Bài học kinh nghiệm về tiến hành công tác binh vận ở Bạc Liêu (1969-1973)

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
TẠP CHÍ KHOA HỌC  
ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Số 74 (02/2021)  
SAIGON UNIVERSITY  
SCIENTIFIC JOURNAL  
OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ TIẾN HÀNH CÔNG TÁC BINH VẬN  
Ở BẠC LIÊU (1969-1973)  
Practical lessons in military propaganda operation in Bạc Liêu province  
(1969-1973)  
Huỳnh Hải Âu  
Học viên cao học Trường Đại học Sài Gòn  
TÓM TẮT  
Từ những năm đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ công  
tác binh vận là một bộ phận của sức mạnh tổng hợp, là một mũi tiến công chiến lược, là chính sách lớn  
không ngừng góp phần mở rộng và củng cố mặt trận đại đoàn kết dân tộc. Năm 1969, Mỹ thực hiện  
chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” nhằm cứu nguy cho Chính quyền Sài Gòn và giành thắng lợi ở  
Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng từ Trung ương đến cơ sở, công tác binh vận  
được tỉnh Bạc Liêu tiến hành chủ động, ban binh vận chủ động cài cắm nhiều cơ sở trong lòng địch. Từ  
đó, hoạt động binh vận góp phần làm thất bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1973) của  
Mỹ ở Bạc Liêu.  
Từ khóa: Bạc Liêu, công tác binh vận, Mỹ, Việt Nam hóa chiến tranh  
ABSTRACT  
From the early years of the war against the US to save the country, the Vietnamese Communist Party  
clearly defined the military propaganda operation as part of the synergy, a strategic advance, a great  
policy that constantly contributes to expanding and consolidating the great national unity front. In 1969,  
the US implemented the strategy of “Vietnamization of war” to threaten the Saigon government and to  
win victory in Vietnam. Under the leadership and direct direction of the Party from the central to  
grassroots level, the military propaganda operation was actively carried out by Bạc Liêu province, and  
the agency mobilized and installed many facilities in the enemy's heart. Since then, the activity  
contributed to the failure of the “Vietnamization of the war” (1969-1973) strategy of the US in  
Bạc Liêu.  
Keywords: Bạc Liêu province, the military propaganda operation, US, Vietnamization of the war  
tranh, 2000, tr.222).  
1. Vị trí, vai trò của công tác binh  
vận trong chiến tranh giải phóng dân tộc  
Binh vận “tiến công vào hàng ngũ  
địch, làm phân hóa lực lượng, làm suy  
giảm ý chí của đội quân xâm lược góp  
phần làm tăng cường thế và lực cho cách  
mạng” (Ban chỉ đạo tổng kết cuộc chiến  
Công tác binh vận “là một bộ phận  
công tác vận động cách mạng của Đảng,  
một mũi tiến công của cách mạng, của nghệ  
thuật quân sự Việt Nam, một mặt của hoạt  
động công tác Đảng, công tác chính trị của  
Quân đội nhân dân Việt Nam. Được bắt  
93  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
nguồn từ đường lối và phương pháp cách  
mạng, có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động  
tướng lĩnh, binh sĩ, nhân dân nước địch, bộ  
máy ngụy quân, ngụy quyền của địch và bộ  
phận những người bị địch lừa gạt, khống  
chế. Nhằm góp phần làm sáng tỏ chính  
nghĩa của ta; làm cho kẻ địch bị chia rẽ, cô  
lập và suy yếu; làm thất bại mọi âm mưu và  
hành động thù địch của chúng bằng tổng  
thể các biện pháp chính trị, tư tưởng và tổ  
chức” (Lê Văn Cử, 2015, tr.8).  
Như vậy, công tác binh vận là công tác  
tuyên truyền, vận động chính trị tác động  
vào tâm lý, tư tưởng trong binh sĩ và sĩ  
quan đối phương (trong hoàn cảnh đang có  
chiến tranh). Tùy vào từng thời kỳ, công  
tác binh vận có những tên gọi khác nhau  
như: tâm công, địch vận (trong cuộc kháng  
chiến chống Pháp), binh - địch vận (trong  
kháng chiến chống Mỹ) và tuyên truyền  
đặc biệt (sau kháng chiến chống Mỹ). Tuy  
tên gọi khác nhau nhưng ở mỗi giai đoạn  
cụ thể có sự bổ sung, phát triển về nội  
dung, phương thức hoạt động, phương  
châm chỉ đạo, đối tượng vận động… cho  
phù hợp với điều kiện, tình hình cụ thể.  
Công tác binh vận có vai trò đánh vào tư  
tưởng tinh thần của binh sĩ đối phương,  
trước tiên làm cho họ nhận thức rõ tính phi  
nghĩa cuộc chiến tranh xâm lược mà họ  
tiến hành, đồng thời thấy được tính chính  
nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân  
tộc của nhân dân Việt Nam. Lực lượng  
tham gia công tác binh vận gồm cán bộ,  
chiến sĩ trong các lực lượng vũ trang nhân  
dân Việt Nam, các tổ chức đoàn thể và  
quần chúng nhân dân.  
phần mở rộng và củng cố mặt trận đại đoàn  
kết dân tộc.  
2. Công tác binh vận với việc đánh  
bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến  
tranh” của Mỹ tại Bạc Liêu  
Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Mậu  
Thân 1968 của quân và dân miền Nam Việt  
Nam, đã làm thất bại “Chiến tranh cục bộ”  
của đế quốc Mỹ, đánh dấu một bước ngoặt  
chiến lược trong cuộc kháng chiến chống  
Mỹ cứu nước của nhân dân ta và mở ra  
thời kỳ Mỹ phải xuống thang chiến tranh,  
buộc Mỹ phải tuyên bố “phi Mỹ hóa” chiến  
tranh xâm lược. Năm 1969, Mỹ thực hiện  
chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với  
âm mưu “dùng người Việt đánh người  
Việt”, khâu then chốt nhất của chiến lược  
là thực hiện “quốc sách bình định”. Dưới  
sự viện trợ và vai trò “cố vấn” quân sự của  
Mỹ, Chính quyền Sài Gòn thiết lập một hệ  
thống chính trị và vũ trang ở cơ sở cho  
hoàn chỉnh, một cơ sở xã hội kiểu chủ  
nghĩa thực dân mới, đồng thời sẽ thay thế  
cho quân viễn chinh Mỹ rút về nước.  
Để thực hiện chiến lược “Việt Nam  
hóa chiến tranh”, tỉnh trưởng Hoàng Đức  
Ninh ở khu vực Bạc Liêu tập trung bắt  
lính, tăng nhanh quân bảo an, dân vệ, xây  
dựng lực lượng cảnh sát dã chiến làm  
nhiệm vụ đàn áp phong trào đấu tranh của  
quần chúng. Đến cuối năm 1969, hơn  
1.500 thanh thiếu niên từ 15 tuổi đến 35  
tuổi bị bắt. Ở thị xã Bạc Liêu có 3 tiểu  
đoàn bảo an và một số liên đội, 1 tiểu đoàn  
cảnh sát dã chiến; mỗi chi khu có từ 2 đến  
3 đại đội liên đội bảo an, 1 trung đội dã  
chiến và bộ phận hành chính chỉ đạo điều  
hành. Đến cuối năm 1971, quân số trong  
khu vực Bạc Liêu lên trên 7.000 quân, tổng  
số đồn bót trên địa bàn Bạc Liêu lên đến  
230 đồn.  
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,  
công tác binh vận có vị trí vai trò là một bộ  
phận của sức mạnh tổng hợp, một mũi tiến  
công chiến lược (quân sự, chính trị, binh  
vận), là chính sách lớn không ngừng góp  
Trong những tháng đầu năm 1969, lực  
94  
HUỲNH HẢI ÂU  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
lượng chủ lực Sư đoàn 21, Sư đoàn 9 phối  
hợp tiến hành bình định cấp tốc với mục  
tiêu của kế hoạch bình định cấp tốc là tái  
chiếm, đóng lại đồn bót và đánh chiếm  
vùng giải phóng (Vĩnh Hưng, Châu Hưng,  
Hưng Hội, Châu Thới; tuyến Cầu số 2 -  
Phước Long, Ninh Hòa, Ninh Quới; Long  
Điền, Phong Thạnh). Tỉnh trưởng Hoàng  
Đức Ninh cho quân chủ lực và tập trung  
lực lượng mạnh vừa tiến hành càn quét  
quyết liệt, quy mô, dài ngày đối với những  
nơi quan trọng vào các địa bàn trọng điểm,  
như tuyến Bàu Sàng - Xáng Cụt, căn cứ  
lõm Ninh Hòa - Ninh Quới. Trong quá  
trình bình định, quân đội Sài Gòn gom dân  
lập ấp tân sinh chung quanh đồn bót, tiến  
hành tổ chức phòng vệ dân sự và ráo riết  
bắt lính đôn quân; tập trung lực lượng chốt  
sâu vào vùng giải phóng vừa tổ chức chiếm  
đóng, vừa tiến hành càn quét với những nơi  
quan trọng, trọng tâm là những vùng có  
đông đồng bào Khmer và Thiên chúa giáo;  
đồng thời rải truyền đơn kêu gọi chiêu hồi  
khắp nơi, nhằm diệt và vô hiệu hóa hạ tầng  
cơ sở cách mạng.  
Từ yêu cầu của tình hình trong nước,  
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng  
lần thứ 18 (01/1970) kịp thời chuyển  
hướng chỉ đạo chiến lược từ tổng tiến công  
và nổi dậy sang kiên trì tiến công địch, đẩy  
lùi địch từng bước và giành thắng lợi từng  
phần. Hội nghị đưa ra nhiệm vụ “đẩy mạnh  
chỉ đạo công tác binh vận” (Đảng Cộng sản  
Việt Nam, 2004, tr.84). Chủ trương của  
Đảng Lao động Việt Nam về công tác binh  
vận là cơ sở định hướng quan trọng để  
Trung ương Cục quán triệt tiếp thu và kịp  
thời đề ra chủ trương, chỉ đạo công tác  
binh vận trên chiến trường miền Nam.  
Ngày 20/02/1970, Trung ương Cục bổ  
sung chủ trương công tác binh vận cho  
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9: “Nắm vững  
ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược, vừa  
tiến công, vừa xây dựng; kết hợp chặt chẽ,  
linh hoạt giữa tiến công quân sự với đấu  
tranh chính trị, binh vận và đấu tranh ngoại  
giao” (Học viện Chính trị - Hành chính,  
2008, tr.768).  
Sau Mậu Thân 1968, lực lượng nội  
tuyến bị tiêu hao lớn. Cuối năm 1970,  
trong tỉnh chỉ còn hơn 100 nội tuyến và  
cảm tình, lực lượng mật giao, vị trí cũng  
giảm sút. Trong khi lực lượng vũ trang địa  
phương chưa hồi phục, công tác binh vận  
có vai trò mũi nhọn đột phá, đánh bình  
định. Thực hiện theo nhiệm vụ hội nghị lần  
thứ 9 của Trung ương Cục, các Ban binh  
vận được kiện toàn. Đồng chí Trần Kim  
Hữu (Ba Giáo) - ủy viên Thường vụ Tỉnh  
ủy, Trưởng Ban Binh vận; đồng chí  
Nguyễn Ngọc Trương (Hai Quang) - tỉnh  
ủy viên được phân công làm Phó Ban Binh  
vận Tỉnh. Xác định được cục diện, Tỉnh ủy  
tập trung lãnh đạo tăng cường công tác tư  
tưởng, nhằm nâng cao nhận thức về tình  
hình, nhiệm vụ cách mạng cho cán bộ,  
đảng viên, củng cố tổ chức, phát động  
phong trào quần chúng tiếp tục đánh địch,  
cán bộ phải bám dân, bám địa bàn để hoạt  
động. Tỉnh ủy chủ trương dồn sức cho cơ  
sở, huy động gần 300 cán bộ tỉnh, huyện  
xuống bám trụ công tác dài hạn ở xã, ấp,  
phân công một số đồng chí tỉnh ủy viên  
xuống các huyện cùng huyện ủy trực tiếp  
chỉ đạo xã.  
Quân đội Sài Gòn tiến hành lấn chiếm,  
đóng đồn bót, ráo riết bắt lính, gom dân.  
Trước tình hình trên, Tỉnh ủy đã kịp thời  
lãnh đạo và có chủ trương thực hiện chính  
sách hòa hợp dân tộc, thêm bạn bớt thù.  
Mục tiêu của công tác binh vận là luồn vào  
số gia đình binh sĩ, sĩ quan để tuyên truyền,  
nói rõ bản chất của cuộc kháng chiến  
chống Mỹ và Chính quyền Sài Gòn. Khi  
95  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
quần chúng đã được giác ngộ, Ban Binh  
vận chủ động hướng dẫn cho gia đình có  
thân nhân đi lính bị thiệt mạng ở chiến  
trường, đấu tranh đòi Chính quyền Sài Gòn  
trả tiền tử tuất, trường hợp cao hơn dùng số  
gia đình binh sĩ chống bắt lính. Trong đợt  
tiến công đồng loạt Xuân Kỷ Dậu 1969  
(02/1969), phong trào đấu tranh chính trị  
được giữ vững và phát triển, tại vùng kềm,  
vùng thị xã, thị trấn, ta tổ chức 647 cuộc vũ  
trang tuyên truyền, có hơn 4.200 lượt quần  
chúng tham dự. Lực lượng binh vận phát  
trên 300.000 truyền đơn và các bản tin tức,  
báo chí.  
Ban Binh vận các huyện, thị, đến xã,  
thị trấn được củng cố đủ số lượng và đáp  
ứng yêu cầu tình hình mới. Ở huyện Vĩnh  
Châu, ngày 18/03/1969 đã diễn ra cuộc đấu  
tranh của hàng ngàn đồng bào và sư sãi. Họ  
kéo đến trước dinh tỉnh trưởng Bạc Liêu  
phản đối chiến tranh, chống bắt lính đôn  
quân, buộc Tỉnh trưởng chấp nhận yêu  
sách. Cũng trong thời gian này ở chùa Cỏ  
Thum, xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng  
Dân, Đại đức Dư Hương lãnh đạo một  
đoàn đại biểu sư sãi gồm Danh Bal, Danh  
Kal và một số người trong Ban quản trị  
chùa mang đơn lên gặp trực tiếp Chính  
quyền Sài Gòn, kiên quyết đấu tranh không  
chịu di dời chùa. Kết quả, cuộc đấu tranh  
đã thắng lợi.  
chính trị, vũ trang, binh vận đủ mạnh, tạo  
thế đứng vững ở chiến trường, vừa tiến  
công địch, vừa chuẩn bị cho chiến dịch sắp  
tới. Phải coi trọng hơn nữa công tác dân  
vận, lấy dân làm gốc, bám dân hoạt động.  
Ban Binh vận các cấp được củng cố về mặt  
số lượng và chất lượng để đáp ứng yêu cầu  
tính hình mới. Các đội tuyên truyền xung  
phong của Ban Binh vận đẩy mạnh nhiệm  
vụ rải truyền đơn, băng cờ, biểu ngữ và tổ  
chức phóng thanh vào đồn bót để tuyên  
truyền chủ trương, chính sách của Mặt trận  
Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam  
và kêu gọi binh sĩ hãy bỏ hàng ngũ quân  
đội Sài Gòn trở về với nhân dân. Phát huy  
thắng lợi, trong năm 1971 công tác binh  
vận phục vụ diệt 20 đồn bót, có 6 đồn khởi  
nghĩa, 14 đồn nội ứng, thu 425 súng, phá rã  
16 ban tề ấp, 12 liên toán phòng vệ dân sự.  
Ngày 16 và 28/08/1971, tại trung tâm  
tỉnh lỵ Bạc Liêu nổ ra 2 cuộc biểu tình tuần  
hành của hàng ngàn học sinh, sinh viên,  
công nhân lao động, lãnh tụ và tín đồ phật  
giáo, nhân sĩ trí thức và một số công chức  
tham gia phản đối tỉnh trưởng Hoàng Đức  
Ninh tham nhũng, gian lận bầu cử Hạ viện,  
chống bắt lính đôn quân. Cuộc đấu tranh  
này đối mặt với Tỉnh trưởng, diễn ra gay  
gắt kéo dài, ngày càng được đồng bào thị  
xã và binh sĩ đồng tình, được báo chí Sài  
Gòn ủng hộ. Chính quyền Sài Gòn buộc  
phải đưa Hoàng Đức Ninh đến nơi khác.  
Ba mũi tiến công của thị xã Bạc Liêu đã  
tạo thế tạo lực hỗ trợ tích cực phong trào  
chống phá bình định ở nông thôn.  
Quán triệt Chỉ thị 01-CT/71 của Trung  
ương Cục miền Nam về chỉnh huấn trong toàn  
Đảng, tháng 01/1971, Tỉnh ủy chủ trương tổ  
chức một cuộc chỉnh huấn trong toàn Đảng  
bộ, tạo sự chuyển biến lớn về nhận thức, tư  
tưởng với phương châm: “Đẩy lùi địch  
từng bước, giành thắng lợi từng phần, tiến  
lên giành thắng lợi lớn nhất để đi đến giành  
thắng lợi quyết định” (Ban chấp hành Đảng  
bộ tỉnh Sóc Trăng, 2002, trang 117). Tỉnh  
ủy chỉ đạo khẩn trương xây dựng lực lượng  
Cuối tháng 12/1971, Thường vụ Tỉnh  
ủy ra Chỉ thị 19-CT/AK/71 về nhiệm vụ  
công tác binh vận. Đồng chí Trần Kim Hữu  
(Ba Giáo), ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy,  
Trưởng Ban Binh vận được điều động sang  
công tác khác, đồng chí Nguyễn Ngọc  
Trương (Hai Quang), tỉnh ủy viên được  
96  
HUỲNH HẢI ÂU  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
phân công làm Trưởng Ban Binh vận Tỉnh.  
Để chuẩn bị cho nhiệm vụ đánh phá bình  
định năm 1972, yêu cầu đặt ra với công tác  
binh vận là phải xây dựng được nội tuyến  
trong các vùng, phục vụ tốt việc gỡ mảng  
phá bình định, nhất là tập trung xây dựng  
trong phòng vệ dân sự, bảo an, dân vệ đóng  
đồn ở vùng kềm mới, vùng trọng điểm các  
cấp. Phát động phong trào quần chúng  
trong đó có gia đình binh sĩ để làm tan rã  
lớn lực lượng phòng vệ dân sự, dân vệ, bảo  
an. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ binh vận,  
đặc biệt là cán bộ binh vận xã, ấp, cán bộ  
phụ trách vị trí, cán bộ mật giao, bồi dưỡng  
cả về chính trị và nghiệp vụ.  
Đầu năm 1972, Tỉnh ủy triển khai chiến  
dịch Xuân Hè, cùng toàn miền Nam đồng loạt  
tấn công, quyết tâm đánh bại chiến lược  
“Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ và  
Chính quyền Sài Gòn, buộc Mỹ ký kết  
Hiệp định Paris. Tháng 04/1972, lực lượng  
vũ trang Bạc Liêu đồng loạt tiến công hầu  
hết đồn bót, trong đó du kích xã phối hợp 3  
mũi tại chỗ bao vây 87 đồn. Một số trận  
đánh lớn như trận địa phương quân Hồng  
Dân phối hợp chủ lực khu tấn công cụm  
đồn Cỏ Thum, Kinh Đứt Ruột, Cây Mét,  
đánh quân chủ lực địch và bảo an Tiểu khu  
Bạc Liêu. Tháng 10/1972, một bộ phận chủ  
lực khu phối hợp lực lượng nội tuyến  
huyện đánh Chi khu Ngan Dừa. Tận dụng  
thời cơ này, lực lượng nội tuyến 3 mũi các  
xã Ninh Quới, Ninh Hòa, Lộc Ninh, Vĩnh  
Lộc bao vây đồn bót quân đội Sài Gòn.  
Năm 1972, Ban Binh vận tại địa bàn  
Bạc Liêu đã tổ chức được 4 cuộc khởi  
nghĩa, chỉ đạo cơ sở nội tuyến cùng các  
binh sĩ đồng tình gây ra 29 cuộc nội ứng,  
chiếm đóng 43 đồn (huyện Hồng Dân 15  
đồn, huyện Giá Rai 14 đồn, huyện Vĩnh  
Lợi 13 đồn, thị xã Bạc Liêu 1 đồn). Các  
vùng ven, lực lượng cách mạng phá rã 32  
toán phòng vệ dân sự, 37 ban tề ấp, thu 326  
súng và nhiều đạn dược quân trang quân  
dụng. Nội tuyến còn phục vụ lực lượng vũ  
trang đánh ngoài trời hơn 30 trận. Phong  
trào chống bắt lính, đôn quân, đòi hòa bình  
của nhân dân thị xã Bạc Liêu được nhiều  
sự ủng hộ, gây hoang mang, tan rã tinh  
thần binh sĩ quân đội Sài Gòn. Kết quả đó  
tạo bước ngoặt mới trên mặt trận chống  
phá bình định trong Tỉnh, lực lượng vũ  
trang khôi phục dần thế chủ động tiến  
công, Chính quyền Sài Gòn lùi dần vào thế  
phòng ngự cục bộ.  
Trong giai đoạn 1969-1973, công tác  
binh vận ở Bạc Liêu vẫn khẩn trương vừa  
củng cố tổ chức bộ máy binh vận các cấp,  
khôi phục nâng chất lượng cơ sở hiện có,  
vừa xây dựng phát triển nhanh cơ sở mới,  
tập trung tuyên truyền chính sách 10 điểm  
cho gia đình binh sĩ, tập hợp lực lượng đẩy  
mạnh phong trào binh biến, phản chiến góp  
phần làm tiêu hao, tiêu diệt lực lượng quân  
đội Sài Gòn. Để đạt được thành quả trên,  
Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu cụ thể hoá chủ  
trương, chính sách của Trung ương Đảng,  
của Khu ủy và các nghị quyết của Tỉnh ủy  
trong từng giai đoạn. Từ đó đưa công tác  
binh vận ngày càng lớn mạnh, không chỉ  
góp phần đánh bại cơ bản chiến lược “Việt  
Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, mà  
còn tạo nên nền tảng sức mạnh tổng hợp  
buộc Đại tá Tỉnh trưởng Bạc Liêu -  
Nguyễn Ngọc Điệp đầu hàng vào 9 giờ 30  
phút ngày 30/04/1975, kết thúc vẻ vang sự  
nghiệp chống Mỹ cứu nước, góp phần giải  
phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.  
Công tác binh vận ở Bạc Liêu diễn ra  
rất phong phú đa dạng với nhiều nội dung  
và hình thức khác nhau, để lại những kinh  
nghiệm quý giá: nắm vững và quán triệt  
sâu sắc quan điểm, đường lối công tác binh  
vận của Đảng Lao động Việt Nam, vận  
97  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào hoàn  
cảnh thực tiễn cụ thể của tỉnh Bạc Liêu;  
thường xuyên chăm lo, xây dựng đội ngũ  
cán bộ và cơ quan chuyên trách làm công  
tác binh vận nhằm xây dựng lực lượng  
binh vận vững mạnh toàn diện; kết hợp  
chặt chẽ công tác binh vận với đấu tranh  
chính trị và đấu tranh vũ trang thành sức  
mạnh tổng hợp của ba mũi giáp công, tạo  
thế và lực mới tiến lên giành thắng lợi hoàn  
toàn. Những bài học kinh nghiệm về công  
tác binh vận ở Bạc Liêu trong những năm  
1969-1973 đến nay vẫn giữ nguyên giá trị,  
là cơ sở quan trọng góp phần hoạch định  
chủ trương và chỉ đạo công tác tuyên  
truyền, đấu tranh đối với các thế lực thù  
địch trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa đất nước.  
cách mạng Việt Nam với nhiều nội dung,  
hình thức khác nhau. Vì vậy, Đảng và nhân  
dân ta cần nắm chắc tình hình chính trị tư  
tưởng nhằm phát huy sức mạnh toàn dân và  
lực lượng chuyên trách tham gia tuyên  
truyền đấu tranh vận động, tranh thủ sự ủng  
hộ của dư luận quốc tế để thuyết phục cảm  
hóa các thế lực thù địch. Bên cạnh đó,  
chúng ta phải thường xuyên tăng cường xây  
dựng lực lượng vũ trang, trước hết là Công  
an nhân dân và Quân đội nhân dân vững  
mạnh để sẵn sàng đáp ứng mọi tình huống  
xảy ra, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của  
luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử  
trong khu vực. Trong giai đoạn hiện nay,  
việc tiếp tục nghiên cứu, quán triệt và vận  
dụng những bài học kinh nghiệm rút ra từ  
quá trình Đảng Lao động Việt Nam lãnh  
đạo công tác binh vận trên chiến trường  
miền Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh  
Bạc Liêu nói riêng, là vấn đề cấp thiết đặt  
ra nhằm góp phần bảo vệ vững chắc Tổ  
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.  
3. Kết luận  
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập  
quốc tế, các thế lực thù địch triệt để tận  
dụng, tạo ra, khai thác mọi khe hở có thể,  
để thực hiện những biện pháp chống phá  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng. (2002). Tổng kết công tác binh vận tỉnh Sóc  
Trăng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975). Sóc Trăng.  
Ban Chỉ đạo tổng kết cuộc chiến tranh. (2000). Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu  
nước, bài học và thắng lợi. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia.  
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2004). Văn kiện Đảng toàn tập, tập 31. Hà Nội: NXB Chính trị  
Quốc gia.  
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng. (2008). Lịch  
sử Biên niên Xứ ủy Nam bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954 – 1975). Hà Nội:  
NXB Chính trị Quốc gia.  
Lê Văn Cử. (2015). Công tác Địch vận trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp  
(1945-1954). Luận án Tiến sĩ lịch sử, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội.  
Ngày nhận bài: 31/8/2020  
Biên tập xong: 15/02/2021  
Duyệt đăng: 20/02/2021  
98  
pdf 6 trang Thùy Anh 20260 Free
Bạn đang xem tài liệu "Bài học kinh nghiệm về tiến hành công tác binh vận ở Bạc Liêu (1969-1973)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_hoc_kinh_nghiem_ve_tien_hanh_cong_tac_binh_van_o_bac_lie.pdf