Bài học kinh nghiệm về tiến hành công tác binh vận ở Bạc Liêu (1969-1973)
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN
TẠP CHÍ KHOA HỌC
ĐẠI HỌC SÀI GÒN
Số 74 (02/2021)
SAIGON UNIVERSITY
SCIENTIFIC JOURNAL
OF SAIGON UNIVERSITY
No. 74 (02/2021)
BÀI HỌC KINH NGHIỆM VỀ TIẾN HÀNH CÔNG TÁC BINH VẬN
Ở BẠC LIÊU (1969-1973)
Practical lessons in military propaganda operation in Bạc Liêu province
(1969-1973)
Huỳnh Hải Âu
Học viên cao học Trường Đại học Sài Gòn
TÓM TẮT
Từ những năm đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định rõ công
tác binh vận là một bộ phận của sức mạnh tổng hợp, là một mũi tiến công chiến lược, là chính sách lớn
không ngừng góp phần mở rộng và củng cố mặt trận đại đoàn kết dân tộc. Năm 1969, Mỹ thực hiện
chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” nhằm cứu nguy cho Chính quyền Sài Gòn và giành thắng lợi ở
Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của Đảng từ Trung ương đến cơ sở, công tác binh vận
được tỉnh Bạc Liêu tiến hành chủ động, ban binh vận chủ động cài cắm nhiều cơ sở trong lòng địch. Từ
đó, hoạt động binh vận góp phần làm thất bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1973) của
Mỹ ở Bạc Liêu.
Từ khóa: Bạc Liêu, công tác binh vận, Mỹ, Việt Nam hóa chiến tranh
ABSTRACT
From the early years of the war against the US to save the country, the Vietnamese Communist Party
clearly defined the military propaganda operation as part of the synergy, a strategic advance, a great
policy that constantly contributes to expanding and consolidating the great national unity front. In 1969,
the US implemented the strategy of “Vietnamization of war” to threaten the Saigon government and to
win victory in Vietnam. Under the leadership and direct direction of the Party from the central to
grassroots level, the military propaganda operation was actively carried out by Bạc Liêu province, and
the agency mobilized and installed many facilities in the enemy's heart. Since then, the activity
contributed to the failure of the “Vietnamization of the war” (1969-1973) strategy of the US in
Bạc Liêu.
Keywords: Bạc Liêu province, the military propaganda operation, US, Vietnamization of the war
tranh, 2000, tr.222).
1. Vị trí, vai trò của công tác binh
vận trong chiến tranh giải phóng dân tộc
Binh vận “tiến công vào hàng ngũ
địch, làm phân hóa lực lượng, làm suy
giảm ý chí của đội quân xâm lược góp
phần làm tăng cường thế và lực cho cách
mạng” (Ban chỉ đạo tổng kết cuộc chiến
Công tác binh vận “là một bộ phận
công tác vận động cách mạng của Đảng,
một mũi tiến công của cách mạng, của nghệ
thuật quân sự Việt Nam, một mặt của hoạt
động công tác Đảng, công tác chính trị của
Quân đội nhân dân Việt Nam. Được bắt
Email: [email protected]m
93
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 74 (02/2021)
nguồn từ đường lối và phương pháp cách
mạng, có nhiệm vụ tuyên truyền, vận động
tướng lĩnh, binh sĩ, nhân dân nước địch, bộ
máy ngụy quân, ngụy quyền của địch và bộ
phận những người bị địch lừa gạt, khống
chế. Nhằm góp phần làm sáng tỏ chính
nghĩa của ta; làm cho kẻ địch bị chia rẽ, cô
lập và suy yếu; làm thất bại mọi âm mưu và
hành động thù địch của chúng bằng tổng
thể các biện pháp chính trị, tư tưởng và tổ
chức” (Lê Văn Cử, 2015, tr.8).
Như vậy, công tác binh vận là công tác
tuyên truyền, vận động chính trị tác động
vào tâm lý, tư tưởng trong binh sĩ và sĩ
quan đối phương (trong hoàn cảnh đang có
chiến tranh). Tùy vào từng thời kỳ, công
tác binh vận có những tên gọi khác nhau
như: tâm công, địch vận (trong cuộc kháng
chiến chống Pháp), binh - địch vận (trong
kháng chiến chống Mỹ) và tuyên truyền
đặc biệt (sau kháng chiến chống Mỹ). Tuy
tên gọi khác nhau nhưng ở mỗi giai đoạn
cụ thể có sự bổ sung, phát triển về nội
dung, phương thức hoạt động, phương
châm chỉ đạo, đối tượng vận động… cho
phù hợp với điều kiện, tình hình cụ thể.
Công tác binh vận có vai trò đánh vào tư
tưởng tinh thần của binh sĩ đối phương,
trước tiên làm cho họ nhận thức rõ tính phi
nghĩa cuộc chiến tranh xâm lược mà họ
tiến hành, đồng thời thấy được tính chính
nghĩa của cuộc chiến tranh giải phóng dân
tộc của nhân dân Việt Nam. Lực lượng
tham gia công tác binh vận gồm cán bộ,
chiến sĩ trong các lực lượng vũ trang nhân
dân Việt Nam, các tổ chức đoàn thể và
quần chúng nhân dân.
phần mở rộng và củng cố mặt trận đại đoàn
kết dân tộc.
2. Công tác binh vận với việc đánh
bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến
tranh” của Mỹ tại Bạc Liêu
Cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Mậu
Thân 1968 của quân và dân miền Nam Việt
Nam, đã làm thất bại “Chiến tranh cục bộ”
của đế quốc Mỹ, đánh dấu một bước ngoặt
chiến lược trong cuộc kháng chiến chống
Mỹ cứu nước của nhân dân ta và mở ra
thời kỳ Mỹ phải xuống thang chiến tranh,
buộc Mỹ phải tuyên bố “phi Mỹ hóa” chiến
tranh xâm lược. Năm 1969, Mỹ thực hiện
chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” với
âm mưu “dùng người Việt đánh người
Việt”, khâu then chốt nhất của chiến lược
là thực hiện “quốc sách bình định”. Dưới
sự viện trợ và vai trò “cố vấn” quân sự của
Mỹ, Chính quyền Sài Gòn thiết lập một hệ
thống chính trị và vũ trang ở cơ sở cho
hoàn chỉnh, một cơ sở xã hội kiểu chủ
nghĩa thực dân mới, đồng thời sẽ thay thế
cho quân viễn chinh Mỹ rút về nước.
Để thực hiện chiến lược “Việt Nam
hóa chiến tranh”, tỉnh trưởng Hoàng Đức
Ninh ở khu vực Bạc Liêu tập trung bắt
lính, tăng nhanh quân bảo an, dân vệ, xây
dựng lực lượng cảnh sát dã chiến làm
nhiệm vụ đàn áp phong trào đấu tranh của
quần chúng. Đến cuối năm 1969, hơn
1.500 thanh thiếu niên từ 15 tuổi đến 35
tuổi bị bắt. Ở thị xã Bạc Liêu có 3 tiểu
đoàn bảo an và một số liên đội, 1 tiểu đoàn
cảnh sát dã chiến; mỗi chi khu có từ 2 đến
3 đại đội liên đội bảo an, 1 trung đội dã
chiến và bộ phận hành chính chỉ đạo điều
hành. Đến cuối năm 1971, quân số trong
khu vực Bạc Liêu lên trên 7.000 quân, tổng
số đồn bót trên địa bàn Bạc Liêu lên đến
230 đồn.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ,
công tác binh vận có vị trí vai trò là một bộ
phận của sức mạnh tổng hợp, một mũi tiến
công chiến lược (quân sự, chính trị, binh
vận), là chính sách lớn không ngừng góp
Trong những tháng đầu năm 1969, lực
94
HUỲNH HẢI ÂU
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
lượng chủ lực Sư đoàn 21, Sư đoàn 9 phối
hợp tiến hành bình định cấp tốc với mục
tiêu của kế hoạch bình định cấp tốc là tái
chiếm, đóng lại đồn bót và đánh chiếm
vùng giải phóng (Vĩnh Hưng, Châu Hưng,
Hưng Hội, Châu Thới; tuyến Cầu số 2 -
Phước Long, Ninh Hòa, Ninh Quới; Long
Điền, Phong Thạnh). Tỉnh trưởng Hoàng
Đức Ninh cho quân chủ lực và tập trung
lực lượng mạnh vừa tiến hành càn quét
quyết liệt, quy mô, dài ngày đối với những
nơi quan trọng vào các địa bàn trọng điểm,
như tuyến Bàu Sàng - Xáng Cụt, căn cứ
lõm Ninh Hòa - Ninh Quới. Trong quá
trình bình định, quân đội Sài Gòn gom dân
lập ấp tân sinh chung quanh đồn bót, tiến
hành tổ chức phòng vệ dân sự và ráo riết
bắt lính đôn quân; tập trung lực lượng chốt
sâu vào vùng giải phóng vừa tổ chức chiếm
đóng, vừa tiến hành càn quét với những nơi
quan trọng, trọng tâm là những vùng có
đông đồng bào Khmer và Thiên chúa giáo;
đồng thời rải truyền đơn kêu gọi chiêu hồi
khắp nơi, nhằm diệt và vô hiệu hóa hạ tầng
cơ sở cách mạng.
Từ yêu cầu của tình hình trong nước,
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
lần thứ 18 (01/1970) kịp thời chuyển
hướng chỉ đạo chiến lược từ tổng tiến công
và nổi dậy sang kiên trì tiến công địch, đẩy
lùi địch từng bước và giành thắng lợi từng
phần. Hội nghị đưa ra nhiệm vụ “đẩy mạnh
chỉ đạo công tác binh vận” (Đảng Cộng sản
Việt Nam, 2004, tr.84). Chủ trương của
Đảng Lao động Việt Nam về công tác binh
vận là cơ sở định hướng quan trọng để
Trung ương Cục quán triệt tiếp thu và kịp
thời đề ra chủ trương, chỉ đạo công tác
binh vận trên chiến trường miền Nam.
Ngày 20/02/1970, Trung ương Cục bổ
sung chủ trương công tác binh vận cho
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 9: “Nắm vững
ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược, vừa
tiến công, vừa xây dựng; kết hợp chặt chẽ,
linh hoạt giữa tiến công quân sự với đấu
tranh chính trị, binh vận và đấu tranh ngoại
giao” (Học viện Chính trị - Hành chính,
2008, tr.768).
Sau Mậu Thân 1968, lực lượng nội
tuyến bị tiêu hao lớn. Cuối năm 1970,
trong tỉnh chỉ còn hơn 100 nội tuyến và
cảm tình, lực lượng mật giao, vị trí cũng
giảm sút. Trong khi lực lượng vũ trang địa
phương chưa hồi phục, công tác binh vận
có vai trò mũi nhọn đột phá, đánh bình
định. Thực hiện theo nhiệm vụ hội nghị lần
thứ 9 của Trung ương Cục, các Ban binh
vận được kiện toàn. Đồng chí Trần Kim
Hữu (Ba Giáo) - ủy viên Thường vụ Tỉnh
ủy, Trưởng Ban Binh vận; đồng chí
Nguyễn Ngọc Trương (Hai Quang) - tỉnh
ủy viên được phân công làm Phó Ban Binh
vận Tỉnh. Xác định được cục diện, Tỉnh ủy
tập trung lãnh đạo tăng cường công tác tư
tưởng, nhằm nâng cao nhận thức về tình
hình, nhiệm vụ cách mạng cho cán bộ,
đảng viên, củng cố tổ chức, phát động
phong trào quần chúng tiếp tục đánh địch,
cán bộ phải bám dân, bám địa bàn để hoạt
động. Tỉnh ủy chủ trương dồn sức cho cơ
sở, huy động gần 300 cán bộ tỉnh, huyện
xuống bám trụ công tác dài hạn ở xã, ấp,
phân công một số đồng chí tỉnh ủy viên
xuống các huyện cùng huyện ủy trực tiếp
chỉ đạo xã.
Quân đội Sài Gòn tiến hành lấn chiếm,
đóng đồn bót, ráo riết bắt lính, gom dân.
Trước tình hình trên, Tỉnh ủy đã kịp thời
lãnh đạo và có chủ trương thực hiện chính
sách hòa hợp dân tộc, thêm bạn bớt thù.
Mục tiêu của công tác binh vận là luồn vào
số gia đình binh sĩ, sĩ quan để tuyên truyền,
nói rõ bản chất của cuộc kháng chiến
chống Mỹ và Chính quyền Sài Gòn. Khi
95
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 74 (02/2021)
quần chúng đã được giác ngộ, Ban Binh
vận chủ động hướng dẫn cho gia đình có
thân nhân đi lính bị thiệt mạng ở chiến
trường, đấu tranh đòi Chính quyền Sài Gòn
trả tiền tử tuất, trường hợp cao hơn dùng số
gia đình binh sĩ chống bắt lính. Trong đợt
tiến công đồng loạt Xuân Kỷ Dậu 1969
(02/1969), phong trào đấu tranh chính trị
được giữ vững và phát triển, tại vùng kềm,
vùng thị xã, thị trấn, ta tổ chức 647 cuộc vũ
trang tuyên truyền, có hơn 4.200 lượt quần
chúng tham dự. Lực lượng binh vận phát
trên 300.000 truyền đơn và các bản tin tức,
báo chí.
Ban Binh vận các huyện, thị, đến xã,
thị trấn được củng cố đủ số lượng và đáp
ứng yêu cầu tình hình mới. Ở huyện Vĩnh
Châu, ngày 18/03/1969 đã diễn ra cuộc đấu
tranh của hàng ngàn đồng bào và sư sãi. Họ
kéo đến trước dinh tỉnh trưởng Bạc Liêu
phản đối chiến tranh, chống bắt lính đôn
quân, buộc Tỉnh trưởng chấp nhận yêu
sách. Cũng trong thời gian này ở chùa Cỏ
Thum, xã Ninh Thạnh Lợi, huyện Hồng
Dân, Đại đức Dư Hương lãnh đạo một
đoàn đại biểu sư sãi gồm Danh Bal, Danh
Kal và một số người trong Ban quản trị
chùa mang đơn lên gặp trực tiếp Chính
quyền Sài Gòn, kiên quyết đấu tranh không
chịu di dời chùa. Kết quả, cuộc đấu tranh
đã thắng lợi.
chính trị, vũ trang, binh vận đủ mạnh, tạo
thế đứng vững ở chiến trường, vừa tiến
công địch, vừa chuẩn bị cho chiến dịch sắp
tới. Phải coi trọng hơn nữa công tác dân
vận, lấy dân làm gốc, bám dân hoạt động.
Ban Binh vận các cấp được củng cố về mặt
số lượng và chất lượng để đáp ứng yêu cầu
tính hình mới. Các đội tuyên truyền xung
phong của Ban Binh vận đẩy mạnh nhiệm
vụ rải truyền đơn, băng cờ, biểu ngữ và tổ
chức phóng thanh vào đồn bót để tuyên
truyền chủ trương, chính sách của Mặt trận
Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam
và kêu gọi binh sĩ hãy bỏ hàng ngũ quân
đội Sài Gòn trở về với nhân dân. Phát huy
thắng lợi, trong năm 1971 công tác binh
vận phục vụ diệt 20 đồn bót, có 6 đồn khởi
nghĩa, 14 đồn nội ứng, thu 425 súng, phá rã
16 ban tề ấp, 12 liên toán phòng vệ dân sự.
Ngày 16 và 28/08/1971, tại trung tâm
tỉnh lỵ Bạc Liêu nổ ra 2 cuộc biểu tình tuần
hành của hàng ngàn học sinh, sinh viên,
công nhân lao động, lãnh tụ và tín đồ phật
giáo, nhân sĩ trí thức và một số công chức
tham gia phản đối tỉnh trưởng Hoàng Đức
Ninh tham nhũng, gian lận bầu cử Hạ viện,
chống bắt lính đôn quân. Cuộc đấu tranh
này đối mặt với Tỉnh trưởng, diễn ra gay
gắt kéo dài, ngày càng được đồng bào thị
xã và binh sĩ đồng tình, được báo chí Sài
Gòn ủng hộ. Chính quyền Sài Gòn buộc
phải đưa Hoàng Đức Ninh đến nơi khác.
Ba mũi tiến công của thị xã Bạc Liêu đã
tạo thế tạo lực hỗ trợ tích cực phong trào
chống phá bình định ở nông thôn.
Quán triệt Chỉ thị 01-CT/71 của Trung
ương Cục miền Nam về chỉnh huấn trong toàn
Đảng, tháng 01/1971, Tỉnh ủy chủ trương tổ
chức một cuộc chỉnh huấn trong toàn Đảng
bộ, tạo sự chuyển biến lớn về nhận thức, tư
tưởng với phương châm: “Đẩy lùi địch
từng bước, giành thắng lợi từng phần, tiến
lên giành thắng lợi lớn nhất để đi đến giành
thắng lợi quyết định” (Ban chấp hành Đảng
bộ tỉnh Sóc Trăng, 2002, trang 117). Tỉnh
ủy chỉ đạo khẩn trương xây dựng lực lượng
Cuối tháng 12/1971, Thường vụ Tỉnh
ủy ra Chỉ thị 19-CT/AK/71 về nhiệm vụ
công tác binh vận. Đồng chí Trần Kim Hữu
(Ba Giáo), ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy,
Trưởng Ban Binh vận được điều động sang
công tác khác, đồng chí Nguyễn Ngọc
Trương (Hai Quang), tỉnh ủy viên được
96
HUỲNH HẢI ÂU
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN
phân công làm Trưởng Ban Binh vận Tỉnh.
Để chuẩn bị cho nhiệm vụ đánh phá bình
định năm 1972, yêu cầu đặt ra với công tác
binh vận là phải xây dựng được nội tuyến
trong các vùng, phục vụ tốt việc gỡ mảng
phá bình định, nhất là tập trung xây dựng
trong phòng vệ dân sự, bảo an, dân vệ đóng
đồn ở vùng kềm mới, vùng trọng điểm các
cấp. Phát động phong trào quần chúng
trong đó có gia đình binh sĩ để làm tan rã
lớn lực lượng phòng vệ dân sự, dân vệ, bảo
an. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ binh vận,
đặc biệt là cán bộ binh vận xã, ấp, cán bộ
phụ trách vị trí, cán bộ mật giao, bồi dưỡng
cả về chính trị và nghiệp vụ.
Đầu năm 1972, Tỉnh ủy triển khai chiến
dịch Xuân Hè, cùng toàn miền Nam đồng loạt
tấn công, quyết tâm đánh bại chiến lược
“Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ và
Chính quyền Sài Gòn, buộc Mỹ ký kết
Hiệp định Paris. Tháng 04/1972, lực lượng
vũ trang Bạc Liêu đồng loạt tiến công hầu
hết đồn bót, trong đó du kích xã phối hợp 3
mũi tại chỗ bao vây 87 đồn. Một số trận
đánh lớn như trận địa phương quân Hồng
Dân phối hợp chủ lực khu tấn công cụm
đồn Cỏ Thum, Kinh Đứt Ruột, Cây Mét,
đánh quân chủ lực địch và bảo an Tiểu khu
Bạc Liêu. Tháng 10/1972, một bộ phận chủ
lực khu phối hợp lực lượng nội tuyến
huyện đánh Chi khu Ngan Dừa. Tận dụng
thời cơ này, lực lượng nội tuyến 3 mũi các
xã Ninh Quới, Ninh Hòa, Lộc Ninh, Vĩnh
Lộc bao vây đồn bót quân đội Sài Gòn.
Năm 1972, Ban Binh vận tại địa bàn
Bạc Liêu đã tổ chức được 4 cuộc khởi
nghĩa, chỉ đạo cơ sở nội tuyến cùng các
binh sĩ đồng tình gây ra 29 cuộc nội ứng,
chiếm đóng 43 đồn (huyện Hồng Dân 15
đồn, huyện Giá Rai 14 đồn, huyện Vĩnh
Lợi 13 đồn, thị xã Bạc Liêu 1 đồn). Các
vùng ven, lực lượng cách mạng phá rã 32
toán phòng vệ dân sự, 37 ban tề ấp, thu 326
súng và nhiều đạn dược quân trang quân
dụng. Nội tuyến còn phục vụ lực lượng vũ
trang đánh ngoài trời hơn 30 trận. Phong
trào chống bắt lính, đôn quân, đòi hòa bình
của nhân dân thị xã Bạc Liêu được nhiều
sự ủng hộ, gây hoang mang, tan rã tinh
thần binh sĩ quân đội Sài Gòn. Kết quả đó
tạo bước ngoặt mới trên mặt trận chống
phá bình định trong Tỉnh, lực lượng vũ
trang khôi phục dần thế chủ động tiến
công, Chính quyền Sài Gòn lùi dần vào thế
phòng ngự cục bộ.
Trong giai đoạn 1969-1973, công tác
binh vận ở Bạc Liêu vẫn khẩn trương vừa
củng cố tổ chức bộ máy binh vận các cấp,
khôi phục nâng chất lượng cơ sở hiện có,
vừa xây dựng phát triển nhanh cơ sở mới,
tập trung tuyên truyền chính sách 10 điểm
cho gia đình binh sĩ, tập hợp lực lượng đẩy
mạnh phong trào binh biến, phản chiến góp
phần làm tiêu hao, tiêu diệt lực lượng quân
đội Sài Gòn. Để đạt được thành quả trên,
Đảng bộ tỉnh Bạc Liêu cụ thể hoá chủ
trương, chính sách của Trung ương Đảng,
của Khu ủy và các nghị quyết của Tỉnh ủy
trong từng giai đoạn. Từ đó đưa công tác
binh vận ngày càng lớn mạnh, không chỉ
góp phần đánh bại cơ bản chiến lược “Việt
Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, mà
còn tạo nên nền tảng sức mạnh tổng hợp
buộc Đại tá Tỉnh trưởng Bạc Liêu -
Nguyễn Ngọc Điệp đầu hàng vào 9 giờ 30
phút ngày 30/04/1975, kết thúc vẻ vang sự
nghiệp chống Mỹ cứu nước, góp phần giải
phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.
Công tác binh vận ở Bạc Liêu diễn ra
rất phong phú đa dạng với nhiều nội dung
và hình thức khác nhau, để lại những kinh
nghiệm quý giá: nắm vững và quán triệt
sâu sắc quan điểm, đường lối công tác binh
vận của Đảng Lao động Việt Nam, vận
97
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY
No. 74 (02/2021)
dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào hoàn
cảnh thực tiễn cụ thể của tỉnh Bạc Liêu;
thường xuyên chăm lo, xây dựng đội ngũ
cán bộ và cơ quan chuyên trách làm công
tác binh vận nhằm xây dựng lực lượng
binh vận vững mạnh toàn diện; kết hợp
chặt chẽ công tác binh vận với đấu tranh
chính trị và đấu tranh vũ trang thành sức
mạnh tổng hợp của ba mũi giáp công, tạo
thế và lực mới tiến lên giành thắng lợi hoàn
toàn. Những bài học kinh nghiệm về công
tác binh vận ở Bạc Liêu trong những năm
1969-1973 đến nay vẫn giữ nguyên giá trị,
là cơ sở quan trọng góp phần hoạch định
chủ trương và chỉ đạo công tác tuyên
truyền, đấu tranh đối với các thế lực thù
địch trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước.
cách mạng Việt Nam với nhiều nội dung,
hình thức khác nhau. Vì vậy, Đảng và nhân
dân ta cần nắm chắc tình hình chính trị tư
tưởng nhằm phát huy sức mạnh toàn dân và
lực lượng chuyên trách tham gia tuyên
truyền đấu tranh vận động, tranh thủ sự ủng
hộ của dư luận quốc tế để thuyết phục cảm
hóa các thế lực thù địch. Bên cạnh đó,
chúng ta phải thường xuyên tăng cường xây
dựng lực lượng vũ trang, trước hết là Công
an nhân dân và Quân đội nhân dân vững
mạnh để sẵn sàng đáp ứng mọi tình huống
xảy ra, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của
luật pháp quốc tế và nguyên tắc ứng xử
trong khu vực. Trong giai đoạn hiện nay,
việc tiếp tục nghiên cứu, quán triệt và vận
dụng những bài học kinh nghiệm rút ra từ
quá trình Đảng Lao động Việt Nam lãnh
đạo công tác binh vận trên chiến trường
miền Nam nói chung và trên địa bàn tỉnh
Bạc Liêu nói riêng, là vấn đề cấp thiết đặt
ra nhằm góp phần bảo vệ vững chắc Tổ
quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
3. Kết luận
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập
quốc tế, các thế lực thù địch triệt để tận
dụng, tạo ra, khai thác mọi khe hở có thể,
để thực hiện những biện pháp chống phá
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng. (2002). Tổng kết công tác binh vận tỉnh Sóc
Trăng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975). Sóc Trăng.
Ban Chỉ đạo tổng kết cuộc chiến tranh. (2000). Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu
nước, bài học và thắng lợi. Hà Nội: NXB Chính trị Quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam. (2004). Văn kiện Đảng toàn tập, tập 31. Hà Nội: NXB Chính trị
Quốc gia.
Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh - Viện Lịch sử Đảng. (2008). Lịch
sử Biên niên Xứ ủy Nam bộ và Trung ương Cục miền Nam (1954 – 1975). Hà Nội:
NXB Chính trị Quốc gia.
Lê Văn Cử. (2015). Công tác Địch vận trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
(1945-1954). Luận án Tiến sĩ lịch sử, Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Hà Nội.
Ngày nhận bài: 31/8/2020
Biên tập xong: 15/02/2021
Duyệt đăng: 20/02/2021
98
Bạn đang xem tài liệu "Bài học kinh nghiệm về tiến hành công tác binh vận ở Bạc Liêu (1969-1973)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bai_hoc_kinh_nghiem_ve_tien_hanh_cong_tac_binh_van_o_bac_lie.pdf

