Ảnh hưởng của thái độ với sản phẩm thân thiện với môi trường đến sự sẵn sàng chi trả cho các sản phẩm thân thiện với môi trường của người tiêu dùng Hà Nội

ẢNH HƢỞNG CỦA THÁI ĐỘ VỚI SẢN PHẨM THÂN THIỆN VỚI  
M I TRƢỜNG ĐẾN SỰ S N SÀNG CHI TRẢ CHO CÁC SẢN PHẨM  
THÂN THIỆN VỚI M I TRƢỜNG CỦA NGƢỜI TIÊU DÙNG HÀ NỘI  
TS. Lê Thùy H  ng  
TS. Nguyễn Ngọc Quang  
TS. Đỗ Khắc H ởng  
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân  
TÓM TẮT  
Marketing xanh là một xu hướng mà toàn xã hội đang muốn thực hiện nhằm bảo vệ môi  
trường sống của chúng ta. Nghiên cứu này trình bày kết quả khảo sát về tác động của một số yếu tố  
được lựa chọn đối tới sự sẵn sàng chi trả cho túi đựng thân thiện với môi trường khi đi mua sắm.  
Với phương pháp nghiên cứu định lượng dựa trên 185 người được khảo sát, kết quả cho thấy: kiến  
thức sinh thái có tác động tích cực đến thái độ đối với các sản phẩm thân thiện với môi trường; sự  
quan tâm đến môi trường tác động tích cực đến thái độ đối với các sản phẩm thân thiện với môi  
trường và thái độ đối với các sản phẩm thân thiện với môi trường tác động tích cực đến sự sẵn sàng  
chi trả cho túi đựng thân thiện với môi trường của người tiêu dùng Hà Nội. Nghiên cứu giúp các  
doanh nghiệp thực hiện marketing xanh thúc đẩy sự sẵn sàng chi trả cho túi đựng thân thiện với môi  
trường khi đi mua sắm của người tiêu dùng.  
Từ khóa: marketing xanh, kiến thức sinh thái, sự quan tâm đến môi trường, sự s n sàng chi  
trả, thái độ.  
ABSTRACT  
Green marketing is a trend that businesses and the society pursue for protection our living  
environment. In an effort to promote the consumption of environmentally friendly products in  
Vietnam, this study presents survey results on the impact of selected factors on willingness to pay  
for eco-friendly bags when shopping. This research is done by quantitative methods. Data were  
collected from a total of 185 people. The results of this study show that: Ecological knowledge has  
a positive effect on attitudes towards environmentally friendly products, environmental concern has  
a positively affect on attitudes towards eco-friendly products and attitudes towards eco-friendly  
products positively impact the willingness to pay for eco-friendly shopping bags of Hanoi  
consumers. This research helps businesses implement green marketing to promote consumers'  
willingness to pay for eco-friendly shopping bags.  
Keywords: green marketing, ecological knowledge, environmental concern, willingness to  
pay, attitude.  
1. GIỚI THIỆU  
Một số yếu tố đáng chú ý như biến đổi khí hậu, phát sinh chất thải, ô nhiễm không khí và  
thiên tai đã làm thay đổi đáng kể hệ sinh thái thế giới, từ đó tác động đến tất cả các sinh vật sống,  
cùng với nền kinh tế và xã hội của con người (Mai Chum và cộng sự, 2016). Sự tăng trưởng nhanh  
chóng của các nền kinh tế toàn cầu là nguyên nhân dẫn đến xu hướng ngày càng phát triển của chủ  
nghĩa tiêu dùng trên toàn thế giới, gây ra việc sử dụng quá mức tài nguyên thiên nhiên, dẫn đến suy  
thoái môi trường nghiêm trọng (Mai Chum và cộng sự, 2016; Mei, O.J, và cộng sự, 2012). Trong  
499  
bối cảnh Việt Nam, nơi có quy mô dân số cao, cùng với việc tăng tốc độ công nghiệp hóa và đô thị  
hóa, đã dẫn đến một số vấn đề môi trường lớn như gia tăng các chất thải công nghiệp và phát thải  
khí nhà kính (Afroz, R và cộng sự, 2015; Osman, A và cộng sự, 2014). Môi trường tự nhiên ngày  
càng xấu đi đã dấy lên những mối quan tâm cho các tổ chức và người tiêu dùng, buộc họ phải giảm  
thiểu những thiệt hại mà họ gây ra (Essoussi, L.H, 2010). Xuất phát từ thực trạng này, người tiêu  
dùng đã bắt đầu quan tâm hơn đến các sản phẩm thân thiện với môi trường để bảo vệ lá phổi xanh  
của chúng ta (Chen, K, 2016). Sản phẩm thân thiện với môi trường hay còn gọi là sản phẩm xanh là  
sản phẩm sinh thái không gây ô nhiễm môi trường và ít tác động tiêu cực đến môi trường hơn so với  
các sản phẩm thay thế truyền thống (Mei, O.J, và cộng sự, 2012).  
Bên cạnh đó, Mishra và Sharma (2010) khẳng định rằng “các sản phẩm xanh”, là vật phẩm tiêu  
dùng được trồng thủ công, có thể tái sử dụng và tái chế, có khả năng bảo vệ và hồi sinh môi trường tự  
nhiên bằng cách bảo tồn tài nguyên năng lượng và giảm thiểu ô nhiễm, chất thải và các tác nhân độc  
hại. Chen và Chai (2010) cho rằng các sản phẩm xanh có chất lượng và bao bì phù hợp với môi  
trường hơn, từ đó làm giảm tác động gây hại tới môi trường của chúng. Qader và Zainuddin (2011)  
tuyên bố rằng không giống như hàng hóa thông thường, các sản phẩm xanh không làm hao mòn tài  
nguyên thiên nhiên và có thể tái chế. Về nhu cầu thị trường, Maichum và cộng sự (2016) tuyên bố  
rằng các sản phẩm xanh sản xuất theo các nguyên tắc phát triển bền vững sẽ là những sản phẩm được  
sử dụng rộng rãi nhất trên toàn cầu do các lợi ích môi trường gắn liền với chúng như an toàn cho  
người mua (về sức khỏe) và chất lượng vượt trội. Đặc biệt trong bối cảnh địa phương, Mei và cộng sự  
(2012) lưu ý rằng nhu cầu đối với các sản phẩm thân thiện với môi trường có mặt ngày càng phổ biến  
trên thị trường, cho thấy xu hướng tăng tiêu dùng xanh đang tăng lên. Lanzini, Testa và Iraldo (2016)  
nhấn mạnh rằng việc người tiêu dùng sẵn lòng chi trả cho các sản phẩm xanh là một trong những yếu  
tố chính thúc đẩy các công ty thực hiện khía cạnh thân thiện với môi trường trong các sản phẩm và  
dịch vụ của họ. Về điều này, Ha và Janda (2012), khi giải thích lý do hạn chế thành công của sản  
phẩm xanh trên thị trường đại chúng, khẳng định rằng sự khác biệt giữa nhận thức của người tiêu  
dùng về các vấn đề môi trường, mức độ sẵn sàng chi trả và hành vi mua hàng thực tế của họ là nguyên  
nhân dẫn đến xu hướng mua sản phẩm xanh không nhất quán, do đó nhấn mạnh tầm quan trọng của  
việc hiểu được nhận thức của người tiêu dùng đối với các vấn đề môi trường và mức độ sẵn sàng chi  
trả của họ để tiêu dùng các sản phẩm này. Điều này cho thấy việc xác định nhận thức và ý định của  
người tiêu dùng đối với việc sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường là rất quan trọng và cấp  
thiết, đặc biệt là từ quan điểm của các hộ gia đình có thu nhập thấp ở nền kinh tế đang phát triển như  
Việt Nam. Ý nghĩa ngày càng tăng của tiêu dùng xanh và việc gia tăng tiêu dùng các sản xanh phản  
ánh hành vi thân thiện với môi trường đã biến chủ đề này thành một vấn đề nghiên cứu phổ biến trong  
giới học giả (Chen, K. và cộng sự, 2016). Tuy nhiên, Mei và cộng sự (2012) đặc biệt nhấn mạnh rằng  
so với các nước phương Tây, các nghiên cứu liên quan đến hành vi mua xanh tương đối ít ở các nước  
châu Á. Tương tự, Maichum và cộng sự (2016) lặp lại rằng thông tin về ý định mua các sản phẩm  
thân thiện với môi trường của người tiêu dùng tại các quốc gia đang phát triển vẫn chưa đầy đủ.  
Ngoài ra, kết quả từ các nghiên cứu trước đó không thống nhất với nhau, điều đó cho thấy nhu cầu  
cấp bách của việc nghiên cứu sâu hơn vào vấn đề này. Một trong các sản phẩm tiêu dùng thân thiện  
với môi trường cần phải đẩy mạnh mua sắm là túi đựng hàng khi đi mua sắm vì hiện nay các cửa hàng  
và siêu thị hầu hết dùng túi ni lông khó phân hủy và gây tắc đường thoát nước thải dẫn đến ngập lụt  
và ô nhiễm môi trường. Vì vậy, nghiên cứu này sẽ xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn sàng chi  
trả cho túi đựng thân thiện với môi trường khi đi mua sắm của người tiêu dùng Hà Nội.  
500  
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
2.1. Thái độ đối với các sản phẩm thân thiện với môi tr ờng  
Thái độ biểu thị đánh giá tiêu cực hoặc tích cực của bản thân liên quan đến một hành vi cụ thể  
(Ajzen, I, 1991). Trong bối cảnh nghiên cứu, thái độ đối với các sản phẩm thân thiện với môi  
trường được coi là mức độ mà việc thực hiện hành vi mua hàng xanh được các cá nhân đánh giá  
tiêu cực hoặc tích cực (Chen, K và cộng sự, 2016). Trong bối cảnh ủng hộ chủ nghĩa môi trường,  
Maichum và cộng sự (2016) nhận thấy rằng thái độ của người tiêu dùng có thể có tác động rất tích  
cực đến ý định mua các sản phẩm thân thiện với môi trường của họ. Về tiêu dùng xanh, Wu và  
Chen (2014) phát hiện ra rằng thái độ thể hiện tác động khá tích cực đến ý định hành vi của người  
tiêu dùng. Trong khi đó, từ lập trường của người tiêu dùng Malaysia, Mei và cộng sự (2012) khẳng  
định rằng một tiền đề quan trọng ảnh hưởng đến ý định mua hàng xanh là thái độ đến môi trường.  
Trong một nghiên cứu trước đó, Tsen, Phang, Hasan và Buncha (2006) cũng đã quan sát thấy thái  
độ của người tiêu chính là yếu tố giải thích nhất quán nhất trong việc dự đoán mức độ sẵn sàng chi  
trả cho các sản phẩm xanh. Từ đó, tác giả đưa ra giả thuyết sau:  
Giả thuyết 1 (H1). Thái độ đối với các sản phẩm thân thiện với môi trường tác động tích cực  
đến sự sẵn sàng chi trả cho túi đựng thân thiện với môi trường khi đi mua sắm của người tiêu dùng  
Hà Nội.  
2.2. Ki n thức sinh thái  
Kiến thức sinh thái hay khả năng hiểu biết về sinh thái được định nghĩa là khả năng của một  
người trong việc xác định các ký hiệu, khái niệm, hành vi sinh thái,… (Laroche, M, 2001). Nhìn  
chung, kiến thức hưởng đến tất cả các giai đoạn trong quá trình ra quyết định của một người (Mei,  
O.J, và cộng sự, 2012), có thể hình thành thái độ tích cực hoặc tiêu cực đối với một hành vi nhất định.  
Để thúc đẩy hành vi vì môi trường, người tiêu dùng sẽ cần có kiến thức để hiểu được tác động chung  
của một sản phẩm đối với môi trường, cùng với kiến thức về bản thân sản phẩm được sản xuất theo  
cách thân thiện với môi trường đó. Theo Laroche và cộng sự (2001), kiến thức của một người về môi  
trường hoặc hiểu biết của họ về hệ sinh thái giúp họ hiểu biết về các vấn đề và cách thức hành động  
bên cạnh việc hỗ trợ hình thành thái độ và ý định thông qua hệ thống niềm tin. Cheah và Phau (2011)  
đã nhấn mạnh rằng mức độ hiểu biết về sinh thái có tương quan đáng kể với thái độ và xu hướng hành  
vi của người tiêu dùng. Từ các luận điểm ở trên, tác giả đề xuất giả thuyết:  
Giả thuyết 2 (H2). Kiến thức sinh thái có tác động tích cực đến thái độ tới các sản phẩm thân  
thiện với môi trường của người tiêu dùng Hà Nội.  
2.2.1. Sự quan t m đến môi trường  
Sự quan tâm đến môi trường là việc đánh giá thái độ của một người đối với một sự kiện, hành  
vi của chính họ hoặc hành vi của người khác gây ra hậu quả đối với môi trường Kai và Haokai  
(2016). Theo Maichum và cộng sự (2016), người tiêu dùng có thể chuyển sự quan tâm đến môi  
trường của họ thành việc mua các sản phẩm thân thiện với môi trường. Hơn nữa, những người tiêu  
dùng có mức độ quan tâm đến môi trường cao hơn có nhiều khả năng thực hiện việc tiêu dùng thân  
thiện với môi trường hơn. Yadav và Pathak (2011) đã khẳng định trong nghiên cứu của họ rằng sự  
quan tâm đến môi trường rất cần thiết trong việc dự đoán thái độ môi trường, có thể góp phần vào  
quá trình ra quyết định của người tiêu dùng, chẳng hạn như mua các sản phẩm thân thiện với môi  
trường. Thêm vào đó, thực nghiệm của Maichum và cộng sự (2016) đã chứng minh rằng sự quan  
501  
tâm đến môi trường có tác động tích cực đáng kể đến thái độ của một người đối với các sản phẩm  
thân thiện với môi trường. Tương tự, Kai và Haokai (2016) khẳng định rằng sự quan tâm đến môi  
trường của người tiêu dùng có thể kích thích tiêu dùng xanh bằng cách tác động đến thái độ và ý  
định hành vi. Mostafa (2006) cũng báo cáo rằng sự quan tâm đến môi trường có thể có tác động tích  
cực đến thái độ của các cá nhân đối với các sản phẩm thân thiện với môi trường, do đó, có thể ảnh  
hưởng đến ý định mua hàng thân thiện với môi trường của họ. Qua các kết quả nghiên cứu trước  
đây có thể thấy rằng sự quan tâm đến môi trường gắn liền với thái độ tích cực với các sản phẩm  
thân thiện với môi trường. Do đó, giả thuyết sau đây được đề xuất.  
Giả thuyết 3 (H3). Sự quan tâm đến môi trường tác động tích cực đến thái độ đối với các sản  
phẩm thân thiện với môi trường của người tiêu dùng Hà Nội.  
2.2.2. Sự sẵn sàng chi trả cho các sản phẩm thân thiện với môi trường  
Sự sẵn sàng chi trả cho các sản phẩm thân thiện với môi trường thể hiện động lực có ý thức của  
một cá nhân hoặc sự sẵn sàng nỗ lực thực hiện một hành vi cụ thể (Ajzen, I và cộng sự, 1991; Wu, S  
và cộng sự, 2014; Kai, C và cộng sự, 2016; Fishbein, M.và Ajzen, 1975). Trong bối cảnh hiện tại, sự  
sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng cho các sản phẩm thân thiện với môi trường có thể được coi là ý  
định mua hàng xanh, phản ánh sự cân nhắc của một cá nhân nhằm giảm thiểu ô nhiễm và sự sẵn sàng  
thực hiện hành vi mua hàng xanh (Chen, K và cộng sự, 2016; Lanzini, P và cộng sự (2016).  
Từ những giả thuyết trên đây, mô hình nghiên cứu được đề xuất như sau:  
(H2)  
Kiến thức sinh thái  
Sự sẵn sàng chi  
trả cho các sản  
phẩm thân thiện  
với môi trường  
Thái độ với sản  
phẩm thân thiện  
với môi trường  
thị trường  
(H1)  
Sự quan tâm đến môi  
trường  
(H3)  
Hình 1: Mô hình nghiên cứu đề xuất  
3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu được thực hiện thông qua phương pháp nghiên cứu định lượng bằng khảo sát có  
cấu trúc để xác định tác động của các biến được chọn đến mức độ sẵn sàng cho các sản phẩm thân  
thiện với môi trường của người tiêu dùng Hà Nội.  
Công cụ nghiên cứu là Bảng câu hỏi được thiết kế bằng cách sử dụng các thuật ngữ đơn  
giản và dễ hiểu để người trả lời dễ hiểu câu hỏi nhằm đảm bảo rằng câu trả lời được cung cấp  
dựa trên nhận thức của họ. Các câu hỏi đã được điều chỉnh từ các nghiên cứu trước đây với  
những thay đổi nhỏ nếu cần. Thang đo Kiến thức sinh thái được trích từ nghiên cứu của  
Maichum và cộng sự (2016). Thang đo sự quan tâm đến môi trường được trích từ nghiên cứu  
của Cheung, Lau và Lam (2015). Thang đo thái độ đối với các sản phẩm thân thiện với môi  
trường đã được áp dụng từ Ha và Janda (2012). Cuối cùng, thang đo về sự sẵn sàng chi trả cho  
các sản phẩm thân thiện với môi trường được trích từ nghiên cứu của Ha và Janda (2012).  
Thang đo Likert 5 mức độ được sử dụng để đo lường các biến trong mô hình với mức độ từ 1  
đến 5 (với 1: Hoàn toàn không đồng ý, 5: Hoàn toàn đồng ý).  
502  
Nghiên cứu này sử dụng các kỹ thuật về phần mềm SPSS để phân tích Cronbach‟s  lpha  
nhằm loại biến có hệ số tương quan với biến tổng nhỏ và kiểm tra nhân tố khám phá (EFA) nhằm  
loại các biến có trọng số nhân tố nhỏ (Factor loading - FL). Nếu FL nhỏ hơn 0.4 trong phân tích  
EFA sẽ tiếp tục hoàn thiện và kiểm tra tổng phương sai. Các biến còn lại (thang đo hoàn chỉnh) sẽ  
được đưa vào phân tích CF  (Confirmatory Factor  nalysis). CF  kiểm tra vai trò của các biến  
trong các nhân tố. Tiếp theo nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích cấu trúc tuyến tính SEM  
(Structural Equation Modeling) để kiểm định độ phù hợp mô hình lý thuyết và các giả thuyết nghiên  
cứu, kiểm định độ tin cậy, tính phân biệt, tính đơn nguyên của các thang đo, kiểm định mô hình và  
các giả thuyết nghiên cứu.  
Tổng thể nghiên cứu là người tiêu dùng nội thành Hà Nội có hành vi mua hàng tại các siêu  
thị, trung tâm thương mại trên địa bàn Hà Nội. Mẫu nghiên cứu được lựa chọn bằng phương pháp  
chọn mẫu ngẫu nhiên từ các khách hàng đến các siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi  
của Hapro, Big C và hệ thống bán lẻ của BRG.  
Kích thước mẫu trong trường hợp sử dụng phương pháp phân tích nhân tố (EFA), Hair và  
cộng sự cho rằng kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỷ lệ số quan sát/biến đo  
lường là 5/1, nghĩa là cứ mỗi biến đo lường cần tối thiểu 5 quan sát. Nghiên cứu này sử dụng  
phương pháp phân tích nhân tố EFA và CFA, với mô hình nghiên cứu có 18 biến đo lường. Vì thế  
tính theo nguyên tắc 5 phần tử mẫu/biến đo lường thì cỡ mẫu tối thiểu là 90 phần tử; tuy nhiên để  
nâng cao độ tin cậy của dữ liệu và phục vụ cho việc phân tích so sánh giữa các nhóm, kích thước  
mẫu được xác định là 185 phân tử. Khảo sát được tiến hành vào tháng 7 năm 2020.  
4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Kết quả phân tích EFA  
Kiểm định EFA các hạng mục đo lường và thang đo đều đảm bảo độ tin cậy, hệ số Cronbach's  
Alpha đều trong khoảng 0,7 - 0,9. Do vậy được giả định là thỏa mãn điều kiện về độ tin cậy để thực  
hiện những kiểm định tiếp theo.  
Bảng 1. K t quả kiểm định bằng hệ số Cronbach's Alpha  
H ng mục  o  
lƣờng  
Giá trị trung bình  
nếu lo i biến  
Phƣơng sai  
Tƣơng quan  
Hệ số Alpha  
nếu lo i biến  
nếu lo i biến  
biến tổng  
E  α=0 735  
2.694  
EK1  
12.4432  
12.4595  
12.4432  
12.4216  
0.571  
0.532  
0.572  
0.433  
0.647  
0.671  
0.649  
0.726  
EK2  
EK3  
EK4  
2.891  
2.911  
3.147  
EA  α=0 854  
3.326  
EA1  
EA2  
EA3  
EA4  
12.0000  
11.8541  
11.8432  
11.8649  
0.683  
0.783  
0.659  
0.506  
0.770  
0.724  
0.781  
0.846  
3.267  
3.481  
3.878  
503  
H ng mục  o  
lƣờng  
Giá trị trung bình  
nếu lo i biến  
Phƣơng sai  
Tƣơng quan  
Hệ số Alpha  
nếu lo i biến  
nếu lo i biến  
biến tổng  
ATT  α=0 891  
ATT1  
13.0649  
13.1622  
13.1027  
13.1297  
3.126  
3.137  
0.746  
0.757  
0.797  
0.789  
0.877  
0.873  
0.858  
0.862  
ATT2  
ATT3  
ATT4  
3.125  
3.211  
RTP  α=0 833  
7.970  
RTP1  
RTP2  
RTP3  
RTP4  
RTP5  
RTP6  
20.1730  
20.0973  
20.1351  
20.0811  
20.1459  
20.1514  
0.492  
0.535  
0.707  
0.634  
0.665  
0.609  
0.829  
0.820  
0.786  
0.801  
0.794  
0.806  
7.914  
7.346  
7.379  
7.223  
7.433  
Khi phân tích tổng thể 18 biến quan sát trong bảng hỏi nhằm xác định những nhóm nhân tố cơ  
bản tác động đến Sự sẵn sàng chi trả cho các sản phẩm thân thiện với môi trường, kết quả kiểm định  
tại bảng dưới đây cho thấy chỉ số KMO = 0,784 là cao ( > 0,5). Bên cạnh đó, kết quả Bartlett‟s test  
khẳng định các biến quan sát có ý nghĩa thống kế tại mức 0,05 (sig = 0,000 < 0,05). Vì vậy, phân  
tích nhân tố là phương pháp phù hợp để phân tích mô hình trong các bước tiếp theo.  
Bảng 2. KMO and Bartlett's Test  
Kaiser-Meyer-O  in đo  ưꢀng lấy m u đ y đꢁ  
0.784  
1655.801  
153  
Bartlett's ki m đ nh c u th  
Chi-square xấp x  
Đ  t  do  
Sig.  
0.000  
Từ 18 biến quan sát sau khi phân tích EFA với kỹ thuật ma trận xoay Varimax có thể rút ra 4  
nhóm nhân tố dựa trên tiêu chí Eigenvalue > 1. Tổng phương sai giải thích được khi 4 nhóm nhân tố  
được rút ra tương đương 65,35% ( > 50%), trong đó các biến được trích xuất trên 50% giá trị trong  
các trục nhân tố tương ứng. Kết quả này khẳng định mô hình lý thuyết về các nhân tố tác động đến  
Sự sẵn sàng chi trả cho các sản phẩm thân thiện với môi trường phù hợp với dữ liệu thu thập.  
Bảng 3. Tổng ph  ng sai trích  
Eigenvalues  
% phƣơng sai  
31,548  
Nhân tố tꢀi xoay  
% phƣơng sai  
21,592  
Trục  
Tổng  
5,679  
2,571  
1,794  
1,720  
% cộng  
31,548  
45,829  
55,796  
65,353  
Tổng  
3,887  
2,743  
2,586  
2,548  
% cộng  
21,592  
36,828  
51,196  
65,353  
1
2
3
4
14,281  
15,236  
9,967  
14,368  
9,557  
14,157  
504  
Ph n tích CFA và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM)  
Kết quả kiểm định độ phù hợp của mô hình nghiên cứu bằng phân tích SEM với kết quả: Chi-  
Square/df = 4.236 ; GFI = 0.882; CFI = 0.903, TLI = 0.908, RMSEA = 0.073. Kết quả này cho thấy  
mô hình hoàn toàn phù hợp với dữ liệu của thị trường.  
Chi-Square/df = 4.236 ; GFI = 0.882  
CFI = 0.903, TLI = 0.908, RMSEA=0.073  
H nh 2. K t quả phân tích SEM của mô h nh nghiên cứu lý thuy t  
Ngu n: Tính toán từ dữ liệu khảo sát  
Phân tích SEM mô hình cấu trúc tuyến tính nhận được kết quả ước lượng trọng số hồi quy gắn  
với kết quả kiểm định các giả thuyết sau đây:  
Bảng 4. K t quả kiểm định giả thuy t  
Trọng  
số  
Giꢀ  
thuyết  
Nhân tố phụ thuộc  
Nhân tố  ộc lập  
P
Kết luận  
RTPF (s  sẵn sàng chi trả cho các <---  
sản ph m thân thiꢂn vꢃi môi trưꢀng)  
ATTF (thꢄi đ  đꢅi vꢃi các  
sản ph m thân thiꢂn vꢃi  
môi trưꢀng)  
Chấp  
nhận  
0.459  
.***  
H1  
ATTF (thái đ  đꢅi vꢃi các sản ph m <---  
thân thiꢂn vꢃi môi trưꢀng  
EKF (ki n thức sinh thái)  
Chấp  
nhận  
0.347  
0.254  
.***  
H2  
H3  
ATTF (thꢄi đ  đꢅi vꢃi các sản ph m <---  
thân thiꢂn vꢃi môi trưꢀng  
EAF (s  quan t m đ n  
môi trưꢀng)  
Chấp  
nhận  
0.014  
P: mức ý nghĩa; *** = p < 0,001  
505  
Các tác động trong mô hình lý thuyết nghiên cứu đều có mức ý nghĩa thống kê với mức P-  
value < 0,05. Do vậy có thể kết luận các giả thuyết trong mô hình nghiên cứu đều được chấp nhận.  
Thái độ đối với các sản phẩm thân thiện với môi trường tác động tích cực đến sự sẵn sàng chi  
trả cho túi đựng thân thiện với môi trường khi đi mua sắm của người tiêu dùng Hà Nội. Điều này có  
thể giải thích rằng khi người tiêu dùng tin là việc sử dụng túi đựng thân thiện với môi trường sẽ  
mang lại những kết quả tốt đẹp thì họ sẽ sẵn sàng hơn trong việc chi trả để mua túi.  
Kiến thức sinh thái có tác động tích cực đến thái độ tới các sản phẩm thân thiện với môi  
trường của người tiêu dùng Hà Nội. Khi người tiêu dùng có kiến thức, họ sẽ biết những hành động  
nào là đúng và sai, những hành động nào gây tác hại và bảo vệ môi trường, từ đó, họ sẽ có thái độ  
đúng với các sản phẩm thân thiện với môi trường.  
Sự quan tâm đến môi trường tác động tích cực đến thái độ đối với các sản phẩm thân thiện với  
môi trường của người tiêu dùng Hà Nội. Khi người tiêu dùng quan tâm đến môi trường, họ sẽ ủng  
hộ những thứ giúp bảo vệ môi trường. Tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường là những  
hoạt động giúp giữ gìn môi trường và vì vậy những người quan tâm đến môi trường có xu hướng sẽ  
có thái độ tốt với những sản phẩm này.  
5. HÀM   ĐỀ XUẤT  
Thái độ đối với các sản phẩm thân thiện với môi trường tác động tích cực đến sự sẵn sàng  
chi trả cho túi đựng thân thiện với môi trường khi đi mua sắm của người tiêu dùng Hà Nội. Vì  
vậy, các doanh nghiệp thực hiện marketing xanh cần xây dựng thái độ tốt với sản phẩm thân  
thiện với môi trường của người tiêu dùng. Thái độ lại bị ảnh hưởng bởi kiến thức về sinh tháivà  
sự quan tâm đến môi trường. Vì vậy, muốn thúc đẩy hành vi mua túi đựng thân thiện với môi  
trường khi đi mua sắm và sự sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng cho sản phẩm này, các doanh  
nghiệp cần xây dựng kiến thức sinh thái và nâng cao sự quan tâm đến môi trường cho người  
tiêu dùng. Để làm được điều này, các doanh nghiệp cần đẩy mạnh hoạt động truyền thông.  
Truyền thông qua những chương trình quan hệ công chúng bằng các phim tài liệu, những cuộc  
nói chuyện của chuyên gia, các chương trình giáo dục bằng phát thanh và truyền hình sẽ giúp  
nâng cao kiến thức về sinh thái và môi trường cho người tiêu dùng. Người tiêu dùng cũng cần  
hiểu rõ thực trạng môi trường đáng báo động để tăng thêm sự quan tâm đến môi trường. Những  
biện pháp truyền thông để thông tin và giáo dục người tiêu dùng sẽ là giải pháp để hình thành  
kiến thức và sự quan tâm đến môi trường từ đó củng cố thái độ tốt với sản phẩm thân thiện với  
môi trường và tăng sự sẵn sàng chi trả của người tiêu dùng với những sản phẩm đó cụ thể là túi  
đựng hàng thân thiện với môi trường khi đi mua sắm.  
506  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Afroz, R.; Masud, M.; Akhtar, R.; Islam, M.; Duasa, J. (2015), Consumer purchase intention  
towards environmentally friendly vehicles: An empirical investigation in Kuala Lumpur.  
Environ. Sci. Pollut. R., 22, 16153-16163.  
2. Ajzen, I. (1991), The theory of planned behavior. Organ. Behav. Hum. Dec., 50, 179-211.  
3. Cheah, I. (2011), Phau, I. Attitudes towards environmentally friendly products: The influence of  
ecoliteracy, interpersonal influence and value orientation. Mark. Intell. Plan., 29, 452-472.  
4. Chen, K.; Deng, T. (2016), Research on the green purchase intentions from the perspective of  
product knowledge. Sustainability, 8, 943.  
5. Chen, T.B.; Chai, L.T. (2010), Attitude towards the environment and green products:  
consumers‟ perspective. Manag. Sci. Eng, 4, 27-39.  
6. Cheung, R.; Lau, M.; Lam, A. (2015), Factors affecting consumer attitude towards organic  
food: An empirical study in Hong Kong. J. Glob. Sch. Mark. Sci., 25, 216-231.  
7. Essoussi, L.H.; Linton, J.D. (2010), New or recycled products: How much are consumers  
willing to pay? J. Consum. Mark., 27, 458-468.  
8. Fishbein, M.; Ajzen, I. (1975), Belief, Attitude, Intention, and Behavior; AddisonWesley:  
Reading, MA, USA.  
9. Ha, H.; Janda, S. (2012), Predicting consumer intentions to purchase energy-efficient products.  
J. Consum. Mark., 29, 461-469.  
10. Kai, C.; Haokai, L. (2016), Factors affecting consumers‟ green commuting. Eurasia J. Math.  
Sci. Technol. Educ., 12, 527-538.  
11. Lanzini, P.; Testa, F.; Iraldo, F. (2016), Factors affecting drivers‟ willingness to pay for  
biofuels: The case of Italy. J. Clean. Prod., 112, 2684-2692.  
12. Laroche, M.; Bergeron, J.; Barbaro-Forleo, G. (2001), Targeting consumers who are willing to  
pay more for environmentally friendly products. J. Consum. Mark., 18, 503-520.  
13. Maichum, K.; Parichatnon, S.; Peng, K. (2016), Application of the Extended Theory of Planned  
Behavior Model to Investigate Purchase Intention of Green Products among Thai Consumers.  
Sustainability, 8, 1077.  
14. Mei, O.J.; Ling, K.C.; Piew, T.H. (2012), The antecedents of green purchase intention among  
Malaysian consumers. Asian Soc. Sci., 8, 248-263.  
15. Mishra, P.; Sharma, P. (2010), Green marketing in India: Emerging opportunities and  
challenges. J. Eng. Sci. Manag. Educ., 3, 9-14.  
16. Mostafa, M. (2006), Antecedents of egyptian consumers‟ green purchase intentions. J. Int.  
Consum. Mark., 19, 97-126.  
17. Osman, A.; Isa, F.; Othman, S.; Jaganathan, M. (2014), Attitude towards recycling among  
business undergraduate students in Malaysia. Am. Eurasian J. Sustain. Agric., 8, 6-12.  
507  
18. Qader, I.; Zainuddin, Y. (2011), The influence of media exposure, safety and health concerns,  
and self-efficacy on environmental attitudes towards electronic green products. Asian Acad.  
Manag. J., 16, 167-186  
19. Tsen, C.H.; Phang, G.; Hasan, H.; Buncha, M.R. (2006), Going green: A study of consumers‟  
willingness to pay for green products in Kota Kinabalu. Int. J. Bus. Soc., 7, 40-52.  
20. Wu, S.; Chen, J. (2014), A model of green consumption behavior constructed by the theory of  
planned behavior, Int. J. Mark. Stud., 6, 119-132.  
21. Yadav, R.; Pathak, G.S. (2016), Young consumers‟ intention towards buying green products in a  
developing nation: Extending the theory of planned behavior. J. Clean. Prod., 135, 732-739.  
508  
pdf 10 trang Thùy Anh 12220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của thái độ với sản phẩm thân thiện với môi trường đến sự sẵn sàng chi trả cho các sản phẩm thân thiện với môi trường của người tiêu dùng Hà Nội", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_thai_do_voi_san_pham_than_thien_voi_moi_truong.pdf