Dấu ấn sông nước trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thừa Thiên Huế: Nghiên cứu trường hợp nghi lễ “Thành”

66  
Nguyễn Hữu Phúc  
Dấu ấn sông nước trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu ở  
Thừa Thiên Huế: Nghiên cứu trường hợp nghi lễ “Thành”  
Nguyễn Hữu Phúc  
Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Thừa Thiên Huế  
Email liên hệ: thienphuc2509histo[email protected]  
Tóm tắt: Cùng với nền văn minh lúa nước, nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản, người  
Việt đã tạo lập nên những phong tục tập quán, nghi lễ, lễ hội gắn liền với dòng sông, con  
nước. Trong đó, hệ thống các vị thần mang dấu ấn sông nước xuất hiện khá thường xuyên và  
phổ biến trong đời sống cộng đồng cư dân địa phương. Tục thờ Mẫu của người Huế là một ví  
dụ điển hình cho loại hình tín ngưỡng này. Trong hệ thống các lễ nghi thực hành tín ngưỡng  
thờ Mẫu Tứ phủ của người Huế, nghi lễ“Thành”là một trong những nghi lễ đặc trưng với mục  
đích cầu bình an cho người phụ nữ. Nghiên cứu này tập trung phân tích để làm sáng tỏ về  
nghi lễ cúng Thành của người Huế. Từ đó, bài viết rút ra những nét đặc sắc, độc đáo trong văn  
hóa sông nước của người Huế cũng như nét đặc trưng của thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu của  
người Huế so với các địa phương khác trong nước.  
Từ khóa: Thừa Thiên Huế, lễ cúng “Thành”, văn hóa sông nước, thờ Mẫu  
Elements of “rivers and water” in Mother Goddess worship in Thua Thien Hue - A case  
study of “Thanh” ritual  
Abstract: Vietnamese people created their customs, rituals, and festivals that were closely  
associated with rivers and water besides their wet rice civilization and aquaculture. Water deities  
are common and popular in the local community’s life. Mother-Goddess worship by Hue people  
is a typical example of the belief. Out of rituals and practices of Mother Goddess worship of  
the Four Palaces by Hue people, “Thành” rite is one of the outstanding rituals aimed at praying  
for peace to women. The article focuses on analyzing “Thành” ritual by Hue people, thereby,  
discussing unique features on the Hue’s distinctive culture and their Mother Goddess worship.  
Keywords: ThuaThien Hue,“Thanh”ritual, element of water as a cultural feature, Mother  
Goddess worship  
Ngày nhận bài: 09/07/2021  
Ngày duyệt đăng: 15/11/2021  
1. Đặt vấn đề  
Trong dòng chảy văn hóa Huế, tục thờ Mẫu Tứ phủ và Chư vị có nguồn gốc từ thờ Mẫu  
Vân Hương (Liễu Hạnh công chúa) của miền Bắc và được “cung đình hoá”, “điển chế hóa” khi  
Nữ thần Thiên Y A Na chính thức trở thành vị Thánh Mẫu tối thượng trong tín ngưỡng thờ Mẫu  
được triều Nguyễn công nhận, đặc biệt từ thời vua Đồng Khánh. Từ đó về sau, tín ngưỡng thờ  
Mẫu đã phát triển một cách nhanh chóng với quy mô rộng lớn, khắp các tỉnh miền Trung, mà  
Huế là trung tâm.  
Trên cơ tầng của sự giao hòa giữa yếu tố Đạo giáo và tục thờ Mẫu lâu đời của người Việt,  
tín ngưỡng thờ Mẫu ở Huế đã phát triển theo một nhịp độ nhất định và tạo nên những màu  
sắc riêng biệt. Trong đó, yếu tố Thủy giữ vai trò quan trọng vì liên quan đến đặc điểm sinh kế,  
67  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 06 (74) - 2021  
đời sống của cư dân. Với quan niệm sinh mệnh người phụ nữ do “số mạng Thiên tào, căn vu  
Thủy giới”, vì lẽ đó, mà lễ “Thành” hay lễ cúng “Thành căn” được xem là nghi thức cầu an của  
người Huế, đặc biệt chỉ dành riêng của người phụ nữ. Các thầy pháp, thầy phù thủy là những  
người có thể đứng ra để thực hiện nghi lễ liên quan đến yếu tố Thủy nhằm mang lại bình an,  
sức khỏe, hạnh phúc, may mắn, sự che chở trong cuộc sống.  
Tuy nhiên, với sự tác động của những thành tựu từ cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và  
sự ảnh hưởng trong văn hóa thờ Mẫu từ miền Bắc mà văn hóa thờ Mẫu ở Thừa Thiên Huế đã  
có sự thay đổi ít nhiều so với những thế hệ đi trước. Trong phạm vi nghiên cứu, bài viết sẽ tập  
trung phân tích vai trò yếu tố sông nước trong tín ngưỡng thờ Mẫu được thể hiện qua nguồn  
gốc, thực hành nghi lễ, đồ cúng, đồ mã của nghi lễ cúng Thành. Qua đó nhấn mạnh nét đặc  
trưng văn hóa cũng như hướng đến mục tiêu bảo tồn, phát huy các giá trị của tục thờ Mẫu Tứ  
phủ ở Huế.  
2. Sinh thái sông nước và tín ngưỡng dân gian xứ Huế  
Trải qua quá trình tiếp xúc lâu dài và thích ứng với những đổi thay thường xuyên của  
sông nước đã hình thành nền văn hóa sông nước trong tâm thức của người Việt. Cũng nói  
thêm rằng, chính sự tác động qua lại giữa tự nhiên và con người được coi là nhân tố chính tạo  
nên đặc trưng văn hóa. Từ cách nhìn nhận như thế này quy chiếu đối với Huế, ta dễ dàng nhận  
thấy văn hóa Huế cũng được tạo tác từ yếu tố sinh thái, đặc biệt là sông nước. Trần Quốc Vượng  
(2015, tr. 405-406) nhận định:“Có một xứ Huế. Nhưng cũng có 3 vùng – miền họp thành xứ Huế:  
+ Một vùng Huế núi – đồi: Và người Huế khéo tạo cảnh nơi đây – từ tự nhiên thành văn hóa  
(man made Environmen, - môi sinh nhân văn) là khu lăng tẩm đế vương. Đây là một khu hành  
hương và du lịch của xứ Huế mến yêu, mà ai chưa một lần đến đó thì còn ân hận cả đời…  
+ Một vùng Huế cồn bãi đôi bờ Hương Giang cùng các nhánh sông Bạch Yến, An Cựu, Kim  
Long (nay đã bị lấp nhiều) mà hệ quy chiếu chính thống là Hoàng cung – Đại nội bên tả ngạn và  
một dải phố xá – trường học – cơ quan bên hữu ngạn. Còn hệ quy chiếu cũ xưa là thành Lồi – Long  
Thọ và hệ quy chiếu dân gian là chợ Đông Ba…  
+ Một vùng Huế đầm – phá, với những phá Tam Giang, Hà Trung, Cầu Hai… và những cửa  
Eo cũ, cửa Thuận, cửa Tư Hiền ngày xưa và hôm nay, nơi đã và đang phát triển hệ nuôi tôm với sự  
trợ giúp của Ôxtrâylia…  
Cả ba vùng xứ Huế đó được nối kết với dòng Hương và bởi con người xứ Huế”.  
Như vậy, Thừa Thiên Huế là một vùng đất rất đa dạng các hệ sinh thái với đầy đủ các  
dạng địa hình từ núi cao đến biển khơi: rừng núi – đồng bằng – đầm phá – vùng viển. Các  
hệ sinh thái này đã trực tiếp tác động đến sự phát triển lịch sử, kinh tế, văn hóa, xã hội của  
các cộng đồng dân cư trong suốt mấy nghìn năm trước đó và trên 700 năm Thuận Hóa – Phú  
Xuân – Huế.  
Mỗi hệ sinh thái đều có vai trò nhất định đối với sự sống, hoạt động kinh tế cũng như  
các thiết chế văn hóa của người Huế. Hệ sinh thái ven biển Thừa Thiên Huế trải dài trên 100km,  
với nhiều bãi biển nổi tiếng như Lăng Cô, Cảnh Dương, Chân Mây, Thuận An, các bãi ngang  
Quảng Điền, Phong Điền đã tạo ra hoạt động kinh tế đánh bắt thủy hải sản sôi nổi. Bên cạnh  
nghề biển, cộng đồng cư dân ven biển còn làm kinh tế với những nghề truyền thống liên  
quan đến nông nghiệp. Từ đó tạo nên một nền văn hóa miền duyên hải đặc trưng riêng có của  
vùng đất cố đô. Một trong những đặc trưng khác biệt là tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng,  
mặc dù “tiền khai canh” thờ thần có công truyền dạy nghề chài lưới, nhưng “hậu khai khẩn”  
lại thờ thần xuất thân từ nghề nông, mà trong các lễ hội cầu ngư còn có nghi lễ cầu mưa là ví  
68  
Nguyễn Hữu Phúc  
dụ điển hình. Hay hệ đầm phá Tam Giang – Cầu Hai (lớn nhất Đông Nam Á), chính môi trường  
nước lợ với đa dạng sinh học thủy hải sản đã hình thành nền một cộng đồng dân cư vùng  
sông nước không giống nơi khác, vừa là nông dân nhưng cũng vừa ngư dân.  
Còn hệ sinh thái đồng bằng ở Thừa Thiên Huế gắn liền với nghề làm nông chuyên canh,  
mà nguồn phù sa màu mỡ được bồi đắp hàng năm đều do các con sông lớn như sông Hương,  
sông Ô Lâu, sông Bồ,… Tuy nhiên, người nông dân với đặc tính vừa tận dụng thời gian nhàn  
nông để phát triển các nghề thủ công truyền thống. Vì vậy, tại các vùng đồng bằng còn xuất  
hiện rất nhiều làng nghề nổi tiếng như: làng Sình (thôn Lại Ân, xã Phú Mậu, huyện Phú Vang)  
vẽ tranh dân gian, làng Thanh Tiên (xã Phú Mậu, huyện Phú Vang) làm hoa giấy, làng Phước  
Tích (xã Phong Hòa, huyện Phong Điền) làm đồ gốm,… Như vậy, môi trường sông nước từ các  
hệ sinh thái vừa tác nhân duy trì sự sống, tạo dựng hoạt động sinh kế cho người dân nhưng  
cũng là yếu tố chính làm nên nét đặc trưng văn hóa Huế  
Gắn liền với vùng sông nước, cư dân nghề cá, đặc biệt là đánh bắt thủy hải sản gần, xa  
bờ cũng vất vả, nhọc nhằn không kém người nông dân, đôi khi là còn nguy hiểm đến tính  
mạng con người. Phương tiện di chuyển chủ yếu là ghe nan, thuyền gỗ với ngư cụ cũng chỉ  
là những sản phẩm thủ công hết sức thô sơ. Sóng gió ngoài biển lại bất thường, phương tiện  
kĩ thuật thời trước dự báo lại không chính xác nên chỉ có kinh nghiệm dân gian giúp họ tránh  
khỏi những hiểm nguy nơi biển cả. Vì thế, người dân còn tin tưởng vào sự cầu cúng chân  
thành với thần biển, thần Cá Ông và chư thần miền thủy giới cứu giúp. Mặc dù, ngày nay  
những dự báo thời tiết khá chính xác từ các phương tiện thông tin đại chúng nhưng trong  
tâm thức của ngư dân họ vẫn có niềm tin tâm linh từ việc tổ chức hoạt động cầu ngư, thờ Cá  
Ông, lễ hạ thủy (lễ cúng thuyền mới), lễ cúng tết thuyền và ngư cụ, … vào các dịp hàng năm  
(Hồ Đăng Thanh Ngọc, 2020, tr. 93-94).  
Đối với cư dân vạn đò, khác với cộng động cư dân trên đất liền, cuộc sống của họ lênh  
đênh trên mặt nước và phụ thuộc nhiều vào tự nhiên nên trong đời sống của họ có nhiều  
kiêng kỵ: “Khi gió bão, làm ăn không thuận lợi, cư dân sửa soạn đĩa hoa quả và thắp nhang  
lên bàn thờ tổ tiên, bàn thờ thủy thần để cầu mong Bà Thủy phù hồ cho tai qua nạn khỏi, gặp  
nhiều may mắn; Không được gọi tên các thần linh một cách vô cớ, như con rái cá thì người ta  
gọi là Ông Rái; Kiêng người lạ lên thuyền, trên thuyền không được bước qua dây, ngư cụ đánh  
bắt cá như khai thác cát sạn; Kiêng phụ nữ mang thai lên thuyền, hay thăm người phụ nữ vừa  
mới sinh con hay hư thai lên thuyền vì lo sợ những điều không may mắn, bất trắc trong quá  
trình làm nghề (Nguyễn Mạnh Hà, 2019, tr. 219).  
Cũng giống như các ngư dân, người nông dân tại các vùng đồng bằng ngoài việc dựa  
vào kinh nghiệm để tạo mùa màng bội thu thì họ còn nhờ vào yếu tố tâm linh. Ngoài việc thờ  
các vị thần bảo trợ nông nghiệp như: Thần Nông, Viêm Đế, Thổ cốc chi thần, Tả Xã hữu Tắc tôn  
thần, Hậu Tắc Câu Mang tôn thần, Chủ thủy hạn tôn thần, Chủ lôi công, Điện mẫu tôn thần,  
Chủ Phong bá, Vũ sư tông thần, Chủ hoàng trùng, Tước thủ tôn thần, Chủ ngũ sắc minh trùng  
tôn thần, Ngũ phương điền trang, thiên mạch, câu hác chư xứ thần kỳ; người dân còn tôn thờ  
các vị thần cai quản miền sông nước như Long cung Quảng Vận đại vương, Đại Càn quốc gia  
Nam hải tứ vị thánh nương, Đại Càn quốc gia Nam hải lang thát nhị đại tướng quân, Nam hải  
cự tộc ngọc lân tôn thần, Thủy tinh Long nữ chân tiên,… (Trần Đại Vinh, 1995, tr. 111-112).  
Như vậy, trong diễn trình hình thành và phát triển văn hóa Huế, yếu tố sông nước có  
vai trò quan trọng không những ảnh hưởng đối với vùng đồng bằng mà còn vùng ven biển.  
Chính yếu tố sông nước đã tạo ra chất kết dính giữa con người với thế giới tự nhiên được bền  
chặt, từ đó, thúc đẩy ý thức giáo dục bảo vệ môi trường nước khi mà vấn đề biến đổi khí hậu,  
ô nhiễm môi trường đang là vấn đề cần giải quyết cấp bách trong giai đoạn hiện nay.  
69  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 06 (74) - 2021  
3. Dấu ấn sông nước trong tín ngưỡng thờ mẫu xứ Huế  
3.1. Cõi Thủy phủ và hệ thống thần linh  
Khác với tín ngưỡng thờ Mẫu ở miền Bắc tuy cũng được gọi là Tứ phủ, nhưng quan niệm  
về bốn cõi lại khác với miền Trung. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, khởi đầu, loại hình tín  
ngưỡng này được gọi là Tam phủ (Thiên phủ, Địa phủ, Thủy phủ), về sau có thêm Nhạc phủ  
và tương ứng với mỗi phủ lại có một vị Thánh Mẫu cai quản (1) Nhưng do quan niệm Mẫu  
Địa đồng nhất với Mẫu Liễu Hạnh hay Mẫu Liễu Hạnh đồng nhất với Mẫu Thượng Thiên để từ  
Tứ phủ - tín ngưỡng này lại trở thành Tam phủ (Nguyễn Hữu Thông, 2001: 108). Như vậy, tín  
ngưỡng thờ Mẫu ở Huế hay còn được gọi là Đạo Tứ phủ bởi trên trục của không gian bốn cõi  
theo quan niệm của tín đồ đó là: Thượng Thiên, Trung Thiên, Thượng Ngàn và Thủy Phủ. “Tiên,  
thánh, thần bốn cõi đó đều liên kết nhau chi phối cõi người. Mỗi cõi đều có quyền lực như một triều  
đình: có đế vương, có thánh mẫu, có chư tiên, có các hoàng tử, công chúa, có khâm sai, giám sát,  
các vị quận chầu, cô chầu (triều quận, triều cô), có quan quan võ, như ngũ lôi, linh quan, ngũ hổ  
đại tướng, và âm binh bộ hạ”(Trần Đại Vinh, 2017, tr. 8).  
Trong cấu trúc điện thờ, ban thờ Thủy phủ thường được thiết kế nằm dưới hoặc nằm  
riêng với ban thờ Trung Thiên và đối diện với Hội đồng Thiên triều. Ở một số đền, điện, am,  
cảnh ở Huế, ban thờ Thủy phủ có khi được thiết lập ở một nơi riêng, có quy mô lớn như ban  
thờ Hội đồng Thủy phủ tại điện Huệ Nam, ban thờ Thánh Mẫu Thủy Cung và Nhị vị Quan Lớn  
cai quản miền sông nước ở Điện Mẹ Nằm (Sơn Chúa điện),…  
Xét theo văn sớ cầu cúng của tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ ở Huế, hệ thống thần điện cõi  
Thủy phủ được phân lập như sau:  
- Thủy phủ chúa Động Đình Bắc Hải Đế Quân (Vua Cha Bát Hải Động Đình).  
- Thủy phủ Long Cung Thánh Mẫu.  
- Đệ Tứ Đức Chầu Khâm Sai Thánh Bà.  
- Thủy giới Long Cung chư vị thánh bà.  
- Tam vị Phụ quốc Trạng nguyên tôn ông.  
- Thập vị thủy tế tôn ông (cũng gọi 10 ông Hoàng).  
- Ngũ phủ ngũ vị Xích lân hoàng tử.  
- Ngũ phương duyên lộ Hà Bá thủy quan.  
- Bạch Ngọc hồ trung Thủy Tinh công chúa (Cô Ba Thủy phủ) (Trần Đại Vinh, 2017, tr. 10).  
3.2. Đạo giáo và nghi lễ liên quan đến cõi thủy phủ  
Sự tiếp nhận các vì thần, các phương thuật cầu cúng, hành lễ của đạo sĩ, pháp sư như  
lên đồng, trị bệnh bằng bùa chú trong Đạo giáo, cũng là quá trình bản địa hóa tín ngưỡng thờ  
Mẫu, trong đó“lễ Thành”là minh chứng cụ thể. Về nguồn gốc nghi lễ, hiện có nhiều quan điểm  
đánh giá khác nhau, điều này có thể tiếp cận ở góc độ từ Đạo giáo là có nguồn gốc từ một điển  
tích xuất phát từ Trung Quốc mà cụ thể là trong Đạo giáo. Theo quan niệm của Đạo giáo cho  
rằng sinh mệnh người phụ nữ do hai yếu tố cơ bản chi phối: căn và mạng. Mạng do Thiên tào  
quyết định, nhưng căn lại cho Thủy phủ tác động.  
Lí giải nguyên nhân vì sao chỉ người phụ nữ cúng “lễ Thánh”, tác giả đã có sự khảo sát  
một số văn bản hát văn và một số lời kể của các cung văn, đồng đền như sau: Vào khoảng thế  
kỉ XIII, ở tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc, một người lái buôn tên là Nguyễn Bá Quang vốn có một  
người vợ trẻ đẹp. Một hoàng tử ở Thủy giới vì mến sắc đẹp và tính nết của người này nên đã  
hóa thân thành một chàng trai khôi ngô, tuấn tú dan díu với người đàn bà này, rồi hạ sinh một  
70  
Nguyễn Hữu Phúc  
người con trai, đặt tên là Nguyễn Bá Linh. Lớn lên, Linh làm nghề phù thủy, nhưng lại có tính  
dâm tà. Khi giặc Nguyên – Mông sang xâm lược nước ta, y đã theo sang nước ta và dùng tà  
thuật bắt người phụ nữ và quấy phá. Trần Hưng Đạo sau khi bắt được Linh đã chém và ném  
xác xuống sông. Linh hồn Linh trở về Thủy giới, cầu khẩn vua cha. Long vương thương con,  
dùng phép thuật biến Linh thành ba con quỷ dữ, cho trở lại quấy phá dân Việt, chuyên trêu  
ghẹo đàn bà, con gái. Đó là ba con tà Phạm Nhan, Phạm Điệt và Phạm Nghinh. Nên cứ ba năm  
một lần, họ phải cúng “lễ Thành”để cầu được sự bình an trong cuộc sống.  
Khi Nguyễn Bá Linh bị chặt và ném xuống sông, có một vợ chồng già sống bằng nghề  
chài lưới đã vớt được xác lên bờ và làm lễ mai táng. Để nhớ công ơn của họ, sau khi về Thủy  
giới, Nguyễn Bá Linh đã cầu xin Long vương cho họ thành tiên và chở mọi lễ vật của trần gian  
về nạp kho thủy giới. Từ đó, trong “lễ Thành” đều có hầu đồng Quan Đốc Binh về nạp kho (2).  
Tuy nhiên, đây chưa thể xem điển tích Phạm Nhan là nguồn gốc của lễ “Thành” mà nói đúng  
hơn đây là cách nhằm hợp thức hóa vai trò của Đạo giáo đối với tín ngưỡng này.  
Nhìn từ góc độ tâm lí học, đây là nghi lễ nhằm cầu sự bình an, che chở đối với những  
người phụ nữ. Ban đầu, nghi lễ này xuất phát từ những cư dân vạn đò, làm nghề chài lưới và  
sống lênh đênh trên sông nước, luôn đối diện với sự nguy hiểm do đuối nước. Với sức khỏe  
dẻo dai, người đàn ông thường đảm trách công việc chèo lái, còn người phụ nữ yếu đuối hơn  
nên thường gánh vát những công việc nội trợ, chăm sóc gia đình, do đó, họ thường trực trong  
mình tâm lí sợ hãi trên sông nước. Vì lẽ đó, mà họ thường xuyên phải dâng cúng các vị thần  
sông và phải thế các hình nhân xuống nước để giữ tính mạng mình (phần này có thể gọi là lễ  
chuộc mạng). Dần dần, nghi lễ này lan rộng và được nhiều người khác tiếp nhận và nâng tầm  
thành một nghi lễ trang trọng được thực hiện trong các đền, phủ thờ Mẫu và được biết đến  
với tên gọi là lễ Thành. Chữ Thành có nghĩa là sự thành tâm cầu nguyện để được bình an và  
đôi khi cũng được gọi là “Thành căn”cũng mang ý nghĩa tương tự như vậy.  
Cũng theo sự lí giải từ các tín đồ của Thánh Mẫu, Quan Đệ Tam Thủy Phủ là người được  
nhận lệnh của Vua Mẫu để cai quản, giám sát, điều hành mọi công việc ở Thủy giới, nên Ngài  
có nhiệm vụ nhận phần lễ Thành. Trong văn chầu Quan Đệ Tam Thủy phủ có đoạn sau:  
“Dù ai vương lấy bóng Ngài,  
Năm ba sắc mặt, mỗi ngày đổi thay.  
Bệnh làm khi tỉnh khi say,  
Khi nói càng, khi nói khôn ngoan.  
Biết ra mà chẳng đảo cầu,  
Lo bề thang thuốc, bệnh đau có lành.  
Và nếu biết cúng lễ Thành, người phụ nữ sẽ được:  
“Phép nhiệm màu, ông ban đôi chén,  
Tấm thần phù, Ông chuyển phép linh.  
Uống vào bệnh nặng khương ninh,  
Mỹ lan thanh chước, đành rằng dâng lên”  
(Văn Quan lớn Đệ Tam Thủy Phủ)  
4. Dấu ấn sông nước trong nghi lễ Thành  
4.1. Về lễ vật cúng  
Phần vật cúng: ngoài vật dâng cúng trái cây, hoa, thì còn có một con gà được luộc chín,  
bát xôi đặt trên bàn thượng (bàn trên), 12 chiếc nem và trứng (3), 4 con cua (3 con chín, 1 con  
71  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 06 (74) - 2021  
còn sống), 12 miếng cau trầu, một cái giò heo được luộc chín và mâm cơm, cùng áo cháo, gạo  
muối dâng cúng chư vị âm binh, các quan được đặt ở bàn hạ (bàn dưới). Một vật lễ không thể  
thiếu cho“lễ Thánh”đó là những chén suôn với ý nghĩa là luôn được suôn sẻ, thành công mọi  
việc, món này được nấu từ thịt và có thêm những sợi bún.  
Phần đồ mã (đồ giấy): 3 con hình nhân (1 con được cúng để chuộc mạng tại ngã ba  
sông và 2 con được cúng tại bàn lễ Thành), các tờ tranh sính lễ (bộ Thành lệ) như: Tam tầng  
lâu, Cửu Trùng Đài, 1 tờ tranh lốt chúa Thủy phủ, tranh lốt 5 vị hoàng tử, tranh lốt 3 vị Phạm  
Nhan, Phạm Điệt và Phạm Nghinh, 8 tranh thờ Bát âm, 1 giá bổn mạng, 1 tranh voi ngựa, nhà  
cửa thuyền bè và tranh ông Đốc chèo thuyền. Tất cả sau khi cúng phải thêu hóa để gửi về Thủy  
phủ. Ngày nay, nhiều người có điều kiện, họ không cúng bằng tranh vẽ nữa mà thay vào đó là  
các đồ mã được mô phỏng như dạng thật.  
Vì nghi lễ “Thành” cúng về cõi Thủy Phủ, nên họ sẽ dâng cúng các chiếc thuyền tương  
ứng với các vị Thánh ở cõi này như sau: Ngự Châu (đầu thuyền là hình rồng, xung quanh  
thuyền có treo các cờ lệnh, kết hoa, trên thuyền còn có trống và chiên) sẽ dâng cúng Hội  
đồng Tứ phủ (do Quan Lớn Đệ Nhị Thượng Thiên chứng); Phụng Châu (đầu thuyền là hình con  
phụng, xung quanh cũng được kết hoa, treo cờ lệnh, lọng) sẽ dâng cúng Mẫu Thủy Cung (nếu  
tiểu lễ thì Thánh Bà Đệ Tứ Thủy Cung về nhận, còn đại lễ sẽ do Đức Từ Dụ Tiên Nương chứng);  
Long Châu có hình dạng giống như Ngự Châu nhưng kích thước nhỏ hơn được dâng cúng  
Ngà Đệ Tam Thủy Phủ (trường hợp tiểu lễ thì Đệ Tam Thủy Phủ về nhận, còn đại lễ sẽ do Thái  
Tử Đông Cung về chứng). Và chiếc Bồng Câu sẽ dâng cúng cho Quan Đệ Tam Thủy phủ. Ngoài  
ra còn có thuyền của Ông Đốc Binh về chở lễ Thành để nạp kho Thủy phủ, Thuyền của 12 Cậu  
Ngoại, thuyền của 12 Cô Ngoại (4).  
Hình 1. Hình ảnh thuyền Quan Đốc Binh (Bên trái) và chiếc Phụng châu (bên phải)  
Nguồn: Ảnh chụp ngày 3/4/2021, tại Sơn Cảnh Điện  
4.2. Về thực hành nghi lễ  
Thông thường, “lễ Thành” được thực hiện tại các ngôi điện, phủ, am, cảnh thờ Thánh  
Mẫu và Chư vị, có khi sẽ cúng trên những chiếc thuyền rồng nhưng trong thuyền được thiết  
trí các ban thờ như một ngôi đền thờ Mẫu. Hằng năm, cúng “lễ Thành” thường được tổ chức  
vào dịp đầu năm, tháng 2 (vì đây là tháng tiệc của Thánh Mẫu Thủy Cung – ngày 21-22 tháng 2  
âm lịch) hoặc tháng 6 (tháng này cũng được xem là tháng tiệc Thủy phủ, vì Đản nhật của Quan  
lớn Đệ Tam Thủy phủ là ngày 24 tháng 6 âm lịch) (5).  
72  
Nguyễn Hữu Phúc  
Hình 2. Hình ảnh bàn cũng lễ Thành và giá bổn mạng.  
Nguồn: Ảnh chụp ngày 6/4/2021, tại Phước Tâm Cảnh Điện  
4.3. Về quy trình cuộc lễ  
Qua quá trình khảo sát tại một số đền, điện, am, cảnh ở Huế, “lễ Thành” được tổ chức  
theo đúng quy trình như sau:  
- Lễ cúng Chuộc mạng (lễ Thục mạng): là lễ cúng được tổ chức tại ngã ba sông nhằm  
thế mạng một nữ hình nhân xuống sông nhằm thế mạng cho Thủy giới. Có thể nói, lễ cúng  
chuộc mạng hay lễ thục mạng là nghi lễ mang đậm đấu ấn văn hóa sông nước hết sức rõ nét,  
thể hiện sự mong cầu bình an đối với yếu tố Thủy. Người ta quan niệm rằng, nếu thế thẩm một  
hình nhân xuống sông nước thì mạng sống của con người sẽ được kéo dài, do đó thần thủy  
sẽ không phải bắt bớ họ. Do đó, một lễ vật không thể thiếu trong lễ cúng này đó là một hình  
nhân nữ mang áo màu xanh để họ thả xuống sông nước. Lễ này thường cúng trước một ngày  
trên thuyền, có thả phóng sanh các loại cá, ốc xuống nước và thả đèn hoa đăng.  
- Lễ khai kinh và bạch cáo với Hội đồng Tứ phủ và tuyên đọc chúc văn (sớ) lên chư vị để  
cầu nguyện.  
- Cúng lễ Thành và khai quan điểm nhãn các hình nhân. Hai phần lễ này do các pháp sư  
hoặc sư thầy thực hiện.  
- Ban cung văn cung tiến văn cúng Hội đồng.  
- Hầu đồng chứng lễ  
Sau những nghi lễ trên, chủ lễ (Đồng đền, Thủ am) sẽ cung thỉnh chư Tiên Thánh về  
chứng minh thông qua hoạt động “Lên đồng”/Hầu Thánh. Trình tự một giá đồng có thể chia  
thành các bước: Thánh giáng, nhập đồng thông qua việc “xoay khăn” phủ diện, sau khi đã  
được thánh nhập thì thanh đồng sẽ làm lễ bái và dâng cau trầu trước điện thần Tứ phủ. Tiếp  
theo, thanh đồng sẽ“múa đồng”mà người Huế gọi là“làm việc quan”với nhiều điệu múa như  
múa kiếm, múa thanh long đao, múa cặp song chùy, múa hèo của các nam thần, quan lớn;  
múa quạt, múa mồi, múa hoa, chèo thuyền,… rất mền mại, duyên dáng của các Thánh Bà, các  
Tiên Cô. Tùy theo sự hóa thân các vị thần mà người hầu đồng sẽ thực hiện các động tác múa  
cho phù hợp. Sau khi đã múa đồng xong, thanh đồng nhập vai đó sẽ uống rượu, uống nước  
suối, ăn cau trầu và phát lộc cho những người đến dự tiệc Thánh. Riêng đối với nghi thức hầu  
chứng đàn, thanh đồng sẽ thực hiện thêm phần việc chứng sớ điệp, ban bố các lệnh điệp treo  
ở các ban thờ, ký nhận đồ mã dâng lên. Kết thúc mỗi giá đồng thì người hầu đồng sẽ phủ lại  
khăn phủ diện, lúc này người cung văn sẽ hát“xe loan thánh giá hồi cung”(Nguyễn Hữu Phúc,  
2020, tr. 10-11).  
73  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 06 (74) - 2021  
Điểm khác biệt so với hầu đồng theo nghi thức Tam phủ ở miền Bắc là trong quá trình  
thực hiện lên đồng, thanh đồng phải đứng để xoay khăn phủ điện (vì hầu theo lối thiên tiên),  
thanh đồng phải mang trang phục hầu Thánh rồi mới được vào sân chầu, chứ không được  
phép thay áo, mặc áo, đóng khăn trước ban Công đồng, vì cho rằng sẽ mất đi tính trang  
nghiêm và lỗi phép Thánh.  
Hầu“lễ Thành”, thanh đồng sẽ thực hiện các giá đồng như sau: đầu tiên là thỉnh mời Ngài  
Thủ Điện hoặc Thủ Đền (Vị Thánh quản lí đền) lên kiểm tra, giám sát cuộc lễ để chuẩn bị cho  
các tôn giá lớn về chứng giám. Sau đó, chủ lễ sẽ mời Quan lớn Đệ Nhị Thượng Thiên, trong  
trang phục áo gấm vàng thêu hình rồng nỗi, tay áo rộng kiểu lễ phục Thiên triều, hia đỏ mũi  
nhọn, tay cầm thanh long đao. Khi Ngài về đồng sẽ làm phép tẩy uế và chứng sớ Hội đồng. Giá  
đồng thứ ba mà chủ lễ sẽ thỉnh là Quan Đệ Tam Giám Sát Thượng Thiên kiêm tri Tam phủ. Ngài  
là một võ tướng và quan tiên phong trong tín ngưỡng thờ Mẫu, được Vua Mẫu ban tặng dây  
thần thông ba thước. Lễ phục của Ngài cũng giống như Quan Đệ Nhị Thượng Thiên chỉ khác là  
sắc phục màu đỏ. Dây thần thông được vắt chéo từ cổ xuống, tay cầm thanh long đao đầy oai  
phong, uy nghi. Nhiệm vụ của Ngài là về giám sát, trấn và phát binh để mọi việc trong buổi lễ  
được diễn ra một cách thuận lợi. Tiếp theo là Bà Tam Động Hỏa Phong Thần Nữ sẽ soi sáng bản  
đền và chứng sớ Trung Thiên. Sắc phục của Thánh Bà là áo dài đỏ được thêu hình phụng nổi,  
cổ đeo chuỗi hạt ngọc. Lúc Bà ngự đồng tay cầm bó đuốc tượng trưng cho ánh sáng, nghĩa là  
soi sáng. Mặc dù là những vị Thánh này không thuộc cõi Thủy phủ nhưng trong nghi lễ Thành  
bắt buộc phải cung rước, bởi vì, đây là các vị Thánh đại diện của Hội đồng Thiên triều về chứng  
lễ, nếu nghi lễ nào mà thiếu họ thì coi như chưa có chứng minh của Mẫu, hội đồng Thiên triều.  
Vì đây là lễ dâng cúng các vị thần linh ở cõi Thủy phủ, nên các vị Thánh thuộc cõi Thủy  
phủ mới được nhận lễ (thông thường là các y phục, các chiếc thuyền bằng đồ mã). Trong tất cả  
các vị Thánh trong hệ thống linh Tứ phủ, chỉ có Thánh Bà Đệ Tứ Thủy Cung, Quan Đệ Tam Thủy  
Phủ và Quan Đốc Binh là những vị Thánh thuộc cõi Thủy phủ lên chứng và nhận lễ của người  
phụ nữ trong lễ Thành. Đại diện cho cõi Thủy lên giúp người phụ nữ có được sự bình an, sức  
khỏe là Thánh Bà Đệ Tứ Thủy Cung đây là vị Thánh Bà cai quản miền Thủy giới, khi về đồng Bà  
mang áo dài vàng có thêu phụng nổi. Bà về sẽ xoay chuyển giá bổn mạng (6) cho người phụ  
nữ, chải tóc, ban nước phép cho người phụ nữ. Vì mang tính chất cầu an, nên người tham gia  
không có sự phân biệt là đã làm tôi cửa Thánh (7) hay là một tín đồ của một tôn giáo nào khác.  
Nếu đã làm tôi phụng sự Thánh thì khi chuyển giá bổn mạng họ chỉ đặt cái giá trên lòng bàn  
tay, còn người nào mà chưa làm tôi thì sẽ đội giá bổn mạng ở trên đầu.  
Một giá đồng không thể thiếu trong buổi lễ Thành là Quan Đệ Tam Thủy phủ, khi về  
đồng Quan mang sắc phục áo vàng hoặc xanh ngọc thêu rồng, tay cầm cặp song chùy, vô  
cùng oanh liệt. Vì là Người cai quản các người phụ nữ, nên “lễ Thành” mà không được Quan  
chứng giám, coi như lễ bất thành. Sau cùng là giá ông Đốc Binh, trong trang phục áo the hoặc  
chữ Thọ, được thừa lệnh của Quan Đệ Tam Thủy phủ thu nạp và chở lễ vật nạp kho. Sau phần  
đồng đền/thủ am hầu lễ“chứng đàn”, người phụ nữ dâng cũng sẽ thực hiện nghi lễ hầu đồng  
để tạ ơn Thánh đã phù hộ, nghi lễ này được gọi là“hầu vui”. Trình tự các giá hầu vui cũng giống  
như hầu chứng đàn, chỉ không có giá Quan Đốc Binh và không thực hiện các phần lễ như  
người chứng đàn thực hiện và quy trình hầu vui được thực hiện bắt đầu là các Thánh thuộc  
hàng Thánh Bà, sau đó mới đến Quan lớn, Ông Hoàng, các Cậu, các Cô,…  
Trong quá trình thực hiện nghi lễ lên đồng thì vai trò của hát văn là rất quan trọng, giúp  
người hầu đồng đạt đến sự thăng hoa và sáng tạo trong các điệu múa bóng. Âm nhạc trong  
hát văn gắn liền với thể loại âm nhạc thính phòng, có sự quy định nghiêm ngặt về cách thức  
74  
Nguyễn Hữu Phúc  
trình diễn, về cấu trúc, về kĩ thuật thanh nhạc. Với tín ngưỡng thờ Mẫu ở Huế, văn chầu hay  
được gọi là kinh văn, với ý nghĩa rằng đây là lời kinh răn dạy của Thánh Mẫu. “Cách gọi đó đã  
bao hàm một ý niệm đầy tôn trọng, đầy thành kính với văn chầu, khi đó, văn chầu không còn là  
những bản văn để nói về chư tiên liệt thánh mà đã trở thành lời kinh – kinh văn thật sự” (Nguyễn  
Đình Đính, 2018, tr. 69).  
Hình 3. Hình ảnh Bà Đệ Tứ Thủy Cung chuyển giá bổn mạng cho người phụ nữ (bên trái)  
và Quan Đốc Binh về nhận lễ (bên phải)  
Nguồn: Ảnh chụp ngày 6/4/2021, tại Phước Tâm Cảnh Điện  
5. Kết luận  
Trong quan niệm của tín đồ thờ Mẫu ở Huế, cõi Thủy phủ đóng vai trò quan trọng trong  
hệ thống Tứ phủ. Từ khi tục thờ Mẫu từ đất Bắc lan truyền đến vùng đất Cố đô, tín ngưỡng này  
đã có sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn với Đạo giáo, trong đó yếu tố Thủy có vai trò quan  
trọng vì liên quan đến đặc điểm sinh kế, đời sống của cư dân. Có thể nói, thông qua phương  
thức cầu cúng, hầu đồng của các thầy phù thủy được thực hiện qua “lễ Thành” đã phần nào  
thể hiện vai trò yếu tố sông nước đến sự sống của con người, đặc biệt là giới nữ.  
“Lễ Thành” là một trong những nghi lễ mang đậm dấu ấn và bản sắc văn hóa Huế, tuy  
là một nghi lễ trong tín ngưỡng truyền thống ở Huế nhưng lại có khuynh hướng lan rộng ra ở  
một số tỉnh miền Trung, với mục đích cầu bình an cho người phụ nữ. Trải qua thời gian, những  
bản sắc cùng giá trị văn hóa độc đáo của nghi“lễ Thành”đã góp phần tạo nên sự đa dạng cho  
bức tranh thờ Mẫu ở Huế. Đồng thời, hướng đến ý thức trân trọng, bảo vệ môi trường nước,  
môi trường sinh thái của cộng đồng cư dân. Từ đó, thế hệ trẻ những người theo tín ngưỡng  
thờ Mẫu phải có trách nhiệm trong việc giữ gìn, bảo tồn và phát huy những giá trị truyền  
thống mà thế hệ bao đời đã dày công xây dựng để ngày hôm nay trở thành một niềm tự hào  
đối với Huế - thành phố di sản.  
Chú thích:  
(1) Mẫu Thượng Thiên (Mẫu Đệ Nhất cai quản miền trời), Mẫu Thượng Ngàn (Mẫu Đệ Nhị  
cai quản miền núi, Mẫu Thoải (Mẫu Đệ Tam cai quản miền sông nước) và Mẫu Địa (Mẫu Đệ Tứ  
cai quản miền đất đai).  
(2). Phỏng vấn cung văn Hùng tại điện Huệ Nam, ngày 13/4/2021.  
(3) Nếu là lần đầu tiên người phụ nữ cúng lễ Thành, họ phải xin vía. Vì thế, dưới con gà  
mái ở bàn thượng người ta sẽ để 3 quả trứng sống, 5 quả trứng chín (tam sanh ngữ tử).  
75  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 06 (74) - 2021  
(4) Phỏng vấn đồng Na tại điện Huệ Nam, ngày 20/4/2021.  
(5) Phỏng vấn đồng Thành tại đền Sơn Cảnh điện, ngày 25/5/2021.  
(6) Giá Bổn mạng là một vật có hình dạng như một ngôi bảo tháp ba tầng, có cổng tam  
quan. Giá Bổn mạng là vật thiêng đại diện cõi Thủy phủ.  
(7) Những người có căn theo hầu Thành sẽ phải làm lễ Trình Đồng lễ Quy Y Thánh Mẫu),  
họ được gọi là thanh đồng.  
Tài liệu tham khảo  
Nguyễn Đình Đính (2018). “Dấu ấn tư tưởng Phật giáo trong 2 bản văn “Tam bảo” và  
“Hội đồng”của tín ngưỡng thờ Mẫu ở Huế”. In trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Phật giáo với tín  
ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam, Sóc Sơn.  
Nguyễn Mạnh Hà (2019). “Tín ngưỡng và tín ngưỡng thờ Bà Thủy: Bối cảnh thay đổi của  
cư dân vạn đò trên sông Hương (Huế, Việt Nam)”. In trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế: Văn  
hóa sông nước ở Đông Nam Á bảo tồn và phát triển. Nxb Đại học Cần Thơ.  
Hồ Đăng Thanh Ngọc (2020). “Phát triển du lịch trên cơ sở phát huy giá trị văn hóa và  
môi trường sinh thái Huế”. In trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa  
Huế trong tiến trình xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc trung ương, Thừa  
Thiên Huế.  
Nguyễn Hữu Phúc (2010). Văn bản chầu văn Huế. Bản chép tay, Huế.  
Nguyễn Hữu Phúc (2020). Nghi lễ Khai bàn trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Huế  
qua khảo sát tại điện Huệ Nam. Tạp chí Huế Xưa và Nay, số 157.  
Nguyễn Hữu Phúc (2020). “Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ phủ ở Huế - bản sắc và  
những vấn đề đặt ra trong bối cảnh hiện nay”. In trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Văn hóa Huế:  
Nhận diện giá trị bản sắc và hướng phát triển, Thừa Thiên Huế.  
Trần Đại Vinh (1995). Tín ngưỡng dân gian Huế. Nxb Thuận Hóa, Huế.  
Trần Đại Vinh (2017). Tín ngưỡng thờ Mẫu và Chư vị ở Thừa Thiên Huế. Tạp chí Nghiên cứu  
và Phát triển, số 1.  
Trần Quốc Vượng (2015). Việt Nam cái nhìn địa – văn hóa. Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.  
pdf 10 trang Thùy Anh 25060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Dấu ấn sông nước trong thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu ở Thừa Thiên Huế: Nghiên cứu trường hợp nghi lễ “Thành”", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdau_an_song_nuoc_trong_thuc_hanh_tin_nguong_tho_mau_o_thua_t.pdf