Thái độ của người dân với hành vi vi phạm luật lệ giao thông: Nghiên cứu trên dữ liệu lớn (big data) Facebook tại Việt Nam

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
THÁI ĐỘ CỦA NGƢỜI DÂN VỚI HÀNH VI VI PHẠM LUẬT LỆ GIAO THÔNG:  
NGHIÊN CỨU TRÊN DỮ LIỆU LỚN (BIG DATA) FACEBOOK TẠI VIỆT NAM  
PGS.TS Vũ Trí Dũng  
ThS. Lê Phạm Khánh Hoà  
Khoa Marketing, Trƣờng Đại học Kinh tế Quốc dân  
TÓM TẮT  
An toàn giao thông là vấn đề xã hội nhức nhối ở các nước đang phát triển nói  
chung, Việt Nam nói riêng. Mối quan hệ thái độ, hành vi là cơ sở tiếp cận cho các  
nghiên cứu phân tích hành vi vi phạm luật lệ an toàn giao thông. Từ kết quả phân tích  
thái độ của công chúng, nhà quản trị có cơ hội tìm kiếm ý tưởng xây dựng các chiến  
lược marketing xã hội hiệu quả. Kết phân tích dữ liệu lớn trên mạng xã hội Facebook  
tại Việt Nam cho thấy: các lỗi mang tính sơ suất là những lỗi vi phạm phổ biến nhất,  
người vi phạm có xu hướng đổ lỗi cho nguyên nhân khách quan của việc vi phạm.  
Tiếp cận marketing xã hội theo hướng tạo ra các chuẩn mực xã hội có cơ hội làm giảm  
các hành vi vi phạm khách quan.  
Từ khoá: an toàn giao thông, dữ liệu lớn, thái độ  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 15.000 người chết vì tai nạn giao  
thông (Tuổi trẻ, 2017). Tại các đô thị lớn như Hà Nội, Tp.Hồ Chí Minh tình trạng ùn  
tắc giao thông diễn ra hàng ngày. An toàn giao thông cũng như các vấn đề của nó được  
rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, từ việc quản lý dịch vụ xe ôm (motorbike taxi),  
(Tuan & Mateo-Babiano, 2013), xe taxi (La, Lee , & Duong, 2013), tới xe buýt  
(Duong, Lee, & Meuleners , 2016) hay hoạt động của cảnh sát giao thông (Hoa, Duc,  
Bao, & Huong, 2009). An toàn giao thông là vấn đề mang tính xã hội, được Chính phủ  
Việt Nam thừa nhận thông qua việc thành lập Uỷ ban An toàn giao thông quốc gia, với  
Chủ tịch là Phó Thủ tướng. Bỏ qua vấn đề về gia tăng dân số, tốc độ đô thị hoá, cơ sở  
hạ tầng hay tốc độ tăng số lượng phương tiện giao thông, có thể thấy Việt Nam chưa  
có một chương trình hành động mang tính chất toàn diện trong đó nhấn mạnh các hoạt  
động truyền thông nhằm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của người dân.  
Do sự phát triển của Internet và mạng xã hội, cả ba điều kiện thành công của  
phương tiện truyền thông đại chúng (monoplization, canalization, supplementation) đã  
không còn tồn tại (Lazarsfeld & Merton, 1957). Do đó các mục tiêu xã hội của phương  
tiện truyền thông đại chúng có nguy cơ không đạt được. Trong khi các chương trình  
tuyên truyền về an toàn giao thông ở Việt Nam đang dựa vào một vài phương tiện  
truyền thông đại chúng (truyền hình, phát thanh) vốn không có hiệu quả thì từ lâu,  
Marketing xã hội (social marketing) đã được cho là một trong những công cụ có giá trị  
trong việc thay đổi hành vi của công chúng (Kotler & Zaltman, 1971). Nhưng, trên  
phạm vi quốc gia, Việt Nam chưa có một chương trình marketing xã hội thực sự,  
“chạm” được vào những suy nghĩ, quan điểm, thái độ của người dân với vấn đề này.  
Người tiêu dùng trẻ ở Việt Nam, những người ra đường nhiều nhất đã thay đổi  
quan điểm, thái độ với hoạt động tiêu dùng nói riêng với quan niệm bản thân nói  
chung. Họ có xu hướng coi tiêu dùng như một phương thức để nhận biết bản thân, loại  
trừ những biện pháp kiểm soát của chính phủ, xã hội hoá bản thân theo cách đó họ  
cũng đang loại bỏ dần phong cách sống và bản diện của những người cộng sản mà  
chính phủ Việt Nam đang ra sức tuyên truyền (Nguyen, Ozcaglar-Toulouse, &  
Kjeldgaard, 2017). Nếu không hiểu rõ hơn quan điểm của những người trẻ tuổi với các  
638  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
vấn đề xã hội như an toàn giao thông, người quản lý sẽ khó có thể có được những ý  
tưởng tốt cho các chương trình truyền thông.  
2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT  
Tâm lý học giao thông [tạm dịch từ thuật ngữ: traffic psychology], một nhánh  
của tâm lý ứng dụng - “nghiên cứu hành vi người sử dụng đường bộ (road user) và các  
quá trình tâm lý ẩn dưới hành vi đó” luôn nỗ lực xác định các yếu tố quan trọng nhất  
ảnh hưởng đến hành vi người sử dụng đường bộ nhằm tìm kiếm các giải pháp hiệu quả  
chống tai nạn giao thông (Rothengatter, 1997). Có nhiều mô hình khác nhau gợi ý việc  
giải thích hành vi của người sử dụng đường bộ: phân tích nhiệm vụ người lái xe, kiểm  
soát chức năng, động cơ (Rothengatter, 1997). Đáng lưu ý là việc phân tích mối liên hệ  
giữa lỗi/sơ suất (error) và vi phạm (violation) trong hành vi giao thông. Theo đó, các  
lỗi dù nhỏ cũng có thể được cho là một trong những nguyên nhân dự đoán các hành vi  
vi phạm luật lệ an toàn giao thông nghiêm trọng hơn (Rothengatter, 1997).  
Rothengatter (1997) qua tổng hợp các công trình nghiên cứu có trước cũng cho rằng,  
lý thuyết hành vi hợp lý của Ajen và Fishbein phù hợp hơn trong việc nghiên cứu các  
hành vi vi phạm giao thông. Tuy nhiên, việc làm rõ ranh giới và phân tích cụ thể  
nguyên nhân của hai khía cạnh này tiềm năng giúp giải thích cụ thể hơn cơ chế tâm lý  
– hành vi của việc vi phạm.  
Mặc dù còn nhiều tranh cãi, mối quan hệ giữa thái độ (attitude) với hành vi  
(behavior) đã được thừa nhận như một trong những cách tiếp cận tâm lý phổ biến với  
các hoạt động truyền thông mang tính thuyết phục (persuasion communication) áp  
dụng trong quảng cáo, truyền thông. Cách tiếp cận này cũng được thừa nhận trên cơ sở  
cho rằng cảm xúc tích cực có thể giúp làm giảm lỗi/sơ suất cũng như vi phạm luật giao  
thông (Lawton & Parker, 1997).  
Trong bối cảnh Việt Nam, rất nhiều tác giả đã nghiên cứu mối quan hệ giữa thái  
độ với hành vi vi phạm luật giao thông. Kết quả nghiên cứu chỉ ra những điểm thú vị  
về thái độ của người Việt Nam. Khuat & Le, (2011) cho rằng, người tham gia giao  
thông ở Việt Nam có xu hướng lặp lại các hành vi vi phạm giao thông. Thậm chí, họ  
cho rằng vi phạm giao thông là một hành vi phổ biến, “nếu không vi phạm, người khác  
cũng vi phạm”, họ có thể hiểu và tha thứ cho các hành vi vi phạm giao thông. Theo lý  
thuyết Hành vi hợp lý, chuẩn mực xã hội (social norm) là một trong những yếu tố giải  
thích cho việc vi phạm luật lệ giao thông – người vi phạm cho rằng: họ cũng “bình  
thường” như những người khác (Duong, Brennan, Parker, & Florian, 2015). Mặc dù  
uống rượu là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới tai nạn giao thông, tuy nhiên  
việc uống rượu được chấp nhận/tha thứ ở khu vực nông thôn, do đặc tính văn hoá xã  
hội ở Việt Nam (Bachani , và những tác giả khác, 2013). Thái độ đối với các kiểu di  
chuyển cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới hành vi lựa chọn phương tiện và cách  
thức giao thông của người dân (Van & Fuji, 2007)  
Thái độ của công chúng (public attitude) được coi là một trong những yếu tố  
giúp xây dựng chính sách nói chung, chính sách trong giao thông nói riêng (Chen,  
Chang, & Tzeng, 2002). Thậm chí có giá trị rất lớn trong việc sáng tạo các chiến lược  
truyền thông. Thái độ của công chúng có thể tạo ra ảnh hưởng xã hội rộng lớn trên cơ  
sở thiết lập thói quen hoặc các chuẩn mực xã hội. Trong khi các nghiên cứu về thái độ  
của người dân với an toàn giao thông thường đòi hỏi thực hiện ở quy mô mẫu lớn thì  
đa số các nghiên cứu trong bối cảnh Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu này do  
những hạn chế nhất định về điều kiện nghiên cứu. Trong bối cảnh phát triển của cơ sở  
hạ tầng Internet, người trẻ Việt Nam sử dụng mạng xã hội Facebook ngày càng nhiều  
639  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
hơn, một cơ chế thu thập thông tin phản hồi, những thảo luận, những vấn đề mà họ nói  
trên Internet, mạng xã hội trên quy mô lớn có khả năng giúp làm rõ và phân tích thái  
độ của họ.  
Thái độ, một thành phần trong mô hình Hành vi hợp lý của Ajen và Fishbein được  
cho là một trong những căn cứ lý thuyết quan trọng giúp nhiều nhà nghiên cứu tìm  
hiểu về vấn đề vi phạm an toàn giao thông. Không nằm ngoài xu hướng này, các nhà  
nghiên cứu Việt Nam cũng đã khai thác khái niệm thái độ và đưa ra nhiều kết quả  
đáng chú ý, trong đó, chuẩn mực xã hội được cho là một trong những nguyên nhân dự  
báo hành vi vi phạm luật lệ an toàn giao thông. Mặc dù việc tách biệt giữa các lỗi/sơ  
suất với hành vi vi phạm luật lệ an toàn giao thông có những ranh giới nhất định về  
mặt tâm lý nhưng chưa nhiều nhà nghiên cứu khai thác và phân biệt hai khía cạnh này  
của hành vi vi phạm.  
3. PHƢƠNG PHÁP VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Chúng tôi cho rằng thái độ của công chúng có tiềm năng giúp giải đáp một số  
khía cạnh của hành vi vi phạm luật lệ an toàn giao thông nếu được thu thập trên quy  
mô rộng, đúng đối tượng và có giá trị. Thông qua dịch vụ lắng nghe trên mạng xã hội  
(social listening) của DataSection Việt Nam (DSV), chúng tôi thu thập được 551.442  
bài viết trên mạng xã hội Facebook, 24.656 bài viết trên các diễn đàn trực tuyến  
(forum), 58.323 tin tức về vấn đề an toàn giao thông xuất hiện từ ngày 1 tháng 7 năm  
2016 đến ngày 1 tháng 7 năm 2017. Dữ liệu thu về được gắn các nhãn biểu hiện và  
tiến hành phân tích nội dung.  
Chúng tôi lựa chọn ngẫu nhiên bằng phần mềm 3.000 bài viết để tiến hành đọc  
và đưa ra một số kết quả nghiên cứu sau:  
Bảng 1: Các lỗi vi phạm đƣợc đề cập nhiều nhất trên mạng xã hội  
Số bài viết đề  
Các lỗi vi phạm ATGT  
Tỷ lệ %  
cập  
81  
75  
51  
45  
41  
40  
17  
15  
Sai làn  
22.6%  
20.9%  
14.2%  
12.6%  
11.5%  
11.2%  
4.7%  
Vượt quá tốc độ quy định  
Lỗi không xi nhan  
Vượt đèn đỏ  
Vượt đèn vàng  
Đè vạch/ không tuân thủ vạch kẻ đường  
Đi ngược chiều  
Không đội mũ bảo hiểm  
(**)  
4.2%  
Nguồn: DataSection Việt Nam  
(**) Trên social media còn những lỗi vi phạm khác với số bài đề cập nhỏ hơn, bao  
gồm: không mang giấy tờ xe (11 bài), uống rượu bia khi tham gia giao thông (11 bài),  
640  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
dừng xe sai quy định (3 bài), không bằng lái xe (3 bài), không bật đèn chiếu ( 3 bài),  
đeo tai nghe khi tham gia giao thông (2 bài), xe không gương (2 bài), bảo hiểm hết  
hạn (1 bài), chưa đủ tuổi lái xe (1 bài), dàn hàng ngang (1 bài), đèn sang quá mức quy  
định (1 bài), dừng đèn xanh (1 bài), kẹp 3 (1 bài), sử dụng điện thoại khi đang lái xe (1  
bài), vượt phải (1 bài), chống đối người thi hành công vị (1 bài)  
Từ 3000 bài lựa chọn ngẫu nhiên, chúng tôi tìm được 358 bài viết có chứa  
thông tin. Kết quả nghiên cứu cho thấy các lỗi/sơ suất xuất hiện với tỷ trọng rất cao, đó  
là các lỗi: sai làn, quá tốc độ, không xi nhan, đè vạch. Trong khi các vi phạm mang  
tính chất cố ý lại ít xuất hiện hơn: vượt đèn đỏ, đèn vàng, đi ngược chiều, không đội  
mũ bảo hiểm. Những lỗi vi phạm này xuất hiện kèm những mô tả cho thấy sơ suất của  
người mắc lỗi:  
“Em bị một phát ở Kép (Bắc Giang) trước khi vào cầu. Qua cầu thấy gậy "cạp  
nong" vẫy vào, tưởng lỗi vượt xe trên cầu hóa ra lỗi vượt quá tốc độ”  
xe-hay-duoi-xe-nhi.1126101/page-2#post-32257335  
“e đi 2 bánh chạy từ thịnh yên ra phố huế. nhưng địa chỉ e cần tìm lại là ở bên  
trái đường. mắt e thì mù dở, đi bên làn xe máy ko thể nào nhìn được số nhà. bắt buộc e  
phải đi sát vỉa hè bên trái …bật xi nhan rẽ trái để cảnh báo. & cuối cùng e bị 141 xích  
vì tội đi sai làn”  
“mình đi xe máy rẽ phải không xi nhan. bọn nó đòi 5 trăm. mình sợ quá nhờ vả  
xin xỏ mãi xuống còn 1 trăm. về nhà mọi người nói mới biết mình bị lòe. mà hôm ấy  
mình thấy ai dừng lại cũng bị hô phạt 5 trăm”  
634&id=145788456633&comment_id=10154389610066634  
Trong số các lỗi vi phạm giao thông, chúng tôi tìm các lỗi mà người vi phạm  
hỏi cũng như bình luận nhiều nhất.  
Bảng 2: Các lỗi vi phạm giao thông phổ biến đƣợc đề cập trên mạng xã hội  
Số bài viết đề  
Các lỗi vi phạm  
Tỷ lệ %  
cập  
Sai làn  
13  
9
32.5%  
22.5%  
17.5%  
17.5%  
12.5%  
Đè vạch/ không tuân thủ vạch kẻ đường  
Vượt đèn vàng  
7
Vượt đèn đỏ  
7
Không xi nhan  
5
Vượt quá tốc độ quy định  
3
7.5%  
Đi vào đường cấm  
Vượt bên phải  
2
2
5.0%  
5.0%  
Không mang giấy tờ  
Tổng số  
1
2.5%  
49  
100%  
Nguồn: DataSection Việt Nam  
641  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Trong số các lỗi vi phạm được hỏi nhiều trên mạng xã hội, lỗi sai làn là  
một trong những lỗi sai phổ biến nhất (32.5%). Khi xem xét kỹ hơn về những  
nội dung của các bình luận của người sử dụng Facebook có thể thấy nguyên  
nhân chủ yếu nằm ở kiến thức của người vi phạm với luật an toàn giao thông:  
“em lính mới xin các cụ chỉ bảo. . e đi từ đường nvl rẽ vào c. rao2 có đi  
vào làn trong. các bạn xxx bắt e lập bb lỗi đi sai làn đường. . cccm cho e hỏi e  
bị lỗi như vậy có đúng k? . nếu có thể khiếu nạn cccm thông não giúp e! . e xin  
cảm ơn!”  
166144  
“cho e hỏi đường có 2 vạch kẻ liền e vượt lên thì lỗi của e là đè vạch  
hay đi sai làn đường ạ. vượt sang hẳn làn bên kia ý ạ”  
736&id=540079849426435&comment_id=1113471272087287  
“các bác cho e hỏi chút . vượt đèn vàng bị xxx bắt thì mình cãi như nào  
và theo nd nào vượt ko bị bắt , e thấy báo chí viết vượt đèn vàng bị phạt mà.  
cảm ơn các bác nhiều”  
717816  
Chúng tôi tiếp tục tìm kiếm các biểu hiện về nguyên nhân của các lỗi vi  
phạm thông qua việc đọc và phân tích nội dung của các bài viết. Kết quả cho  
thấy:  
Bảng 3: Nguyên nhân vi phạm luật lệ an toàn giao thông  
Số bài viết  
đề cập  
Tỷ lệ  
%
Nguyên nhân vi phạm  
Do chưa nắm rõ luật  
61  
48.0%  
Do không tuân thủ luật  
Do không chú ý/ sơ ý  
Do xui xẻo  
31  
19  
10  
3
24.4%  
15.0%  
7.9%  
2.4%  
2.4%  
1.6%  
1.6%  
Do khuất tầm nhìn  
Do tránh xe cứu thương/ xe khác  
Do cảnh sát phạt sai  
Do đường đông  
3
2
2
(**)  
Nguồn: DataSection Việt Nam  
(**) Ngoài ra, còn có những lý do khác như: Do chưa có kinh nghiệm lái xe (1  
bài), do thời tiết xấu (1 bài), Do tín hiệu giao thông khó nhìn (1 bài), Do vạch  
kẻ đường khó nhìn (1 bài), do xe hỏng (1 bài)  
Như kết quả nghiên cứu chỉ ra, kiến thức của người dân về luật lệ an  
toàn giao thông được cho là nguyên nhân chính dẫn tới những lỗi hay vi phạm.  
Những người vi phạm cho rằng họ chưa nắm rõ luật (48%), không cố ý vi  
phạm (15%), việc vi phạm bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan như khuất  
642  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
tầm nhìn, tránh xe khác, đường đông... tỷ trọng số người thừa nhận việc cố ý  
không tuân thủ luật chiếm 24.4%.  
Từ kết quả phân tích dữ liệu có thể thấy một số điểm đáng lưu ý sau:  
- Các lỗi/sơ suất chiếm tỷ trọng cao trong số những vi phạm của người  
dân, nhiều nhất là lỗi “sai làn”.  
- Người vi phạm luật lệ giao thông đổ lỗi cho các nguyên nhân khách  
quan nhiều hơn các nguyên nhân mang tính chủ quan  
- Thái độ của công chúng với cảnh sát giao thông và những người xử lý  
vi phạm thường là tiêu cực, họ được gọi bằng những từ lóng mang  
nghĩa tiêu cực  
- Kiến thức về luật lệ giao thông là nguyên nhân chính dẫn tới những vi  
phạm luật lệ giao thông.  
4. KẾT LUẬN VÀ NHỮNG HÀM Ý QUẢN TRỊ  
Nghiên cứu của chúng tôi thừa nhận và củng cố cách tiếp cận thái độ, hành vi.  
Chúng tôi cho rằng thái độ là cách tiếp cận phù hợp trong việc nghiên cứu, tìm hiểu  
nguyên nhân tâm lý đối với hành vi vi phạm luật lệ an toàn giao thông. Kết quả nghiên  
cứu thái độ người dùng Facebook Việt Nam cho thấy kiến thức về luật lệ an toàn giao  
thông là nguyên nhân chính dẫn tới các vi phạm. Người vi phạm luật lệ giao thông đổ  
lỗi cho các nguyên nhân khách quan và cho rằng chúng là những sơ suất cho dù nhiều  
loại lỗi trong số đó là lỗi cố ý.  
An toàn giao thông là vấn đề mang tính xã hội, nó đòi hỏi được giải quyết bằng  
những cách tiếp cận sáng tạo trong bối cảnh mới. Marketing xã hội là một trong số  
những cách tiếp cận phù hợp. Khi tiếp cận theo hướng marketing xã hội, nhà quản trị  
cần lưu ý động cơ thúc đẩy hành vi và những rào cản với hành vi. Với những lỗi mang  
tính sơ suất, khách quan, một cơ chế trừng phạt mang tính chất xã hội, hay các chuẩn  
mực xã hội có tiềm năng hạn chế hành vi. Xây dựng văn hoá giao thông, một trong  
những giải pháp được đề cập nhiều trước đây có thể là giải pháp phù hợp theo cách  
tiếp cận này.  
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy những người thực thi pháp luật an  
toàn giao thông đang được công chúng cảm nhận với hình ảnh tiêu cực. Việc thay đổi  
hình ảnh của cảnh sát giao thông có cơ hội giúp tăng mức độ tôn trọng người thực thi  
pháp luật hơn.  
Mặc dù nghiên cứu sử dụng cách tiếp cận của dữ liệu lớn, song chúng tôi chưa  
đủ khả năng phân tích toàn bộ kết quả, nội dung thu về. Điều này có thể khiến cho kết  
quả bỏ lỡ nhiều thông tin giá trị. Qua cách tiếp cận này, chúng tôi đề xuất các nhà quản  
trị sử dụng lắng nghe trên mạng xã hội như một giải pháp hỗ trợ trong việc mô tả thực  
trạng và tìm kiếm nguyên nhân vi phạm an toàn giao thông.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Bachani , A., Jessani , N., Pham, C., La, Q. N., Nguyen, P., Passmore , J., et al. (2013).  
Drinking & driving in Viet Nam: prevalence, knowledge, attitudes, and practices in  
two provinces . Injury , 44, 38-44.  
Chen, T.-Y., Chang, H.-L., & Tzeng, G.-H. (2002). Using fuzzy measures and habitual  
domains to analyze the public attitude and apply to the gas taxi policy. European  
Journal of Operational Research , 137, 145-161.  
643  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
Duong, D. V., Lee, A., & Meuleners , L. (2016). Factors underlying bus-related  
crashes in Hanoi, Vietnam . Transportation Research Part F .  
Duong, H. T., Brennan, L., Parker, L., & Florian, M. (2015). But I AM normal: safe?  
driving in Vietnam. Journal of social markeitng , 5 (2), 105-124.  
Hoa, D., Duc, N., Bao, N., & Huong, N. (2009). Analysis on Activities of Vietnam  
Traffic Police in Administrative Handling Violations on Traffic Regulations.  
Proceedings of the Eastern Asia Society for Transportation Studies, 7.  
Khuat, H. V., & Le, H. T. (2011). Education influence in traffic safety: A case study in  
Vietnam. IATSS Research , 34, 87-93.  
Kotler, P., & Zaltman, G. (1971). Social Marketing: An Approach to a planned social  
change. Journal of Marketing , 35, 3-12.  
La, Q. N., Lee , A., & Duong, D. V. (2013). Prevalence and factors associated with  
road traffic crash among taxi drivers in Hanoi, Vietnam. Accident Analysis and  
Prevention , 50, 451-455.  
Lawton, R., & Parker, D. (1997). The role of Affect in predicting social behaviors: the  
case of road traffic violations. Journal of Applied social psychology , 27 (14), 1258-  
1276.  
Lazarsfeld, P., & Merton, R. (1957). Mass communication, popular taste, and  
organized social action. (B. Rosenberg, Ed.) New York, America: Colier-MacMilan  
Limited.  
Nguyen, N. N., Ozcaglar-Toulouse, N., & Kjeldgaard, D. (2017). Toward an  
understanding of young consumers' daily consumption practices in post-Doi Moi  
Vietnam. Journal of Business Research .  
Rothengatter, T. (1997). Psychological aspects of road user behavior. Applied  
psychology: An International review , 46 (3), 223-234.  
Tuổi trẻ. (2017, November 9). Thời sự. Retrieved November 9, 2017, from Tuổi trẻ  
Online:  
20170920154009747.htm  
Tuan, V. A., & Mateo-Babiano, I. (2013). Motorcycle Taxi Service in Vietnam – Its  
Socioeconomic Impacts and Policy Considerations. Journal of the Eastern Asia  
Society for Transportation Studies , 10, 13-28.  
Van, T. H., & Fuji, S. (2007). PSYCHOLOGICAL DETERMINANTS OF  
BEHAVIORAL INTENTION TO USE TRAVEL MODES IN HO CHI MINH CITY.  
Proceedings of the Eastern Asia Society for Transportation Studies, 6.  
ABTRACT  
Safety traffic has been a painful problem in developing countries and Vietnam,  
particularly. The relationship between attitude and behaviour is a common approach  
for studies in terms of traffic violations and errors. From the results of attitude  
analysis, managers could be able to find solutions for effective social marketing  
strategies. The result of Facebook big data in Vietnam showed that: errors are common  
traffic violations, violators tended to take objective causes for their behaviors. Social  
marketing in a way of building social norms could have opportunities to decrease  
objective traffic violations.  
Keywords: Safety traffic, big data, attitude  
644  
pdf 7 trang Thùy Anh 16660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Thái độ của người dân với hành vi vi phạm luật lệ giao thông: Nghiên cứu trên dữ liệu lớn (big data) Facebook tại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfthai_do_cua_nguoi_dan_voi_hanh_vi_vi_pham_luat_le_giao_thong.pdf