Khảo sát niềm tin tín đồ Phật giáo chùa Bảo Tịnh hiện nay

46  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
HUỲNH HOÀNG LƯU*  
KHẢO SÁT NIỀM TIN TÍN ĐỒ PHẬT GIÁO  
CHÙA BẢO TỊNH HIỆN NAY  
Tóm tắt: Chùa Bảo Tịnh được tổ sư Liễu Quán khai sơn vào  
khoảng năm 1710, thời chúa Nguyễn Phúc Khoát, có vị trí nằm  
ở giữa trung tâm thành phố Tuy Hòa. Đến nay, chùa Bảo Tịnh  
bằng nhiều hoạt động khác nhau đã tiếp tục truyền tải giá trị  
của Phật giáo đến đời sống tinh thần của người Phật tử. Trong  
bài viết này, tác giả tập trung làm rõ niềm tin của tín đồ chùa  
Bảo Tịnh hiện nay qua khảo sát bằng phương pháp định lượng  
và định tính nhằm góp phần làm rõ vai trò của chùa Bảo Tịnh  
đối với cộng đồng tín đồ Phật giáo ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh  
Phú Yên hiện nay.  
Từ khóa: Phật giáo; Phật tử; chùa Bảo Tịnh; Tuy Hòa; Phú  
Yên; vai trò.  
1. Khái quát về chùa Bảo Tịnh  
Lịch sử chùa BảoTịnh và lịch sử hình thành tỉnh Phú Yên cũng như  
thành phố Tuy Hòa ngày nay gắn liền với các chúa Nguyễn trong công  
cuộc Nam tiến, khai khẩn vùng đất mới.  
Chùa Bảo Tịnh được tổ sư Liễu Quán khai sơn vào khoảng năm  
1710, thời chúa Nguyễn Phúc Khoát; nay tọa lạc tại trung tâm thành  
phố Tuy Hòa. Có nhiều giả thuyết cho rằng, chùa Bảo Tịnh do tổ sư  
Liễu Quán khai sơn vào những năm cuối thế kỷ 17. Tuy nhiên, dấu  
mốc vào khoảng đầu thế kỷ 18, tức những năm 1710 là có độ chuẩn  
xác cao hơn vì sau khi đạt ngộ, được thiền sư Minh Hoằng Tử Dung  
(người Trung Hoa) ấn chứng (1708), Tổ mới bắt đầu cuộc hành trình  
hoằng truyền chính pháp (1712). Trong khoảng thời gian Tổ tham  
thiền học đạo khó mà thực hiện một công hai việc được, do đó chúng  
* Chùa Ninh Tịnh, Tp. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên.  
Ngày nhận bài: 04/12/2018; Ngày biên tập: 13/01/2019; Ngày duyệt đăng: 24/01/2019.  
Huỳnh Hoàng Lưu. Khảo sát niềm tin tín đồ Phật giáo  
…
47  
tôi có cơ sở để suy luận chùa Bảo Tịnh hình thành trong tiến trình hóa  
độ của Ngài, chứ không phải nằm trong tiến trình tu học.  
Chùa Bảo Tịnh lúc đầu chỉ một là thảo am nhỏ trên diện tích đất  
rộng vài hécta, tính từ nhà thờ Công giáo xuống bệnh viện y học dân  
tộc cổ truyền ngày nay, mà hồi đó dân gian thường gọi là chùa Cát.  
Ban đầu nơi đây còn hoang sơ, dân cư thưa thớt, chỉ là bãi cát trắng.  
Sau khi khai sơn, Tổ sư truyền thừa cho đệ tử là Hòa thượng Tế Hẩu  
tiếp nối trụ trì vì Tổ còn phải hoàn thành sứ mạng hạnh nguyện độ  
sinh, vân du đó đây, từ Phú Yên ra Phú Xuân (Huế) khai sơn chùa  
Thuyền Tôn, Viên Thông,…  
Từ năm 1951 đến cuối thế kỷ 20, các vị hòa thượng, như: Hòa  
thượng Phúc Hộ (1904-1981) ở chùa sắc tứ Từ Quang, Hòa thượng Vạn  
Ân (1886-1967) ở chùa Hương Tích, Hòa thượng Phước Ninh (1915-  
1994) ở chùa Bảo Sơn, Hòa thượng Trí Thành (1921-1999) ở chùa sắc  
tứ Bát Nhã, Hòa thượng Diệu Bổn… đều tập trung về chùa Bảo Tịnh để  
sinh hoạt, chăm lo mọi công tác Phật sự, hành chính của tỉnh, nhất là  
việc đào tạo tăng tài trong những năm 1970-1972. Nhiều vị tăng sinh  
học ở đây hiện nay đều đã đạt đến giáo phẩm hòa thượng, là chức sắc  
của Giáo hội, hành đạo ở các tỉnh thành phía Nam và ở nước ngoài.  
Không những thế, chùa Bảo Tịnh còn đào tạo cả về thế học, mở  
trường tư thục Bồ Đề từ những năm 1970-19751 để mang kiến thức  
phổ thông vào đời cho tăng ni và con em cư sĩ Phật tử. Ngoài ra, Chùa  
còn đóng góp công tác xã hội bằng việc làm từ thiện giúp đỡ những  
người có hoàn cảnh khó khăn nghèo khổ, bệnh tật, người già neo  
đơn… và thành lập cô nhi viện nuôi dạy trẻ mồ côi do sư bà Lưu  
Phương đảm trách. Xuyên suốt chiều dài lịch sử Phật giáo với những  
biến thiên của thời kỳ các phong trào chấn hưng Phật giáo, nhiều vị  
hòa thượng lãnh đạo Phật giáo về ở đây tranh đấu dưới thời Ngô Đình  
Diệm và thực hiện sự nghiệp “Tiếp dẫn hậu lai báo Phật ân đức”,  
hướng dẫn Phật tử tu học.  
Hiện nay chùa có diện tích khoảng trên 20.733 m². Chính điện rộng  
khoảng 1.700m² với tổng diện tích hai tầng 3.400m², tầng một cao 5m  
làm giảng đường và thờ tổ sư Liễu Quán, chư hòa thượng kế vị trụ trì  
chùa và chư tôn đức hữu công Giáo hội; tầng hai cao 9m là nơi chính  
48  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 – 2019  
điện thờ Phật, thực hành nghi lễ tôn giáo, có chiều ngang 19m và dài  
43m, hai bên cánh gà là lầu chuông, trống. Trước mặt chùa có sân  
rộng thoáng mát, cổng Tam quan đối diện với chợ Tân Hiệp, hai bên  
sân là vườn Lâm Tỳ Ni, tượng Phật A Di Đà, tháp bia tưởng niệm Tổ  
sư Liễu Quán. Nằm bên phải từ trong chính điện nhìn ra là hồ sen, trên  
mặt hồ là đài thờ Bồ Tát Quan Âm,...  
Mỗi chùa Phật trên đất Việt Nam có một nét riêng. Với chùa Bảo  
Tịnh, trước hết, đây là một ngôi Tổ Đình có chiều dài lịch sử lâu đời  
trên 300 năm so với dòng lịch sử tỉnh Phú Yên, tính từ 16112. Khởi  
đầu là một am tranh nhỏ, rồi đến những năm đầu thế kỷ 20 được xây  
dựng lại thành một ngôi chùa cổ lầu và hiện đại, mang nhiều dấu ấn sự  
kiện lịch sử quan trọng của các phong trào chấn hưng Phật giáo những  
năm 1953-1964, nhất là lịch sử pháp nạn năm 1963 chống chế độ độc  
tài gia đình trị Ngô Đình Diệm. Thứ hai, chùa Bảo Tịnh là nơi đặt cơ  
sở giáo dục đầu tiên của Phật giáo Phú Yên, đào tạo bao thế hệ tăng  
tín đồ để tiếp nối sự phát triển cho mai sau. Thứ ba, tông phong vĩnh  
chấn mãi lưu truyền tiếp nối luôn dung hòa và hòa hợp không phân  
biệt, kỳ thị… hai dòng truyền thừa Lâm Tế Chúc Thánh và Lâm Tế  
Liễu Quán. Đây là điểm độc đáo nhất của ngôi Tổ Đình này. Cả hai  
dòng truyền trên đều gắn kết với hoạt động của Ban Trị sự Phật giáo  
tỉnh Phú Yên. Vì vậy, chư tôn đức điều hành Ban Trị sự luôn gắn liền  
với đường hướng hoạt động của chùa Bảo Tịnh mặc dù có vị làm trụ  
trì từ một đến hai cơ sở. Tổ đình Bảo Tịnh trong sự nghiệp phổ hóa  
chúng sinh luôn lấy tinh thần hòa hợp làm nền tảng giữa Lâm Tế Chúc  
Thánh và Lâm tế Liễu Quán đoàn kết trong vấn đề trụ trì, tổ chức và  
mọi hoạt động Phật sự, nói lên sự đồng lòng thống nhất ý chí và hành  
động, không phân chia tách biệt các dòng truyền thừa riêng lẽ. Sự  
dung hợp này tạo tiền đề phát triển cho Phật giáo của tăng ni đất tổ  
Phú Yên. Thứ tư, Tổ sư Liễu Quán đã khai sáng dòng thiền riêng,  
mang phong cách Việt Nam, tách biệt các dòng thiền từ Trung Hoa  
truyền sang, đó là Thiền - Tịnh song tu, mang nét kết hợp hài hòa,  
uyển chuyển “tùy duyên”, không đi ra ngoài mục đích giác ngộ và giải  
thoát. Lấy trí tuệ mà Tổ để lại lời di huấn trước lúc nhập vào Niết Bàn  
tịch tịnh, mặc dù lúc đó đệ tử của Tổ có nhiều vị tu chứng. Nhưng Tổ  
Huỳnh Hoàng Lưu. Khảo sát niềm tin tín đồ Phật giáo  
…
49  
không ấn chứng cho một ai cả và các câu hỏi thoại đầu không đặt ra  
hay thấy đối đáp giữa thiền sinh với Tổ, trong khi đó chính Tổ là  
người được nhận yếu chỉ của Thiền tông từ Thiền sư Minh Hoằng Tử  
Dung thông qua câu hỏi thiền thoại đầu.  
Theo quan điểm của tác giả, có lẽ đây là mấu chốt của sự Việt hóa  
tức là Phật tại tâm, niệm Phật cũng là thiền định (vì song hành với  
thiền là tu chỉ quán) thể hiện tinh thần “tùy duyên bất biến” luôn hài  
hòa với thiên nhiên và con người Việt Nam, cho nên cuối đời Tổ căn  
dặn chúng đệ tử phải lấy trí tuệ làm hành trang cho sự tu học là có ý  
của Tổ. Sức ảnh hưởng của Tổ Liễu Quán đủ khẳng định nét đặc  
trưng của chùa Bảo Tịnh hết sức to lớn đối với tăng ni tín đồ Phật  
giáo Việt Nam.  
Nét đặc trưng thứ năm là phong cảnh hữu tình, là điểm du lịch tâm  
linh trong nước và quốc tế, vừa mang nét kiến trúc cổ xưa kết hợp  
hiện đại, tạo cảnh quan du lịch của khách thập phương, tứ diện trang  
trí mang tính mĩ thuật cao, không rời xa phối cảnh già lam thanh tịnh.  
2. Nhận diện về tín đồ Phật giáo của chùa Bảo Tịnh hiện nay  
2.1. Cơ cấu nhân khẩu xã hội của tín đồ chùa Bảo Tịnh qua  
khảo sát  
Về giới tính, tỉ lệ tín đồ đi lễ chùa Bảo Tịnh có cơ cấu giới tính  
phản ánh hiện trạng tín đồ Phật giáo chung hiện nay tại các chùa. Đó  
là tỉ lệ nữ đi lễ chùa nhiều hơn nam. Khảo sát của chúng tôi cho thấy,  
66,7% nữ đi lễ chùa trong khi đó chỉ có 33,3% nam giới. Hoạt động  
Phật giáo hay ngôi chùa hiện vẫn thu hút nữ giới nhiều hơn nam.  
Về cơ cấu tuổi, chúng tôi chia 3 nhóm tuổi: dưới 29, từ 30 đến 49,  
và 50 trở lên. Lý do chia ba khoảng tuổi như trên là theo Luật Thanh  
niên, thanh niên là đối tượng có độ tuổi từ 15-29. Từ 30 đến 49 là độ  
tuổi trung niên; và từ 50 trở lên là tuổi già. Mốc tuổi 50 không phải là  
độ tuổi nghỉ hưu theo quy định (theo quy định hiện nay nam 60, nữ  
55), tuy nhiên chúng tôi lấy mốc từ 50 trở lên làm độ tuổi già của  
người đi lễ chùa vì người dân Việt Nam có tục lệ, trai năm 50 tuổi ra  
đình, nữ 50 tuổi ra chùa. Có nghĩa là đàn ông từ tuổi 50 trở lên sẽ có lễ  
trình để được phép xin gia nhập sinh hoạt với các cụ tại đình, chính  
50  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 – 2019  
thức lên hàng các cụ trong các sinh hoạt của làng Việt truyền thống;  
còn phụ nữ thì từ 50 tuổi trở lên ra chùa làm vãi già, tham gia hội  
quy,… Cơ cấu tuổi của Phật tử chùa Bảo Tịnh qua khảo sát như sau:  
Nhóm tuổi 15 - 29 có 26,5%; nhóm tuổi 30 - 49 có 23,1% và nhóm  
tuổi từ 50 trở lên là 50,4%.  
Phật tử chùa Bảo Tịnh ở độ tuổi từ 50 trở lên chiếm tỉ lệ khoảng  
50%, đây cũng là đặc điểm chung của các chùa hiện nay, và thể hiện cơ  
cấu tuổi chung của Phật tử Việt Nam. Cho dù hiện nay, tầng lớp thanh  
niên và trung niên đã quan tâm nhiều hơn tới Phật giáo giáo, nhưng vì  
nhiều lý do khác nhau như bận rộn trong công việc không có thời gian  
đi lễ, chùa vẫn là không gian chủ yếu dành cho người cao tuổi.  
Về trình độ học vấn, Phật tử chùa Bảo Tịnh có trình độ học vấn  
không cao, chủ yếu là THPT, số Phật tử có trình độ từ THPT trở lên  
chiếm tỉ lệ rất thấp. Tiểu học có 25,6%; THCS có 10,3%; THPT có  
60,7% và trên THPT có 3,4%.  
Về tình trạng hôn nhân, tỉ lệ Phật tử chùa Bảo Tịnh đang có gia  
đình gần tương đương với tỉ lệ Phật tử độc thân (khái niệm độc thân  
bao gồm cả những người chưa kết hôn, ly hôn, góa). Cụ thể: chưa kết  
hôn 34,2%; đã kết hôn 53,8%; ly hôn/góa là 12,0%.  
Về nghề nghiệp, có nhiều loại hình nghề nghiệp khác nhau, tuy  
nhiên, trong khảo sát này, chúng tôi chỉ phân nhóm một số nhóm nghề  
cơ bản để xem xét nhóm nghề của Phật tử chùa Bảo Tịnh hiện nay. Về  
nghề nghiệp, vì tỉ lệ Phật tử của chùa Bảo Tịnh ở độ tuổi từ 50 trở lên  
chiếm 50% nên Phật tử đã nghỉ hưu, nội trợ có tỉ lệ cao nhất. Hai  
nhóm nghề kế tiếp có tỉ lệ Phật tử cao tiếp sau là buôn bán dịch vụ và  
học sinh, sinh viên. Nhóm cán bộ, công chức, viên chức đương chức  
có tỉ lệ rất thấp. Điều này cho thấy nhu cầu tôn giáo được thể hiện  
khác biệt giữa các nhóm xã hội xét theo cơ cấu nghề nghiệp.  
Bảng 1. Cơ cấu nghề nghiệp của Phật tử chùa BảoTịnh  
Nhóm nghề  
Tần suất  
Tỉ lệ %  
13.7  
Nông dân  
16  
10  
Nghề tự do  
8.5  
Công nhân  
9
7.7  
Huỳnh Hoàng Lưu. Khảo sát niềm tin tín đồ Phật giáo  
…
51  
Buôn bán/dịch vụ  
Cán bộ  
20  
7
17.1  
6.0  
Học sinh, sinh viên  
Nghỉ hưu, nội trợ  
Khác  
22  
32  
1
18.8  
27.4  
9
Tổng  
117  
100.0  
Nguồn: Khảo sát của tác giả  
2.2. Niềm tin tôn giáo của Phật tử chùa Bảo Tịnh hiện nay  
Niềm tin tôn giáo của tín đồ có thể được đo bằng nhiều chiều cạnh  
khác nhau. Trong khảo sát của chúng tôi, niềm tin tôn giáo được đo  
thông qua tần suất đi lễ, mục đích đi lễ, hành vi tìm hiểu giáo lý Phật  
giáo, đọc tụng kinh.  
Về tần suất đi lễ, Phật tử chùa Bảo Tịnh có tỉ lệ đi lễ cao nhất:  
tháng hai lần vào ngày rằm và mồng một Âm lịch. Rất ít Phật tử trong  
nhóm khảo sát không bao giờ đi lễ và một năm đi lễ vài lần. Nữ có tỉ  
lệ đi lễ tháng hai lần nhiều hơn nam.  
Có sự khác biệt về hành vi đi lễ giữa hai nhóm đã quy y và chưa  
quy y. Trong đó, nhóm đã quy y có tỉ lệ đi lễ tháng hai lần cao hơn  
nhiều so với nhóm chưa quy y. Điều này phản ánh nhóm đã quy y có  
nhu cầu đi lễ cao hơn, niềm tin đối với Phật giáo của nhóm này cũng  
được nhìn nhận là lớn hơn. Ngoài chùa Bảo Tịnh, đa số Phật tử còn đi  
lễ tại các chùa khác, tuy nhiên với nhóm Phật tử chùa Bảo Tịnh thì họ  
đi lễ chủ yếu tại chùa Bảo Tịnh. Khi được hỏi có đi lễ nhiều chùa  
không, một Phật tử cho biết. “Dạ có. Nhiều, nhưng chùa Bảo Tịnh là  
chính…” (Nữ, 36 tuổi, quy y 20 năm). Có sự khác biệt giữa các nhóm  
về hành vi đi lễ nhiều chùa trong đó nam có tỉ lệ đi lễ chùa khác nhiều  
hơn nữ với độ khác biệt lên tới 15,4% và Phật tử đã quy y có tỉ lệ đi lễ  
nhiều hơn Phật tử chưa quy y. Hành vi này thể hiện niềm tin của Phật  
tử là niềm tin hướng chung về Phật hơn là niềm tin riêng biệt đối với  
chùa Bảo Tịnh.  
Biểu 1. Tỉ lệ đi lễ chùa khác ngoài chùa Bảo Tịnh của Phật tử  
chùa Bảo Tịnh  
52  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 – 2019  
Nguồn: Khảo sát của tác giả.  
Về mục đích đi lễ, mục đích đi lễ lớn nhất của Phật tử chùa Bảo  
Tịnh là để tìm hiểu giáo lý Phật giáo. “Đi chùa để mình học hỏi giáo  
pháp, học hỏi cách làm người cho tốt hơn” (Nữ, 36 tuổi, quy y 20  
năm). “Đi chùa nhằm mục đích để tu sửa bản thân mình tốt hơn theo  
như lời Phật dạy, mình muốn noi gương theo Phật thì phải tu tập, học  
theo Phật dạy” (Nữ, quy y năm 15 tuổi, tham gia Gia đình Phật tử từ  
nhỏ tại chùa).  
Đến chùa để nghe thấm nhuần giáo lý Phật giáo, để tránh bị nhiễm  
thói xấu ngoài xã hội cũng là mục đích đi lễ của một số Phật tử. “Cuộc  
sống xã hội hiện nay bị thoái hóa làm ảnh hưởng đến tư tưởng của  
con người, khiến con người dễ bị sai lầm lạc lối, nên đến chùa để  
nghe các sư thầy giảng pháp, đọc kinh để biết sống tốt hơn” (Nữ, quy  
y năm 14 tuổi).  
Đây là mục đích chủ đạo với tất cả các nhóm nam, nữ, đã quy y và  
không quy y. Điều này thể hiện niềm tin đúng đắn của Phật tử chùa  
Bảo Tịnh đối với Phật giáo. Những mục đích mang tính nhập thế,  
hướng tới giải quyết những vấn đề cuộc sống trần tục như đi lễ để  
nhận được sự phù trợ chiếm tỉ lệ không cao.  
Chức năng an định tinh thần của Phật giáo cũng được thể hiện rõ  
qua mục đích đi lễ của Phật tử. Đa số Phật tử đi lễ với mục đích cho  
lòng thanh thản. Nhóm Phật tử nữ và nhóm đã quy y hướng đến mục  
đích này khi đi lễ nhiều hơn nhóm nam và nhóm chưa quy y. Khoảng  
cách, cách biệt giữa các nhóm này về mục đích tìm sự bình an thanh  
Huỳnh Hoàng Lưu. Khảo sát niềm tin tín đồ Phật giáo  
…
53  
thản cho cá nhân giữa cuộc sống bề bộn gấp gáp thời công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa là khá lớn.  
Nguyên nhân đi lễ của Phật tử chùa Bảo Tịnh cho thấy đa số Phật  
tử hướng đến một niềm tin chân chính. Số Phật tử lựa chọn đi lễ là do  
muốn tìm hiểu Phật giáo chiếm tỉ lệ cao (72,2 % chưa quy y và 82,2 %  
đã quy y). Nhóm Phật tử đã quy y có tỉ lệ lựa chọn nguyên nhân đi lễ  
này cao hơn so với nhóm chưa quy y. Nhưng nữ Phật tử lựa chọn  
nguyên nhân đi lễ để tìm hiểu giáo lý Phật giáo thấp hơn nam giới  
(79,5 % nữ và 84,6 % nam). Bên cạnh việc đi lễ để có được sự giác  
ngộ cho bản thân, một số Phật tử còn muốn hoằng bá Phật pháp cho  
những người đồng tu và những người có căn duyên. “Trau dồi bản  
thân, nếu có duyên triển khai phật pháp cho mọi người đồng tu”  
(phỏng vấn sâu nam giới, đi chùa từ nhỏ).  
Tìm hiểu về Phật giáo, giáo lý Phật giáo cũng là một trong những  
tác nhân quan trọng của Phật tử thuần thành khi đến chùa. Giáo lý cơ  
bản nhất mà nhiều Phật tử nói đến chính là luật nhân quả. Đây là quy  
luật chi phối vòng luân hồi, nghiệp báo của con người. Kết quả khảo  
sát bằng bảng hỏi cho thấy 50,5 % số người được hỏi đã quy y và 38,9  
% chưa quy y; 46,2% là nam giới, 50% là nữ giới đến lễ ở chùa Bảo  
Tịnh là do muốn tìm hiểu Phật giáo. “Thì tác nhân của con là tìm hiểu  
cái giáo lý đạo Phật, thì con xem những kinh sách của giáo lý nhà  
Phật để lại, thì con thấy cái luật nhân quả là rất hay. Cái luật nhân  
quả của đạo Phật rất tuyệt vời là anh gieo nghiệp nào thì anh trả  
nghiệp nấy, thì con tin cái luật nhân quả mà con theo của đạo Phật...”  
(phỏng vấn sâu nam giới, 71 tuổi, Huynh trưởng gia đình Phật tử).  
Về hành vi đi lễ, trước hết là trang phục khi đến chùa, đa số Phật tử  
ý thức được đến chùa cần phải ăn mặc trang nghiêm, như: “Đi tụng  
kinh thì mặc áo tràng, còn đi Phật tử thì mình có đồ của Phật tử. Đi  
sinh hoạt thì có đồ quy định của Phật tử riêng. Còn áo tràng thì để  
mình lên lạy Phật cho trang nghiêm…” (phỏng vấn sâu nữ giới, 36  
tuổi, quy y đã 20 năm). Trang phục Phật tử theo quan niệm của Phật  
tử này là trang phục theo quy định của Gia đình Phật tử: “Quy định  
trong GĐPT là khi mình đi sinh hoạt thì phải mặc đồng phục. Ví dụ,  
đến Đoàn Thiếu nữ trực thì thiếu nữ phải mặc áo dài, còn như bình  
54  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 – 2019  
thường thì mặc quần tây và áo lam để gọi là đoàn thể GĐPT, không  
mặc lộn xộn được. Còn những người đi lễ thì không cần nguyên tắc.  
Chủ yếu để hướng cho người ta tới chùa, nếu như nguyên tắc quá thì  
người ta không đi chùa nữa” (phỏng vấn sâu nữ, 36 tuổi, quy y đã 20  
năm). Nhìn chung, nguyên tắc trang phục khi đi lễ theo Phật tử chùa  
Bảo Tịnh là Ăn mặc kín đáo, đàng hoàng, trang nghiêm, trang phục  
đồ lam, áo tràng (phỏng vấn sâu nữ, quy y từ 15 tuổi).  
Về cảm giác sau khóa lễ, kết quả khảo sát cho thấy, Phật tử có  
những cảm nhận tích cực sau khi lễ Phật. Đa số Phật tử cảm thấy bình  
an sau mỗi lần lễ Phật (86,3%). Có sự khác biệt không đáng kể giữa  
nam và nữ về cảm giác bình an thu được sau khóa lễ. Phật tử trong các  
nhóm trình độ học vấn khác nhau có sự khác biệt về cảm giác bình an  
thu được sau khi lễ Phật. Theo kết quả khảo sát, Phật tử ở nhóm có  
trình độ học vấn từ THPT trở xuống có tỉ lệ cảm thấy bình an cao hơn  
nhóm Phật tử có trình độ học vấn từ THPT trở lên.  
Nhóm Phật tử đã quy y cũng có tỉ lệ cảm thấy bình an sau khi lễ  
Phật cao hơn so với nhóm chưa quy y. Thanh thản, thoải mái, yên tâm  
và vui vẻ cũng là cảm nhận của nhiều Phật tử sau khi đi lễ Phật  
(71,8%; 65,0%; 58,1% và 58,1% ). Những cảm nhận mang tính tiêu  
cực như sợ hãi, lo lắng, hay không có cảm giác gì rất ít Phật tử lựa  
chọn (2,6%; 4,3% và 8,5%).  
Đa số Phật tử được hỏi có tham gia nghe giảng giáo lý (88,9%), tuy  
nhiên, mức độ nghe giảng giáo lý thường xuyên còn thấp. Chỉ có  
27,4% Phật tử được hỏi nghe giảng giáo lý hàng tuần và 24,8% nghe  
giảng giáo lý hàng tháng. Có sự khác biệt giữa Phật tử nam và nữ;  
Phật tử đã quy y và chưa quy y về hành vi tham gia nghe giảng giáo  
lý. Ở mức độ hàng tuần, nam tham gia nhiều hơn nữ (30,8 % và 25,6  
%); nhóm đã quy y tham gia nhiều hơn nhóm chưa quy y (29,3 % và  
16,7 %). Tuy nhiên, tỉ lệ nam không bao giờ nghe giảng giáo lý cũng  
cao hơn nữ (12,8 % so với 10,3 %).  
Về hành vi tụng đọc kinh, đa số Phật tử chùa Bảo Tịnh ngoài đọc  
tụng kinh ở chùa còn có đọc tụng kinh tại nhà (82,9%). Có thể nói,  
đây là chỉ báo tích cực cho thấy tính thuần thành của Phật tử chùa Bảo  
Tịnh. Nhiều Phật tử cảm nhận được ích lợi của việc đọc tụng kinh ở  
Huỳnh Hoàng Lưu. Khảo sát niềm tin tín đồ Phật giáo  
…
55  
chùa cũng như tại nhà chính là do: “đọc để hoàn thiện bản thân mình,  
tự giác, giác tha, nghĩa là tự giác ngộ cho mình và giác ngộ cho mọi  
người xung quanh” (Nữ, quy y năm 15 tuổi). “Tụng kinh rất hay, giúp  
hiểu rõ về giáo lý Phật giáo để áp dụng trong cuộc sống thường ngày”  
(Nữ, đi chùa từ nhỏ). Cũng có những Phật tử mong muốn được tăng  
phước đức thông qua việc đọc kinh Phật. “Đọc kinh sẽ làm mình tăng  
thêm phước đức” (Nữ, 36 tuổi, quy y 20 năm). Một số Phật tử trải  
nghiệm được lợi ích trực tiếp của việc đọc tụng kinh Phật, như: có  
được cảm giác thư thái, nhẹ nhàng, an vui… “Mình đọc rồi mình thấy  
sau cái giờ tụng kinh thì cái đầu óc mình thấy có vẻ nó nhẹ nhàng  
hơn… tạo một cảm giác an vui và nhẹ nhàng thư thái” (Nam, 52 tuổi,  
công chức).  
Kết luận  
Phân tích kết quả khảo sát cho thấy, Phật tử chùa Bảo Tịnh có niềm  
tin tôn giáo sâu sắc, số lượng các Phật tử tham gia vào các hành vi tôn  
giáo chiếm tỉ lệ cao. Phật tử chùa Bảo Tịnh có tâm thế hướng về niềm  
tin tôn giáo chân chính. Trong xu thế thế tục hóa và nhập thế như hiện  
nay, nhiều Phật tử hướng về niềm tin mang tính thế tục hay nhập thế,  
tức mục đích đi lễ hướng về giải quyết những mưu cầu trong cuộc  
sống trần thế. Trong bối cảnh đó, đa số Phật tử chùa Bảo Tịnh mong  
muốn đi lễ để tìm hiểu giáo lý Phật giáo, để có được sự thanh thản  
trong lòng. Đây là những giá trị đáng trân quý, là cơ sở để đánh giá  
vai trò chức năng của các ngôi chùa Phật giáo nói chung và chùa Bảo  
Tịnh nói riêng đối với Phật tử trong xã hội hiện nay. /.  
CHÚ THÍCH:  
1
Nhiều tác giả (2015), Nhớ về một ngôi trường, Nxb. Hội Nhà văn, Hà Nội. Đây  
là tập thơ văn, hình ảnh kỉ yếu thầy và trò của cựu học sinh bồ đề lưu lại những  
khoảng khắc của trường trung học tư thục bồ đề hiếu xương của Phật giáo Phú  
Yên và chấm dứt hoạt động sau 5 niên khóa 1970-1975.  
2
Mặc dù thời Hậu Lê, năm 1578, vua Lê Thánh Tông tiến vào Nam và xác định  
ranh giới Đại Việt cho khắc chữ vào núi đá bia, sử gọi là núi Thạch Bi. Nhưng  
quyền kiểm soát thật sự chưa có, vẫn còn thuộc người Chăm Pa (Chiêm Thành).  
Lúc bấy giờ, Phú Yên được xác định từ đèo Cù Mông đến đèo Đại Lĩnh. Đến  
bây giờ không còn vết tích vẫn là dấu chấm hỏi cho các nhà sử học, khảo cổ.  
Đến năm 1578, chúa Nguyễn mở rộng bờ cõi về phương Nam chinh phục và thu  
nhận vùng đất này, đến năm 1597 sai công thần Lương Văn Chánh và một số di  
56  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 – 2019  
dân vào vùng đất này khai ấp, lập nghiệp. Đến năm 1611, Phú Yên chính thức  
được đặt tên với cấp hành chính là Phủ, kế tiếp đời chúa Nguyễn phúc Khoát  
năm 1744 chuyển thành Dinh, từ đó các nhà sử học lấy mốc năm 1611 làm điểm  
hình thành của tỉnh Phú Yên vì có cơ quan hành chính cấp Phủ. Vì vậy, khoảng  
cách Tổ sư Liễu Quán khai sơn ngôi chùa này chênh lệnh nhau khoảng 100 năm  
so với mốc năm 1611.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Thích Minh Cảnh (chủ biên) (2011), Từ điển Phật học Huệ Quang (tập1, 5),  
Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh.  
2. Đoàn Văn Chúc (2011) (dịch), Các cấu trúc xã hội học, Nxb. Văn hóa thông tin,  
Hà Nội.  
3. Nguyễn Đình Chúc (2014), Chư tôn Thiền Đức Phật giáo Phú Yên trong và  
ngoài Tỉnh, Nxb. Tổng hợp, Tp. Hồ Chí Minh.  
4. Nguyễn Đình Chúc (2015), Lược sử chùa Chư Tôn Phú Yên, Nxb. Tổng hợp Tp.  
Hồ Chí Minh.  
5. Vũ Đức Chính (Thích Thanh Nhiễu) (2010), Tìm hiểu một số ảnh hưởng tôn giáo  
đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt hiện nay, Luận văn thạc sĩ,  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Hà Nội.  
6. Lê Hồng Chương (2007), Từ điển đơn vị hành chính Việt Nam, Nxb. Từ điển  
Bách khoa, Hà Nội.  
7. Dương Ngọc Dũng (2016), Tôn giáo nhìn từ viễn cảnh Xã hội học, Nxb. Hồng  
Đức, Tp. Hồ Chí Minh.  
8. Nguyễn Đình Đầu (1997), Nghiên cứu địa bạ triều Nguyễn Phú Yên, Nxb. Tp.  
Hồ Chí Minh.  
9. Lê Văn Đính (2007), “Bàn thêm về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống xã  
hội Việt Nam hiện nay”, Nghiên cứu Tôn giáo, số 10, tr. 16-22.  
10. Nguyễn Hiền Đức (1995), Lịch sử Phật giáo Đàng Trong, Nxb. Tp. Hồ Chí  
Minh.  
11. Thích Tâm Giác (1964), Việt Nam Phật giáo tranh đấu sử, Nxb. Hoa Nghiêm.  
12. Cao Huy Giu (biên Dịch, 2013), Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Nxb. Thời đại, Hà  
Nội.  
13. Đỗ Lan Hiền (Chủ biên) (2017), Những biến động trong đời sống tôn giáo hiện  
nay và tác động của nó đến lối sống người Việt, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật.  
14. Trần Hồng Liên (2010), Tìm hiểu chức năng xã hội của Phật giáo Việt Nam,  
Nxb. Tp. Hồ Chí Minh.  
15. Chu Viết Luân (chủ biên) (2006), Phú Yên thế và lực trong thế kỷ XXI, Công ty  
Cổ phần Kinh tế đối ngoại xuất bản.  
16. Một số vấn đề lý thuyết và phương pháp nghiên cứu nhân học, Trường Đại học  
Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, 2006.  
17. Đặng Hải Mai (2002), Từ điển tôn giáo, Nxb. Từ điển bách khoa, Hà Nội.  
18. Nguyễn Thị Minh Ngọc (2017), Vai trò của tôn giáo trong xây dựng niềm tin xã  
hội, Nxb. Phương Đông.  
Huỳnh Hoàng Lưu. Khảo sát niềm tin tín đồ Phật giáo  
…
57  
19. Lê Mạnh Thát (Tái bản 2002), Lịch sử Phật giáo Việt Nam ( tập1,2,3), Nxb. Tp.  
Hồ Chí Minh.  
20. Nguyễn Đình Tư (2004), Non nước Phú Yên, Nxb.Thanh niên, Hà Nội.  
21. UBND Tỉnh Phú Yên (2003), Địa chí Phú Yên, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
22. Viện Đại học Huế (dịch) (1963), Hải Ngoại Kỷ Sự, (Thích Đại Sán), Ủy ban  
Phiên dịch Sử liệu Việt Nam xuất bản.  
Abstract  
RESEARCH ON THE BUDDHISTS’ FAITH OF BẢO TỊNH  
BUDDHIST TEMPLE AT PRESENT  
Huynh Hoang Luu  
Tuy Hòa Dist., Phu Yen Province, Vietnam  
Bảo Tịnh Buddhist temple was established by Liễu Quán monk in  
1710, during the period of Nguyễn Phúc Khoát Lord. The temple is  
situated in the centre of Tuy Hòa city. Through many activities, Bảo  
Tịnh Buddhist temple has currently transmitted the values of  
Buddhism to the spiritual life of Buddhist. In this article, the author  
focuses on clarifying the Buddhists’ faith of Bảo Tịnh pagoda through  
quantitative and qualitative survey in order to indicate the role of Bảo  
Tịnh pagoda towards the Buddhist community in Tuy Hòa city, Phú  
Yên province today.  
Keywords: Buddhism; Buddhists; Bao Tinh; Tuy Hoa; Phu Yen;  
role.  
pdf 12 trang Thùy Anh 17160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Khảo sát niềm tin tín đồ Phật giáo chùa Bảo Tịnh hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhao_sat_niem_tin_tin_do_phat_giao_chua_bao_tinh_hien_nay.pdf