Thực phẩm chức năng - cơ hội và thách thức đối với thị trường và người tiêu dùng

THỰC PHẨM CHỨC NĂNG - CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC  
ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG VÀ NGƯỜI TIÊU DÙNG  
Nguyễn Thị Thanh Quyên, Võ Ngọc Lan Trinh,  
Bùi Thị Tuyết Nhung, Nguyễn Công Danh*  
Viện Khoa học Ứng dụng HUTECH, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh  
GVHD: ThS. Trần Thị Ngọc Mai  
TÓM TẮT  
Ngày nay, người tiêu dùng đã và đang nhận thức được rằng mối quan hệ giữa thực phẩm -  
sức khỏe ngày càng trở nên quan trọng. Thị trường thực phẩm ngày càng đa dạng và phong  
phú, thực phẩm chức năng cũng vì thế mà phát triển theo. Với nhiều chủng loại và chức  
năng khác nhau, thực phẩm chức năng đã và đăng thu hút được sự chú ý của người tiêu  
dùng về những khả năng dược lý của nó: hỗ trợ trị liệu bệnh tật, tăng cường sức khỏe,  
phòng bệnh… Tuy nhiên, ở Việt Nam, thị trường còn chưa phát triển rộng vì có một vấn đề  
lớn đó chính là người dân vẫn chưa hình dung và hiểu hết được ý nghĩa, khái niệm , cách  
sử dụng của thực phẩm chức năng song song đó vẫn còn một số bất cập khó khăn như giá  
thành, giá thành phổ cập kiến thức, cách thức sử dụng của chuyên gia còn cao, thực phẩm  
giả tràn lan làm mất lòng tin của người tiêu dùng và các thương hiệu sản phẩm  
Từ khóa: dược lý, thực phẩm, thực phẩm chức năng, thương hiệu, sức khỏe.  
1 TỔNG QUAN VỀ THỰC PHẨM CHỨC NĂNG VÀ SỰ BÙNG PHÁT THỊ TRƯỜNG  
1.1 Khái niệm về thực phẩm chức năng  
Theo Hiệp Hội Thực Phẩm Chức Năng, thực phẩm chức năng (TPCN) là các sản phẩm hỗ  
trợ các chức năng của các bộ phận trong cơ thể, có hoặc không có tác dụng dinh dưỡng,  
tạo cho cơ thể tình trạng thoải mái, tăng sức đề kháng, giảm nguy cơ và tác hại của bệnh  
tật. Tác dụng của TPCN là có khả năng cải thiện sực khỏe và làm giảm thiểu nguy cơ, tác  
hại của bệnh tật, bao gồm thực phẩm bổ sung, thực phẩm bảo vệ sức khỏe, thực phẩm dnh  
dưỡng y học. Nó không phải là trị liệu y học nhằm mục đích điều trị hay cứu chữa bệnh tật  
của con người. [1][2].  
1.2 Tổng quan về thị trường  
Từ năm 1999, TPCN từ các nước bắt đầu nhập khẩu chính thức vào Việt Nam. đồng thời,  
do có sẵn nguồn nguyên liệu, có lịch sử lâu đời nền y học cổ truyền, có sẵn dây truyền sản  
xuất thuốc và đội ngũ công nhân chuyên nghiệp và trào lưu phát triển TPCN trên thế giới,  
các công ty dược, các cơ sở sản xuất thuốc Y học cổ truyền bắt đầu chuyển sang sản xuất  
TPCN. Tính đến cuối năm 2012, gần như cả ngành dược Việt Nam đã lao vào lĩnh vực  
TPCN, với sự tham gia của 1,781 doanh nghiệp. Năm 2000, Việt Nam chỉ có 13 doanh  
540  
nghiệp đăng ký và đủ điều kiện sản xuất thực phẩm chức năng. Số sản phẩm được lưu  
hành trên thị trường cũng chỉ là 63 sản phẩm. Đến năm 2017, có tới gần 4.190 công ty đăng  
ký sản xuất kinh doanh TPCN. Số lượng sản phẩm được lưu hành cũng là một con số khổng  
lồ, lên tới hơn 10.930 sản phẩm. Đáng lưu ý là theo quy định của Nghị định 15/2018/NÐ-CP  
của Chính phủ, sau ngày 01/07/2019 tất cả các cơ sở sản xuất thực phẩm chức năng bắt  
buộc phải đạt tiêu chuẩn GMP. Tuy nhiên hiện nay chỉ có khoảng 200 nhà máy đã đạt tiêu  
chuẩn GMP. Đến năm 2019, lượng người sử dụng TPCN đã tăng lên chóng mặt. Tổng  
người sử dụng là hơn 20 triệu người, chiếm tới hơn 21% dân số Việt Nam. Đặc biệt, những  
người này phân bố ở khắp 63 tỉnh thành trên cả nước [12].  
Có thể thấy rằng, thị trường thực phẩm chức năng ở Việt Nam đang được mở rộng nhanh  
chóng với sức tăng trưởng đáng ngạc nhiên. Nó chính là một mảnh đất màu mỡ cần được  
khai thác một cách triệt để và hiệu quả. Từ đó, mang lại lợi ích cho người sử dụng cũng như  
góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của nước nhà  
Hình 1. Thực phẩm chức năng  
Hình 2. Số DN và sản phẩm TPCN đến 2017  
1.3 Nguyên nhân khiến thực phẩm chức năng bùng phát thị trường  
Đi cùng với sự phát triển của xã hội, người tiêu dùng ngày càng chú ý đến sức khỏe nhiều  
hơn vì thế ngành dược và thực phẩm càng được chú trọng và phát triển, song song đó thực  
phẩm chức năng cũng phát triển theo và bùng phát thị trường bởi những nguyên nhân khác  
nhau ảnh hưởng đến sự bùng phát này.  
Thứ 1, là bùng nổ các bệnh của xã hội công nghiệp và ô nhiễm môi trường. Ảnh hưởng  
đến tâm lý của người dân về vấn nạn ô nhiễm do công nghiệp gây ra làm ảnh hưởng đến  
sức khỏe.  
Thứ 2, người tiêu dùng dang hướng về một lối sống lành mạnh, quan tâm hơn đến việc sử  
dụng các chất có nguồn gốc tự nhiên thay vì sử dụng các chất tổng hợp để phòng bệnh và  
giảm thiểu tác hại của bệnh tật.  
Thứ 3, công chúng ngày càng quan tâm hơn đến mối liên hệ giữa thực phẩm, chế độ dinh  
dưỡng và sức khỏe để phòng và hạn chế bệnh tật.  
541  
Thứ 4, những kết quả nghiên cứu khoa học về lợi ích rau quả, ngũ cốc, các chất chống oxy  
hóa tự nhiện có tác dụng tốt cho sức khỏe được công bố đã ảnh hưởng rất lớn đến sự bùng  
phát thị trường  
1.4 Phân loại thực phẩm chức năng  
Hiện nay ở Việt Nam việc phân loại thực phẩm chức năng có 5 cách phân loại chủ yếu: theo  
phương thức chế biến; theo dạng sản phẩm; theo cách quản lý; theo tác dụng và một  
phương pháp phân loại tương đối đặc biệt áp dụng theo cách của người Nhật Bản.  
Bảng 1. phân loại thực phẩm chức năng ở Việt Nam [5][7][10]  
Phân loại  
Nhóm sản phẩm  
- Nhóm sản phẩm bổ sung vitamin (Vitamin C,E..).  
- Nhóm bổ sung khoáng chất (Ca, Mg, Zn, Fe…).  
- Nhóm bổ sung hoạt chất sinh học (DH ,EP …).  
- Nhóm sản phẩm chế biến từ thảo dược (linh chi, nhân sâm).  
Phương thức chế  
biến  
- Thực phẩm - thuốc (dạng viên, dạng nước, dạng bột, dạng trà,  
dạng rượu, dạng cao, dạng kẹo, dạng thực phẩm cho mục đích  
sử dụng đặc biệt).  
Dạng sản phẩm  
- Thức ăn - thuốc (cháo thuốc, món ăn thuốc, món ăn bổ dưỡng,  
canh thuốc, nước uống thuốc).  
- Không đăng ký chứng nhận mà chỉ cần có công bố của nhà sản  
xuất theo tiêu chuẩn do cơ quan thực phẩm ban hành (đối với các  
dòng sản phẩm thuốc nhóm Vitamin, khoáng chất).  
Cách quản lý  
Theo tác dụng  
Theo Nhật Bản  
- Đăng ký chứng nhận do Bộ Y tế cấp phép lưu thông (đối với các  
dòng sản phẩm còn lại).  
Cách phân loại này chia TPCN thành 26 dạng khác nhau: nhóm  
sản phẩm hỗ trợ chống lão hóa; hỗ trợ tiêu hóa; hỗ trợ giảm huyết  
áp; hỗ trợ giảm đái tháo đường; tăng cường sinh lực; bổ sung  
chất xơ; phòng ngừa rối loạn tuần hoàn não; hỗ trợ thần kinh; bổ  
dưỡng; tăng cường miễn dịch; giảm béo;…  
- Nhóm sản phẩm công bố về sức khỏe: thực phẩm dùng cho  
mục đích đặc biệt và nhóm sản phẩm cung cấp chất dinh dưỡng.  
- Nhóm sản phẩm đặc biệt: thực phẩm cho người ốm, sữa bột  
cho trẻ em, sữa bột cho phụ nữ có thai và cho con bú, thực phẩm  
cho người già nhai khó nuốt.  
542  
2 CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỰC PHẨM CHỨC  
NĂNG TẠI VIỆT NAM  
2.1 Cơ hội  
2.1.1 Nền dân trí ngày càng cao  
Việt Nam là quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, cùng với đời sống, dân trí ngày  
một nâng cao, thì người dân cũng ngày càng có ý thức nhiều hơn với sức khỏe của mình,  
việc nhìn nhận về nhu cầu bảo vệ và nâng cao sức khỏe được người dân từ đó cũng gia  
tăng. Bên cạnh việc ăn uống hàng ngày thì theo nhiều chuyên gia dinh dưỡng cho rằng nhu  
cầu bổ sung các thực phẩm chức năng giàu vitamin, chất khoáng tất yếu sẽ trở thành xu  
hướng tương lai; vì bên cạnh việc bổ sung các chất dinh dưỡng thì đây cũng là nguồn  
“vacxin” phòng những bệnh mạn tính không lây, giúp hỗ trợ chức năng các bộ phận trong cơ  
thể giúp nâng cao sức đề kháng giảm bớt các nguy cơ bệnh tật như chống lão hóa, chống  
viêm, kháng viêm…[9]  
2.1.2 Điều kiện thiên nhiên thuận lợi và được tạo tiền đề từ xa xư  
Với điều kiện tự nhiên “Rừng vàng, Biển bạc”, thiện nhiên Việt Nam được ưu ái với khí hậu  
gió mùa và sự da dạng về tự nhiên sinh học cao, có trên 3500 loài thực vật, 400 loài động  
vật, 75 loại khoáng vật và 50 loại rong tảo có khả năng làm thuốc (Bình Thuận, Khánh  
Hòa…), được kết hợp và vận dụng từ nên y học cổ truyền lâu đời làm cho thực phẩm chức  
năng ở Việt Nam có tiềm năng khai khác và phát triển rất lớn ở hiện tại và tương lai. Đặc  
biệt hơn, ứng dụng công nghiệp hóa hiện đại vào ngành sản xuất, ngành sinh học, thực  
phẩm đã cho ra đời rất nhiều sản phẩm chức năng có chất lượng tương đương với nước  
ngoài [8].  
2.1.3 Nhu cầu của người tiêu dùng đ ng  ăng theo chiều hư ng  ăng   ưởng  
Cuộc Cách mạng Công nghiệp 3.0 và 4.0 diễn ra, đã dẫn đến những thay đổi cơ bản trong  
đó có 4 yếu tố thay đổi đang đượ chú ý là: phương phức làm việc, lối sống và sinh hoạt, lối  
tiêu dùng thực phẩm (chủ yếu là thực phẩm chế biến), và thay đổi về môi trường. Từ đó làm  
thay đổi khả năng tiếp thu và sinh hoạt của cơ thể con người. Các bệnh mãn tính như tiểu  
đường, tim mạch, ung thư, tăng cân béo phì, bệnh hô hấp ngoài da, rối loạn tiêu hóa… cũng  
từ đó mà hình thành gây một số tác hại nhất định. Điều đáng nói, các bệnh này không thể  
chữa bằng vacxin mà cần thực hiện bằng cách bổ sung các dưỡng chất thiết yếu như  
vitamin, khoáng chất, các chất kháng oxy hóa có nguồn gốc từ tự nhiên. Thực phẩm chức  
năng (TPCN) không chỉ cung cấp dinh dưỡng cơ bản mà còn có chức năng phòng chống  
bệnh tật và tăng cường sức khỏe nhờ các chất chống ôxy hóa (beta-caroten, lycopen, lutein,  
vitamin C, vitamin E...), chất xơ và một số thành phần khác. Từ nguồn gốc bệnh mạn tính và  
lợi ích của TPCN có thể thấy, nhu cầu tiêu thụ TPCN ngày càng tăng cao theo sự phát triển  
của xã hội, những người dân thành thị có nhu cầu tiêu thụ cao hơn người dân nông thôn,  
những người lao động trí óc (như buôn bán kinh doanh, quản lý trong các lĩnh vực kinh tế,  
chính trị) sẽ có nhu cầu cao hơn người lao động chân tay, những người lớn tuổi hơn sẽ có  
nhu cầu tiêu thụ cao hơn người trẻ tuổi, nữ giới sẽ có nhu cầu cao hơn nam giới (do quan  
tâm về làm đẹp, sức khỏe bản thân và gia đình cao hơn) [1][3].  
543  
2.1.4 Nhận được sự tác động tích cực của xu hư ng thế gi i  
Người dân ở một số nước đang phát triển trên thế giới như Mỹ, Pháp, Nhật, Đức, Hà Lan,  
Hàn Quốc, Úc… thường xuyên sử dụng TPCN để phòng bệnh và giảm thiểu khả năng gây  
bệnh của các bênh tự phát như cảm, sốt…. Chính vì thế, thị trường TPCN ở Mỹ chiếm 35%,  
châu Âu 32%, Nhật Bản 25% và phần còn lại của các nước trên thế giới là 8%. Xu thế phát  
triển TPCN trên thế giới và khu vực ASEAN cũng tác động mạnh mẽ vào thị trường Việt  
Nam lẽ đương nhiên. Tính đến hiện tại thì có hơn 40 quốc gia xuất khẩu 5.518 sản phẩm  
thực phẩm chức năng vào thị trường Việt Nam. Trong đó các sản phẩm thực phẩm chức  
năng của Mỹ chiếm 18.15% thị phần TPCN ở Việt Nam, sau đó là Hàn Quốc, Úc, Trung  
Quốc, Pháp, Malaysia, Thái Lan, Canada, Đức… Điều này khúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế  
của nước nhà đồng thời góp phần vào việc cải thiện sức khỏe cho người dân Việt Nam  
[2][6].  
2.2 Thách thức  
2.2.1  gười tiêu dùng  hư  đủ nhận thức đầy đủ về thực phẩm chức năng  
Thách thức lớn nhất là người tiêu dùng chưa nhận thức đầy đủ về TPCN từ định nghĩa,  
phân loại, phân biệt đến tác dụng của TPCN. Không ít người còn quan niệm TPCN vô hại,  
“Không bổ âm thì bổ dương”, bởi họ cho rằng TPCN vừa là thuốc chữa bệnh vừa là thuốc bổ  
lý do là vì kiến thức về thực phẩm chức năng trong nền dân trí hiện tại còn hạn chế nên khả  
năng tiếp nhận và hiểu hết được nhửng lợi ích và ứng dụng của TPCN còn chưa được hiểu  
rõ phải cần có chuyên gia tư vấn và giải thích. Tuy nhiên, giá thành để tư vấn và hướng dẫn  
sử dụng thì lại tương đối cao đối với mặt chung về kinh tế của người dân [5].  
2.2.2 Sự hạn chế của pháp luật và tính dúng đắn trong quảng cáo còn sai lệch  
Ngoài ra quy định pháp luật về TPCN còn thiếu và chưa đầy đủ, đặc biệt là các tiêu chuẩn,  
quy chuẩn và các quy định quản lý. Việc lạch luật và quảng cáo còn sai sự thật, những thông  
tin chưa thật sự đúng về sản phẩm. Theo kết quả của Cục An toàn Thực phẩm cho thấy, cứ  
10 quảng cáo đã có giấy phép nhưng có 5 quảng cáo sai về nội dung so với công bố tiêu  
chuẩn 50% [4].  
2.2.3 Giá thành sản phẩm  ương đối cao  
Một trong những yếu tố quyết định đến khả năng mua hàng của người tiêu dùng là giá thành  
của sản phẩm. Thực phẩm chức năng có giá từ vài trăm ngàn đến vài triệu đồng, mức giá  
này khá cao so thu nhập bình quân hằng năm của người tiêu dùng. Bên cạnh đó, thực phẩm  
chức năng không phải thuốc nên không có tác dụng tức thì, người tiêu dùng phải sử dụng  
nhiều lần trong thời gian dài mới có tác dụng khiến chi phí TPCN tăng cao. Với mức giá  
TPCN như hiện nay, khả năng sử dụng TPCN nghiên về những hộ gia đình có thu nhập cao  
và tương đối ổn định còn những hộ thu nhập thấp thì điều này rất hạn chế [5][7].  
544  
Hình 3. Giá thành của một số thực phẩm chức năng hiện nay  
2.2.4 Sự cạnh tranh trên thị   ường  
Sự phát triển của TPCN chỉ mới được phát triển trong những năm gần đây, tuy nhiên số  
lượng sản phẩm lớn, chủng loại đa dạng nên người tiêu dùng vẫn chưa quen với những  
thương hiệu uy tín nên còn nhầm lẫn giữa các trang quảng cáo, thuật ngữ về TPCN. Nắm  
bắt được những hạn chế này và ưa thích sự khuyến mãi nên nhiều loại TPCN giả bắt đầu  
xuất hiện và tấn công vào thị trường với giá thành rẻ hơn và được tặng kèm nhiều quà tặng  
hơn khi sử dụng. Điều này khiến người tiêu dùng bâng khuâng khi chọn mua TPCN, có thái  
độ e dè, nghi ngờ về chất lượng sản phẩm và tính trung thực của các quảng cáo về tác dụng  
của sản phẩm [11].  
3 KẾT LUẬN  
Thị trường thực phẩm chức năng đang phát triển theo hướng tích cực, phát triển ở cả trong  
và ngoài nước với số lượng sản phẩm, doanh nghiệp nhà máy sản xuất ngày một tăng và  
đạt chuẩn của Bộ Y tế song song đó nhận thức của người tiêu dùng về mối liên hệ giữa thực  
phẩm - sức khỏe ngày càng được nâng cao. Đi cùng với những cơ hội thì những thách thức  
về nguồn dược phẩm này đáng lo ngại nhất chính là sự hiểu biết chưa tường tận về thực  
phẩm chức năng về định nghĩa, công dụng và cách thức sử dụng. Bên cạnh đó, giá thành  
sản phẩm khá cao cũng là một nhược điểm đối với nền kinh tế nước nhà.  
TÀI LIỆU KHAM KHẢO  
[1] Agriculture, Food and Rural Development. (2003). Functional foods. Alberta:  
Agriculture, Food and Rural Development.  
[2] Annunziata, A., & Vecchio, R. (2011). Functional foods development in the European  
market: a consumer perspective. Journal of Functional Foods, 3(3), 223-228.  
[3] Annunziata, A., & Vecchio, R. (2013). Consumer perception of functional foods: a  
conjoint analysis with probiotics. Food Quality and Preference, 28, 348-355.  
[4] Ballali, S., & Lanciai, F. (2012). Functional food and diabetes: a natural way in diabetes  
prevention? International Journal of Food Sciences and Nutrition, 63(1), 51-61.  
545  
[5] Food and Nutrition Board, Institute of Medicine, National Academy of Sciences. (1994).  
In P. R. Thomas, & R. Earl (Eds.), Opportunities in the nutrition and food sciences.  
Washington, DC: National Academy Press.  
[6] General Accounting Office. (2000). Improvements needed in overseeing the safety of  
dietary supplements and functional foods. Report to Congressional Committees.  
Washington DC: General Accounting Office.  
[7] Hollingsworth, P. (1999). Retargeting candy as a functional food. Food Technology,  
53(12), 30.  
[8] Steptoe, A., Pollard, T. M., & Wardle, J. (1995). Development of a measure of the  
motives underlying the selection of food: the food choice questionnaire. Appetite, 25(3),  
267-284.  
[9] Tammsaar, E. (2007). Estonian/Baltic functional food market. In Proceedings of the  
fourth international FFNet meeting on functional foods.  
[10] Verbeke, W. (2005). Consumer acceptance of functional foods: sociodemographic,  
cognitive and attitudinal determinants. Food Quality and Preference, 16(1), 45-57.  
[11] Wilson, T. (2001). Food and pharmaceuticals e industries on a collision course.  
Pharmaceutical Technology Europe, 13(10), 56-60.  
[12] Hiệp hội Thực phẩm Chức năng, http://vads.org.vn.  
546  
pdf 7 trang Thùy Anh 14520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thực phẩm chức năng - cơ hội và thách thức đối với thị trường và người tiêu dùng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthuc_pham_chuc_nang_co_hoi_va_thach_thuc_doi_voi_thi_truong.pdf