa Việt Nam và ASEAN.  
Nhằm cụ thể hóa kiến thức lịch sử thông qua các kí hiệu, GV có thể tạo và  
chèn các dạng kí hiệu, biểu tượng có sẵn trong Auto Shapes với các định dạng  
theo điểm, đường, diện tích, có thể tăng giảm kích cỡ và thay đổi hướng các ký  
hiệu cho phù hợp với nội dung lịch sử. Ngoài ra còn có thể tự biên vẽ các lược đồ,  
sơ đồ, tự thiết kế các biểu tượng đặc biệt thể hiện được đặc trưng của sự kiện lịch  
sử, ví như biểu tượng ngọn lửa thể hiện cuộc khởi nghĩa. Các dạng ký hiệu trên  
lược đồ lịch sử khi được tạo hiệu ứng thích hợp sẽ giúp SV nhận thức rõ quá trình  
diễn biến sự kiện, xác định địa điểm, hướng di chuyển, hướng tấn công hoặc rút  
lui...Với việc sử dụng hệ thống kí hiệu phù hợp sẽ góp phần tạo biểu tượng về  
không gian, thời gian, chiều hướng phát triển hay kết thúc của sự kiện, giúp người  
học thấy được mối liên hệ giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử.  
Ví dụ khi dạy học về "Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược  
kết thúc", để giúp SV hiểu rõ tại sao Pháp - Mĩ lại đề ra kế hoạch Nava, nội dung  
và các bước của kế hoạch này như thế nào, GV có thể sử dụng Lược đồ Đông  
Dương 1954 - 1954 (Lược đồ trống chưa có nội dung lịch sử).  
Về nội dung, kế hoạch Nava gồm hai bước:  
+ Bước 1: Thu Đông năm 1953 và Xuân năm 1954: Giữ thế phòng ngự  
chiến lược ở chiến trường miền Bắc, tránh giao chiến với quân chủ lực của ta.  
Thực hiện tiến công chiến lược ở miền Trung và Nam Đông Dương, đồng thời mở  
rộng nguỵ quân, tập trung binh lực xây dựng lực lượng cơ động mạnh.  
+ Bước 2: Thu Đông năm1954: Chuyển lực lượng ra chiến trường miền  
Bắc, thực hiện tiến công chiến lược, cố giành thắng lợi quyết định, buộc ta phải  
đàm phán theo những điều kiện có lợi cho chúng.  
Từ bản đồ trống, GV có thể chèn các ký hiệu, biểu tượng mà cụ thể là các  
mũi tên, sau đó tạo hiệu ứng phù hợp với nội dung lịch sử để trở thành bản đồ  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 100  
động. Tùy theo ý tưởng mà có thể chèn  
cùng nội dung kế hoạch cùng trên một  
Slide hoặc chỉ dùng nguyên lược đồ  
trống để GV hướng dẫn SV tự khai thác  
kiến thức lịch sử. Với cách làm này sẽ  
giúp GV thuận lợi hơn trong dạy học và  
SV hứng thú hơn khi chúng ta dùng bản  
đồ treo tường.  
Việc thiết kế các trang trình chiếu trên PowerPoint nếu có sự liên kết giữa  
các đối tượng, slide hay giữa các chương trình ứng dụng sẽ giúp cho bài giảng  
thêm linh hoạt. Mặt khác, quá trình trình diễn không phải bao giờ cũng tuân thủ  
theo sự sắp xếp trước sau của các slide mà đôi khi có sự truy xuất bất thường giữa  
các slide. Tạo các liên kết (Hyperlink) linh hoạt cho phép kết nối một nội dung  
bất kỳ trên một slide của giáo án điện tử đến một trang web hay đến bất kỳ một  
tập tin nào trong máy tính…để tìm kiếm thông tin,  
mở rộng nội dung đang trình bày hoặc sử dụng nút  
kích hoạt để bật/tắt tức thì các dạng tư liệu ngay trên  
slide đang trình chiếu nhằm bổ sung, cung cấp  
thông tin hay tiến hành so sánh,đối chiếu. Ví như,  
khi dạy về diễn biến chiến dịch Điện Biên Phủ  
1954, GV tạo liên kết Hyperlink để kết nối đoạn Flash về diễn biến chiến dịch  
hoặc tương tự khi muốn kết nối với một đoạn phim tưu liệu về Hội nghị Giơnevơ  
ngày 21/7/1954 về kết thúc chiến tranh lập lại hòa bình ở Đông Dương...  
Ngoài việc ứng dụng PowerPoint trong dạy học lịch sử, giáo viên có thể sử  
dụng phần mềm Violet để soạn bài giảng điện tử với giao diện đơn giản, có cấu  
trúc sẵn và sử dụng tiếng Việt hoặc có thể sử dụng phần mềm này để soạn các câu  
hỏi trắc nghiệm, các câu hỏi ghép đôi, trò chơi ô chữ, trò chơi lịch sử để củng cố  
bài học.  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 101  
Trong dạy học lịch sử, GV có thể ứng dụng một số phần mềm vẽ sơ đồ tư  
duy trên máy tính như iMindMap, Edraw Mind Map, XMind ... Với các phầm  
mềm này sẽ giúp GV có nhiều lựa chọn trong  
việc dùng hình ảnh, biểu tượng, màu sắc để  
phù hợp với những nội dung lịch sử cần thể  
hiện. Mỗi phần mềm đều có những ưu điểm  
và hạn chế riêng, do vậy tùy vào khả năng của  
GV và nội dung lịch sử cần thể hiện mà có  
thể sử dụng để thiết kế bản đồ tư duy lịch sử  
cho phù hợp.  
Ví như khi dạy về Chiến tranh thế giới lần thứ hai, GV thiết lập hoặc hướng  
dẫn người học vẽ bản đồ tư duy để khái quát những nội dung cơ bản về thế chiến  
thứ hai từ nguyên nhân, thời gian, không gian, diễn biến, kết quả, tác động của  
cuộc chiến... Với bản đồ tư duy này người học hiểu được bản chất của cuộc chiến  
từ đó thấy được hậu quả của nó đối với nhân loại như thế nào...  
Ứng dụng CNTT trong dạy học lịch sử không chỉ diễn ra một chiều từ phía  
GV mà việc hướng dẫn SV sử dụng CNTT trong quá trình học tập là yêu cầu cần  
thiết. GV có thể hướng dẫn SV sử dụng CNTT trong quá trình tự học ở nhà hay  
trên lớp để thực hiện các nhiệm vụ học tập được giao. GV hướng dẫn SV sử dụng  
internet để sưu tầm các tư liệu viết, hình ảnh, video lịch sử để biên tập lại trên  
giấy hoặc đưa vào slide trình chiếu nhằm phục vụ các bài tập thuyết trình ngắn  
trong dạy học bài nội khóa hay các hoạt động ngoại khóa. Internet là một trong  
những nguồn tài liệu vô cùng phong phú, đa dạng nên GV cần hướng dẫn SV cách  
tìm kiếm và sử dụng một cách hợp lí, hiệu quả. Những thông tin về lịch sử trên  
mạng internet rất đa dạng, phức tạp cả về tính khoa học, độ tin cậy lẫn quan điểm  
giai cấp, do đó, khi SV tra cứu thông tin trên internet cần có sự chọn lọc, thẩm  
định thận trọng. Việc GV và SV khai thác thông tin trên mạng internet sẽ làm cho  
bài học thêm sinh động, giúp học sinh hiểu sâu sắc quá khứ lịch sử, qua đó giáo  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 102  
dục tư tưởng tình cảm, phát triển các năng lực nhận thức của các em. Song, việc  
khai thác thông tin trên mạng internet phải tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu  
và phương pháp luận bộ môn, đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức, đứng trên  
quan điểm và đường lối của Đảng, Nhà nước về giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ.  
Trong quá trình dạy học lịch sử, đặc biệt với những hoạt động ngoại khóa,  
GV cũng có thể hướng dẫn cho SV chụp ảnh, quay phim tư liệu về các di tích,  
nhân chứng lịch sử, lễ hội ở địa phương hay trong các dịp thực tế chuyên môn…để  
biên tập phục vụ cho quá trình dạy học lịch sử.  
Bên cạnh đó, việc ứng dụng công cụ Google Form, mạng xã hội học tập  
Edmodo...và một số phần mềm khác vào dạy học lịch sử đang dần được thực hiện,  
đặc biệt đối với việc hướng dẫn tự học hay trong quá trình kiểm tra, đánh giá kết  
quả học tập của SV.  
3. KẾT LUẬN  
Xuất phát từ đặc trưng của bộn môn nên việc ứng dụng CNTT đóng vai trò  
quan trọng trong dạy học lịch sử. Với CNTT, SV được tiếp xúc với nhiều nguồn  
sử liệu, dưới sự hướng dẫn của GV, SV có thể tự lĩnh hội được kiến thức lịch sử,  
qua đó phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng năng lực tự học và  
vận dụng kiến thức vào thực tiễn.  
Việc ứng dụng CNTT trong dạy học nói chung, dạy học lịch sử nói riêng  
rất đa dạng và trong một số trường hợp có ưu thế hơn so với các phương tiện dạy  
học truyền thống, song "CNTT là đa năng, chứ không phải vạn năng". Những biểu  
hiện lạm dụng kĩ thuật hay tuyệt đối hóa vai trò của CNTT trong dạy học lịch sử  
đều làm hạn chế, thậm chí phản tác dụng giáo dục. Điều quan trọng là GV với  
kiến thức chuyên môn, nắm vững phương pháp và nghiệp vụ sư phạm sẽ làm chủ  
công nghệ, quyết định chất lượng và hiệu quả giờ dạy chứ không phải là công  
nghệ điều khiển GV. Có như vậy, CNTT mới thực sự đáp ứng được mục tiêu giáo  
dục và góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
PHẦN I: BÁO CÁO TOÀN VĂN 103  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Bộ Giáo dục và Đào tạo (Tài liệu bồi dưỡng phát triển năng lục nghề nghiệp  
giáo viên): Tăng cường sử dụng thiết bị dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin  
trong dạy học, NXB Giáo dục và NXB Đại học Sư phạm, HN, 2013.  
[2]. Nguyễn Thị Côi (CB) Rèn kỹ năng nghiệp vụ sư phạm môn lịch sử, NXB  
ĐHSP, HN, 2011.  
[3]. Phan Ngọc Liên (Cb): PPDHLS, tập 1, NXB Đại học Sư phạm, HN, 2002.  
[4]. Nguyễn Quang Ngọc (Cb): Tiến trình lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục,  
HN, 2015.  
[5]. Phạm Văn Tây (sưu tầm và tuyển chọn): Quy định mới về ứng dụng công  
nghệ thông tin vào đổi mới dạy học trong nhà trường, NXB Đại học Sư phạm,  
HN, 2009.  
------------------------------------------------------------------------------------------------------  
KỶ YẾU HỘI THẢO – TRƯỜNG ĐẠI HỌC HOA LƯ  
pdf 11 trang Thùy Anh 21040 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Lịch sử", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfung_dung_cong_nghe_thong_tin_trong_day_hoc_lich_su.pdf